Đặc biệt, phân môn Luyện từ và câu là một phân môn chiếm thời lượng khá lớn trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học, đã góp phần rất quan trọng trong việchướng dẫn học sinh sử dụng
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TAM DƯƠNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG HOA
=====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến: Phương pháp dạy học luyện từ và câu lớp 4
Tác giả sáng kiến: Đinh Thị Thu
Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường TH Hoàng Hoa
Số điện thoại:.0978635038 E_mail:.cuongthu103@gmail.com
Trang 2
TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG HOA
Tác giả sáng kiến: Nguyễn Văn Đủ
Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường TH Hoàng Hoa
Số điện thoại:.0987465248 E_mail:.vandu8376@gmail.com
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến:Phương pháp dạy học luyện từ và câu lớp 4
Trang 3
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu:
Từ xa xưa, ông cha ta đã sử dụng tiếng Việt một cách tự giác nhằm đểgiáo dục trẻ nhỏ Từ thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru củamẹ, của bà, lớn lên chút nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dòngsữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành người có nhâncách, có bản sắc dân tộc góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầucủa xã hội trong thời kỳ phát triển mới
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường xuất hiện như mộtđiều tất yếu Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều sơđẳng nhất qua một loại phương tiện đặc biết nhất, tiện lợi nhất đó là ngôn ngữ.Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quantrọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người Ngôn ngữ là thứ côngcụ có tác dụng vô cùng to lớn Nó là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạttruyền thống văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Nó có thể diễn tảtất cả những gì con người nghĩ ra, nhìn thấy, biết được những giá trị trừu tượng
mà các giác quan không thể vươn tới được Quá trình giáo dục ngôn ngữ đượcthể hiện ở mọi lúc mọi nơi, trong tất cả các môn học Nhất là các môn học ở tiểuhọc có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục cho học sinh một cách toàn diện
Đặc biệt, phân môn Luyện từ và câu là một phân môn chiếm thời lượng
khá lớn trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học, đã góp phần rất quan trọng trong việchướng dẫn học sinh sử dụng ngôn ngữ vào hoạt động học tập và giao tiếp mộtcách chính xác, phù hợp Học tốt môn học này sẽ tạo tiền đề cho các em học tốtcác môn học khác
Chúng ta vẫn thường nói với nhau rằng: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”
Nên việc giải quyết các dạng bài tập Luyện từ và câu lớp 4 sao cho có
hiệu quả là một vấn đề không phải đơn giản đặt ra cho các giáo viên tiểu học.Qua thực tế dạy tôi đã gặp phải không ít những khó khăn Đối với chương trìnhhiện nay, từ ngữ và ngữ pháp đều đảm nhiệm cung cấp vốn từ cho học sinh, việc
hướng dẫn làm các bài tập Luyện từ và câu mang tính chất máy móc, không mở
rộng cho học sinh nắm sâu kiến thức của bài Về phía học sinh, đa số học sinhlàm các bài tập chỉ biết làm mà không hiểu tại sao làm như vậy, học sinh khôngcó hứng thú trong việc giải quyết kiến thức Do vậy, việc tổ chức cho học sinh
trong các giờ giải quyết các bài tập Luyện từ và câu là vấn đề trăn trở cho các
giáo viên và ngay cả bản thân tôi
Trong quá trình dạy học, tôi cũng như một số giáo viên khác khi dạy đếntiết Luyện từ và câu, đặc biệt là các khái niệm về từ đơn, từ ghép, các kiểu từghép… bộc lộ không ít hạn chế Về nội dung chương trình dạy phần này trong
Trang 4sách giáo khoa rất ít Chính vì vậy, học sinh rất khó xác định, dẫn đến tiết họctrở nên nhàm chán không thu hút được học sinh Để tháo gỡ khó khăn đó rất cầncó một phương pháp tổ chức tốt nhất, có hiệu quả nhất cho tiết dạy các dạng bài
tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4.
Từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên, thông qua việc họctập, giảng dạy trong những năm qua, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu sâu
hơn về phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh
lớp 4, nhằm tìm ra được phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp nhất, vậndụng tốt nhất trong quá trình giảng dạy của mình Vì điều kiện, khả năng nghiêncứu có hạn tôi xin mạnh dạn trình bày kết quả nghiên cứu của mình thông qua
đề tài “Phương pháp dạy luyện từ và câu lớp 4”.
2 Tên sáng kiến: “Phương pháp dạy luyện từ và câu lớp 4”.
3 Tác giả sáng kiến:
Họ và tên: Đinh Thị Thu
Địa chỉ: Trường tiểu học Hoàng Hoa – Tam Dương - Vĩnh phúc
Số điện thoại: 0978635038 Email: cuongthu103 @gmail.com
4, Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nhà giáo Đinh Thị Thu – Giáo viên Trường
Tiểu học Hoàng Hoa – Tam Dương – Vĩnh Phúc
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Tìm hiểu tình hình học Tiếng Việt phân môn Luyện từ và câu, thực hành
xác định phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câu Đề xuất một
số biện pháp thực hiện trong khi dạy học sinh dạng bài này
Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 4
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: ngày 20/10/2017
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Về nội dung của sáng kiến:
Tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng choviệc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Cùng với các môn học khác,môn Tiếng Việt góp phần cung cấp những tri thức khoa học ban đầu, nhữngnhận thức về thế giới xung quanh nhằm phát triển năng lực nhận thức, hoạt động
tư duy và bồi dưỡng tình cảm đạo đức tốt đẹp của con người
Trong môn Tiếng Việt, Luyện từ và câu được tách thành một phân mônđộc lập, có vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn…song songtồn tại với các môn học khác Đó là một môn khoa học cung cấp cho học sinhnhững kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng con đường quy nạp và rèn kĩ năngdùng từ đặt câu, kĩ năng diễn đạt cho học sinh Điều đó thể hiện việc cung cấpvốn từ cho học sinh là rất cần thiết và nó có thể mang tính chất cấp bách nhằm
“đầu tư” cho học sinh có cơ sở hình thành ngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp
cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức mới trong các môn học khác Tầm quantrọng đó đã được rèn giũa luyện tập nhuần nhuyễn trong quá trình giải quyết các
Trang 5dạng bài tập trong môn Luyện từ và câu lớp 4, nhằm góp phần giữ gìn sự trong
sáng của Tiếng Việt
Những thuận lợi và khó khăn:
* Về phía nhà trường.
Chúng tôi luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, thường xuyênđộng viên, kiểm tra, nhắc nhở cũng như bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ từphía Ban giám hiệu như tổ chức tập huấn các chuyên đề trong dịp hè và trongnăm học, giúp giáo viên có cơ hội giao lưu, trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫnnhau Đồng thời, nhà trường đã trang bị cơ sở vật chất, cung cấp đầy đủ phươngtiện và thiết bị phục vụ cho công tác dạy - học
* Về phía chương trình sách giáo khoa.
Số tiết Luyện từ và câu của sách giáo khoa lớp 4 gồm 2 tiết/tuần Sau mỗitiết hình thành kiến thức là một loạt các bài tập củng cố, kiểm tra Mà việc xácđịnh phương pháp tổ chức cho một tiết dạy như vậy là hết sức cần thiết Việcxác định yêu cầu của bài và hướng giải quyết còn mang tính thụ động, chưa pháthuy triệt để vốn kiến thức khi luyện tập, thực hành
*Về phía giáo viên.
