Trước các lí do trên, tôi quyết định viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm mang tên: “Một số phương pháp tính khoảng cách trong không gian” nhằm cung cấp cho học sinh một cái nhìn tổng quát
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT YÊN LẠC 2
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN Tên sáng kiến:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TÍNH KHOẢNG CÁCH TRONG KHÔNG GIAN
Tác giả sáng kiến: NGUYỄN NGỌC TÂN
Mã sáng kiến: 28.52.02
Vĩnh Phúc, năm 2020
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT YÊN LẠC 2
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN Tên sáng kiến:
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TÍNH KHOẢNG CÁCH TRONG KHÔNG GIAN
Tác giả sáng kiến: NGUYỄN NGỌC TÂN
Mã sáng kiến: 28.52.02
Vĩnh Phúc, năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
1 Lời giới thiệu ……… 2
2 Tên sáng kiến ……… 3
3 Tác giả sáng kiến ……… 3
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến ……… 3
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến ……… 3
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử ……… 3
7 Mô tả bản chất sáng kiến ……… 3
7.1 Nội dung sáng kiến.……… 3
7.1.1 Cơ sở lý thuyết……… 3
7.1.2 Thực trạng vấn đề……… 4
7.1.3 Một số giải pháp ……… 6
7.1.4 Bài tập đề nghị……… 23
7.2 Về khả năng áp dụng sáng kiến……… 24
8 Những thông tin cấn được bảo mật……… 24
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến.……… 24
10 Đánh giá lợi ích thu được.……… 25
11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu ……… 25
Trang 4BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Trong chương trình toán học lớp 11, 12, bài toán về khoảng cách trong khônggian giữ một vai trò quan trọng, nó xuất hiện ở hầu hết các đề thi tuyển sinh vào đại học,cao đẳng; đề thi học sinh giỏi, các đề thi tốt nghiệp trong những năm gần đây Mặc dùvậy đây là phần kiến thức đòi hỏi học sinh phải có tư duy sâu sắc, có trí tưởng tượng hìnhkhông gian phong phú nên đối với học sinh đại trà, đây là mảng kiến thức khó và thường
để mất điểm trong các kì thi nói trên Đối với học sinh giỏi, các em có thể làm tốt phầnnày Tuy nhiên cách giải còn rời rạc, làm bài nào biết bài đấy và thường tốn khá nhiềuthời gian
Trong sách giáo khoa, sách bài tập và các tài liệu tham khảo, loại bài tập này khánhiều song chỉ dừng ở việc cung cấp bài tập và cách giải, chưa có tài liệu nào phân loạimột cách rõ nét các phương pháp tính khoảng cách trong không gian
Đối với các giáo viên, thì do lượng thời gian ít ỏi và việc tiếp cận các phần mềm vẽhình không gian còn hạn chế nên việc biên soạn một chuyên đề có tính hệ thống về phầnnày còn gặp nhiều khó khăn
Trước các lí do trên, tôi quyết định viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm mang tên:
“Một số phương pháp tính khoảng cách trong không gian” nhằm cung cấp cho học sinh
một cái nhìn tổng quát và có hệ thống về bài toán tính khoảng cách trong không gian, một
hệ thống bài tập đã được phân loại một cách tương đối tốt, qua đó giúp học sinh khôngphải e sợ phần này và quan trọng hơn, đứng trước một bài toán học sinh có thể bật ngay
ra được cách giải, được định hướng trước khi làm bài qua đó có cách giải tối ưu cho mỗibài toán
Mặc dù vậy, vì điều kiện thời gian còn hạn chế nên sự phân loại có thể chưa đượctriệt để và chỉ mang tính chất tương đối, rất mong được các bạn bè đồng nghiệp góp ýkiến chỉnh sửa để đề tài này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Mọi đóng góp xin gửi về: Nguyễn Ngọc Tân - Trường THPT Yên Lạc 2 - huyện
Trang 52 Tên sáng kiến: Một số phương pháp tính khoảng cách trong không gian
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Nguyễn Ngọc Tân
