1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN mới NHẤT) SKKN một số kinh nghiệm trong việc dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn văn

19 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 225,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc phát hiện và bồi dưỡng kịp thời những học sinh có khả năng cảm thụ văn chương là một việc làm đúng đắn có ý nghĩa xã hội to lớn vì nó không chỉ giúp cổ vũ tinh thần, thái độ học tập

Trang 1

- Tên sáng kiến:

Một số kinh nghiệm trong việc dạy bồi dưỡng học sinh giỏi

Cha ông ta thường nói “Văn học là nhân học”, nhà phê bình Hoài Thanh cũng khẳng định: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có” Đúng vậy, khẳng định trên là khẳng định đúng đắn đối

với việc dạy và học môn Ngữ văn, ngoài việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức là một phần cơ bản thì việc dạy Văn còn bồi dưỡng cho các em những giá trị của cuộc sống muôn màu, hướng các em đến đỉnh cao của giá trị chân, thiện, mĩ Ở lứa tuổi THCS các em rất giàu xúc cảm và có trí tưởng tượng phong phú, qua tiếp xúc với tác phẩm văn học các em sẽ cảm nhận được tâm trạng, các cung bậc tình cảm cũng như suy nghĩ của nhân vật và cùng buồn vui, đau khổ, bế tắc hay hy vọng với nhân vật Thế giới hình tượng nhân vật và tiếng lòng cùng tâm hồn của người nghệ sĩ sẽ giúp các em mở rộng tâm hồn của mình với thế giới bên ngoài, giúp học sinh có đời sống tinh thần phong phú, sáng tạo, yêu đời và tự tin hơn trong cuộc sống Việc phát hiện và bồi dưỡng kịp thời những học sinh có khả năng cảm thụ văn chương là một việc làm đúng đắn có ý nghĩa xã hội to lớn vì nó không chỉ giúp cổ vũ tinh thần, thái độ học tập của học sinh mà còn nâng cao ý thức tìm tòi, đào sâu kiến thức nhằm nâng cao chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên Bên cạnh đó việc bồi dưỡng học sinh giỏi còn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của cơ sở giáo dục, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

Vậy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn được hiểu như thế nào cho

đúng? Theo từ điển tiếng Việt: “bồi dưỡng” hiểu theo nghĩa thông thường là bổ

sung thêm những yếu tố còn thiếu còn yếu cho một sinh thể nào đó giúp sinh thể

khỏe mạnh và phát triển, “bồi dưỡng” trong học tập là “học và luyện tập cho biết, cho quen” Giáo trình "Phương pháp dạy học văn" của Đại học Quốc gia Hà Nội

có viết: "Bồi dưỡng học sinh giỏi văn hiểu theo nghĩa thông thường tức là giáo viên - người hướng dẫn biết khơi dậy khả năng, năng lực cảm thụ văn học của học sinh trên cơ sở vốn hiểu biết học sinh đã có và cao hơn nữa là cung cấp cho các

em những điểm mới, sâu hơn về văn học mà học sinh chưa có Để từ đó các em vận dụng vào việc làm văn hiệu quả" Theo đó, ta có thể khẳng định rằng việc bồi

dưỡng học sinh giỏi là một cấp độ truyền đạt kiến thức, kỹ năng cao nhằm giúp các

em có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ, yêu cầu học tập nào đó Ở đây, được hiểu

cụ thể là có đủ khả năng vượt qua các kỳ thi học sinh giỏi và được cấp có thẩm quyền công nhận

a Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

Từ những năm học về trước công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đã được quan tâm và nhiều thầy cô giáo đã dành nhiều tâm huyết cho việc bồi dưỡng học sinh Công tác bồi dưỡng được thực hiện theo kế hoạch thời gian hướng dẫn của Phòng

Trang 2

Giáo dục và Đào tạo, sự chỉ đạo của nhà trường Mỗi thầy cô khi được phân công dạy lớp nào thì bồi dưỡng học sinh lớp đó, việc lựa chọn học sinh cũng tùy theo nguyện vọng, sở thích môn học của các em

* Ưu điểm

+ Việc bồi dưỡng theo kế hoạch như vậy giúp Ban giám hiệu nhà trường cũng như giáo viên theo dõi được tiến trình thực hiện nhiệm vụ một cách khoa học, đảm bảo tiến độ

+ Học sinh được lựa chọn bộ môn yêu thích phù hợp với sở thích của mình, phát huy được tinh thần dân chủ trong học tập và cạnh tranh lành mạnh giữa các em