Phân môn “Luyện từ và câu” tạo cho học sinh môi trường giao tiếp để học
sinh mở rộng vốn từ có định hướng, trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bảnvề tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thường gặp Từ đó, nâng cao các
kĩ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh Giáo viên là một trong 3 nhân tố cần
được xem xét của quá trình dạy học “Luyện từ và câu”, là nhân tố quyết định sự
thành công của quá trình dạy học này Khi nghiên cứu quá trình hướng dẫn học
sinh làm các dạng bài tập “Luyện từ và câu” cho học sinh lớp 4, tôi thấy thực
trạng của giáo viên như sau:
Phần lớn giáo viên trẻ, nhiệt tình, chuyên môn vững vàng Song còn tồntại một số vấn đề sau:
- Phân môn “Luyện từ và câu” có kiến thức khó trong khi hướng dẫn học
sinh nắm được yêu cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập nên dẫn đến tâm lýgiáo viên ngại bởi việc vận dụng của giáo viên còn lúng túng
- Một số rất ít giáo viên không đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu đểkhai thác kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, lệ thuộc vàođáp án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này
- Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sáchgiáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh
- Nhiều giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn
từ cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về tiếng Việt
- Mặc dù chúng tôi thường rất tích cực đổi mới phương pháp dạy sao chonó có hiệu quả nhất ở môn học này nhưng kết quả giảng dạy và hiệu quả cònbộc lộ không ít những hạn chế
Trang 6* Về phía học sinh.
Phần lớn học sinh ngoan, có ý thức và khả năng học tập, rèn luyện tốt;được sự quan tâm, đầu tư nhắc nhở của các bậc phụ huynh Song bên cạnh đócòn một bộ phận học sinh lười học, không có ý thức vươn lên, chưa có sự quantâm đứng mức từ phía gia đình
Nhất là trong quá trình học tập phân môn “Luyện từ và câu”, hầu hết học
sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của nó nên chưa giành thờigian thích đáng và không có hứng thú học phân môn này Các em đều cho đây là
phân môn vừa “khô” vừa “khó”.
Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu… Từ đó dẫn đến việcnhận diện phân loại, xác định hướng làm bài lệch lạc Việc xác định còn nhầmlẫn nhiều
Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏsót, làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đề bài
Thực tế cho thấy nhiều học sinh khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rất trôichảy, chính xác, nhưng khi làm bài tập thực hành thì lúng túng và làm bài khôngđạt yêu cầu Điều đó cho thấy học sinh nắm kiến thức một cách máy móc, thụđộng và tỏ ra yếu kém thiếu chắc chắn
Do vậy, ngay khi dạy tới phần từ láy, từ ghép… Tôi đã tiến hành khảo sáthọc sinh lớp 4C bằng bài tập sau:
Đề bài: Xác định từ ghép và từ láy trong đoạn văn sau.
“Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn Rồi tre lớn lên cứng cáp Dẻo dai, vững chắc Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người”.
Qua khảo sát ở lớp tôi có 35 học sinh, kết quả khảo sát như sau:
Hoàn thành Chưa hoàn thành
Qua giảng dạy tôi nhận thấy kết quả chưa cao là do nguyên nhân cả haiphía: người dạy và người học Do vậy, tôi cần phải trau dồi kiến thức tìm raphương pháp đổi mới trong hướng dẫn giảng dạy để khắc phục thực trạng trên
để kết quả dạy học được nâng lên, thu hút sự chú ý của học sinh vào hoạt độnghọc
* Sơ lược một số dạng bài tập “Luyện từ và câu” điển hình.
+ Phân tích cấu tạo của tiếng
+ Tìm các từ ngữ nói về chủ để
+ Tìm lời khuyên trong các câu tục ngữ, ca dao
+ Đặt dấu chấm phẩy vào đoạn văn cho phù hợp
Trang 7+ Tìm từ đơn, từ phức và đặt câu với từ tìm được.
+ Tìm từ ghép, từ láy và đặt câu với từ đó
+ Phân biệt động từ, danh từ, tính từ trong đoạn văn
+ Phân biệt các kiểu câu chia theo mục đích nói, tác dụng của nó
+ Viết thêm trạng ngữ cho câu…
7.2 Khả năng áp dụng của sáng kiến:
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu.
