Về mặt thực tiễn Là một giáo viên đã từng giảng dạy nhiều năm về bộ môn này, nhiều năm liền làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi suy nghĩ rất nhiều khi kết quả học văn của học s
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH YÊN
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh viết bài Tập làm văn
hay ở Trường THCS
Vĩnh Yên, Năm 2018
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
1.1.Về mặt lí luận
Qua thực tế giảng dạy và học tập, chúng ta ai cũng nhận thức được rằng: dạy văn,học văn không phải là chuyện đơn giản mà nó đòi hỏi ở chúng ta sự nghiên cứu, tìm hiểu, tiếp thu bằng cả tri óc và tâm hồn Có khi ta cảm thụ được nhưng lại trình bày sựhiểu biết của mình thì không đạt yêu cầu Một bà tập làm văn là kết quả của sự tổng hợp các kiến thức đã học về lí thuyết tập làm văn- kiến thức văn học- kiến thức xã hội- kĩ năng dùng từ diễn đạt Để biến những kiến thức đó trở thành của mình thì phải
có một thời gian dài miệt mài rèn luyện, đặc biệt là phải có sự ham thích nữa Chính vìthế mà học sinh bậc THCS viết được bài văn hay hoặc trở thành người học sinh giỏi văn là một điều rất khó
1.2 Về mặt thực tiễn
Là một giáo viên đã từng giảng dạy nhiều năm về bộ môn này, nhiều năm liền làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi suy nghĩ rất nhiều khi kết quả học văn của học sinh chưa cao Nhiều em tỏ ra không thích môn học, cứ nghĩ đến học văn, viết văn
là các em ngại; các tiết học của môn văn ít có sự hào hứng, sôi nổi Thực tế trên thực
ra cũng do nhiều nguyên nhân, nhưng một nguyên nhân cơ bản mà chúng ta ít chú ý đến rèn luyện, hướng dẫn, sửa chữa cách diễn đạt bài văn cho các em, nhưng hay đã chú ý nhưng chưa biết hướng dẫn như thế nào cho thành hệ thống, thói quen trong cách diễn đạt để nâng cao chất lượng học văn
Tôi thấy rằng với các em học sinh THCS khi vốn văn học còn nhiều hạn chế, để viết được bài tập làm văn hay, ngoài sự chuẩn bị về mặt nội dung, ý tứ sâu sắc, các emhọc sinh cần phải được trang bị thêm một số kiến thức cơ bản về cách diễn đạt để bài viết giàu sức thuyết phục Nhưng hướng dẫn như thế nào? Bắt đầu từ đâu? thì lại là một việc rất khó, không phải người giáo viên nào cũng dễ dàng làm ngay được các
em đã viết được những bài văn hay dần dần sẽ tạo thói quen khi viết, sẽ thận trọng hơn trong cách diễn đạt Như vậy tôi tin rằng kết quả học văn của các em sẽ khá lên Các em sẽ say mê, thích thú môn học
Từ những suy nghĩ trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số cách giúp các em diễn đạt hay trong bài tập làm văn để bản thân và đồng nghiệp tham khảo áp dụng
Trang 42 Tên sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh viết bài tập
làm văn hay ở trường THCS
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Lê Thị Kim Dung
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THCS Tô Hiệu- phường Đống Đa- thànhphố Vĩnh Yên- tỉnh Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0984.298.346
- Email: lekimdung.gvcsminhquang@vinhphuc.edu.vn
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
Giáo viên: Lê Thị Kim Dung
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến được áp dụng trong lĩnh vực dạy học Ngữ văn THCS, đặc biệt phầntập làm văn
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc dùng thử: Tháng 11/2017
7 Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1 Nội dung sáng kiến
7.1.1 Điều tra thực trạng trước khi nghiên cứu
7.1.1.1 Tình hình xã hội
Văn học là môn học chính trong các cấp phổ thông nhưng chưa được các em học sinh và phụ huynh chú ý Một trong những nguyên nhân là do sự tác động của xã hội Mặt khác đất nước ta đang phát triển theo con đường công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước nên nhiều người hiểu biết khoa học tự nhiên hơn khoa học xã hội Chính
vì thế mà học sinh thích đi sâu khám phá các môn như: Tin học, Toán học, Vật lí, Hóahọc, Ngoại ngữ…hơn những môn Văn học, Lịch sử, Địa lí…đó là một trong những nguyên nhân khiến các em không thích học văn, ngại viết văn
7.1.1.2 Thực trạng của giáo viên dạy văn
Nhìn chung giáo viên ít có sự tìm tòi đổi mối trong cách dạy văn Giáo án lên lớp còn sơ sài, copy trên mạng, giáo án chung chung chưa phát hiện được những cái
Trang 5hay, cái mới mẻ trong bài dạy Nhiều giáo viên chưa nắm chắc được đặc trưng bộ môn, chưa tìm cách thu hút học sinh say mê môn học Đặc biệt là phân môn Tập làm văn phần lớn giáo viên mới chỉ cung cấp khái niệm về thể loại, cách tìm ý, dựng đoạn,lập dàn ý, chưa chỉ ra cách hành văn, diễn đạt riêng từng thể loại như thế nào Việc chấm và sửa chữa bài cho học sinh cũng còn những hạn chế như giáo viên chỉ phê lỗi chính tả, chữ viết, dùng từ một cách chung chung với bài văn nào cũng được mà chưa
đi sâu sửa lỗi diễn đạt hành văn, câu văn, giọng văn cho đúng, cho hay Chính vì thế kết quả dạy văn trong các trường cũng như qua các kì thi Thành phố, tỉnh chưa cao so với các môn khác
7.1.1.3 Thực trạng của học sinh học Ngữ văn
Thực tế cho thấy kết quả học văn của nhiều học sinh hiện nay so với các môn học khác nhất là các môn khoa học tự nhiên có một sự chênh lệch rất lớn, các em rất lười học văn Nhiều em viết đi viết lại một bài văn mà người đọc vẫn không sao chấp nhận được về hành văn, lối diễn đạt, sử dụng từ ngữ, câu cú…hầu hết các em đều chưa có tủ sách văn học riêng, thậm chí các tác phẩm được học đoạn trích các em cũng không đọc tác phẩm, có một vài em kể cả tác phẩm hay đoạn trích trong sách giáo khoa các em cũng không đọc hết Các em chưa có thói quen ghi chép tư liệu văn học, sổ tay văn học, vì thế vốn văn học rất nghèo nàn ít ỏi
Khi viết các bài Tập làm văn nhiều học sinh còn lơ mơ khi nắm bắt thể loại của
đề bài, chứ cha nói đến việc rèn rũa rũa hành văn, lối viết riêng cho thể loại Chính vì thế mà học sinh thường bị bế tắc trong cách diễn đạt, vốn ngôn ngữ hạn chế lại không được bổ sung bồi dưỡng nên thành thử các em rất lúng túng, vụng về trong khi viết Nhiều bài viết nội dung khá đầy đủ nhưng lập luận không chặc chẽ, dùng từ đặt câu bừa bãi, sắp đặt không theo trật tự nào cả, kết quả học văn của các em không cao, dẫn đến các em chán viết văn, học văn
Sau đây là một số số liệu điều tra trong năm 2016- 2017 ở hai lớp 9 ở trườngchúng tôi:
H/S bình thường với môn
Trang 6Giỏi Khá Trung bình Yếu
- Kết quả học sinh giỏi văn thành phố của trường chúng tôi năm học 2016- 2017như sau: Đồng đội xếp thứ 7/10 trường cá nhân có 15 học sinh dự thi cấp thành phố.Kết quả như sau:
Từ kết quả trên khiến bản thân tôi luôn trăn trở với những tìm tòi đổi mới Tôinghĩ rằng mình cần đổi mới cách dạy văn, nhất là rèn cách viết văn cho các em Từ đóngoài việc tìm hiểu thể loại, trang bị về nội dung kiến thức, tôi chú ý rèn luyện cáchdiễn đạt cho các em
7.1.2 Phương pháp nghiên cứu
Tôi đã đi sâu vào nghiên cứu tham khảo nhiều sách có liên quan đến môn vănhọc của trường THcs Để đi nghiên cứu kinh nghiệm giảng dạy này tôi đã phải tiếnhành nhiều phương pháp Sau đây là một số phương pháp chính:
7.1.2.1 Điều tra
7.1.2.1.1 Về phía học sinh
Tôi thu lượm một số bài viết của các em học sinh đã làm và được phê chấm, chú
ý đến cả học sinh trung bình, khá, giỏi ở các thể loại, ở đủ các khối lớp Qua đó giáoviên phải nắm chắc điểm mạnh, điểm yếu của từng bài, tìm ra nguyên nhân và cáchkhắc phục
Nhìn chung, bài làm của các em dừng ở mức độ hoàn thành yêu cầu mức độ chấtlượng chưa cao bởi vì các em chưa biết chọn lọc từ ngữ, hình ảnh để diễn đạt ý Lậpluận đơn điệu, chưa có sự đối chiếu so sánh với các tác giả, tác phẩm đương thời các
em chưa chú ý thể hiện thái độ của người viết trước một vấn đề văn học cảm xúckhông đích thực, còn gò bó, gượng ép Thành thử bài viết rất khô khan, đơn điệu,không có sức thuyết phục người đọc
7.1.2.1.2 Về phía giáo viên
Thực hiện giờ dạy trên lớp: Tôi đã đi dự giờ tập làm văn của một giáo viên trongtrường tiết: “ Dựng đoạn văn trong bài phân tích tác phẩm”
Trang 7Tiết dạy này của giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh trả lời các bài tập trong sáchgiáo khoa rồi cuối cùng đi đến kết luận cho học sinh đọc phần ghi nhớ trong sách giáokhoa Trong khi gợi ý làm bài tập, giáo viên chưa hướng dẫn học sinh cách dùng từ,câu, hình ảnh, giọng văn trong từng bài mà chỉ đi sâu khai thác ý Cho nên các emchưa nhận rõ được cách diễn đạt hay trong từng đoạn mà các em được đọc nên tiếtdạy đi rất nhanh mà kiến thức và kĩ năng em nhận được ít, các em chưa say sưa, hàohứng với bài học.
Thực hiện chấm, chữa bài Tập làm văn: Giáo viên chấm bài chưa cặn kẽ, mớidừng lại ở việc chấm ý theo nội dung đề bài, bố cục bài văn hoàn chỉnh hay chưa.Điều này được thể hiện ở lời phê: bài làm đủ ý, bố cục hoàn chỉnh, trình bày sạch sẽ…Tương ứng với lời phê là điểm 8
Vấn đề ở đây là: Giáo viên chưa chú trọng đến cách dùng từ, đặt câu, diễn đạt,lập luận trong quá trình phân tích- giảng giải- tổng hợp- chuyển tiếp Trên cơ sở đóhọc sinh phải biết “gói” vấn đề, nâng cao để rút ra ý nghĩa tư tưởng từ đó bộc lộ cảmxúc của mình về vấn đè phân tích
Khi nắm được những lỗi sai của học sinh, giáo viên phải chữa lỗi cụ thể theotrình tự: lỗi sai- chưa đúng- viết hay đẻ học sinnh có thói sửa lỗi khi viết văn
7.1.2.2 Nghiên cứu
Tôi đã đọc và nghiên cứu thêm một số tài liệu có thể nói rất hay như: “ Nhữngbài thi chọn lọc học sinh giỏi quốc gia” của Nguyễn Sỹ Bá, “ Văn bồi dưỡng học sinhnăng khiếu THCS”của Nguyễn Đăng Mạnh…Nghiên cứu những sách đó, tôi thấy tácgiả của từng bài viết tỏ ra rất xuất sắc trong cách diễn đạt, những bài viết tự nhiên dễgây cảm tình cho người đọc, đặc biệt đó là cách dùng từ, dùng hình ảnh, dùng hìnhảnh trong cuốn: “ Văn bồi dưỡng học sinh năng khiếu” của Nguyễn Đăng mạnh chỉ ranhiều cách tạo hứng thú, chất lượng trong một giờ văn đặc biệt hướng dẫn học sinhtạo ra những bài văn có chất lượng cao
7.1.2.3 Đối chứng
Tôi đi đối chứng giữa giờ dạy của giáo viên trên lớp với sự hướng dẫn qua nhiềutài liệu, đối chứng giữa bài viết của học sinh mình dạy, của trường mình với những bàiviết của các em trong văn chọn lọc rồi tìm ra những hạn chế của người giáo viên khilên lớp
7.1.2.4 Rút ra kinh nghiệm và áp dụng vào thực tế
Trang 8Tôi tìm tòi phát hiện những cái mới mẻ, những cái hay, cái khó đúc rút thànhkinh nghiệm truyền thụ cho các em về môn học, vừa dạy tôi vừa đối chiếu so sánh kếtquả với trước đó và các giáo viên khác, luôn kết hợp dạy văn, dạy Tiếng Việt để bổsung cho môn Tập làm văn Khi học về mỗi thể loại, tôi phải đi sâu hơn vào việc rènluyện hành văn, giọng văn, từ ngữ riêng cho từng thể loại Chuẩn bị kĩ kiến thức, kĩnăng viết bài, lấy kết quả của bài này so với kết quả của những bài trước đó, đồng thờiuốn nắn ngay những mặt còn hạn chế trong cách viết, cố gắng gây sự thoải mái, nhẹnhàng khi dạy.
7.1.3 Những công việc đã làm
Trên một số bài viết, học sinh luôn phải chú ý đến hai mặt nội dung và hình thứccủa bài văn Khi giảng dạy cho các em, người giáo viên phải chú ý đến cả hai mặt này,nhưng về hình thức một số bài văn, giáo viên cũng như học sinh còn hạn chế nhiều.nên tôi xin được trình bày một số kinh nghiệm giúp các em diễn đạt hay hơn trong khiviết văn, để từ đó các em yêu thích hứng thú với môn văn, nâng cao chất lượng bộmôn
7.1.3.1 Cách lựa chọn và sử dụng từ ngữ khi viết
Biết lựa chọn và sử dụng từ ngữ một cách chính xác là một trong những yếu tốquyết định để có cách diễn đạt hay Dù là loại văn sáng tác hay nghị luận, nếu đó làmột bài văn hay, đọc lên chúng ta đều thấy người viết có vốn từ ngữ phong phú vàđặc biệt họ sử dụng rất chính xác và linh hoạt từ ngữ đúng lúc, đúng chỗ sẽ lột tảđược thần thái của sự vật, sự việc, làm cho bài viết giàu sức thuyết phục
Tùy từng loại văn mà có cách sử dụng sao cho phù hợp; trong văn sáng tácthường dùng từ tượng hình, tượng thanh; nhưng văn nghị luận lại không thường xuyêndùng những loại từ đó
Ví dụ: Khi miêu tả tâm trạng của mình trên con đường tới dự buổi lễ khai giảngcủa năm học, học sinh thường tả tâm trạng: “ trong lòng em cảm thấy vui thích vôcùng” nhưng nếu thay từ “ vui thích” bằng từ “ xôn xao, rạo rực” khi mới diễn tả đượcđầy đủ tâm trạng của em học sinh ngày đầu tiên đến trường
Giáo viên có thể đưa ra một đoạn thơ sau để các em tìm hiểu tại sao lại dùng từđó
“ Tôi lại về quê mẹ nuôi xưaMột buổi trưa nắng dài bãi cát
Trang 9Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưaMát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát”
( “ Mẹ Tơm”- Tố Hữu)Trong khổ thơ trên tại sao tác giả lại không dùng từ “ lao xao”, “ rì rào” mà lạiviết là “ gió lộng xôn xao”? Bởi vì khổ thơ không chỉ là cảnh sóng, gió một buổi trưamiền biển mà còn nổi lên một tâm trạng bồi hồi, xôn xao, náo nức, sung sướng củangười con đi xa, nay trở lại thăm quê hương thứ hai, nơi đã nơi mình thời hoạt độngcách mạng bí mật
Trong văn nghị luận nhiều học sinh phân tích nhân vật từ đầu đến cuối chỉ cómột cách gọi tên như: anh ta, chị ấy hoặc nhà thơ Nếu giáo viên hướng dẫn cho các
em nhiều cách gọi tên khác đi thì bài viết sẽ sinh động hơn, tránh nặng nề, nhàm chán
Ví dụ: Khi phân tích nhân vật lão Hạc ( Ngữ văn 8- tập 2) ta có thể gọi tên cácnahu tùy từng đoạn như: Người cha giàu lòng yêu thương con, người nông dân nghèokhổ, con người giàu lòng tự trọng…
Sử dụng từ ngữ đúng lúc, đúng chỗ tức là hợp văn cảnh ta có đoạn văn hay, câuvăn hay Ngược lại để rơi vào sáo rỗng, khoe chữ như vậy, ta phải hướng dẫn kĩ hơntrong cách dùng từ trong từng văn cảnh
Với cách lựa chọn từ ngữ, hình ảnh vừa gợi tả, gợi cảm xúc, nhà phê bình vănhọc Lê Bảo đã từng nhận xét về bài thơ: “ Bạch Đằng hải khẩu”: “ Cửa biển BạchĐằng là mảnh đất đó “ cây đời” Nguyễn Trãi mãi mãi xanh tươi Và đến lượt mình,thứ cây “ một mình lạt thuở ba đông” ấy tạo ra một thứ hổ phách, phục linh nuôi lớnthế hệ sau ông, tiếp nối dòng sữa ngọt ngào là lòng tự hào, tự tôn dân tộc
7.1.3.2 Sử dụng linh hoạt các kiểu câu của Tiếng Việt
Biết vận dụng tất cả các loại câu một cách linh hoạt và tùy vào từng lúc, từngnơi, đúng lúc, đúng chỗ, tùy vào giọng văn của từng đoạn mà có những loại câu chophù hợp
Ví dụ: Khi diễn tả tình cảm của mình trước một hình ảnh nào đó ta có thể dùngnhững kiểu câu dài Nhưng khi lên án tố cáo nhân vật nào đó ta có thể dùng câu vănngắn, hay để diễn tả trực tiếp thái độ tình cảm của mình, người ta thường dùng câucảm thán Xuân Diệu viết: “ Trời đất ơi! Tú Bà nói không đầy nửa phút mà nước bọtcủa mụ văng ra mãi tới ngàn năm”
Trang 10Khi muốn gây sự chú ý cho người đọc, ta có thể dùng câu nghi vấn, loại câu cóhai mệnh đề ( hô ứng) cũng có nhiều tác dụng làm thay đổi giọng văn, làm cho bàiviết phong phú.
Ví dụ: Khi viết về Ngô Tất Tố qua tác phẩm: “ Tắt đèn”: “ Càng gần gũi ngườinông dân bao nhiêu Ngô Tất Tố càng thấu hiểu nỗi khổ tâm dày vò trong lòng họ bấynhiêu Ông không những lên án bọn cường hào ở làng Đông Xá mà ông còn lên án tất
cả bọn quan lại đương thời trong xã hội”
Khi dùng loại câu khẳng định hoặc phủ định cần chú ý tránh cách diễn đạt tuyệtđối tức là phải uyển chuyển có mức độ trong nhận xét đánh giá
Ví dụ nhiều học sinh viết: “ Chỉ có văn học mới đem lại niềm vui và hạnh phúccho con người”, lẽ ra chỉ viết: “ Văn học đã thực sự góp phần đem lại niềm vui vàhạnh phúc cho con người”
Trong nhiều trường hợp câu khẳng định được diễn đạt bằng câu phủ định củaphủ định nhằm nhấn manhj vào sự khẳng định
Ví dụ: “ Nhà văn nhất định phản ánh trong sáng tác của mình những sự kiện…”được viết lại là: “ Nhà văn không thể không phản ánh trong sáng tác của mình những
sự kiện…” thì sự khẳng định được nhấn mạnh hơn nhiều, cũng trong từng thể loại mà
có từng loại câu cho phù hợp
Ví dụ: Như văn miêu tả thường sử dụng câu trần, nhưng trong văn kể chuyện lạidùng câu hỏi, câu cảm, câu đối thoại Điều quan trọng là giáo viên phải chỉ ra được tạisao lại dùng những kiểu câu khác nhau đó trong mỗi thể loại
7.1.3.3 Sử dụng đa dạng, linh hoạt các biện pháp tu từ để tạo hình ảnh khi viết văn
Đối với các loại văn sáng tác, đặc biệt là văn miêu tả, tường thuật, kể chuyện, aicũng thấy là cần phải giàu hình ảnh Bởi vì, chỉ có dùng hình ảnh mới dựng lên đượcbức tranh cụ thể sinh động về cuộc sống, con người và sự vật, nói bằng hình ảnh phảnánh và thể hiện cuộc sống thông qua hình ảnh chính là đặc trưng của tư duy hìnhtượng Đó cũng là sức hấp dẫn của cái hay cái đẹp trong tác phẩm nghệ thuật nóichung và trong văn sáng tác nói riêng
Ví dụ: Khi tả về đêm trăng ta có thể viết: “ Ánh trăng xõng xoài, lả lướt trên máinhà, ánh trăng nhảy nhót tinh nghịch trên các tàu lá rồi len lỏi nhỏ giọt xuống khu
Trang 11vườn, những cây hoa ướt đẫm sương đêm được trăng chiếu vào long lanh như dátbạc…”
Hay một đoạn văn khác tả hoàng hôn trên biển: “ Ông mặt trời đỏ rực từ từ hạthấp xuống biển Lúc này trông ông mới đẹp làm sao, ông ngồi đó uy nghi trên lànnước êm ả, lăn tăn vài gợn sóng, tựa như đang say sưa ngắm nhìn trời biển…”
Chính những hình ảnh ấy đã gợi lên trong ta một bức tranh rất cụ thể sinh động
và gợi cảm chứ không trần trụi, khô khan và đơn điệu như những phán đoán, nhữngnhận xét hàng ngày
Ngôn ngữ trong văn nghị luận cũng hấp dẫn, lôi cuốn bằng những từ ngữ có hìnhtượng và có sức gợi cảm cao
Học đoạn trích: “ Chị em Thúy Kiều” trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du trongchương trình Ngữ văn 9- tập 1, chúng ta thấy bút pháp điêu luyện của một nghệ sĩthiên tài trong việc sử dụng đa dạng các biện pháp nghệ thuật để xây dựng bức chândung của Thúy Kiều Vì thế, khi bình về đoạn trích: “ Chị em Thúy Kiều”, nhà phêbình Đặng Thanh Lê đã nhận xét: Đoạn thơ khắc họa một chân dung nhân vật có nhansắc tài hoa, phẩm cách đẹp đẽ, phong phú, toàn vẹn nhưng đằng sau đó là một sốmệnh diễn tả những ý niệm triết học và thể hiện một cảm hứng nhân văn sâu sắc củaNhà thơ họ Nguyễn”
Khi miêu tả nhân vật chính diện là Thúy Kiều, Thúy Vân… Nguyễn Du đã rấttrân trọng và yêu thương nên ông đã dùng nghệ thuật ước lệ tượng trưng lấy những cáiđẹp nhất của thiên nhiên để tả vẻ đẹp của hai nàng như: “ làn thu thủy”, “nét xuânsơn”, “ nghiêng nước, nghiêng thành”, “ hoa ghen”, “ liễu hờn”…Cái tài của Nguyễn
Du là đã khắc họa chân dung để dự báo tính cách số phận của nhân vật như: “ Chữ tàichữ mệnh khéo là ghét nhau” hay “ Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”
Khi miêu tả nhân vật phản diện, Nguyễn Du cũng rất thành công trong bút phápnghệ thuật: “ Nguyễn Du không sử dụng ngòi bút trực diện miêu tả mà qua sự phácthảo mối quan hệ mập mờ, vẻ ngoài chải chuốt, cử chỉ vô học và đặc biệt là cái “ còkè” rất con buôn của Mã Giám Sinh khi mua Kiều đã được Nguyễn Du đưa lên sânkhấu với một bộ mặt tàn ác, nhơ bẩn nhất trong truyện Kiều”
Văn nghị luận cũng cần sự mềm mại, tươi mát theo cách riêng của mình Bài vănnghị luận hay là bài văn vừa giàu sức thuyết phục luận lý, vừa giàu hình ảnh Hìnhảnh làm tăng sức thuyết phục, làm cho chân lí vừa sáng tỏ vừa thấm thía Bieenjphaps