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Yên Lạc 2 – huyện Yên Lạc – tỉnh Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0976994981 Email: ngoctan.vp@gmail.com
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Ngọc Tân
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Sáng kiến kinh nghiệm này được nghiên cứu trong bài khoảng cách của hình học
không gian khối 11 dành cho bồi dưỡng học sinh giỏi của trường THPT Yên Lạc 2 và ôn
thi THPT Quốc Gia
- Sáng kiến góp phần nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG khối 12 và thi THPTQuốc Gia
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 10/9/2019
7 Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1 Nội dung sáng kiến
7.1.1 Cơ sở lý thuyết
Trong nghiên cứu khoa học, việc tìm ra quy luật, phương pháp chung để giải quyếtmột vấn đề là rất quan trọng vì nó giúp chúng ta có định hướng tìm lời giải của một lớpbài toán tương tự nhau, Trong dạy học giáo viên có nhiệm vụ thiết kế và điều khiển saocho học sinh thực hiện và luyện tập những hoạt động tương thích với những nội dung dạyhọc trong điều kiện được gợi động co, có hướng đích, có kiến thức về phương pháp tiếnhành và có trải nghiệm thành công Do vậy việc trang bị về phương pháp cho học sinh làmột nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên
Trong bài “Khoảng cách” trong sách giáo khoa lớp 11 có đưa ra 4 khái niệm vềkhoảng cách:
- Khoảng cách từ một điểm đến đường thẳng
- Khoảng cách từ một điểm đến một mặt phẳng
- Khoảng cách giữa đường thẳng và mặt phẳng song song, khoảng cách giữa haimặt phẳng song song
- Khoảng cách giữa hai đường thẳng chéo nhau
Do đó nếu có một hệ thống phương pháp tiếp cận và giải quyết các bài toán:
Trang 6Bài toán 1: Khoảng cách từ một điểm đến đường thẳng.
Bài toán 2: Khoảng cách từ một điểm đến một mặt phẳng.
Bài toán 3: Khoảng cách giữa đường thẳng và mặt phẳng song song, khoảng cách
giữa hai mặt phẳng song song
Bài toán 4: Khoảng cách giữa hai đường thẳng chéo nhau.
thì hầu hết các bài toán về khoảng cách sẽ được giải quyết
Vì vậy, việc đưa ra “Một số phương pháp tính khoảng cách trong không gian”
là một việc rất cần thiết và bổ ích cho việc dạy của giáo viên và việc học hình học khônggian của học sinh
7.1.2 Thực trạng vấn đề
Trong quá trình giảng dạy của mình và các đồng nghiệp tôi nhận thấy phần lớn họcsinh còn rất lơ mơ về hình học không gian Đặc biệt khi gặp các bài toán về khoảng cáchthường không định hình được cách giải, lúng túng khi xác định hình chiếu của điểm lênđường thẳng, mặt phẳng hoặc xác định được chúng nhưng không tính được, hoặc tìmđược nhưng cách làm còn dài chưa kể đến việc vẽ hình chưa đúng hoặc chưa biết vẽ hình
Mặt khác thời gian cho bài này lại ít nên học sinh rất lúng túng không biết địnhhình thế nào khi đứng trước một bài toán Cụ thể:
- Tình huống 1: Cho hình chóp , Tính khoảng cách từ H
đến mặt phẳng
Học sinh không biết dựng hình chiếu của H lên như thế nào từ đó không
thể tính được khoảng cách từ H đến mặt phẳng Như chúng ta đã biết H là chân đường cao hạ từ đỉnh S lên do đó việc xác định khoảng cách từ H đến mặt phẳng
một cách dễ dàng
- Tình huống 2: Cho hình chóp , , ABCD là hình chữ nhật tâm O Tính khoảng cách từ O đến mặt phẳng
Trong tình huống này học sinh lúng túng khi dựng khoảng cách từ O đến
và cũng không biết sử dụng tỉ số khoảng cách Vì vậy giáo viên cần
Trang 7xây dựng cho học sinh cách dựng hình chiếu của một số điểm thường gặp và sử dụng tỉ lệkhoảng cách giữa các điểm để đưa về tính khoảng cách của các điểm đã biết đơn giảnhơn.
- Tình huống 3: Cho hình chóp , , ABCD là hình vuông cạnh a Tính khoảng cách giữa AC và SD.