Với đặc trưng của môn “Luyện từ và câu” cùng các mâu thuẫn giữa yêu
cầu của xã hội, nhu cầu hiểu biết của học sinh với thực trạng giảng dạy của giáoviên, việc học của học sinh trường tôi, đồng thời để củng cố nâng cao kiến thức,
kỹ năng làm các bài tập “Luyện từ và câu” cho học sinh lớp 4 Tôi đã nghiên
cứu và rút ra được nhiều kinh nghiệm thông qua các bài học trên lớp, trước hếttôi yêu cầu học sinh thực hiện theo các bước sau
1 Đọc kỹ đề bài
2 Nắm chắc yêu cầu của đề bài Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố đã cho
và yếu tố phải tìm
3 Vận dụng kiến thức đã học để thực hiện lần lượt từng yêu cầu của đềbài
4 Kiểm tra đánh giá
Đặc biệt tôi cũng mạnh dạn đưa ra từng bước hướng dẫn các phương pháp
rèn luyện kỹ năng làm các dạng bài tập “Luyện từ và câu” Muốn học sinh làm
bài một cách có hiệu quả, trước hết các em phải nắm chắc kiến thức, vì đó làbước quan trọng cho cả giáo viên và học sinh
Mỗi một dạng bài tập cụ thể đều có một hình thức tổ chức riêng Có thểtheo nhóm, làm việc cả lớp hoặc làm việc cá nhân Song song với các hình thứcđó là phương pháp hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh
Muốn làm được việc đó trước tiên học sinh phải hiểu rõ đặc điểm của nội
dung các chủ điểm mà phân môn “Luyện từ và câu” cần cung cấp.
- Qua các bài mở rộng vốn từ, học sinh được: cung cấp thêm các từ ngữmới theo chủ điểm hoặc nghĩa các yếu tố Hán Việt; rèn luyện khả năng huyđộng vốn từ theo chủ điểm; rèn luyện sử dụng từ, sử dụng thành ngữ tục ngữ
- Thông qua các bài tập cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ, học sinh được:tìm hiểu về cấu tạo của tiếng, nhận diện được hiện tượng bắt vần trong thơ, tìmhiểu phương thức tạo từ mới để phục vụ cho nhu cầu giao tiếp Học sinh cần tìmhiểu được:
Có 2 cách để tạo từ phức:
Cách 1 Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau là từ ghép.
Cách 2 Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau đó là từ láy.
Trang 8- Thông qua các bài tập về từ loại: Học sinh được cung cấp kiến thức sơgiản về danh từ, động từ, tính từ gắn bó với các tình huống sử dụng Cần lưu ý:
+ Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy với tính từ đã cho
+ Thêm vào các từ rất, quá, lắm… vào trước hoặc sau tính từ
+ Tạo ra phép so sánh
Thông qua các bài tập về câu, học sinh được rèn luyện năng lực sử dụngcác kiểu câu tùy theo nhu cầu, lĩnh vực giao tiếp
Ví dụ: Nhiều khi ta có thể sử dụng câu hỏi để thực hiện:
1 Thái độ khen, chê
2 Sự khẳng định, phủ định
3 Yêu cầu, mong muốn
- Đặc biệt cần chú trọng đến việc dạy học sinh biết giữ gìn phép lịch sựtrong giao tiếp Cụ thể:
1 Khi yêu cầu, đề nghị phải giữ phép lịch sự
2 Muốn cho lời yêu cầu, lời đề nghị lịch sự, cần có cách xưng hô cho phùhợp và thêm vào trước hoặc sau động từ: làm ơn, giùm, giúp…
3 Có thể dùng câu hỏi nếu yêu cầu đề nghị
7.2.2 Phương pháp tổ chức dạy cho học sinh làm bài tập “Luyện từ và
câu”.
Các kiểu hình thức và kỹ năng cần học trong phân môn “Luyện từ và câu”
được rèn luyện thông qua nhiều bài tập với các tình huống giao tiếp tự nhiên
* Đối với các dạng bài tập mở rộng vốn từ.
Ví dụ: Tìm các từ ngữ:
- Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương đồng loại.
- Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương.
- Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại.
- Trái nghĩa với đùm bọc hoặc giúp đỡ.
Ngoài ra, việc sử dụng hướng dẫn mẫu trong sách giáo khoa Giáo viên
yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm (4 nhóm) Mỗi nhóm một yêu cầu, sau khi
đại diện nhóm trả lời cho học sinh làm việc ở lớp
Nhóm 1: lòng thương người, đùm bọc, giúp đỡ…
Nêu ý nghĩa của cá từ em tìm được Các nhóm cùng bổ sung, giáo viênchốt lại ý kiến đúng
Trang 9Sau đấy giáo viên yêu cầu học sinh đặt câu và nêu tình huống sử dụng cụthể để giúp học sinh dùng từ đúng ngữ cảnh.
Liên hệ giữa tình huống học sinh đã làm được trong cuộc sống, quá trìnhhọc tập
* Rèn luyện kỹ năng cấu tạo từ - dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy.
Ví dụ: Tìm từ láy, từ ghép chứa các tiếng sau đây.
- Ngay
- Thẳng
- ThậtĐối với dạng bài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm trongphiếu giáo viên có thể sử dụng phương pháp động não thu nạp rất nhiều từ từquá trình làm việc của học sinh, mỗi nhóm hoạt động một nhiệm vụ với từ(Ngay, thẳng, thật)
Cùng yêu cầu của bài đã cho học sinh chọn từ để đặt câu với từ đó Giáoviên cho học sinh làm việc cá nhân
* Cho học sinh so sánh từ láy, từ ghép:
Giáo viên chốt:
Từ bao giờ cũng có nghĩa vì nó là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu
Từ láy, từ ghép đều là từ có nghĩa Từ láy là phối hợp những tiếng có phụ
âm đầu, vần hoặc cả âm đầu và vần giống nhau Từ ghép là từ ghép những tiếngcó nghĩa lại với nhau dựa vào cấu tạo trên mà học sinh có thể xác định từ nghép
và từ láy
Giáo viên có thể lấy thêm ví dụ:
+ Từ ghép: Cơn mưa, nhà cửa, bông hoa…
+ Từ láy: Luộm thuộm, chăm chỉ…
Song có một số trường hợp học sinh lúng túng trong việc xác định đó là từghép hay từ láy Ví dụ như bài tập sau:
Các từ êm ái, ấm áp, ốm o, ầm ĩ, óc ách, inh ỏi, yên ả có phải là từ láy
không?
Thoạt nhìn và đối chứng với định nghĩa về từ láy trong sách giáo khoaTiếng Việt 4, ta có thể nghĩ rằng các từ trên không phải là từ láy Nhưng nếuquan sát kĩ, ta thấy các từ trên đều giống nhau về hình thức ngữ âm: các tiếng
trong từng từ đều khuyết phụ âm đầu (Nên trước hết phải hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo của các tiếng để thấy được các từ đó mang nét giống với từ
Trang 10láy về mặt hình thức ngữ âm) Bên cạnh đó đặc trưng ngữ nghĩa của các từ này cũng gần giống với đặc trưng ngữ nghĩa nói chung của từ láy (có tác dụng giảm nhẹ hoặc nhấn mạnh về mặt ngữ nghĩa: Ví dụ: êm êm (giảm nhẹ), êm ái (nhấn mạnh)) Nếu phải giải thích cho học sinh lớp 4, giáo viên có thể nói: đây là các
từ láy, nhưng là các từ láy đặc biệt (đặc biệt ở chỗ nó không giống từ láy bình thường về hình thức ngữ âm)
Cũng có các trường hợp sau: Các từ: công kênh, cuống quýt là từ láy
hay từ ghép?
Để hướng dẫn cho học sinh làm bài tập này, giáo viên phải gợi ý cho học
sinh: phụ âm đầu “cờ” trong tiếng Việt được ghi bằng ba chữ cái: “c”, “k”,
“q” Như vậy có thể kết luận: đây là từ láy phụ âm đầu “cờ” (Bài tập mở rộng cho học sinh khá giỏi)
*Luyện tập các bài tập về danh từ, động từ, tính từ.
Tôi thấy chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 4 cũng đã lựa chọnnhững bài tập phù hợp với tình huống giao tiếp gần gũi, gắn bó với cuộc sốngcủa học sinh
Ví dụ 1: Viết họ tên ba bạn nam, ba bạn nữ trong lớp em Họ tên các bạn
ấy là danh từ chung hay danh từ riêng? Vì sao?
Với bài này tôi yêu cầu học sinh nhắc lại danh từ riêng là gì? Danh từchung là gì? Rồi gợi ý cho học sinh: Xác định tên của bạn mình, viết đúng quytắc chính tả Lưu ý đó là danh từ chung hay danh từ riêng
Cho học sinh làm việc cá nhân Phần trả lời câu hỏi phía sau thì cho nêumiệng
Ví dụ 2: gạch dưới các động từ có trong đoạn văn sau:
Yết Kiêu đến kinh đô yết kiến vua Trần Nhân Tông
Nhà vua: Trẫm cho nhà ngươi nhận một loại binh khí.
Yết Kiêu: Thần chỉ xin một chiếc dùi sắt.
Nhà vua: Để làm gì?
Yết Kiêu: Để dùi những chiếc thuyền của giặc vì thần có thể lặn hàng giờ dưới nước.
Tôi đã cho học sinh làm việc theo nhóm Học sinh trong nhóm thảo luậnrồi trình bày kết quả trước lớp
Lưu ý có hai từ “dùi”, từ nào là động từ?
Lấy ví dụ trường hợp khác Bác Tư dùng cái khoan để khoan tường
Ví dụ 3: Tìm những từ ngữ biểu thị mức độ của đặc điểm, tính chất đươc
gạch chân trong đoạn văn sau:
Hoa cà phê thơm đậm và ngọt nên mùi hương thường theo gió bay đi rất
xa Nhà thơ Xuân Diệu chỉ một lần đến đây ngắm nhìn vẻ đẹp của cà phê đãphải thốt lên
Trang 11Hoa cà phê thơm lắm em ơi Hoa cùng một điệu với hoa nhài Trong ngà trắng ngọc xinh và sáng Như miệng em cười đâu đây thôi.
Đây là bài tập liên quan đến tính từ và bài này hơi trừu tượng với học
Thơm - lắmTrong - ngàTrắng - ngọcDần dần các em sẽ thấy quen thuộc với cách làm của bài này
Ví dụ 4: Xác định từ loại của các từ được gạch chân:
Lá lành đùm lá rách
Bước 1: Yêu cầu học sinh nhắc lại khái niệm về danh từ, động từ, tính từ.Bước 2: Lần lượt xét xem các từ được gạch chân chỉ cái gì? (lá: chỉ sự vật;đùm: chỉ hành động; rách: chỉ đặc điểm) từ đó xác định chính xác từ loại của các
từ trên
* Đối với một số bài tập mở rộng, nâng cao về xác định từ loại của các từ,có nhiều trường hợp khiến học sinh lúng túng Bởi có những từ khi đứng mộtmình, tách khỏi ngữ cảnh, học sinh vẫn dễ dàng nhận ra giá trị từ loại của chúng.Ví dụ: xe đạp, đi, to, nhỏ bởi các em dễ nắm được ý nghĩa khái quát củachúng Nhưng lại có những từ nếu đứng một mình, tách chúng ra khỏi ngữ cảnh
thì khó xác định từ loại của chúng, ví dụ từ: kỉ niệm, ảnh hưởng Đối với những
bài thế này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đặt chúng vào một ngữ cảnh, vàomột trường hợp sử dụng cụ thể Ví dụ:
- “Tôi vẫn nhớ như in những kỉ niệm của thuở học trò”: “kỉ niệm” là danh
từ
- “Tớ kỉ niệm cậu tấm hình này”: “kỉ niệm” là động từ.
Bảng tóm tắt kiến thức sau được xem là “chìa khóa” để học sinh có thểlàm tốt các bài tập về xác định từ loại:
Từ đứng trước Từ đứng sau Ví dụ
Danh từ - Số từ (một, hai,
ba…)
- Những nỗi buồn