Một số phương pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc lớp 2 theo hướng phát huy năng lực PHẦN 1 : ĐẶT VẤN ĐỀ I.. Lý do chọn đề tài: Cấp tiểu học là cấp học nền tảng trong hệ thống cá
Trang 1Một số phương pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc lớp 2 theo hướng phát huy năng lực
PHẦN 1 : ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn đề tài:
Cấp tiểu học là cấp học nền tảng trong hệ thống các cấp học ở nước ta vì đây
là cấp học mở đầu cung cấp những kiến thức cơ bản cho học sinh, dạy cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn chuẩn bị cho các cấp học tiếp theo.Trong cấp Tiểu học thì các lớp đầu cấp (lớp 1,2) lại càng được coi trọng
vì đây là thời kỳ các em bắt đầu làm quen với một hệ thống các tri thức mới của rất nhiều các môn học trong đó có môn Tiếng Việt.MônTiếng Việtgiữ một
vị trí rất quan trọng, nó có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Trong đó “Đọc” là quá trinh chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh Nếu không biết đọc con người không tiếp thu được nền văn minh của loài người, không khơi dậy được năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như bồi dưỡng tâm hồn để hình thành được một nhân cách toàn diện Chính vì vậy, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn ở Tiểu học Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, giúp các em biết yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các
em biết suy nghĩ một cách logic cũng như tư duy hình tượng.
Cũng chính vì những lẽ trên, để nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tập đọc, tôi luôn tìm tòi, trau dồi thêm những kiến thức, kinh nghiệm và đặc biệt tôi luôn thay đổi phương pháp dạy học phù hợp với năng lực của các em sao cho trong giờ học các em có thể phát huy tối đa năng lực vốn có của bản thân Với lòng yêu nghề, mến trẻ tôi luôn mong những học sinh của mình ngày một tiến bộ Vì vậy, để các em học tốt hơn phân môn Tập đọc, tôi mạnh dạn viết nên nhữngkinh nghiệm của mình trong quá trình giảng dạy với đề
Trang 2tài “Một số phương pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc lớp 2
theo hướng phát huy năng lực”.
II/ Mục đích nghiên cứu:
Tôi viết sáng kiến kinh nghiệm này với mong muốn ghi lại những phương pháp, rèn kĩ năng cho học sinh của mình trong quá trình giảng dạy, giúp học sinh tự tintrong học tập,trong giao tiếp và khi tham gia các hoạt động Qua đó phát triển khả năng tư duy sáng tạo, chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động,… góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh, đáp ứng yêu cầu học tập hiện nay trong thời kỳ hội nhập.
III/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 2
2 Phạm vi nghiên cứu: Tôi tập trung nghiên cứu“Một số phương pháp
giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc lớp 2 theo hướng phát huy năng lực”tại trường Tiểu học.
IV/Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
1 Phương pháp quan sát và hỏi
đáp.
2.Phương pháp phân tích ngôn
ngữ.
3 Phương pháp thực hành.
4.Phương pháp giải quyết vấn đề 5.Phương pháp vẽ sơ đồ tư duy
Phương pháp sơ đồ tư duy ( Mind mapping) doTony Buzan đã đưa ra mô hình và phổ biến rộng, là phương pháp được sử dụng để ghi chú và trình bày thông tin dưới dạng sơ đồ Lập sơ đồ tư duy là một công việc rất đơn giản dù đây là kĩ thuật cực kì hiệu quả Giúp người lập độc lập trong suy nghĩ, luôn bình tĩnh trong những tình huống phức tạp, cảm thấy làm chủ được tri thức của mình, rút ngắn được thời gian và ghi nhớ rất tốt.
PHẦN 2 : GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trang 3I Cơ sở lý luận
Trong những năm gần đây, xu thế chung của thế giới là đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học Người giáo viên phải nắm được tâm lý của các
em và tìm ra phương pháp phù hợp để tư duy của cácem dần phát triển thành tổng thể khi chiếm lĩnh các kiến thức được học Và trong môn Tiếng Việt giúp các em phát triển ngôn ngữ và tư duy, giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh Trong đó phân môn Tập đọc có tác dụng to lớn trong quá trình phát triển tư duy ngôn ngữ cho học sinh, rèn luyện cho học sinh các kĩ năng đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu, đọc diễn cảm), nghe và nói Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc, phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết tự nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học (như đề tài, cốt truyện, nhân vật ) và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh Tập đọc ởTiểu học được xây dựng phù hợp với yêu cầu phát triển lời nói của học sinh, giúp các
emmở rộng thêm kiến thức trong quá trình học tập, lao động và giao tiếp ngày một tốt hơn, tiến bộ hơn, đạt kết quả cao hơn.
Do đó, dạy Tập đọc có vị trí rất quan trọng, việc dạy đọc ở giai đoạn đầu giúp học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ và sau là tạo điều kiện cho các em học tập và phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong mọi thời đại mới.
Chính vì vậy việc vận dụng một số phương pháp và hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy phân môn Tập đọc lớp 2 là rất cần
Trang 4thiết Đây chính là cơ sở, là nền tảng để học tốt các môn học khác nhằm thực hiện đúng mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra nhằm đào tạo con người mới
II.Thực trạng và nguyên nhân
1.Thực trạng:
a)Thuận lợi`
-Được trang bị đầy đủ về cơ sở vật chất thiết bị hiện đại.
-Hầu hết học sinh đều có ý thức làm bài tập, nắm được những kiến thức và kĩ năng cơ bản và có thái độ tích cựctrong việc học.
-Học sinh ngoan, hăng hái giơ tay phát biểu ý kiến xây dựng bài, biết hợp tác trong các hoạt động tập thể,
-Nhanh nhẹn, dễ nắm bắt nội dung học tập bởi các em chưa bị chi phối nhiều
về cuộc sống xung quanh.
-Bố mẹ quan tâm đến việc học của con mình.
b) Khó khăn
-Địa bàn của trường còn bị ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương nên học sinh còn đọc sai,ngọng, phát âm chưa chuẩn Đọc chưa lưu loát, ngắt nghỉ còn bừa bãi, nhấn giọng lên, xuống tùy tiện.
-Trình độ HS không đồng đều, chưa tập trung cao độ trong học tập.
-Chưa nghiên cứu kĩ nội dung bài nên chưa hiểu sâu về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
-Dễ quên kiến thức nếu không được luyện tập thường xuyên
-Thời lượng một tiết Tập đọc còn hạn chế nên không thể luyện đọc kĩ và sửa lỗi cho từng em trong lớp.
-Khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh là chưa cao, với bài tập đòi hỏi sự
tư duy thì ta thấy câu trả lời của các em còn hạn chế Khả năng diễn đạt của các em chưa thực sự tốt.
Trang 5- Đồ dựng trực quan ở trường còn ít chưa đáp ứng đủ cho các tiết học.
2.Phân tích các nguyên nhân và yếu tố tác động
2.1 Khảo sát chương trình sách giáo khoa
Phân môn Tập đọc lớp 2 cả năm mỗi tuần có 3 tiết 2 bài tập đọc với 15 chủ đề:
3.Trường học 8.Bạn trong nhà 13.Cây cối
Các kiểu văn bản dạy học Tập đọc
Thể loại văn bản trong SGK phần Tập đọc rất phong phú, các bài tập đọc bao gồm các văn bản thông thường như tự thuật, thời khóa biểu, tin nhắn, nội quy, thư từ, văn bản khoa học và các văn bản nghệ thuật như thơ, truyện, văn miêu tả, kịch.
2.2.Các kiểu dạng bài tập dạy học tập đọc
*Bài tập luyện đọc thành tiếng
a) Bài tập luyện chính âm
Bài tập yêu cầu học sinh tìm những từ ngữ, câu chứa nhiều tiếng dễ bị phát
âm sai và đọc lên.
b) Bài tập luyện đọc đúng ngữ điệu
Bài luyện đọc đúng ngữ điệu thành 2 mảng: Những bài tập kí mã (hoặc xác lập) giọng đọc và những bài tập giải mã(hoặc thể hiện ) giọng đọc.
Ngoài hai kiểu BT kí mã và giải mã cách đọc còn có thể kể đến loại BT giải thích cách đọc Đây là những BT có mặt ở cả hai kiểu trên.VD: “Hãy gạch
Trang 6dưới những từ cần nhấn giọng khi đọc và giải thích vì sao nhấn giọng ở những từ đó.”
c)Bài tập luyện đọc hiểu
Các dạng BT dạy đọc hiểu
-Phân loại theo các bước lên lớp, ta có BT kiểm tra bài cũ, BT luyện tập… -Phân loại theo hình thức thực hiện: BT trả lời miệng, BT thực hành đọc,… -Phân loại theo mức độ tính độc lập của học sinh Theo cách chia này có thể gọi tên các BT: BT tái hiện, BT cắt nghĩa, BT phản hồi (sáng tạo).
-Phân loại theo đối tượng thực hiện BT: Có BT cho cả lớp làm chung, có BT dành cho nhóm học sinh, có BT dành cho cá nhân, có BT cho HS đại trà,…… -Sau đây là các kiểu dạng BT dạy đọc hiểu xem xét từ góc độ nội dung:
+ Ta có thể phân loại một số kiểu dạng BT đọc hiểu như sau:
C1) Nhóm BT có tính chất nhận diện, tái hiện ngôn ngữ của văn bản.
Nhóm này có những kiểu BT sau.
*BT yêu cầu HS xác định đề tài của bài:
BT xác định đề tài của văn bản thường có dạng hỏi trực tiếp “ câu chuyện này nói về ai, về cái gì?”.
VD: BT yêu cầu xác định các nhân vật trong chuyện:
-Bạn của bé ở nhà là ai? (Con chó nhà hàng xóm – TV 2 tập 1)
*BT yêu cầu học sinh phát hiện ra các từ ngữ,chi tiết, hình ảnh của bài.
VD: Những hình ảnh nào chứng tỏ Thần Gió phải bó tay?
(Ông Mạnh thắng Thần Gió – TV 2 tập 2)
*BT yêu cầu học sinh phát hiện ra những câu quan trọng của bài
-VD: Câu nào chó thấy những người con rất thích món quà của bố? (Quà của
bố -TV 2 tập 1)
*BT yêu cầu học sinh phát hiện ra đoạn thường có dạng:
Trang 7Bài này gồm mấy đoạn ? Mỗi đoạn từ đâu đến đâu ? hoặc cụ thể hơn như: -VD:Mỗi ý sau đây được nói trong khổ thơ nào?
-Đưa võng ru em
-Ngắm em ngủ
-Nhớ ngày xưa mẹ ru mình -Đoán em bé mơ thấy gì.
(Tiếng võng kêu – TV 2) C2)Nhóm BT làm rõ nghĩa của ngôn ngữ văn bản
*BT yêu cầu giải nghĩa từ ngữ
VD: -Vì sao nói sông Hương là một đặc ân của thiên nhiên dành choa thành phố Huế? (Sông Hương –TV 2 tập 2)
*BT yêu cầu làm rõ nghĩa, ý nghĩa của các câu, khổ thơ, đoạn, chi tiết, hình ảnh.
VD: Em hiểu những điều quy định nói trên như thế nào? (Nội quy Đảo Khỉ -TV2 tập 2)
*BT đại ý nội dung chính của bài
VD: Câu chuyện này khuyên chúng ta điều gì? (Câu chuyện bó đũa-TV 2) C3)Nhóm BT hồi đáp
Đây là nhóm BT đọc hiểu yêu cầu tính độc lập làm việc của học sinh cao nhất.
*Nhóm BT bình giá về nội dung văn bản
-VD: Câu chuyện này khuyên em điều gì? (Có công mài sắt có ngày nên kim-
TV 2 tập 1)
*Nhóm BT yêu cầu làm rõ, bình giá về nghệ thuật của văn bản
VD: Tìm những từ chỉ màu sắc xanh khác nhau của sông Hương? (Sông Hương –TV 2 tập 2)
*Nhóm BT tạo lập văn bản mới theo mẫu
VD: -Hãy viết một bưu thiếp chúc mừng bà ( hoặc ông) ở xa.
2.3 Nguyên nhân
Trang 8Qua thời gian thực hiện, tôi nhận thấy các nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của quá trình dạy học đó là chính là người dạy và người học (giáo viên và học sinh).
*Về phía học sinh:
+ Trẻ rất dễ bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng thẳng, quá tải Đặc biệt đối với học sinh lớp 2, lớp mà các em vừa mới vượt qua những mới mẻ ban đầu chuyển từ hoạt động vui chơi là chủ đạo sang hoạt động học tập là chủ đạo Giờ học sẽ trở nên nặng nề, không duy trì được khả năng chú ý của các
em nếu các em chỉ có nghe và làm theo.
+Do ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương phát âm chưa chuẩn, ông bà, bố
mẹ, người lớn nói thế nào các em bắt chước như thế.
+Học sinh đã đọc kém lại lười đọc, không chú ý thầy hướng dẫn, bạn đọc đúng để mình học tập.
+Đối với những em đã đọc đúng thì chưa chịu rèn kĩ năng đọc diễn cảm.
+Việc chuẩn bị bài của các em ở nhà chưa kĩ, không luyện đọc nhiều lần trước khi đến lớp.
*Về phía giáo viên:
+Chưa chủ động trong bài dạy,chưa sáng tạo trong khi dạy
+Đọc chưa hay, chưa đúng nhất là ở bậc mẫu giáo làm ảnh hưởng không ít tới việc đọc của HS khi học 29 chữ cái.
+Chưa chú ý đến đọc nhóm đôi nối tiếp, đọc cho bạn nghe và ngược lại, ít chú đến học sinh đọc sai, chỉ chú ý đến học sinh đọc đúng, đọc hay.
+Còn nặng nề về phương pháp truyền thống, nặng thuyết trình không chú ý năng lực chủ động của học sinh.
Chính những nguyên nhân đó, bản thân tôi nhận thấy cần phải có những đổi mới trong dạy học, trong cách dạy và cách học của học sinh, để phát huy được sự tự tin của học sinh trong học tập, trong giao tiếp, trong các hoạt động để từ đó các em tự lĩnh hội tri thức một cách tự tin nhất.
Trang 9III Một số phương pháp, biện pháp rèn kĩ năng giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc lớp 2 theo hướng phát huy năng lực
A.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
Giáo viên tìm tòi chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, phương tiện dạy học phù hợp với nội dung bài, sử dụng các phương pháp giúp HS hứng thú học, phát huy khả năng sáng tạo, tính tự giác, tích cực trong học tập.Giáo viên linh hoạttrong các hoạt động tùy theo đối tượng học sinh.
B.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
1)Tổ chức dạy đọc thành tiếng
-Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc Khi ngồi đọc cần ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30 – 35cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi Ở lớp, khi được cô giáo gọi đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay.
- Giáo viên hướng dẫn HS đọc đủ lớn cho tất các cả mọi người nghe rõ, tập cho các em đọc to chừng nào bạn xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi Giáo viên nên cho học sinh đứng trên bảng để đối diện với những người nghe Tư thế đứng đọc phải thoải mái, sách phải được mở rộng và được cầm bằng hai tay.
1.1 Luyện đọc đúng
Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc chính xác, không có lỗi.
a)Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng Việt
-Đọc đúng các phụ âm đầu, đọc đúng các âm cuối, đọc đúng các thanh.
b)Trình tự luyện đọc đúng.
Khi lên lớp đầu tiên giáo viên phải đọc mẫu sau đó cho cả lớp đọc đồng thanh, cuối cùng cho các em đọc cá nhân các tiếng, từ khó này Với những câu mà
Trang 10giáo viên dự tính có nhiều em đọc sai phách câu (ngắt nghỉ không đúng chỗ) cũng tiến hành như vậy Cuối cùng mới luyện đọc hoàn chỉnh cả đoạn và bài.
=>-Ở trên lớp, giáo viên trực tiếp sửa lỗi phát âm cho từng em để các em biết
được lỗi của mình và sửa lại ngay Yêu cầu mỗi em dành 15 phút mỗi buổi tối
để các em đọc lại bài, luyện phát âm lại những lỗi sai.
-Giáo viên phát động việc luyện đọc ở nhà thông qua việc thực hiện đọc sách,
truyện theo biểu đồ THỜI GIAN ĐỌC SÁCH(phụ lục) Bạn nào thực hiện đầy
đủ,chăm chỉ hằng ngày và có số thời gian đọc nhiều sẽ được cô khen và tặng quà vào cuối tháng.
1.2 Luyện đọc nhanh
Đọc nhanh là đọc lưu loát trôi chảy
*Biện pháp luyện đọc nhanh:
-Trên lớp, giáo viênđọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ đã định Giáo viên điều chinh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc Ngoài ra, còn có biện pháp đọc tiếp nối trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của thầy, của bạn để điều chỉnh tốc
độ Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng cho trước và
dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút.
-Giáo viên kết hợp với phụ huynh kiểm tra tốc độ con đọc ở nhà và báo lại cho GV.
1.3 Luyện đọc diễn cảm
Đọc diễn cảm đó là việc đọc thể hiện ở kĩ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường độ giọng v vv để biểu đạt đúng ý nghĩ và tình cảm mà tác giả
đã gửi gắm trong bài học Ở Tiểu học khi nói đến đọc diễn cảm, người ta thường nói về một số kĩ thuật như ngắt giọng biểu cảm, sử dụng tốc độ và ngữ điệu.
*Biện pháp luyện đọc diễn cảm
Để hình thành kĩ năng đọc diễn cảm, cần thực hiện những BT sau:
-Tập lấy hơi và tập thở: Biết thở sâu ở chỗ ngừng nghỉ để lấy hơi khi đọc.
Trang 11-Rèn cường độ giọng đọc – luyện đọc to(bắt đầu từ lớp 1)
-Luyện đọc chính âm
-Luyện đọc diễn cảm:
+Đọc phân vai để làm sống lại nhân vật của tác phẩm.
+Lập dàn ý bài.
+Đọc mẫu của giáo viên : Giáo viên đọc mâu và đặt câu hỏi vì sao đọc như thế?
-Luyện đọc cá nhân.
2)Tổ chức dạy đọc thầm (tìm hiểu bài)
a)Chuẩn bị cho việc đọc thầm
Tư thế ngồi đọc thầm phải ngay ngắn, khoảng cách giữa mắt và sách là 30 –
35 cm.
b)Tổ chức quá trình đọc thầm
Kĩ năng đọc thầm phải được chuyển dần từ đọc to đến đọc nhỏ đến đọc mấp máy môi (không thành tiếng) đến đọc hoàn toàn bằng mắt không mấp máy môi (đọc thầm) Di chuyển mắt theo que trỏ rồi đến chỉ có mắt di chuyển.Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thời gian đọc thầm cho từng đoạn và bài Học sinh đọc xong thì báo cho giáo viên biết, từ
đó giáo viên nắm được và điểu chỉnh tốc độ đọc thầm.
c)Đọc hiểu
Dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức, đọc hiểu Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh hiểu bài đọc, bắt đầu từ việc hiểu nghĩa từ Cần sàng lọc để giữ lại những từ “chìa khóa”, đó là những từ giúp ta hiểu được nội dung của bài.
*Biện pháp rèn luyện đọc hiểu