Kĩ năng tự học của học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng được hình thành dần trong quá trình học tập của học sinh nhằm lĩnh hội một cách tích cực, tự giác để chiếm lĩnh
Trang 1ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyên
1. Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thanh Trọng
- Ngày tháng năm sinh: 01/9/1979 Nam, nữ : Nam
- Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Sơn Lôi A
- Chức danh: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn Đại học.
2. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Họ và tên: Nguyễn Thanh Trọng
3. Tên sáng kiến: Một số giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 làm quen
với phương pháp tự học môn toán.
4. Lĩnh vực áp dụng: Giáo dục Tiểu học
5 Mô tả sáng kiến:
5.1 Cơ sở lí luận
Chương trình giáo dục Tiểu học trong chương trình giáo dục phổ thông mới giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.Trong đó có khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời.
Trang 2Quá trình tự học tự là sự kết hợp của quá trình dạy của thầy và quá trình học của trò thành một quá trình thống nhất biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Mấy năm gần đây việc dạy của thầy và tự học của trò đã và đang là mối quan tâm của rất nhiều nhà giáo dục. Trong việc ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, còn thầy giáo chỉ là người hướng dẫn. Vấn đề tự học và tư tưởng lấy việc học của trò làm gốc là một quá trình lâu dài không phải một sớm một chiều và của riêng ai.
Kĩ năng tự học của học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng được hình thành dần trong quá trình học tập của học sinh nhằm lĩnh hội một cách tích cực, tự giác để chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng dần hình thành năng lực tự học cho mình.
Thực tế cho thấy, hiện nay học sinh các cấp nói chung và học sinh tiểu học nói riêng các em chỉ nắm vững và giỏi về lý thuyết nhưng kĩ năng tự giải quyết vấn đề chưa có, nhất là kĩ năng tự học. Đặc biệt là những học sinh lớp 4 ở bậc Tiểu học chưa có kĩ năng tự học, các em phải nhờ đến sự hỗ trợ giúp đỡ của người lớn rất nhiều. Khi giao cho các em tự suy nghĩ và giải quyết vấn đề thì các em lúng túng, thậm chí không thể giải quyết được cho dù có những vấn
đề rất gần gũi với các em. Đó là hậu quả do các em không tự học, không nghiên cứu và tìm hiểu kiến thức cho riêng mình. Nhưng làm thế nào để kích thích hứng thú tự học ở các em? Các em cần có phương pháp, kĩ năng tự học nào? Để tự học các em cần những điều kiện vật chất nào? Cách thực hiện ra sao? … Quả là vấn đề mang nhiều thử thách mà người giáo viên cần phải nghiên cứu giải quyết. Cùng với đổi mới cách dạy học, việc đánh giá học sinh theo TT22/ 2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Đánh giá học sinh cả ba mặt kiến thức kĩ năng, phẩm chất và năng lực; giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ. Vì các lí do trên tôi mạnh dạn viết
Trang 3kinh nghiệm: “Một số giải pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 làm quen với phương pháp tự học môn toán.”
5.2 Các giải pháp hướng dẫn học sinh tự học.
5.2.1. Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức, hình thành động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho học sinh
Nhận thức đúng đắn về học tập sẽ giúp học sinh có thái độ học tập đúng đắn và tự giác, khi các em thấy học tập là cần thiết và là quyền lợi, trách nhiệm của mình thì các em hình thành động cơ học tập, xây dựng kế hoạch học tập và có nghị lực vượt khó trong suốt quá trình học tập. Nhận thức đúng
về học tập mang lại các phương án tối ưu trong học tập đặc biệt là hiệu quả cao trong học tập. Để có được sự nhận thức đúng đắn trong học sinh, các thầy cô giáo phải dầy công giáo dục nhận thức tư tưởng cho học sinh bằng cách: Cho học sinh học tập nội quy nhà trường, giáo dục bằng nêu gương, động viên khích lệ học sinh… từ đó xác định cho mình nhiệm vụ học tập: Học cho chính bản thân .Cụ thể,:
Bước 1: Tích hợp giáo dụng học sinh ý thức tự học trong các tiết học toán.
Trong các tiết toán, giáo viên dành một phần thời gian để tích hợp ý thức tự học, tự giải quyết vấn đề cho học sinh. Vào đầu giờ học giáo viên kiểm tra chuẩn bị bà và tự học của học sinh sau đó chỉ ra những lợi ích của việc tự học như luôn tự tin khi tiếp xúc với thầy cô giáo, không bị thầy cô mắng, tự tin hơn khi đến lớp, được các bạn yêu mến,
Bước 2: Nâng cao ý thực tự học thông qua các tiết hoạt động tập thể.
Trong các tiết học động tập thể giáo viên có thể kể chuyện hoặc cho học sinh xem một số video nói về tấm gương tự học, tự vượt lên khó khăn trong học tập như: Bác Hồ, Nguyễn Hiền, Lương Thế Vinh, Cao Bá Quát, thầy giáo
Trang 4Bước 3: Nâng cao nhận thức của phụ huynh về ý thức tự học của học sinh.
Trong các buổi họp phụ huynh, giáo viên tuyên truyền với phụ huynh về lợi ích của việc tự học của con em để phụ huynh hiểu, phối hợp đôn đốc nhắc nhở học sinh chuẩn bị bài, tự học, tự giải quyết vến đề.
Bước 4: Rèn luyện cho học sinh tự học thường xuyên và dần thành kĩ năng
tự học.
Học sinh Tiểu học dễ nhớ, hay quên nên bất kì kĩ năng gì cần phải rèn luyện thường xuyên. Giáo viên cần kiên trì hướng dẫn học sinh làm quen với
từ học từ việc hướng dẫn tự học ở nhà, kiểm tra bài trên lớp, hướng dẫn học sinh tự đánh giá theo khả năng điều này cần thực hiện thường xuyên, liên tục.
5.2.2. Giải pháp 2: Làm quen với tự học bằng việc chuẩn bị trước khi đến lớp.
Bất cứ việc gì chuẩn bị trước thì cơ hội thành công cũng sẽ cao hơn, việc học tập cũng không ngoại lệ. Chuẩn bị bài trước khi đi học mình, học để lập nghiệp, học để làm giàu cho quê hương đất nước “ Học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để hoà nhập, có kỹ năng sống”.không chỉ giúp xây dụng những khái niệm ban đầu về nội dung cần học mà còn có thể tìm ra những nghi vấn và chỗ khó trước, sau đó tới hỏi giáo viên, ngoài ra còn hình thành mạch tư duy hoàn chỉnh khi lên lớp tìm ra những chỗ thiếu bổ dung, củng cố, tăng cường sự hiểu biết.
Bước 1 Phân tích cho học sinh thấy tác dụng của việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
Trang 5Chuẩn bị bài trước làm giảm bớt gánh nặng học tập trong 40 phút trên lớp Khi đó học sinh có thể tập trung lắng nghe phần bài giảng nằm ngoài sách giáo khoa hoặc những phần mà mình chưa nắm rõ.
Giáo viên sẽ nhắc đi nhắc lại các phần quan trọng của bài học cũng là phần được đánh dấu để chuẩn bị bài trước ở nhà nên việc tiếp thu bài cũng tốt hơn. Chuẩn bị bài trước có tác dụng làm rõ trọng tâm và những kiến thức khó, có lợi cho việc đặt câu hỏi cho giáo viên, tập trung sự chú ý vào trọng tâm của bài học. Thêm nữa những gì học sinh chủ động tiếp cận cũng sẽ tạo hứng thú cho các em hơn khi đến lớp nghe giảng.
Bước 2 Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài.
Học sinh ôn kiến thức cũ đã học hôm nay sau đó mới dành thời gian chuẩn bị bài mới. Dành thời gian xem bài mới một lượt, sau đó học sinh đánh dấu vào những kiến thức trọng tâm, ghi những thắc mắc, khó hiểu để khi lên lớp có thể lắng nghe thầy cô giáo kĩ hơn và sẵn sàng đưa ra những câu hỏi để được thầy cô giáo giải đáp. Các tiết toán trong chương trình toán 4 chia là 2 dạng bài: Dạng 1 – hình thành kiến thức mới, Dạng 2 – luyện tập thực hành. Ở tiết hình thành kiến thức mới học sinh đọc phần kiến thức mới trong khung, ghi những điều đã hiểu, chưa hiểu để khi lên lớp giáo viên hướng dẫn , có thể làm một số bài tập trong khả năng của mình. Khi học sinh làm được những việc trên, trong tiết học giáo viên HD học sinh giải đáp thắc mắc hoặc làm bài tập theo cách khác để phát triển khả năng của học sinh.
Bước 3.Hướng dẫn học sinh tự mình giải quyết các khó khăn trong học tập.
Trong quá trình chuẩn bị bài, một số học sinh ngại khó nên không làm hoặc làm qua loa, đại khái, không hiệu quả hoặc một số phụ huynh vì thương con,
sợ con gặp nhiều khó khăn trong học tập nên chỉ cần trẻ đề cập vấn đề cần
Trang 6giúp đỡ là sẵn sàng giúp đỡ con ngay. Điều này rất bất lợi cho việc chuẩn bài trước và tự học của trẻ. Hơn nữa học sinh dễ hình thành tính dựa dẫm không cần thiết. Giáo viên hướng dẫn học sinh tự mình giải quyết các khó khăn trong học tập bằng cách: hướng dẫn học sinh thật kĩ những công việc cần làm trong quá trình chuẩn bị bài, phối hợp với phụ huynh học sinh giám sát việc chuẩn bị của học sinh, tuyệt đối không làm hộ.
Bước 4 Kiên trì kiểm tra việc chuẩn bị bài trước của học sinh.
Ở nhà, giáo viên hướng dẫn phụ huynh học sinh nhắc nhở học sinh chuẩn bị cho bài hôm sau. Đồng thời cần kiểm tra chất lượng chuẩn bị bài trước của học sinh. Điều này yêu cầu cha mẹ trước tiên phải dành một khoảng thời gian, nắm chắc khóa biểu của trẻ, biết được ngày mai con học gì để kịp thời đốc thúc và kiểm tra.
Ở trên lớp giáo viên phân công các tổ kiểm tra chuẩn bị bài của các thành viên tổ mình sau đó báo cáo với giáo viên. Đối với những học sinh ý thức chuẩn bị bài chưa tốt, giáo viên trực tiếp kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở và có biện pháp yêu cầu học sinh thực hiện nhiệm vụ của mình.
5.2.3. Giải pháp 3: Rèn luyện kỹ năng tự kiểm tra đánh giá và điều
chỉnh quá trình học tập
Tự kiểm tra đánh giá là hình thức cao nhất của hoạt động tự học. Tự kiểm tra đánh giá thực chất là người học đã hiểu rõ khả năng của mình, hiểu nội dung kiến thức. Hoàn chỉnh được chu trình này sẽ góp phần nâng cao chất lượng trong học tập. Vấn đề này quan trọng nhưng không phải học sinh nào cũng biết làm và làm tốt. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết cách tự kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh quá trình học tập:
- Cần hướng dẫn học sinh nắm được mục đích, nội dung, hình thức tự kiểm tra đánh giá đối với từng dạng bài cho phù hợp;
Trang 7- Tạo mọi điều kiện khuyến khích học sinh tự đánh giá, tôn trọng kết quả tự kiểm tra đánh giá của học sinh;
- Thường xuyên hướng dẫn, theo dõi việc kiểm tra đánh giá và điều chỉnh của học sinh. Hướng dẫn học sinh kết hợp chặt chẽ giữa tự kiểm tra và tự điều chỉnh kiến thức.
Tôi tiến hành hướng dẫn học sinh tự đánh giá như sau:
- Đối với phần chuẩn bị ở nhà, vào tiết truy bài đầu giờ tôi hướng dẫn học sinh đổi chéo phần chuẩn bị bài của học sinh với các bạn trong tổ, kiểm tra đối chiếu kết quả, giải thích những điều đã hiểu cho bạn và trao đổi những điều chưa hiểu, phần nào cả hai bạn chưa hiểu thì hỏi thầy cô giáo.
- Đối với những bài học trên lớp, khi học sinh nghe giảng, làm bài xong, trao đổi với bạn, cả lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên , tôi đưa ra bảng hỏi để học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình. Bảng hỏi như sau:
Sau khi làm bài xong em thấy(hãy đánh dấu X vào chỗ trống)
1 Rất hiểu bài
2 Hiểu bài
3 Hơi hiểu bài
4 Chưa hiểu bài
Căn cứ vào bảng tự đánh giá của học sinh, đánh giá của giáo viên trên lớp để điều chỉnh cách dạy của giáo viên, cách học của học sinh.
5.2.4. Giải pháp 5: Tổ chức trò chơi học tập.
Trang 8bị bài trước khi đến lớp. Ở đầu giờ học giáo viên tổ chức trò chơi ôn lại kiến thức mới và kiểm tra chuẩn bị bài ở nhà của học sinh như các trò chơi:
* Trò chơi "truyền điện": Giáo viên hỏi câu hỏi về bài đã học hôm trước
hoặc bài hôm nay học để học sinh trả lời ( Nêu tính chất giao hoán, kết hợp của phép cộng, nhân, chia với 10, 11, cacsquy tắc toán học, ….) rồi chỉ một bạn bất kì trả lời. Bạn này trả lời xong, lại hỏi (tương tự như trên) rồi chỉ một bạn khác trả lời. Cứ tiếp tục nhưng vậy cho tới khi nào giáo viên ra hiệu lệnh dừng lại. Bạn nào được chỉ định phải trả lời thật nhanh. Bạn nào trả lời sai thì chịu phạt.
* Trò chơi “Chuyền Hoa”
Chuẩn bị: Một hoa hồng, câu hỏi và phần quà
Luật chơi:
Người quản trò sẽ bắt nhịp một bài hát, cả lớp sẽ cùng hát theo và cùng chuyền bông hoa đi.
Khi bài hát kết thúc, học sinh nào cầm bông hoa trên tay thì sẽ trả lời câu hỏi được giấu trong bông hoa. Nếu trả lời đúng sẽ nhận được quà. Nếu trả lời sai
sẽ nhường quyền trả lời cho học sinh nào xung phong
Lưu ý: ngoài hoa hồng, chúng ta có thể sử dụng hộp quà và thực hiện tương
tự. Khi ấy trò chơi sẽ có tên: "Hộp quà bí mật".
* Trò chơi “Bắn Tên”
Người quản trò sẽ hô: "Bắn tên, bắn tên" và cả lớp sẽ đáp lại: "tên gì, tên gì"
Trang 9Sau đó, người quản trò sẽ gọi tên bạn học sinh trong lớp và đặt câu hỏi để bạn đó trả lời
Nếu trả lời đúng thì cả lớp sẽ vỗ tay hoan hô
Lưu ý: Các câu hỏi có thể liên quan đến bài đã học nhằm ôn lại bài cũ và câu
hỏi về phần chuẩn bị bài sau của học sinh.
Ở cuối giờ học giáo viên tổ chức trò chơi củng cố lại kiến thức cho học sinh Phần này chủ yếu tổ chức trò chơi “Rung chuông vàng” , “ô cửa bí mật”, … Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi liên quan đến nội dung bài học, mở rộng
và nâng cao để khuyến khích học sinh tự học, tự tìm hiểu kiến thức thự tế Trò chơi trong học tập không chỉ tạo hứng thú cho học sinh xuyên suốt trong một buổi học, mà các trò chơi khởi động còn giúp giảm bớt áp lực trong giờ học, khuyết khích học sinh tự học, tự tìm hiểu kiến thức từ đó học sinh có động lực trong tự học.
1 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến thu được
+ Mang lại hiệu quả kinh tế:
Khi áp dụng sáng kiến vào dạy học học sinh giảm tiền mua tài liệu, sách tham khảo vì học sinh có thể hoạt động theo nhóm để học tập, học sinh có thể tra cứu thông tin trên mạng intenet hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác. Học sinh biết trao đổi sách vở, tài liệu của mình cho người khác cùng sử dụng vừa tiết kiệm chi phí vừa nâng cao giá trị sử dụng của sách vở, tài liệu.
Nâng cao ý thức tự chuẩn bị bài của học sinh: Lớp 4D với 33 học sinh.
Đầu năm, khi chưa áp dụng học sinh về nhà chuẩn bị bài 10/33 = 30,3%. Một
số em quên đồ dùng, sách vở hoặc học sinh không biết đến lớp học những môn gì. Riêng môn toán, học sinh không nhớ học bài gì, không thuộc quy tắc, công thức tính,
Trang 10Khi áp dụng sáng kiến học sinh về nhà chuẩn bị bài tăng lên rõ rệt 30/33 học sinh = 90,9%, còn 3 em nhận thức hơi chậm nên hay quên, chuẩn bị chưa đầy đủ.
Nâng cao chất lượng giáo dục môn toán: khảo sát môn toán lớp 4D với 33 học sinh.
Khi chưa áp dụng:
Tổng số
học sinh
Điểm môn toán
9 - 10
%
7 - 8
%
5 - 6
%
dưới 5
%
33
4
12.1
12
Trang 119
27.3
8
24.2
Khi áp dụng sáng kiến:
Tổng số học sinh
Điểm môn toán
9 - 10
%
7 - 8
%
5 - 6
%
dưới 5
%
33
15
45.5
Trang 1242.4
3
9.1
1
3.0
Sau khi áp dụng tôi thấy chất lượng giáo dục nói chung và môn toán nói riêng tăng lên rõ rệt, tỉ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi tăng, học sinh đạt điểm dưới 5 giảm chỉ còn 1 em do thao tác tính toán chậm, chống kiến thức từ các lớp dười.
Khi áp dụng sáng kiến giáo viên lên lớp nhàn hơn, giáo viên chỉ là người hướng dẫn giúp đỡ học sinh hoạt động, học sinh có tâm thế học tập tốt hơn, các em chủ động trong học tập, hiểu biết được nhiều kiến thức thực tế có liên quan đến bài học như khi học về tính diện tích hình chữ nhật, hình vuông các
em biết tính diện tích phòng học, diện tích phòng của mình; khi học về đơn vị
đo đại lượng các em biết ước lượng khoảng cách từ nhà mình tới trường bằng đơn vị phù hợp, biết cân đo đong đếm một số vật thật trong cuộc sống gần gũi với các em.
+ Mang lại lợi ích xã hội:
Trước khi áp dụng sáng kiến giáo viên vào tiết toán rất căng thẳng vì học sinh ahy quên đồ dùng, sách vở, học sinh không chú ý nghe giảng và không chủ động làm bài theo yêu cầu, một số kiến thức mới giáo viên phải giảng đi giảng lại nhiểu lần làm cho học sinh khá giỏi trong lớp chán nản, giáo viên
Trang 13mệt mỏi, học sinh yếu thì áp lực, phụ huynh không tin tưởng vào con, không khí gia đình căng thẳng do kết quả học tập của con em không được tốt.
Sau khi áp dụng sáng kiến. Giáo viên lên lớp với tâm thế nhẹ nhàng thoải mái, học sinh chủ động trong học tập, nhiều em phát triển được tư duy về toán học
do hoàn thành các bài trong sách giáo khoa, làm thêm các bài nâng cao. Môi trường học tập tích cực hơn, học sinh gần gũi hơn với thầy cô giáo, thầy cô giáo và học sinh đã thu hẹp được khoảng cách, dần dần thầy cô trở thành người bạn thân thiết của học sinh.
Với phụ huynh học sinh, từ ngày áp dụng sáng kiến có hiệu quả, phản hồi của phụ huynh về nhà trường tích cực hẳn lên, họ thấy gia đình luôn hạnh phúc
và vui . Phụ huynh yên tâm đi làm không phải lo lắng quá nhiều về quá trình học tập của con em mình.
Với học sinh, sau khi áp dụng sáng kiến học sinh vui vẻ, tự tin hơn khi đến lớp không còn lo lắng như trước. Các em tự tin giải toán và làm các bài tập về toán học cũng như hoàn thành học tập các môn khác. Từ đó các em tự tin hơn trong học tập và giao tiếp.
2 Các thông tin cần được bảo mật (nếu có);
8 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến;
Đối với giáo viên: Đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo hướng
phát triển năng lực của học sinh, nghiên cứu bài dạy trước, hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài thật cụ thể, chi tiết. GV cần phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh để hướng dẫn học sinh làm quen với tự học. Kiên trì kiểm tra, đôn đốc, thúc đẩy tính tự giác của học sinh, đánh giá cao những kiến thức học