Với tình huống này học sinh thường hay đi dựng đường vuông góc chung của hai
đường thẳng AC và SD nhưng khó tìm được, một số học sinh biết dựng chứa SD
và song song với AC khi đó ta có
- Tình huống 4: Cho hình chóp có đáy là hình vuông cạnh a, gọi M, N là trung điểm của AB, AD H là giao điểm của CN, DM , Tính
khoảng cách giữa SC và DM
H A
Học sinh thường không nhận ra được vị trí tương đối giữa DM và SC có điểm đặc
biệt là vuông góc với nhau nên loay hoay dựng đường vuông góc chung không được Đưa
về khoảng cách từ đường thẳng đến mặt phẳng song song chứa đường còn lại, lại càngkhó và cũng dẫn đến bế tắc
Trang 8Lúc này vai trò của người giáo viên là rất quan trọng, phải hướng dẫn chỉ rõ chohọc sinh phương pháp giải từng dạng toán, nên giải như thế nào cho hợp lý đối với từngloại để được một đáp án đúng và suy luận có lôgíc để có hướng làm tốt tránh được tìnhhuống rối ren dễ mắc sai lầm Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh kỹ năng tốt khi giảiquyết các bài toán về khoảng cách.
7.1.3 Một số giải pháp
Qua nghiên cứu, trao đổi, đúc rút kinh nghiệm và ý kiến của đồng nghiệp, tôi mạnh
dạn đưa ra hướng giải quyết các vấn đề trên của học sinh với giải pháp: Đưa ra “Một số
phương pháp tính khoảng cách trong không gian” như sau:
I BÀI TOÁN 1: KHOẢNG CÁCH TỪ MỘT ĐIỂM ĐẾN ĐƯỜNG THẲNG
1 Phương pháp: Cho điểm O và đường thẳng Gọi H là hình chiếu của O trên .
Khi đó khoảng cách giữa hai điểm O và H được gọi là khoảng cách từ điểm O đến .
Kí hiệu
* Nhận xét
Để tính khoảng cách từ điểm O đến đường thẳng ta có thể
+ Xác định hình chiếu H của O trên và tính OH
+ Áp dụng công thức
2 Bài tập minh họa:
Bài tập 1 Cho hình chóp có đáy ABCD là hình vuông cạnh a, tâm O,
Tính khoảng cách giữa SC và DM Gọi I, M theo thứ tự là trung điểm của SC, AB.
Trang 9D S
Trang 10
Nhận xét:
- Trong cách 1 việc tính khoảng cách IH ta có thể linh hoạt chọn cách tính
phù hợp với các dữ kiện bài toán đưa ra
- Trong cách 2 tính khoảng cách từ S đến CM có thể làm như trên Tuy nhiên ta có thể sử dụng tỉ lệ khoảng cách giữa hai đểm S, I đến CM như trên.
II BÀI TOÁN 2: KHOẢNG CÁCH TỪ MỘT ĐIỂM ĐẾN MỘT MĂT PHẲNG
1 Phương pháp: Cho điểm O và mặt phẳng ( ) Gọi H là hình chiếu của O trên () Khi
đó khoảng cách giữa hai điểm O và H được gọi là khoảng cách từ điểm O đến mặt phẳng
() Kí hiệu
* Nhận xét
Việc xác định hình chiếu H là vấn đề khó thực hiện hoặc mất rất nhiều thời gian để
thực hiện Do vậy tôi đưa ra các phương pháp xác định khoảng cách từ một điểm đến mộtmặt phẳng như sau:
Phương pháp 1: Tính trực tiếp
Xác định hình chiếu H của O trên () và tính OH dựa trên một số trường đặc biệt
sau:
+ Trong hình chóp đều, thì chân đường cao hạ từ đỉnh trùng với tâm đáy
+ Hình chóp có một mặt bên vuông góc với đáy thì chân đường vuông góc hạ từđỉnh sẽ thuộc giao tuyến của mặt bên đó với đáy
+ Hình chóp có 2 mặt bên vuông góc với đáy thì đường cao chính là giao tuyến củahai mặt bên này
+ Hình chóp có các cạnh bên bằng nhau (hoặc tạo với đáy những góc bằng nhau)thì chân đường cao là tâm đường tròn ngoại tiếp đáy
+ Hình chóp có các mặt bên tạo với đáy những góc bằng nhau thì chân đường cao