* Nhược điểm

- Đối với môn Ngữ văn là một môn học đòi hỏi khả năng tư duy và năng khiếu cảm nhận vì vậy không phải học sinh nào cũng có hứng thú với môn học này, so với các môn học khác thì ở môn Ngữ văn việc lựa chọn được những học sinh có năng khiếu và lòng đam mê đã là khó nhưng việc bồi dưỡng các em còn gặp nhiều khó khăn hơn vì:

+ Những học sinh có năng khiếu thường không có niềm đam mê và hứng thú với môn học này các em luôn dành ưu tiên lựa chọn tham gia bồi dưỡng và thi học sinh giỏi các môn khoa học tự nhiên

+ Những học sinh có hứng thú với môn học thì lại không có năng lực cảm thụ tốt cũng như kỹ năng trình bày vấn đề, hoặc thậm chí có những học sinh không có khả năng ở các môn học khác bất đắc dĩ lựa chọn con đường theo đuổi môn Ngữ văn vì các em chưa nhận thức đúng về yêu cầu cũng như điều kiện của môn học

+ Ngay cả khi các em đã tham gia bồi dưỡng thì bản thân vẫn không tự tin vào khả năng của mình, thậm chí có những học sinh đã theo đuổi môn học từ lớp dưới nhưng sau một kỳ thi chưa có kết quả như mong muốn các em lại chán nản bỏ lửng chạy theo môn học khác nhằm tìm kiếm thành tích cho cá nhân mình

- Về phía nhà trường cũng gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn, phân công giáo viên tham gia bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn

+ Một số giáo viên mới vào nghề, chưa có kinh nghiệm bồi dưỡng, thậm chí một số giáo viên tuy có kiến thức và phương pháp để thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất lượng đại trà tốt nhưng năng lực cảm thụ văn học còn hạn chế cũng như chưa tự tin vào bản thân, e ngại khi được nhận nhiệm vụ

+ Chưa có chương trình, tài liệu biên soạn riêng cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Việc tìm kiếm tài liệu chính thống thường gặp khó khăn

+ Việc giao lưu học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giữa các giáo viên tham gia bồi dưỡng chưa được thực hiện thường xuyên

Đây là những lí do khiến cho chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn chưa thật cao như đáng lẽ vốn có Để từng bước nâng cao hiệu quả trong công tác bồi dưỡng

Trang 3

cần thực hiện những giải pháp phù hợp hơn với nhận thức của học sinh và tình hình nhà trường

b Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

b.1 Tính mới:

Giúp giáo viên xác định, lựa chọn đúng học sinh có năng khiếu, có lòng đam

mê môn học để thành lập đội tuyển

Biết định hướng kiến thức trọng tâm, phù hợp với tình hình thực tế

Học sinh được định hướng, tư vấn một cách cẩn thận, thấy được ưu điểm, hạn chế của bản thân để từ đó quyết định theo đuổi môn học

Việc rèn kỹ năng cảm nhận văn học cũng như cách lập luận, hành văn, diễn đạt cho học sinh một cách linh hoạt sáng tạo nhưng vẫn nhẹ nhàng, không gây áp

lực quá lớn cho các em, không theo kiểu “nhồi nhét”.

b.2 Cách thực hiện

* Nhóm giải pháp với giáo viên

Giải pháp 1: Tự bồi dưỡng chuyên môn.

Với một giáo viên tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi thì ngoài kiến thức và tâm huyết thì kỹ năng của bản thân là quan trọng Chỉ khi người giáo viên có các

kỹ năng cảm nhận văn học, kỹ năng hành văn, diễn đạt thì mới có thể giúp học sinh có được những kỹ năng ấy và thực hành một cách nhuần nhuyễn

- Tự rèn luyện năng lực cảm thụ văn học: Bản thân tôi vốn là một giáo viên

thường xuyên được bồi dưỡng về kỹ năng cảm thụ văn học ngay từ khi là học sinh THPT nên việc rèn luyện thêm không quá khó khăn Cách tự rèn luyện của tôi là: thường xuyên nghiên cứu và phân tích các tác phẩm yêu thích trong chương trình THCS đặc biệt là những tác phẩm mới được đưa vào chương trình SGK như bài

thơ “ Tiếng gà trưa” - Xuân Quỳnh, “Thuế máu” - Nguyễn Ái Quốc, “Ánh

trăng” - Nguyễn Duy, “Sang thu” - Hữu Thỉnh, “Nói với con” - Y Phương bởi lẽ

những văn bản mới sẽ kích thích trí tuệ và suy nghĩ mới của người đọc, giúp rèn luyện năng lực cảm thụ tốt nhất, không cần đi theo lối mòn trước đây, qua đó bản thân tự đánh giá được khả năng của mình để định hướng cách tiếp cận tác phẩm văn học ở những khía cạnh khác nhau, vừa giúp rèn luyện năng lực vừa có thêm kiến thức phục vụ công tác giảng dạy bộ môn và bồi dưỡng học sinh giỏi

- Rèn luyện kỹ năng trau dồi vốn từ: Đây là kỹ năng quan trọng mà bất kỳ

giáo viên Ngữ văn nào cũng cần phải có Khi người giáo viên có vốn từ phong phú việc dạy học sẽ có hiệu quả hơn Với tôi, việc tự rèn luyện được thực hiện nhiều hơn khi tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi Để trình bày được vấn đề khúc triết rõ ràng không chỉ đòi hỏi người trình bày cần hiểu sâu vấn đề mà còn cần đến một kho ngôn ngữ phong phú để kết hợp với kỹ năng tổng hợp, phân tích, diễn đạt và sắp xếp trình tự các vấn đề liên quan chặt chẽ Bản thân tôi đã cố gắng trau dồi cho mình những vốn từ cần thiết để có thể truyền tải đến học sinh kiến thức đầy đủ, dễ

Trang 4

hiểu nhất Để có vốn từ tôi cố gắng đọc nhiều tài liệu đặc biệt là các bài giảng bình văn học, các tác phẩm văn học nổi tiếng Ngoài ra tôi còn tập viết các bài bình giảng văn học phục vụ cho công tác giảng dạy Ngữ văn trên lớp

Giải pháp 2: Học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp

Từ xưa đến nay, kinh nghiệm là một trong những yếu tố giúp con người thành công trong mọi lĩnh vực, những kinh nghiệm mỗi người đã trải qua và tích lũy được là vô cùng quan trọng Đặc biệt việc bồi dưỡng học sinh giỏi càng đòi hỏi kho kinh nghiệm nhiều hơn bao giờ hết Bản thân tôi hiểu được điều đó nhưng là một giáo viên mới được tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THCS việc tích lũy kinh nghiệm chưa có là bao, vì vậy tôi đã tìm đến những đồng chí đã nhiều năm tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp có uy tín đồng thời xin được dự giờ các giờ thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện…chính các đồng chí đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi cách lựa chọn học sinh có năng khiếu, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phù hợp tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận đề tài

Giải pháp 3: Lựa chọn đội tuyển

Theo tôi, việc lựa chọn học sinh có năng khiếu không phải chỉ thực hiện khi

có kế hoạch hướng dẫn của nhà trường, mà giáo viên cần theo dõi, phát hiện các

em trong suốt quá trình các em học lớp dưới Để phát hiện học sinh có năng khiếu

chuẩn bị tham gia đội tuyển học sinh giỏi Ngữ văn 8, tôi dựa vào “nguồn” học sinh

đã có thông qua trao đổi với giáo viên dạy Ngữ văn 7, đồng thời theo dõi kết quả học tập của các em trong suốt năm học lớp 7 Đầu năm học lớp 8, khi nhà trường

có kế hoạch thành lập đội tuyển tôi tiến hành khảo sát bằng một đề văn để xác định được một lần nữa khả năng thực tế của học sinh Việc thành lập đội tuyển thực

hiện qua ba bước: bước một giáo viên tiếp nhận những học sinh có đam mê và yêu thích môn Văn; bước hai giáo viên rà soát lại những học sinh có năng khiếu chưa mạnh dạn tham gia bồi dưỡng động viên các em tham gia đội tuyển; bước cuối cùng giáo viên lập danh sách học sinh tham gia đội tuyển báo cáo nhà trường.

Giải pháp 4: Xây dựng kế hoạch

Việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là khâu quan trọng giúp giáo viên bồi dưỡng lựa chọn được nội dung trọng tâm trong chương trình của cấp học để định hướng, bồi dưỡng học sinh Năm học 2015-2016, lần đầu tiên được giao nhiệm vụ bồi dưỡng đội tuyển Ngữ văn 8 tôi khá lúng túng trong việc xây dựng kế hoạch, sau khi được sự giúp đỡ của đồng nghiệp có kinh nghiệm, bước sang năm học 2016-2017 tôi đã tự tin, thành thạo hơn trong việc xây dựng kế hoạch với đầy đủ những nội dung trọng tâm của môn học để tiến hành bồi dưỡng Kế hoạch bồi dưỡng của tôi trong năm học vừa qua được xây dựng cụ thể như sau:

KẾ HOẠCH BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Năm học: 2016-2017, Môn: Ngữ văn 8

Trang 5

Ngày Buổi Tiết Nội dung chuyên đề Ghi chú

1

1 Rèn kỹ năng diễn đạt và xây dựng đoạn văn 2

3

2

4

Rèn kỹ năng xây dựng bố cục văn bản 5

6

3

7

Ôn tập tiếng Việt 8

9

4

10

Ôn tập tiếng Việt (tiếp) 11

12

5

13

Ôn tập tiếng Việt (tiếp) 14

15

6

16

Ôn tập tiếng Việt (tiếp) 17

18

7

19

Ôn tập văn học dân gian 20

21

8

22

Ôn tập văn học trung đại 23

24

9

25

Ôn tập văn học hiện đại 26

27

10

28

Ôn tập văn học hiện đại (tiếp) 29

30

11

31

Ôn tập văn học nước ngoài 32

33

35

Trang 6

13

37

Văn miêu tả 38

39

14

40

Văn biểu cảm 41

42

15

43

Văn nghị luận

44 45 47 48 50 51 53 54 56 57

16

58

Cảm nhận văn học 59

60

17

61

Văn bản thuyết minh 62

63

18

64

Văn bản thuyết minh 65

66

19

67

Ôn tập tổng hợp 68

69

20

70

Luyện đề tổng hợp 71

72

21

73

Luyện đề tổng hợp (tiếp) 74

75 Với kế hoạch như trên tôi thấy rằng các phần kiến thức và kỹ năng các lớp 6,7,8 học sinh đều được ôn luyện, củng cố Căn cứ vào kế hoạch đã xây dựng tôi

Trang 7

dễ dàng hơn trong việc sưu tầm, tìm hiểu các tài liệu phục vụ công tác bồi dưỡng Đồng thời, với kế hoạch cụ thể rõ ràng như vậy Ban giám hiệu nhà trường sẽ chủ động bố trí thời khóa biểu đảm bảo cho giáo viên đủ thời gian bồi dưỡng, ôn luyện

* Nhóm giải pháp với học sinh.

Giải pháp 1: Củng cố niềm tin và đam mê.

Ở lứa tuổi học sinh THCS các em đã biết đam mê và xác định mục đích, nhưng đó chỉ là sự bột phát, đôi khi chỉ vì một lần thực hiện không thành công các

em có thể đánh mất tự tin vào bản thân Trước khi bồi dưỡng kiến thức cho học sinh tôi thấy rằng cần phải củng cố niềm tin và kích thích niềm đam mê cho các

em Nhiều học sinh vì học lớp chọn nên thấy các bạn đăng kí tham gia bồi dưỡng

cũng không muốn “thua bạn, kém bè” chọn liều môn Văn vì nghĩ môn học này

không cần học thuộc, viết thế nào cũng có điểm Nhiều em tuy rất thích học môn Văn nhưng lại không biết cách hành văn, không tự tin sẽ có kết quả như mong muốn do năm trước thi trượt Chính vì điều này, bản thân tôi muốn có được đội tuyển đã phải động viên các em rất nhiều Cụ thể năm học 2015-2016 khi được giao bồi dưỡng môn Ngữ văn 8, nhiều học sinh không tự tin tham gia đội tuyển đã

có 4 em của đội tuyển năm trước lựa chọn theo môn học khác, những em còn lại có

5 em do không tự tin với môn khác nên đành chọn môn Văn, chỉ có hai học sinh là

có năng khiếu và đam mê thực sự với môn học Mặc dù vậy các em vẫn không tin tưởng sẽ có giải vì năm trước thi trượt, năm nay lại thầy giáo mới không biết năng lực thế nào ? Tôi đã củng cố niềm tin của học sinh với giáo viên bằng cách cùng các em ngồi thi trực tiếp tại lớp một đề văn do chính các em tự sưu tầm, sau đó tôi phô tô bài làm của mình đưa cho từng học sinh chấm và so sánh với chính đáp án của các em sưu tầm đó Khi đã khẳng định được năng lực của mình trước học sinh tôi định hướng cho các em mục tiêu cụ thể: Khi tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi các em có cơ hội tiếp cận những kiến thức và kỹ năng sâu rộng hơn của bộ môn, đặc biệt là kỹ năng diễn đạt nó sẽ phục vụ hữu ích cho các em trong giao tiếp và cuộc sống thường nhật; Với năng lực của bản thân các em cố gắng đoạt giải, điều này sẽ là nguồn động lực lớn cho các em bước tiếp chặng đường sau này, nếu không có giải cũng là một bước đệm để các em chuẩn bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cho kỳ thi chọn học sinh giỏi vào năm học lớp 9 Thêm nữa, tôi giải thích để các em hiểu rằng đối với các em việc tiếp thu kiến thức không hề khó khăn, còn kỹ năng chỉ cần chăm chỉ rèn luyện sẽ có Tóm lại, có rất nhiều cách để động viên học sinh nhưng dù là cách nào thì người giáo viên vẫn phải được học sinh tin tưởng về năng lực, có như vậy mọi lời động viên mới có giá trị với các em

Giải pháp 2: Bồi dưỡng kiến thức.

Một học sinh khi đã tham gia đội tuyển bồi dưỡng thì yêu cầu đầu tiên các

em phải nắm chắc kiến thức môn học, nói như thế không có nghĩa là kiến thức của các em phải cao sâu hơn các bạn khác, chỉ cần các em nắm được kiến thức cơ bản

Trang 8

trọng tâm của bộ môn thì đó chính là cái “gốc” để giáo viên bồi dưỡng kỹ năng,

kết hợp với đam mê, động lực sẽ giúp các em giải quyết tốt vấn đề

Việc bồi dưỡng kiến thức cho học sinh đội tuyển Ngữ văn 8 tôi thực hiện theo chuyên đề, mỗi chuyên đề các em sẽ được củng cố, ôn tập lại kiến thức liên

quan trước khi được rèn kỹ năng Ví dụ như khi bồi dưỡng chuyên đề “Các biện pháp tu từ” tôi phải giúp học sinh củng cố lại kiến thức như sau:

* Các biện pháp tu từ lớp 6:

So sánh:

- Là đối chiếu sự vật sự việc này với sự vật sự việc khác có nét tương đồng

để làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

- Có hai kiểu so sánh:

+ So sánh ngang bằng

+ So sánh không ngang bằng

VD: Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

 So sánh ngang bằng

Nhân hóa:

- Là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật ,… trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người

- Có ba kiểu nhân hóa thường gặp:

+ Dùng từ vốn gọi người để gọi vật

+ Dùng những từ vốn để chỉ hoạt động tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật

+ Trò chuyện, xưng hô với vật như với người

VD: Núi cao chi lắm núi ơi

Núi che mặt trời chẳng thấy người thương

 Trò chuyện, xưng hô với vật như với người

Ẩn dụ:

- Là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

- Có bốn kiểu ẩn dụ thường găp: + Ẩn dụ hình thức

+ Ẩn dụ cách thức

+ Ẩn dụ phẩm chất

+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

VD1: Người Cha mái tóc bạc

Đốt lửa cho anh nằm

 Ẩn dụ phẩm chất

VD1: Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

Trang 9

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

 Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

Hoán dụ:

- Là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự vật hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gọi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

- Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:

+ Lấy một bộ phận để gọi cái toàn thể

+ Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng

+ Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật

+ Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

VD: Ngày Huế đổ máu => chiến tranh (Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật)

Với kiến thức lớp 7, lớp 8 tôi cũng thực hiện hướng dẫn học sinh ôn tập củng cố như trên

Giải pháp 3: Rèn kỹ năng

Kỹ năng là chìa khóa vạn năng giúp học sinh linh hoạt biến chuyển những kiến thức đã được học thành của riêng mình và diễn đạt nó theo cách riêng mang đậm dấu ấn cá nhân.Vì vậy, để đảm bảo chất lượng bộ môn cũng như khả năng đoạt giải của đội tuyển học sinh giỏi giáo viên cần có phương pháp rèn kỹ năng cho học sinh Trong hai năm thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi tôi thường chú ý rèn cho học sinh ba kỹ năng chính đó là:

Kỹ năng tham khảo tài liệu: Đây là kỹ năng tự học hợp lí và hiệu quả nhất đối

với học sinh sau giờ lên lớp, thông qua các tài liệu tham khảo các em vừa tiếp nhận được kiến thức vừa được rèn luyện kỹ năng đọc, nhận xét bài viết của người khác Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách tổng hợp, chuyển hóa kiến thức trong các tài liệu thành kiến thức của riêng mình, chứ không phải đọc thuộc lòng rồi chép lại một cách máy móc Muốn vậy, giáo viên phải có cách kiểm tra việc tham khảo tài liệu của các em, tôi đã tiến hành giám sát như sau: Sau khi xong mỗi chuyên đề tôi giao cho học sinh một đề văn yêu cầu các em thực hiện hai nhiệm vụ: thứ nhất tìm các tài liệu tham khảo liên quan đến đề văn, tìm đọc các bài viết có nội dung tương tự, từ những bài viết đã tham khảo chọn ra một bài mà em tâm đắc nhất, sau đó dựa theo nội dung đó lập dàn ý cho bài văn mình định viết; nhiệm vụ thứ hai các em chỉ được dựa theo dàn ý đã xây dựng và viết thành bài văn của riêng mình, khi nộp bài các em nộp cả dàn ý cho giáo viên Làm như vậy, các em sẽ tự nâng cao ý thức tự học, vừa củng cố được kỹ năng lập dàn ý, không phụ thuộc câu chữ trong tài liệu mà vẫn được trau dồi vốn từ

Kỹ năng cảm thụ văn học: Một học sinh giỏi môn Ngữ văn phải biết cách

“giải mã tác phẩm văn học”, tức là phải biết đặt bản thân mình vào vị trí của tác

giả, nhân vật trong tác phẩm sử dụng tổng thể các giác quan để hiểu, cảm nhận…

Trang 10

Tuy nhiên, đây là vấn đề khó, nhiều học sinh do không có năng lực này mà việc phân tích một tác phẩm thường gặp khó khăn Để có hiệu quả giáo viên cần kiên trì hướng dẫn học sinh bắt đầu từ những đoạn trích hay tác phẩm đơn giản Với kỹ năng này tôi cũng mất khá nhiều thời gian giúp học sinh nắm được cách để cảm nhận một tác phẩm, xin đơn cử một ví dụ như sau:

Phân tích đoạn trích trong bài thơ “Nhớ rừng” của tác giả Thế Lữ:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?

Đâu những chiều mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới ?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng ?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật ?

Hầu hết học sinh khi đọc đoạn trích này đều nói là hay, nhưng hay như thế

nào các em không thể giải thích và chỉ ra được cái “hay” của nó Tôi đã giúp học sinh chỉ ra cái “hay” và “đặc sắc” của đoạn trích như sau:

+ Về nghệ thuật: Tác giả sử dụng hàng loạt những câu hỏi tu từ với điệp từ

“đâu”, nghệ thuật miêu tả với những tính từ chọn lọc (đêm) “vàng” (trăng) “tan”,

“mới”, “xanh”,…và những động từ mạnh gợi hình ảnh, cảm xúc “say mồi” ,

“uống”, (nắng) “gội”, (chim) “ca”, “chiếm”….rồi những từ láy đặc sắc “từng bừng”, “lênh láng”, “gay gắt” Nghệ thuật nhân hóa với đại từ nhân xưng “ta” của con hổ và hình ảnh mặt trời “chết” Giọng điệu thở than, ai oán và nuối tiếc

pha nỗi niềm uất hận

+ Về nội dung: Đoạn thơ là bốn “bức tranh tứ bình” (giáo viên đã giải thích

khái niệm này trong giờ học chính khóa) mỗi bức tranh chân dung tự họa khác nhau

của con hổ Nó đã khái quát trọn vẹn về cái “thời oanh liệt” của chúa sơn lâm Mỗi

bức tranh là nỗi niềm hoài niệm đầy tiếc nuối, uất hận Mỗi bức một khung cảnh,

một gam màu, một dáng điệu của vị “chúa tể cả muôn loài”.

Bức thứ nhất: Chúa sơn lâm hiện ra như nhà thi sĩ của chốn lâm tuyền, với

cử chỉ “uống ánh trăng tan” đầy thơ mộng Chữ “say mồi” có thể làm người đọc lạc hướng, bởi tưởng rằng “mồi” đây hẳn là một con thú đáng thương nào đó.

Không phải Con mồi chính là con trăng vàng in bóng trong lòng suối Con mồi cái đẹp, cái đẹp con mồi một thân phận kép, đó là cảm nhận độc đáo của con hổ -thi sĩ này

Ngày đăng: 06/04/2022, 08:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm