Phần II : Nội dung Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này, tôi xin trình bày những đặc điểm, nội dung, nguyên nhân dẫn đến chất lợng dạy học giải toán có lời văn còn hạn chế và đa ra
Trang 1kinh nghiệm
nâng cao chất lợng dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4
Phần I : đặt vấn đề
1 Cơ sở lý luận.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại văn minh mới Nhìn từ phía khoa học và công nghệ thì đây là thời đại văn minh thông tin với nền kinh tế dựa trên tri thức Thời đại văn minh mới này là một bớc phát triển vợt bậc so với thời đại văn minh nông nghiệp với nền kinh tế dựa trên tài nguyên khoáng sản là chính
Ngời lao động ở mọi lĩnh vực trong thời đại ngày nay phải không ngừng học hỏi, trau dồi tri thức Phải có tầm nhìn xa mang tính chiến lợc và đủ chiều sâu để có thể giải quyết nhanh chóng những công việc cụ thể
Đảng và Nhà nớc ta đã đặt ra yêu cầu với ngành giáo dục là phải đào tạo đợc đội ngũ những ngời lao động tự chủ, năng
động, sáng tạo, tiếp cận và làm chủ đợc công nghệ tiên tiến, có năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra Đảng và Nhà nớc đặc biệt coi trọng giáo dục, coi “Giáo dục là quốc sách hàng
đầu”, coi con ngời là mục tiêu và là động lực của sự phát triển
Để khẳng định vai trò của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp phát triển công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc, tại Đại hội
Đảng lần thứ X một lần nữa đề ra: “….Tiếp tục nâng cao chất l-ợng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phơng pháp dạy học, hệ thống trờng lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá
- hiện đại hoá - xã hội hoá …”
Trớc những yêu cầu thực tế đó, chất lợng dạy học trong mỗi trờng tiểu học là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Đặc biệt nó quyết định đến sự tồn tại của nhà trờng Chất lợng dạy học ấy phải đợc thể hiện bằng chất lợng toàn diện của các môn học: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiện xã hội, Mỹ thuật, Âm nhạc, Thể dục vv
Đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nớc đòi hỏi phải có những con ngời lao động mới, có bản lĩnh, năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thích ứng đợc với thực tiễn đời sống xã hội trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Từ thực tế đó đòi hỏi mục tiêu giáo dục trong nhà trờng cũng phải thay đổi, đặc biệt là việc đổi mới về phơng pháp dạy học
Trong tất cả các môn học ở trờng tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt thì môn Toán cũng có vị trí vô cùng quan trọng Toán học với
t cách là một môn khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới hiện thực, nó có một hệ thống kiến thức cơ bản và phơng pháp nhận thức cần thiết cho đời sống sinh hoạt, lao động Đó cũng là những công cụ rất cần thiết để học các môn học khác, tiếp tục
Trang 2nhận thức thế giới xung quanh và để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn Mặt khác môn Toán có vị trí rất quan trọng giúp cho học sinh khả năng phát triển t duy lôgíc trong thế giới hiện thực trừu tợng hoá, khái quát hoá, phân tích ,tổng hợp, so sánh, dự toán, chứng minh và bác bỏ Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện
ph-ơng pháp suy nghĩ, phph-ơng pháp suy luận, phph-ơng pháp giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, toàn diện chính xác Nó có nhiều tác dụng trong việc phát triển trí thông minh, óc t duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành, rèn luyện nề nếp phong cách
và tác phong làm việc khoa học rất cần thiết trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngời góp phần giáo dục ý trí và những đức tính tốt nh cần cù nhẫn nại, ý thức tự vợt khó
Trong giải toán, học sinh phải t duy một cách tích cực, linh hoạt huy động thích hợp các kiến thức và khả năng đã có vào các tính huống khác nhau Trong nhiều trờng hợp, học sinh phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện cha đợc nêu ra một cách tờng minh ở chừng mực nào đó phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo Vì vậy giải toán còn là một trong những biểu hiện " năng động " trong hoạt động trí tuệ của học sinh
Đối với học sinh lớp 3 các em đã nắm vững cách giải một bài toán có lời văn xong đó chỉ là các bài toán hợp vận dụng trực tiếp các phép tính Lên lớp 4 các em đợc tiếp xúc với các dạng toán điển hình, do vậy các em gặp không ít khó khăn khi giải các bài toán
có văn ở dạng này, vì vậy nhiều em đã hiểu lầm và dẫn đến giải bài toán sai
2 Cơ sở thực tiễn :
Qua thực tế giảng dạy của bản thân tôi và qua trao đổi với
đồng nghiệp trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, chúng tôi đều thống nhất ý kiến: Học sinh thờng gặp khó khăn khi học một số dạng toán cơ bản nh sau:
- Giải toán về “Tìm số trung bình cộng”;
- Giải toán về “ Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số
đó”;
- Giải toán về “Tìm 2 số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của 2 số đó”;
- Giải toán có nội dung hình học;
- Giải một số bài toán nh : “ Tìm phân số của một số” , bài toán liên quan đến “ biểu đồ” , ứng dụng “ Tỉ lệ bản đồ”, toán “ trắc nghiệm” …vv
Nguyên nhân chủ yếu là do t duy của học sinh tiểu học nói chung và t duy của học sinh lớp 4 nói riêng còn hạn chế nên việc
đọc kĩ đầu bài với các em còn cha có, nắm cái đã cho, cái cần tìm còn lơ mơ Khi đọc đầu bài toán các em cảm thấy nó cứ giống với những bài nào đó đã làm rồi nhng thực tế bản chất của
Trang 3nó khác nhau vì các em thờng bị nhầm lẫn, ngộ nhận hoặc bị lôi cuốn vào các yếu tố không tờng minh
Từ thực trạng trên kết hợp với việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn giảng dạy của bản thân tôi Tôi thiết nghĩ chất lợng giải toán
có lời văn đợc nâng cao nếu có những biện pháp, phơng pháp giảng dạy phù hợp, khắc phục những tồn tại và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
Qua thực tế đó tôi nhận thấy mình cần phải làm nh thế nào
để góp phần nâng cao chất lợng dạy học giải toán có lời văn trong
môn toán lớp 4 Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lợng dạy học giải toán có lời văn trong môn toán lớp 4”.
Phần II : Nội dung
Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này, tôi xin trình bày những đặc điểm, nội dung, nguyên nhân dẫn đến chất lợng dạy học giải toán có lời văn còn hạn chế và đa ra một số giải pháp
mà tôi đã thực hiện để góp phần nâng cao chất lợng việc dạy học toán có lời văn ở lớp 4 Đối chứng với kết quả khảo sát đầu năm của lớp tôi, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm khi dạy giải toán có lời văn
I Những vấn đề chung.
1 Một số đặc điểm của dạy học toán có lời văn trong Toán 4.
- Cũng nh ở các lớp trớc, nội dung dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4 đợc xây dựng theo định hớng chủ yếu giúp học sinh rèn luyện phơng pháp giải toán (phân tích đề toán, tìm cách giải quyết vấn đề (bài toán) và trình bày bài giải bài toán): giúp học sinh khả năng diễn đạt (nói và viết) khi muốn nêu “tình huống” trong bài toán Trình bày đợc “cách giải” bài toán, biết viết “câu lời giải” và “phép tính giải” … các bài toán có lời văn trong toán 4
có xu hớng giảm tính phức tạp và “độ khó” quá mức với học sinh
đồng thời hạn chế các bài toán mang tính “đánh đố” học sinh hoặc có cách giải áp đặt, phải cần đến nhiều “mẹo mực” mới giải đợc (có thể có những bài cần nâng cao hơn nhng sẽ đa vào các loại sách tham khảo khác ngoài sách giáo khoa)
- Trong Toán 4, nội dung dạy học giải toán có lời văn đợc sắp xếp hợp lý, đan xen phù hợp với quá trình học tập các mạch số học, hình học, đại lợng và đo đại lợng của học sinh Chẳng hạn:
+ Khi học tới phân số, trong sách có nhiều bài toán có liên quan đến các phép tính phân số
+ Khi học các đơn vị đo khối lợng, diện tích, thời gian trong sách có nhiều bài toán thực tế liên quan đến các đơn vị
đo đại lợng đó
Trang 4+ Khi học về hình bình hành, hình thoi trong sách có những bài toán thực tế liên quan đến tính chu vi, diện tích các hình đó …
- Nội dung các bài toán có lời văn trong Toán 4 có “chất liệu” phong phú, cập nhật với thực tiễn và có hình thức thể hiện đa dạng hơn, hấp dẫn học sinh, chẳng hạn:
+ Có dạng bài toán phản ánh một số mối quan hệ số học nh:
“tìm số trung bình cộng của nhiều số”, “tìm hai số biết tổng
và hiệu của hai số đó”, “tìm hai số biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó” Khi giả các bài toán này, học sinh thờng đợc thực hiện theo một quy trình (các bớc) rõ ràng (có thể thực hiện cách giải với
sự trợ giúp của sơ đồ, theo quy tắc dới dạng công thức…)
+ Có dạng bài toán bổ sung tiếp nối từ lớp 3 nh bài toán “tìm phân số của một số”, có bài toán thể hiện dới dạng biểu đồ, qua bảng số liệu (bài 4 - trang 172, bài 5 - trang 101 Toán 4…), có bài toán đợc xây dựng từ “ứng dụng tỉ lệ bản đồ” (phần tỉ lệ bản
đồ trong toán 4)… Tiếp lên trên có nhiều bài toán đợc thể hiện sinh động qua mỗi bức ảnh gây hứng thú cho học sinh nh hình
ảnh Hồ Gơm, tợng vua Lý Thái Tổ, tranh vẽ bản đồ nớc Việt Nam
và có một số bài toán thể hiện dới dạng “trắc nghiệm” giúp học sinh phát triển năng lực giải toán, phù hợp với xu hớng kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập của học sinh hiện nay … vv
Khi giải các bài toán dạng nêu trên cần có cách giải linh hoạt, không áp đặt, để học sinh tự lựa chọn cách giải, câu trả lời, phép tính phù hợp (không nhất thiết lúc nào cũng phải theo trình
tự nh giải toán có lời văn thông thờng)
2 Khảo sát phân loại đối tợng học sinh.
Muốn dạy thành công môn Toán nói chung và dạng toán có lời văn nói riêng đòi hỏi ngời giáo viên phải nắm vững trình độ nhận thức của lớp mình để từ đó có biện pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tợng học sinh Trong cùng một lớp học, thờng có 4 đối ợng học sinh là Học sinh giỏi, khá, trung bình và yếu Cả 4 đối t-ợng cùng học một chơng trình với những yêu cầu tối thiểu cần đạt theo mục tiêu của bài học và chuẩn kiến thức kỹ năng Vấn đề
đặt ra là dạy thế nào để cho học sinh khá giỏi có khả năng phát triển, học sinh trung bình đạt đợc yêu cầu tối thiểu một cách vững chắc và có thể vơn lên, học sinh yêu kém từng bớc vơn lên
đạt yêu cầu
Chính vì vậy ngay từ đầu năm học (tuần 1) khi nhận lớp tôi
đã tiến hành khảo sát chất lợng học sinh lớp 4A do tôi chủ nhịêm
Kết quả cụ thể nh sau :
Tổng
số HS
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm dới TB
Trang 5Qua kết quả khảo sát và thực tế giảng dạy chơng trình sách giáo khoa lớp 4 mới tôi nhận thấy phần kỹ năng cơ bản và tính toán học sinh khá thành thạo song phần thực hiện kỹ năng giải toán có lời văn còn kém
2 Nguyên nhân dẫn đến kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh còn hạn chế
Qua khảo sát, thực tế giảng dạy và dự giờ của đồng nghiệp cùng khối tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn đến kỹ năng giải toán của học sinh còn hạn chế cụ thể là :
- Một số bài giáo viên cha hiểu rõ ý đồ của sách giáo khoa, cha phân định rõ giữa phần kiến thức cũ đã học và phần kiến thức mới, cha chú ý tới kiến thức trọng tâm của bài Giáo viên còn nhiều bỡ ngỡ trong việc vận dụng phơng pháp mới vào giảng dạy vì vậy cha phát huy đợc tính tích cực của học sinh
- Học sinh thờng gặp khó khăn khi phân biệt các yếu tố cơ bản của bài toán, khó nhận thức đợc bản chất của cái đã cho, dễ nhầm lẫn cái cần tìm với cái đã cho nhất là không nhận thức đợc vai trò của câu hỏi trong bài toán Khó nhận rõ quan hệ lôgíc giữa dữ kiện và ẩn số
- Nội dung bài toán lớp 4 thờng nêu ra những tình huống quen thuộc gần gũi với học sinh trong đó các dữ kiện thờng là các
đại lợng Khi học sinh tìm hiểu bài toán các em thờng bị phân tán vào các nội dung cụ thể của đại lợng hơn là các yếu tố cần thiết cho việc diễn tả điều kiện của bài toán theo yêu cầu của câu hỏi
-Trong các bài toán có lời văn ở lớp 4 các dữ kiện thờng là không thừa hoặc không thiếu Vì vậy học sinh thờng quan niệm bài toán bao giờ cũng có đáp số, vấn đề là tìm cách nào đó để
có đáp số Nhng khi đề toán ra ngoài cách đó thì học sinh rất lúng túng kể cả học sinh giỏi
- Học sinh lớp 4 thờng xử lý các điều kiện và các dữ kiện theo trình tự đa ra trong đầu bài toán hoặc theo tiến trình diễn biến của sự việc Nếu đảo ngợc các sự việc hay trình bày các dữ kiện khác với thứ tự thì nhiều học sinh còn gặp khó khăn
Qua kết quả khảo sát và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kỹ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 4 còn hạn chế Tôi xin đa
ra những giải pháp để góp phần nâng cao chất lợng giải toán có lời văn cho học sinh
II Những biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao chất lợng dạy học giải toán có lời văn lớp 4.
1 Nắm vững nội dung chơng trình.
Việc nắm vững nội dung, chơng trình là yêu cầu cần thiết
và bắt buộc đối với giáo viên Bởi vì mỗi đơn vị kiến thức toán ở tiểu học nói chung và toán ở lớp 4 nói riêng nh những mắt xích
Trang 6nằm trong hệ thống lôgic kiến thức và kỹ năng của chơng trình Nếu không nắm vững nội dung chơng trình ngời giáo viên không thể cung cấp cho học sinh một cánh có hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo mà học sinh phải lĩnh hội
Trong chơng trình toán có lời văn ở lớp 4, ngoài các dạng toán hợp, các phép tính hay đại lợng, các bài toán có yếu tố hình học thì học sinh còn đợc học 4 dạng toán điển hình nh:
-Tìm số trung bình cộng
-Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó
-Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó
-Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó
Trong chơng trình lớp 4 cải cách giáo dục học sinh đợc học 6 dạng toán điển hình là:
- Tìm số trung bình cộng
- Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó
- Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó
- Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó
- Bài toán về đại lợng tỉ lệ thuận
- Bài toán về đại lợng tỉ lệ nghịch
Nh vậy so với chơng trình cải cách giáo dục thì chơng trình tiểu học năm 2000 các dạng toán điển hình đã giảm đi 2 dạng
là :
- Bài toán về đại lợng tỉ lệ thuận
- Bài toán về đại lợng tỉ lệ nghịch
Các dạng toán này đợc chuyển lên dạy ở đầu lớp 5 Mặc dù vậy xong học sinh khi học các dạng toán điển hình vẫn gặp rất nhiều khó khăn, chính vì vậy nên giáo viên nào cũng cho rằng
“Chơng trình toán lớp 4 khá nặng”
Các dạng toán hợp, các bài toán có yếu tố hình học, học sinh
đã đợc làm quen từ lớp dới còn các dạng toán điển hình thì đây
là các dạng toán mới Các dạng toán này có quy trình chung là đều giải theo các bớc cơ bản (quy trình giải) Nếu giáo viên nghiên cứu
kỹ chơng trình, cho học sinh nắm chắc quy trình giải thì việc dạy, học dạng toán này sẽ đạt kết quả cao và có nghiên cứu kỹ
ch-ơng trình thì mới thấy đợc mối quan hệ giữa các dạng toán này nên khi dạy mới giúp học sinh phân biệt rõ sự giống và khác nhau giữa các dạng toán
2 Thực hiện nghiêm túc các quy trình giải toán có văn.
Chúng ta đều đã biết hoạt động giải toán có lời văn thờng
đợc tiến hành theo 4 bớc là :
Bớc 1 : Tìm hiểu kỹ đầu bài
Bớc 2 : Lập kế hoạch giải toán
Bớc 3 : Thực hiện kế hoạch giải
Bớc 4 : Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải
Trang 7Qua nghiên cứu thực tế tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn đến chất lợng giải toán có lời văn còn cha đạt hiệu quả một phần là do giáo viên cha tuân thủ quy trình giải toán có lời văn đặc biệt là ở bớc 1 (tìm hiểu kỹ đầu bài) và bớc 2 (lập kế hoạch giải)
Bớc 1 : Tìm hiểu kỹ đầu bài
Bớc này có vị trí vô cùng quan trọng, có thể ví nh "chiếc chìa khoá" để mở ra cách giải, bởi lẽ có làm tốt bớc này thì các
b-ớc sau mới đi đúng hớng và đạt kết quả cao Việc tìm hiểu nội dung bài toán (đề toán) thờng thông qua việc đọc bài toán (Dù bài toán cho dới dạng lời văn hoàn chỉnh hay bằng dạng sơ đồ, tóm tắt) Học sinh cần phải đọc kỹ, hiểu rõ đề toán cho biết gì, cho biết điều kiện gì, bài toán hỏi gì ? Khi đọc bài toán phải hiểu thật kỹ một số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ tình huống toán học đợc diễn đạt theo ngôn ngữ thông thờng, chẳng hạn “bán
đi” , “ thởng cho”, “ bay đi”… Nếu trong bài toán nào có thuật ngữ học sinh cha rõ thì giáo viên cần hớng dẫn để học sinh hiểu
đợc nội dung và ý nghĩa của từ đó trong bài toán đang làm Chằng hạn từ “tiết kiệm”, “năng suất”, “sản lợng”…sau đó cho học sinh “ thuật lại” vắn tắt bài toán mà không cần đọc lại nguyên văn bài toán
Vì vậy khi dạy giải toán tôi luôn thực hiện đầy đủ quy trình giải toán có lời văn và coi trọng hơn bớc 1 của quy trình
- Bớc 1 là bớc" tìm hiểu kỹ đầu bài", trong bớc này học sinh phải đọc kỹ đầu bài xác định đợc yếu tố cơ bản của bài toán (dữ kiện, điều kiện và ẩn số) phải tóm tắt đợc bài toán
Bớc này trong giải toán có văn có vị trí vô cùng quan trọng, bởi vì chỉ khi xác định đợc nội dung, yêu cầu của đầu bài thì học sinh mới dễ dàng tìm ra cách giải Nh vậy có thực hiện tốt đợc bớc 1 thì các bớc sau mới đi đúng hớng và đạt kết quả cao
Theo tôi khi dạy bớc 1 giải toán có lời văn ngời giáo viên phải thực hiện các công việc sau :
- Việc 1: Đọc kỹ đầu bài : trớc hết muốn hiểu đầu bài học sinh cần hiểu rõ cách diễn đạt bằng lời văn của bài toán, nắm đợc
ý nghĩa và nội dung của đầu bài Giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại nội dung của bài toán (không cần thuộc lòng)
- Việc 2 : Xác định yếu tố cơ bản của bài toán
+ Dữ kiện : Là cái đã cho , đã biết trong đầu bài , thờng đợc biểu diễn bằng danh số
+ ẩn số : là cái cha biết cần tìm (là các câu hỏi của bài toán)
+ Điều kiện : Là quan hệ giữa dữ kiện và ẩn số
Ví dụ : Tuổi chị và tuổi em cộng lại đợc 36 tuổi Em kém
chị 8 tuổi Hỏi chị bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi ? (Sách giáo
khoa toán 4 – trang 48)
Trang 8Dữ kiện : Tuổi chị và tuổi em cộng lại là : 36
ẩn số : Chị bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi ?
Điều kiện : Em kém chị 8 tuổi
- Việc 3 : Tóm tắt đề toán
- Tóm tắt bài toán phải đạt các yêu cầu sau :
+ Ngắn gọn cô đọng
+ Thể hiện đợc mối quan hệ logic giữa dữ kiện , ẩn số và
điều kiện
+ Gợi ý đợc cách giải
Ví dụ : Tuổi chị và tuổi em cộng lại đợc 36 tuổi Em kém chị 8 tuổi Hỏi chị bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi ? ( Sách giáo khoa toán 4 – trang 48)
Bớc 2 : Lập kế hoạch giải toán
Đây là bớc phân tích các dữ kiện, điều kiện và câu hỏi( ẩn số)của bài toán nhằm xác lập mối quan hệ giữa chúng và tìm đợc các phép tính phù hợp Đây là bớc quan trọng quyết định hớng giải bài toán, nếu thực hiện không tốt thì học sinh sẽ bị “lạc lối”
Lập kế hoạch giải toán nhằm xác định trình tự giải toán, xác
định trình tự giải quyết, thực hiện các phép tính số học
Ví dụ : Có 9 ô tô chuyển thực phẩm vào thành phố, trong đó 5
ô tô đi đầu, mỗi ô tô chuyển đợc 36 tạ và 4 ô tô đi sau mỗ ô tô chuyển đợc 45 tạ Hỏi trung bình mỗi ô tô chuyển đợc bao nhiêu
tấn thực phẩm ?(SGK toán 4 – trang 28).
Tôi dùng hệ thống câu hỏi để lập sơ đồ quy trình giải nh sau :
- Muốn biết trung bình mỗi ô tô chuyển đợc bao nhiêu tấn thực phẩm ta phải biết gì ? (ta phải biết tổng số thực phẩm và tổng số xe ô tô)
- Muốn tính đợc tổng số thực phẩm ta phải biết gì ? ( Ta phải tính đợc số thực phẩm 5 ô tô đi đầu chuyển và số thực phẩm 4 ô tô đi sau chuyển)
- Muốn tính đợc số thực phẩm 5 ô tô đi đầu chở ta phải biết gì ? (biết số ô tô và số thực phẩm 1 ô tô chuyển)
- Muốn tính đợc số thực phẩm 4 ô tô đi sau chở ta phải biết gì ? (Biết số ô tô và số thực phẩm 1 ô tô chuyển)
- Muốn biết đợc tổng số xe ô tô ta phải biết gì ? ( Biết số ô tô đi đầu và số ô tô đi sau)
Tuổi
chị
? tuổi
? tuổi
Tuổi
em
36 tuổi
8 tuổi
Trung bình mỗi ô tô
chuyển ?
Trang 9Dựa vào sơ đồ giáo viên định hớng cho học sinh quy trình giải ?
- Số thực phẩm một ô tô đi đầu chuyển đợc bao nhiêu ? ( 36 tấn)
- Muốn tính đợc số thực phẩm 5 ô tô đi đầu chuyển ta làm thế nào ?
- Số thực phẩm một ô tô đi sau chuyển đợc bao nhiêu ? ( 45 tấn)
- Muốn tính đợc số thực phẩm 4 ô tô đi sau chuyển ta làm thế nào ?
- Đã biết số thực phẩm của 5 ôtô đầu chở và số thực phẩm 5
ôtô sau chở muốn tính tổng số thực phẩm ta làm nh thế nào ?
- Số ô tô đi đầu là mấy xe ?
- Số ô tô đi sau là mấy xe ?
- Vậy tổng số ô tô là mấy xe?
- Đã biết tổng số thực phẩm và tổng số ôtô chở muốn tính
đợc trung bình mỗi ôtô chở đợc bao nhiêu ta làm thế nào?
Với cách thực hiện nh trên, khi dạy giải toán có lời văn, các em học sinh lớp 4A do tôi giảng dạy đã đạt đợc kết quả cao đúng nh tôi mong muốn
3 Tạo niềm say mê, hứng thú cho học sinh khi học giải toán có lời văn.
Nh chúng ta đã biết trực quan đối với học sinh tiểu học là rất cần thiết không những hỗ trợ việc nắm kiến thức mà nó còn tạo niềm say mê hứng thú cho học sinh Vì vậy khi giải toán có lời văn tôi luôn cố gắng cho học sinh sử dụng đồ dùng học tập để lĩnh hội kiến thức một cách bản chất hơn Ngoài ra tôi còn tổ chức các hình thức học tập sinh động nh: Trò chơi, su tầm những bài toán vui, những bài toán gần gũi với cuộc sống, đọc cho các em nghe, giải thích cho các em cách giải … Tôi luôn khuyến khích các em
tự su tầm đề toán hoặc tự đặt đề toán cho cả lớp giải hoặc tham khảo
Tổng số tấn thực
Số thực phẩm 5
ô tô đi đầu Số thực phẩm 4ô tô đi sau Số ô tôđi Số ô tôđi sau
Số thực phẩm 1
ô tô đi đầu Số thực phẩm 1ô tô đi sau
Trang 104 Giáo viên cần nắm đợc định hớng đổi mới phơng pháp dạy học nói chung và phơng pháp dạy học giải toán nói riêng.
Muốn cho các em học tập môn Toán đạt hiệu quả cao đặc biệt là toán có lời văn ở lớp 4, đòi hỏi ngời giáo viên phải tạo cho học sinh niềm say mê hứng thú học toán Vì vậy cần phải lựa chọn phơng pháp dạy học cho phù hợp để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho học sinh, tính hiệu quả của từng bài học, từng đơn vị kiến thức tránh nhàm chán
Qua nghiên cứu tài liệu chuyên môn và thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: về mặt bản chất đổi mới phơng pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phơng pháp, đổi mới các phơng tiện và hình thức triển khai phơng pháp trên cơ sở khai thác triệt để u điểm của các phơng pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phơng pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh
Nh vậy mục đích cuối cùng của đổi mới phơng pháp nói chung và phơng pháp dạy học toán nói riêng là làm thế nào để học sinh phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác Tôi luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có đợc tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của bản thân
5 So sánh cánh thực hiện các dạng toán với nhau:
Nh nội dung tôi đã trình bày ở trên học sinh lớp 4 thờng rất hay nhầm lẫn giữa các dạng toán
a Nhầm lẫn giữa 2 dạng toán:
- Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó
- Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó
Vì vậy khi dạy xong dạng toán tìm 2 số khi biết tổng và tỉ
số của 2 số đó giáo viên cần phải có những tiết luyện tập tổng hợp cả 2 dạng toán này ( thờng thực hiện vào buổi học thứ 2) để học sinh phân biệt rõ, tránh nhầm lẫn khi giải
Ví dụ 1 : Cả hai lớp 4A và 4B trồng đợc 250 cây Lớp 4A trồng
đợc ít hơn lớp 4B là 50 cây Hỏi mỗi lớp trồng đợc bao nhiêu cây?
Ví dụ 2: Cả hai lớp 4A và 4B trồng đợc 250 cây Số cây lớp 4A trồng bằng
số cây lớp 4B Hỏi mỗi lớp trồng đợc bao nhiêu cây?
- Tôi viết cả 2 đề toán lên bảng và nêu một số câu hỏi:
+ Các bài toán trên thuộc các dạng toán gì ? ( Ví dụ 1 : tìm 2
số khi biết tổng và hiệu của hai số đó,Ví dụ 2 : Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó.)
2
3