là tâm đường tròn nội tiếp đáy
+ Nếu O lại là chân đường cao hạ từ đỉnh S thì ta có thể dựng hình chiếu H của O lên mặt (SAB) như sau:
Trang 11B O
S
K H
Kẻ
Ta có:
Thật vậy:
Phương pháp 2: Sử dụng công thức thể tích
Thể tích của khối chóp Theo cách này, để tính khoảng cách
từ đỉnh của hình chóp đến mặt đáy, ta đi tính V và S
Phương pháp 3: Sử dụng tỉ lệ khoảng cách giữa hai điểm
Ý tưởng của phương pháp này là: đưa việc tính về việc tính
dễ dàng hơn Ta thường sử dụng những kết quả sau:
Kết quả 1 Nếu đường thẳng song song với mặt phẳng () và O, O’ thì
Kết quả 2 Nếu đường thẳng cắt mặt phẳng () tại điểm I và O, O’ (O, O’ không trùng với I) thì
Đặc biệt, nếu O là trung điểm của O’I thì
nếu I là trung điểm của OO’ thì
Phương pháp 4: Sử dụng tính chất của tứ diện vuông
Trang 12Cơ sở của phương pháp này là tính chất sau: Giả sử OABC là tứ diện vuông tại O (
) và H là hình chiếu của O trên mặt phẳng (ABC) Khi đó đường cao OH được tính bằng công thức
Phương pháp 5: Sử dụng phương pháp tọa độ
Cơ sở của phương pháp này là ta cần chọn hệ tọa độ thích hợp sau đó sử dụng cáccông thức sau:
với ,
với là đường thẳng đi qua A và có vectơ chỉ phương
với là đường thẳng đi qua và có vtcp
Phương pháp 6: Sử dụng phương pháp vectơ
Bước 1: Chon hệ toạ độ Oxyz gắn với hình đang xét.
Bước 2: Chuyển bài toán từ ngôn ngữ hình học sang ngôn ngữ toạ độ - véc tơ Bước 3: Giải bài toán bằng phương pháp toạ độ, rồi chuyển sang ngôn ngữ hình
học
2 Bài tập minh họa:
Bài tập 1 (Đề HSG môn toán 12 tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2011-2012).
Cho lăng trụ đứng ABC A B C có đáy là tam giác vuông tại B với
AB a AA a A C a Gọi M là trung điểm cạnh C A , I là giao điểm của các đườngthẳng AM và A C Tính thể tích của khối tứ diện IABC và khoảng cách từ A tới mặtphẳng (IBC)
Giải.
Trang 13H
B
Trang 14Trong (SOK) kẻ
Trong tam giác vuông OBC có:
Trong tam giác vuông SOK có:
việc quy việc tính khoảng cách từ P đến mặt
phẳng (AMN) về việc tính thể tích của các
khối chóp nói trên, khoảng cách từ P đến
(AMN) có thể thay bằng khoảng cách từ C
đến (SAB).
Giải.
Gọi O là tâm của hình vuông ABCD,
khi đó SO (ABCD) M, N lần lượt là trung điểm của SA và SB nên
P
N M
O B
D
C A
S
Trang 15Vậy
Bài tập 4 Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình vuông tâm O, SA vuông
góc với đáy hình chóp Cho AB = a, SA =
Gọi H, K lần lượt là hình chiếu của A trên SB,
SD Tính khoảng cách từ điểm O đến mặt phẳng
(AHK).
Phân tích Khối chóp AOHK và ASBD có
chung đỉnh, đáy cùng nằm trên một mặt phẳng
nên ta có thể tính được thể tích khối chóp
OAHK, hơn nữa tam giác AHK cân nên ta tính
được diện tích của nó
Giải.
Cách 1:
Trong đó:
;
Ta có HK và BD đồng phẳng và cùng vuông góc với SC nên HK // BD
AI cắt SO tại G là trọng tâm của tam giác SAC, G thuộc HK nên
Tam giác AHK cân tai A, G là trung điểm của HK
O
C A
D
B
S
H K
J G
I
Trang 16Tứ diện ASBD vuông tại A nên:
Tam giác OHK cân tại O nên có diện tích S bằng
Cách 2: Ta chứng minh
Ta có:
Cách 3: Giải bằng phương pháp tọa độ như sau:
Chọn hệ tọa độ Oxyz sao cho O A, B(a ; 0 ; 0), D(0 ; a ; 0), S(0 ; 0 ; ).
Tính SH, SK suy ra tọa độ của H , K , O
Áp dụng công thức
Cách 4: SC (AHK) nên chân đường vuông góc hạ từ O xuông (AHK) có thể xác định
được theo phương SC.
* AH SB, AH BC (do BC (SAB)) AH SC
Tương tự AK SC Vậy SC (AHK)
* Giả sử (AHK) cắt SC tại I, gọi J là trung điểm của AI, khi đó OJ // SC OJ (AHK)
SA = AC = SAC cân tại A I là trung điểm của SC.
Trang 17Vậy
Bài tập 5 (Đề thi Đại học khối B năm 2011) Cho lăng trụ ABCDA 1 B 1 C 1 D 1 có đáy ABCD là hình chữ nhật Hình chiếu vuông góc của điểm A1 trên mặt
phẳng (ABCD) trùng với giao điểm của AC và BD, góc giữa hai mặt phẳng (ADD1A1) và
(ABCD) bằng 600 Tính thể tích của khối lăng trụ đã cho và khoảng cách từ điểm B1 đến
mặt phẳng (A1BD) theo a.
Phân tích Do B 1 C // (A 1 BD) nên ta trượt đỉnh B 1 về vị trí thuận lợi C và quy việc
tính thành tính
Giải.
* Gọi O là giao điểm của AC và BD
Gọi E là trung điểm AD
O
D
C B
A
D1
C1 B1
A1
Trang 18
Bài tập 6 Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình vuông tâm O có cạnh
bằng a, và vuông góc với mặt phẳng (ABCD).
a) Tính khoảng cách từ O đến (SBC).
b)Tính khoảng cách từ trọng tâm tam giác SAB đến (SAC).
Phân tích: Do , nên thay vì việc tính ta đi tính
, tương tự như vậy ta có thể quy việc tính thông qua việc tính hay
Giải.
a) Ta có: nên:
Gọi H là hình chiếu của A trên SB ta có:
Trong tam giác vuông SAB có:
b) Gọi E là trung điểm AB, G là trọng tâm tam giác SAB.
O
F E
D
C B
A S
Trang 19Ta có:
Bài tập 7 (Đề thi đại học khối D năm 2007) Cho hình chóp có đáy làhình thang , Cạnh bên vuông góc với đáy
và Gọi là hình chiếu vuông
góc của trên Tính khoảng cách từ
N E H
K
M
D
C B
A S
Trang 20Cách 2: Gọi lần lượt là khoảng cách từ các điểm H và B đến mp(SCD), ta có:
Trong đó
Ta có:
Cách 3: Sử dụng tính chất của tứ diện vuông.
Phân tích Trong bài toán này, việc tìm chân đường vuông góc hạ từ H xuống mặt phẳng
(SCD) là khó khăn Vì vậy, ta sẽ tìm giao điểm K của AH và (SCD) và quy việc tính
khoảng cách từ H đến (SCD) về việc tính khoảng cách từ A đến (SCD)
Gọi M là giao điểm của AB và CD, K là giao điểm của AH với SM Ta có:
Suy ra H là trọng tâm của tam giác SAM Từ đó ta có:
Do tứ diện ASDM vuông tại A nên:
Vậy
* Nhận xét: Việc lựa chọn hệ véc tơ gốc là rất quan trọng khi giải quyết một bài toán
bằng phương pháp véc tơ Nói chung việc lựa chọn hệ véc tơ gốc phải thoả mãn hai yêucầu:
+ Hệ véc tơ gốc phải là ba véc tơ không đồng phẳng
+ Hệ véc tơ gốc nên là hệ véc tơ mà có thể chuyển những yêu cầu của bài toánthành ngôn ngữ véc tơ một cách đơn giản nhất
III BÀI TOÁN 3: KHOẢNG CÁCH GIỮA ĐƯỜNG THẲNG VÀ MẶT PHẲNG SONG SONG, KHOẢNG CÁCH GIỮA HAI MẶT PHẲNG SONG SONG.
1 Phương pháp: