Từ thực tế trên và bản thân tôi là một giáo viên dạy bộ môn Tin học luôn suy nghĩa phải đưa ra những giải pháp như thế nào để các em nắm lí thuyết chắc hơn nhớ lâu hơn và vận dụng vào th
Trang 1MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
TIẾT LÝ THUYẾT MÔN TIN HỌC
A PHẦN MỞ ĐẦU
I BỐI CẢNH CỦA ĐỂ TÀI.
Môn học tự chọn Tin học ở trường phổ thông hiện hành có nhiệm vụ trang
bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về công nghệ thông tin và vai trò của nó trong xã hội hiện đại Môn học này giúp học sinh bước đầu làm quen với phương pháp giải quyết vấn đề theo quy trình công nghệ và kĩ năng sử dụng máy tính phục vụ học tập và cuộc sống
Trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông, Tin học còn hỗ trợ cho các hoạt động học tập của học sinh, góp phần làm tăng hiệu quả giáo dục Tuy vậy nhưng tình hình dạy học môn Tin học không nằm ngoài thực trạng về phương pháp dạy học nói chung ở các trường phổ thông Việc giảng dạy bộ môn Tin học của các trường THCS cần mang lại cho các em một cái nhìn trực quan, sinh động Để tạo hứng thú học tập cho học sinh và từng bước nâng cao chất lượng bộ môn đòi hỏi người giáo viên phải tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học phù hợp, hiệu quả
Một câu hỏi đặt ra là làm thế nào để các em học tốt môn tin học này, làm thế nào để các em học môn học này một cách hiệu quả nhất trong khi đó đa số các em nhà không có máy tính, không có điều kiện để thực hành rèn luyện các thao tác cũng như kĩ năng Chính vì thế mà chúng ta phải quan tâm thích đáng cho việc học lý thuyết cũng như thực hành, chỉ có nắm vững kiên thức về lý thuyết và thực hành nhiều thì các em mới lĩnh hội được nhiều kiến thức
II LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Tiết học lý thuyết môn Tin học luôn là tiết học khiến cho các em học sinh
ít hứng thú học tập so với những tiết học thực hành Đa phần các em nắm kiến thức lí thuyết còn yếu, các em hay quên và chưa vận dụng vào thực hành được nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên
Từ thực tế trên và bản thân tôi là một giáo viên dạy bộ môn Tin học luôn suy nghĩa phải đưa ra những giải pháp như thế nào để các em nắm lí thuyết chắc hơn nhớ lâu hơn và vận dụng vào thực hành tốt hơn Sau một tiết lý thuyết, học sinh biết được những gì? phương pháp dạy bài lý thuyết như thế nào để học sinh lĩnh hội được lượng kiến thức yêu cầu là một câu hỏi mà giáo viên giảng dạy luôn phải đặt ra để chọn phương pháp dạy sao cho có hiệu quả cao nhất
Qua một thời gian công tác giảng dạy tôi xin mạnh dạn đưa ra Sáng kiến
kinh nghiệm: “Một vài phương pháp nâng cao chất lượng dạy học tiết lý thuyết môn Tin học ”
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
- Học sinh khối THCS
Trang 2- Giáo viên dạy môn Tin học.
IV MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Từ thực tế trên, tôi nghiên cứu đề tài này nhằm nâng cao chất lượng trong mỗi giờ lý thuyết để khi thực hành giúp các em thành thục các thao tác cơ bản với máy tính Cũng như nâng cao chất lượng bộ môn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
Ngoài ra tôi mạnh dạn trình bày sáng kiến kinh nghiệm để cùng tham khảo thực hiện và rút ra kinh nghiệm cho quá trình dạy học những năm tiếp theo và tham khảo cho đồng nghiệp, học sinh cũng như phu huynh
V ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đối với tiết lí thuyết thì giáo viên phải phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Cho học sinh tự phát hiện vấn đề, đặt học sinh làm vị trí trung tâm của vấn đề giáo viên chỉ đóng vai trò là người gợi ý, hướng dẫn, chỉnh sửa những ý kiến của các em Vì đặc thù đây là môn học cần phải thực hành nên chúng ta cho các em ghi ngắn ngọn, súc tích, dễ học, dễ vận dụng kiến thức để thực hành Trong quá trình dạy học áp dụng việc tổ chức hoạt động nhóm phù hợp với các đối tượng học sinh cũng như vừa giảng lý thuyết vừa cho các em thực hành ngay trong giờ lý thuyết tôi nhận thấy rằng các em thực hiện các kĩ năng cơ bản trên máy thành thạo hơn, tích cực tự giác trong các giờ học và các em áp dụng được nhiều kiến thức được học vào cuộc sống hàng ngày
Sử dụng tốt phương pháp dạy học trực quan là con đường tốt nhất để đạt được mục đích yêu cầu tiết dạy trong đó phương tiện dùng công cụ trực quan đặc biệt có hiệu quả tốt giúp người học hiểu và nắm chắc thông tin cần thiết Việc sử dụng dụng cụ trực quan vào quá trình dạy học là cần thiết đối với mỗi giáo viên vì nó mang lại hiệu suất, hiệu quả của giáo dục cao
Nếu áp dụng phương pháp dạy học này trong những giờ học lý thuyết của các khối lớp khác tôi tin chắc rằng nó sẽ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng bộ môn
B PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Việc đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay đang là một yêu cầu cấp thiết Tin học vừa là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc đổi mới này, vừa là môn học rất thích hợp cho việc áp dụng các phương pháp dạy và học theo định hướng lấy người học làm trung tâm, tổ chức học theo nhóm
Là môn học có những đặc thù riêng liên quan chặt chẽ với sử dụng máy tính, cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề theo quy trình công nghệ, coi trọng làm việc theo nhóm Đặc trưng của môn Tin học là kiến thức lí thuyết đi đôi với thực hành, đặc biệt ở lứa tuổi THCS phần thực hành còn chiếm thời lượng nhiều hơn Đặc trưng của môn Tin học là khoa học gắn liền với công nghệ, do vậy dạy học Tin học một mặt trang bị cho học sinh kiến thức khoa học về Tin học, phát
Trang 3triển tư duy thuật toán, rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề, mặt khác phải chú trọng đến rèn luyện kĩ năng thực hành, ứng dụng, tạo mọi điều kiện để học sinh được thực hành, nắm bắt và tiếp cận những công nghệ mới của Tin học phục vụ học tập và đời sống Nội dung chương trình của môn Tin học tự chọn hiện hành
ở các trường phổ thông đã đáp ứng được những yêu cầu trên
Hệ thống các bài lý thuyết được xây dựng bắt đầu từ những kiến thức cơ bản, từ dễ đến khó Đi cùng với các bài lý thuyết là các bài thực hành Nội dung của sách giáo khoa được trình bày theo hướng dạy một bài lý thuyết trước và ngay sau đó là bài thực hành các kiến thức kỹ năng đã học trong bài lý thuyết
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ.
Qua thời gian trực tiếp giảng dạy môn Tin học cũng như trao đổi với đồng nghiệp bản thân tôi nhận thấy rằng: Hầu hết học sinh đều yêu thích và hứng thú với môn Tin học Tuy nhiên, đa phần các em nắm kiến thức lí thuyết còn yếu, các em hay quên và chưa vận dụng vào thực hành được nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên
Kết quả khảo sát đầu năm học 2015 – 2016
(Số liệu trước khi thực hiện đề tài)
số
Kết quả kiểm tra
1 7B 34 2 5.9% 8 23.5% 16 47% 5 14.7% 3 8.9%
2 7C 32 2 6.2% 8 25% 14 43.8% 6 18.8% 2 6.2%
3 7D 34 7 20.6% 10 29.4% 15 44.1% 2 5.9% 0 0% Tổng cộng 100 11 11% 26 26% 45 45% 13 13% 5 5% Đặc thù của môn Tin học là thực hành nhiều thì mới nhớ và thành thạo Nhưng đa số các em học sinh trên địa bàn chủ yếu là con em các gia đình làm nông dân, sự quan tâm của phụ huynh đến việc học tập của con em còn nhiều hạn chế, điều kiện để các em có máy vi tính ở nhà là rất khó, hầu hết các em chỉ được tiếp xúc, làm quen với máy tính trong giờ học dẫn đến việc sử dụng máy của học sinh còn lúng túng, chất lượng giờ học chưa cao
Một bộ phận học sinh chưa coi trọng môn học, xem đây là một môn phụ nên chưa có sự đầu tư thời gian cho việc học
Nhà trường đã có phòng máy vi tính để cho học sinh học nhưng vẫn còn hạn chế về số lượng cũng như chất lượng, mỗi ca thực hành có tới 2 em có khi là
3 em ngồi cùng một máy nên các em không có nhiều thời gian để ôn luyện lý
Trang 4thuyết một cách đầy đủ Hơn nữa một số máy đã cũ, chất lượng không còn tốt, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập của học sinh
III CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1 Giáo viên phải có kế hoạch bài dạy, xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy
lý thuyết phải phù hợp với nhiều đối tượng học sinh:
Để thiết kế một bài dạy phù hợp cho nhiều đối tượng học sinh thì tối thiểu nhất phải làm được những việc sau:
- Xác định được mục tiêu trọng tâm của bài học về kiến thức, kĩ năng, thái
độ Tìm ra được những kĩ năng cơ bản dành cho học sinh yếu kém và kiến thức,
kĩ năng nâng cao cho học sinh khá giỏi
- Tham khảo thêm tài liệu để mở rộng và đi sâu hơn vào bài giảng, giúp giáo viên nắm một cách tổng thể, để giải thích cho học sinh khi cần thiết
- Nắm được ý đồ của sách giáo khoa để xây dựng và thiết kế các hoạt động học tập phù hợp với tình hình thực tế của đối tượng và trình độ học sinh, điều kiện dạy học
Nếu thực hiện tốt những việc này xem như giáo viên đã chuẩn bị tốt tâm thế
để bước vào giờ dạy và đã thành công bước đầu
2 Sử dụng bài giảng điện tử vào dạy học
Thứ nhất, Lựa chọn nội dung bài giảng hoặc phần bài giảng phù hợp với giáo án điện tử Trên thực tế, tất cả các bài giảng đều có thể soạn dưới dạng giáo
án điện tử nếu giảng viên sử dụng trình chiếu để thay thế bảng phấn Tuy nhiên, việc kết hợp sử dụng giữa các Slide trình chiếu và bảng phấn mang lại hiệu quả cao hơn cho quá trình diễn giảng của giáo viên Bên cạnh đó, trong một bài giảng, chúng ta cũng không nhất thiết phải soạn dưới dạng giáo án điện tử cho tất cả các nội dung mà có thể chỉ lựa chọn những nội dung phù hợp
Thứ hai, lập dàn ý trình bày và liên kết hợp lý các Slide nội dung bài giảng Trong lúc hình thành dàn ý bài soạn dưới dạng các Slide cần chú ý mối liên hệ hữu cơ về nội dung giữa các slide Nếu không, giáo án điện tử có thể trở thành một tập các chữ và ảnh hơn là một bài soạn
Thứ ba, lựa chọn phông chữ, cỡ chữ, màu chữ, màu nền cho các Slide bài giảng, sử dụng các phông chữ phổ biến, đơn giản, rõ ràng, không nên chọn các phông chữ quá cầu kỳ
Thứ tư, sử dụng hợp lý hình ảnh, âm thanh, các đoạn video, lập sơ đồ, bảng biểu trong các Slide bài giảng Có thể thấy, các Slide chỉ thực sự phát huy được
ưu thế của nó so với bảng phấn khi khai thác được các yếu tố đặc thù như hình ảnh, video hoặc các sơ đồ, bảng biểu gắn với nội dung bài giảng
3 Vừa giảng lý thuyết vừa cho học sinh thực hành trên máy.
Môn Tin học không nên giảng dạy bằng lý thuyết suông, mỗi khái niệm, mỗi vấn đề cần được mô tả bằng hình ảnh và thao tác trên máy tính
Trang 5Ở các tiết lí thuyết thì giáo viên nên tiến hành dạy ở phòng máy tính: Vừa giảng lí thuyết vừa cho học sinh thao tác ngay trên máy như thế học sinh sẽ dễ tiếp thu bài và khắc sâu hơn như vậy tiết thực hành sau các em sẽ thao tác tốt
4 Tổ chức thảo luận theo nhóm.
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì việc dạy học theo nhóm sẽ phát triển được tính tự lực, sáng tạo cũng như năng lực xã hội, đặc biệt là khả năng cộng tác làm việc, thái
độ đoàn kết của học sinh
Trên lớp giáo viên cần tổ chức học sinh theo các nhóm, mỗi nhóm khoảng
từ 2 đến 4 học sinh, sắp xếp sao cho mỗi nhóm đều có học sinh khá để giúp đỡ
và hỗ trợ nhũng học sinh khác Nhiệm vụ của các nhóm là:
- Cùng nhau bàn luận, trao đổi để tìm ra được lời giải của câu hỏi hoặc bài tập mà giáo viên đưa ra trên lớp
- Cùng nhau thảo luận, tranh cãi về một chủ đề nào đó do GV đưa ra
- Cùng tiến hành thực tập một bài thực hành theo chương trình hoặc do GV cung cấp
5 Phương pháp dạy học trực quan qua thao tác mẫu của giáo viên
Việc thao tác mẫu của giáo có ảnh hưởng quyết định và lâu dài tới thao tác của học sinh sau này
Phương pháp dạy học trực quan đã chứng tỏ khả năng làm cho học sinh dễ hiểu bài, tiếp thu nhanh, ghi nhớ lâu
6 Khuyến khích học sinh bằng cách đánh giá chấm điểm:
Để học sinh tập trung trong giờ học lý thuyết, nâng cao hiệu quả của giờ học giáo viên nên chấm điểm cho học sinh sau khi có kết quả trả lời nhóm và mỗi bài tập thực hành của bài tập cũng cố Điểm này giáo viên lấy làm hệ số 1 khi tính điểm học lực
Chấm điểm thực hành qua sản phẩm cần tính đến cả ý thức của học sinh trong giờ học, việc hợp tác hỗ trợ bạn trong nhóm Điều này sẽ giúp rèn luyện thái độ học tập, cộng tác của học sinh
Sau đây là ví dụ về một tiết dạy lý thuyết ở môn Tin Học 7:
Tiết 52: Bài 9 Trình bày dữ liệu bằng biểu đồ (Tiết 1) I/ Mục tiêu cần đạt:
1/ Kiến thức:
Biết mục đích của việc sử dụng biểu đồ
Biết một số dạng biểu đồ thường dùng
Biết 3 bước tạo biểu đồ đơn giản
Trang 6 Biết các bước cần thực hiện để tạo biểu đồ từ một bảng dữ liệu ( Đối với những lớp khá – giỏi)
2/ Kỹ năng:
Thực hiện được thao tác tạo biểu đồ đơn giản từ bảng dữ liệu
Thực hiện được thao tác tạo biểu đồ từ bảng dữ liệu ( Đối với những lớp
khá – giỏi).
3/ Thái độ:
Nhận thức được sự tiện lợi của việc sử dụng biểu đồ trong thực tế
Có ý thức học nghiêm túc, cẩn thận, trung thực, hợp tác trong các hoạt động nhóm
II/ Chuẩn bị đồ dùng dạy học:
1 Chuẩn bị của giáo viên:
Máy tính, máy chiếu (trình chiếu slide bài giảng mà giáo viên đã soạn trên phần mềm PowerPoint)
Chuẩn bị một số bảng số liệu và một số dạng biểu đồ thích hợp từ bảng
số liệu đã có
Thông tin về các dạng biểu đồ
2 Chuẩn bị của học sinh:
Xem trước nội dung bài 9
Kiến thức về các dạng biểu đồ đã học trong môn Địa lý
IV/ Tổ chức các hoạt động dạy - học:
1 Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số, vắng
2 Kiểm tra bài cũ: Không kiểm tra
3 Bài mới:
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung
Hoạt động 1: Minh hoạ số liệu bằng biểu đồ
GV: Trình chiếu hình 101 cho HS quan
sát
GV: Nhận xét về số học sinh giỏi của lớp,
số học sinh giỏi nam, nữ và nhận xét tổng
quát thông qua hình 101?
GV: Yêu cầu từng nhóm nghiên cứu và cử
đại diện trả lời
GV: Trình chiếu hình 102 cho HS quan
1 Minh hoạ số liệu bằng biểu đồ
Trang 7Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung
sát
GV: Nhận xét về số học sinh giỏi của lớp,
số học sinh giỏi nam, nữ và nhận xét tổng
quát thông qua hình 102?
GV: Em hãy quan sát dữ liệu ở H101,
H102(SGK) và rút ra nhận xét
( Đối với lớp yếu GV gợi ý? Đối với hai
hình minh họa trên, hình nào dễ cho các
em có sự so sánh nhanh chóng hơn)
HS: Dữ liệu ở H102 dễ hiểu, dễ so sánh
sơn hình 101
GV: Trình chiếu hình 103, 104 cho HS
quan sát
GV: Em có nhận xét gì về hai hình minh
103, 104
HS: Hình 104 dễ dự đoán xu thế tăng
-giảm của dữ liệu hơn so với hình 103
GV : Qua hai ví dụ trên hãy cho biết ý
nghĩa của việc vẽ biểu đồ?
HS: Vẽ biểu đồ để cho một hình ảnh dễ
nhớ, dễ thấy, dễ hiểu, dễ hình dung
GV: Theo em tại sao một số loại dữ liệu
lại được biểu diễn dưới dạng biểu đồ?
HS: Biểu diễn dữ liệu dưới dạng biểu đồ
giúp quan sát một cách trực quan, dễ hiểu,
dễ so sánh, dễ dự đoán xu thế tăng - giảm
của dữ liệu
Hình 101
Hình 102
Hình 103
Hình 104
Mục đích của việc sử dụng biểu đồ:
Sử dụng biểu đồ nhằm biểu diễn
dữ liệu trực quan, dễ hiểu, dễ so sánh, dễ dự đoán xu thế tăng -giảm của dữ liệu.
SỐ HỌC SINH GIỎI KHỐI 7
0 5 10 15 20
Lớp
NỬ TỔNG CỘNG
Trang 8Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung
GV: Cũng cố lại mục đích của việc sử
dụng biểu đồ
Hoạt động 2: Tìm hiểu một số dạng biểu đồ
GV: Trong chương trình phổ thông em đã
được học các loại biểu đồ nào trong môn
học Địa lý ?
GV: Yêu cầu từng nhóm nghiên cứu và cử
đại diện trả lời
HS: Biểu đồ cột, biểu đồ hình tròn, gấp
khúc
GV: Em có biết tác dụng riêng của mỗi
loại biểu đồ ấy không?
GV: Yêu cầu từng nhóm nghiên cứu và cử
đại diện trả lời
GV: Giới thiệu một số dạng biểu đồ
thường dùng trong Excel
- Biểu đồ cột:
Biểu đồ cột thường dùng để so sánh dữ
liệu có trong nhiều cột
- Biểu đồ đường gấp khúc:
So sánh dữ liệu và dự đoán xu thế tăng
-giảm của dữ liệu
GV: Biểu đồ đường gấp khúc còn thể hiện
tốc độ tăng trưởng của một hoặc nhiều đại
lượng có đơn vị giống nhau hay đơn vị
khác nhau
- Biểu đồ hình tròn:
Mô tả tỉ lệ của giá trị dữ liệu so với tổng
thể
GV: Một số dạng biểu đồ như là dạng biểu
đồ tròn là loại biểu đồ thường thể hiện cơ
cấu thành phần của một tổng thể đối
tượng Đơn vị thể hiện trên biểu đồ được
tính bằng %
? Khi nào thì sử dụng biểu đồ hình tròn,
hình cột, hình gấp khúc?
2 Một số dạng biểu đồ
Biểu đồ cột:
Biểu đồ cột thường dùng để so sánh
dữ liệu có trong nhiều cột
Biểu đồ đường gấp khúc:
So sánh dữ liệu và dự đoán xu thế tăng - giảm của dữ liệu
Biểu đồ hình tròn:
Mô tả tỉ lệ của giá trị dữ liệu so với
tổng thể
Trang 9Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung
HS: Từng nhóm thảo luận và trả lời
Đối với lớp yếu GV cũng cố bằng cách
cho làm bài tập trắc nghiệm qua máy
chiều
?1 Nối ý ở cột A với ý ở cột B cho phù
hợp
1./ Để so sánh dữ liệu có
trong nhiều cột ta thường
dùng biểu đồ dạng
a) Biểu đồ hình tròn
2./ Để so sánh dữ liệu và
dự đoán xu thế tăng hay
giảm của dữ liệu ta
thường dùng biểu đồ
dạng
b) Biểu đồ đường gấp khúc
3./ Để mô tả tỉ lệ của các
giá trị dữ liệu so với tổng
thể ta thường dùng biểu
đồ dạng
c) Biểu đồ cột
Đáp án: 1c; 2b; 3a
Hoạt động 3: Tìm hiểu cách tạo biểu đồ
GV: Yêu cầu từng nhóm HS tìm hiểu SGK
và nêu các bước tạo biểu đồ ( Các bước
tạo biểu đồ với các thuộc tính ngầm định)
HS: Có 3 bước tạo biểu đồ với các thuộc
tính ngầm định
1 Chọn một ô trong miền có dữ liệu cần
vẽ biểu đồ
2 Nháy nút Chart Wizard trên thanh
công cụ chuẩn
3 Nháy liên tiếp nút Next trên các hộp
thoại và nháy nút Finish trên hộp thoại
cuối cùng
GV: Nhận xét đánh giá và củng cố lại 3
bước tạo biểu đồ (Các bước tạo biểu đồ
3 Tạo biểu đồ:
Để tạo biểu đồ ta thực hiện các thao tác sau:
1 Chọn một ô trong miền có dữ liệu cần vẽ biểu đồ
2 Nháy nút Chart Wizard trên thanh công cụ chuẩn
3 Nháy liên tiếp nút Next trên các hộp thoại và nháy nút Finish trên
hộp thoại cuối cùng
Trang 10Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung
với các thuộc tính ngầm định)
GV: Thao tác mẫu tạo biểu đồ với bảng số
liệu trên máy chiếu
GV: Yêu cầu 1 số HS lên thao tác mẫu
HS: Thực hành mẫu
Đối với những lớp khá thì GV giảng dạy
thêm 4 bước tiếp theo khi tạo biểu đồ
GV: Các em đã biết các bước tạo biểu đồ
rất đơn giản Tuy nhiên, để tạo biểu đồ
phù hợp, qua từng bước các em cần cho
thêm một số thông tin cho biểu đồ
GV: Hướng dẫn HS cách chọn dạng biểu
đồ
GV: Chiếu hình ảnh chọn dạng biểu đồ
trên máy chiếu
1 Chọn nhóm biểu đồ
2 Chọn dạng biểu đồ
trong nhóm
3 Nháy nút Next để
sang bước 2
GV: Hướng dẫn HS cách kiểm tra miền dữ
liệu
GV: Chiếu hình ảnh xác định miền dữ
liệu trên máy chiếu
Bước 1: Chọn dạng biểu đồ
1 Chọn nhóm biểu đồ
2 Chọn dạng biểu đồ trong nhóm
3 Nháy nút Next để
sang bước 2
Chart type: Chọn nhóm biểu đồ Chart sub type: Chọn biểu đồ Press and hold to view Sample :
Xem trước Chọn Next sang bước 2
Bước 2: Xác định miền dữ liệu
1 Kiểm tra miền dữ liệu
và sửa đổi (nếu cần).
2 chọn dãy dữ liệu cần minh họa theo hàng hay cột
3 Nháy nút Next để sang bước 3
Data Range: Chọn vùng dữ liệu cần
biểu diễn