Mô hình Trường họcmới VNEN là một mô hình nhà trường hướng tới việc đáp ứng các yêu cầucủa ĐMPP, thể hiện qua một số đặc điểm cơ bản: Học sinh được học theo tốc độ phù hợp với nhận thức
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài.
Bước sang thế kỉ XXI , điều kiện kinh tế xã hội nước ta có những thay đổilớn Đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cơ cấu kinh tế,trình độ phát triển sản xuất, khoa học kĩ thuật, nhu cầu xã hội, thu nhập quốcdân có những bước phát triển quan trọng Vấn đề hội nhập, giữ gìn và phát huybản sắc văn hoá dân tộc, vấn đề về kinh tế tri thức, công nghệ thông tin đều pháttriển theo xu hướng quốc tế hoá Trong điều kiện kinh tế, xã hội phát triển nhưvậy thì nhận thức của con người ngày càng cao, nhu cầu học tập của học sinh làtất yếu, có vai trò quan trọng góp phần vào sự phát triển chung của đất nước Đểđáp ứng nhu cầu ngày càng cao, ngành giáo dục không ngừng mở các lớp đàotạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên Thường xuyên mởcác lớp hội thảo, tập huấn nghiệp vụ sư phạm, đổi mới phương pháp dạy họccho giáo viên nói chung và giáo viên Tiểu học nói riêng
Hiện nay, mô hình Trường học mới ở bậc Tiểu học là một mô hình dạy họchướng người học đến những hoạt động tích cực đã mang lại những hiệu quảđáng kể là mối quan tâm lớn của những người làm công tác giáo dục Vậy môhình giáo dục Trường học mới có điểm gì đáng chú ý? Mô hình Trường họcmới( VNEN) là một mô hình nhà trường hướng tới việc đáp ứng các yêu cầucủa ĐMPP, thể hiện qua một số đặc điểm cơ bản: Học sinh được học theo tốc
độ phù hợp với nhận thức của cá nhân; nội dung học thiết thực, gắn kết với thựctiễn đời sống hằng ngày của học sinh; Kế hoạch dạy học được bố trí linh hoạt;môi trường học tập thân thiện, phát huy tinh thần dân chủ, ý thức tập thể; tàiliệu học có tính tương tác cao và là tài liệu hướng dẫn học sinh (HS)tự học; chútrọng kĩ năng làm việc theo nhóm hợp tác; phối hợp chặt chẽ giữa phụ huynh,cộng đồng và nhà trường Lúc này, trọng tâm dạy học không chỉ là truyền thụkiến thức mà còn phải lồng ghép những kỹ năng để hình thành nên quá trìnhhọc tập và phát triển nhân cách của HS So sánh phương pháp dạy học truyềnthống với phương pháp dạy học theo mô hình VNEN đòi hỏi bằng kinh nghiệmcủa mình, GV phải biết gợi mở, hỗ trợ để HS tìm ra kiến thức Không khí học
Trang 3tập của lớp học VNEN sôi nổi hơn hẳn khi bàn ghế được sắp xếp lại từng cụm
để HS học tập theo nhóm, mỗi nhóm có nhóm trưởng và các thành viên Việchọc của HS chủ yếu thông qua đối thoại và hợp tác Qua 2 năm thực hiện thíđiểm mô hình lớp học VNEN đã mang lại những hiệu quả đáng ghi nhận Đốivới trường nơi bản thân tôi đang trực tiếp giảng dạy, xu hướng của nhiều giáoviên sử dụng phối hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhưng chủ yếuvẫn là các phương pháp học truyền thống Giáo viên chủ yếu trình bày bài giảngcòn học sinh lắng nghe Các phương tiện dạy học tuy có được sử dụng hợp lýhơn nhưng vẫn nặng về thầy khai thác cho trò nắm tri thức Việc học của họcsinh phụ thuộc vào khâu tổ chức của giáo viên, giáo viên tổ chức dạy thế nào thì
học sinh học theo đó Học sinh lên lớp ngồi nghe - ghi nhớ kiến thức mà thầy
truyền đạt sau đó tái hiện lại, trong giờ học các em ngồi nhìn lên bảng và nghegiảng là chủ yếu Chính vì vậy mà học sinh rất rụt rè, nhút nhát trong các hoạtđộng, đặc biệt là rụt rè trong việc nêu ý kiến và bảo vệ ý kiến của mình từ đóhình thành tâm lý ngại trình bày và tư duy còn hạn chế
Từ những ưu điểm của mô hình Trường học mới và thực tế giảng dạy ởtrường như trên, tuy điều kiện cơ sở vật chất nhà trường chưa đảm bảo để vậndụng mô hình VNEN vào dạy trên tất cả các khối lớp, nhưng Ban giám hiệu nhàtrường đã mạnh dạn chỉ đạo GV thực hiện tích hợp những mặt tích cực của môhình VNEN vào dạy trong chương trình hiện hành Đây là biện pháp để nângcao chất lượng GD toàn diện đồng thời là điều kiện để GV - HS làm quen với
mô hình dạy học mới, thực hiện tốt hơn trong thời gian triển khai đại trà Trongquá trình thực hiện, bản thân tôi là một giáo viên đứng lớp, trực tiếp dạy lớp 5,lúc nào cũng băn khoăn, trăn trở, mong tìm ra những mặt tích cực của mô hìnhlớp học này, để vận dụng vào trong quá trình dạy học Từ những lí do trên đãgiúp tôi tìm ra và vận dụng tốt mô hình lớp học VNEN và mang lại hiệu quảđáng kể vào quá trình giảng dạy của mình, xin chia sẻ cùng các bạn đồng
nghiệp qua sáng kiến kinh nghiệm: “ Một số biện pháp tích hợp mô hình lớp
học VNEN vào quá trình dạy học cho HS lớp4”.
Trang 4II Điểm mới của đề tài:
Trong tình hình hiện nay, việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm đòi hỏi ởhọc sinh một yêu cầu cao, đó là học sinh phải độc lập, tự giác, sáng tạo tronghọc tập Quá trình dạy học này gồm hai mặt quan hệ hữu cơ với nhau: Hoạtđộng dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Điều đáng chú ý là tronghọc tập là phải hoạt động một cách tích cực, chủ động có nhận thức sâu sắc.Bằng hoạt động học tập học sinh tự hình thành và phát triển nhân cách của mìnhkhông ai có thể làm thay được
Đối với phương pháp dạy học theo mô hình VNEN cho HS tiểu học đã cónhiều tài liệu đề cập, nhiều hội thảo nói đến, tuy nhiên năm học 2014-1015 vừaqua, lần đầu tiên trường tôi đã được ngành giáo dục chỉ đạo thực hiện tích hợpnhững mặt tích cực của mô hình này vào dạy học chương trình hiện hành Vìvậy, sáng kiến kinh nghiệm này lần đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng, cụthể:
+ Nghiên cứu về mô hình Trường học Việt Nam( VNEN)
+ Vận dụng những ưu điểm trong mô hình VNEN về thay đổi không gianlớp học, xây dựng nhóm học thân thiện, dạy học theo nhóm nâng cao tính tươngtác giữa các thành viên trong nhóm
+ Chỉ ra những biện pháp thực hiện cụ thể nhằm tạo cơ hội cho học sinhphát huy tính tự học, sáng tạo, tính tự giác, tự quản, sự tự tin hứng thú trong họctập Giúp các em phát huy tốt các kĩ năng: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác, kĩnăng tự đánh giá lẫn nhau trong giờ học Đem lại hiệu quả cao trong việc nângcao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh lớp mình phụ trách
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG
1 Thực trạng.
Qua thực tế lớp tôi đang phụ trách còn có nhiều HS chưa mạnh dạn tự tin,còn e dè thụ động trong học tập và trong sinh hoạt chung; kĩ năng giao tiếp cònhạn chế, chưa biết cách diễn đạt, trình bày ý kiến cá nhân Chất lượng giáo dụctoàn diện còn ở mức hạn chế
1.1 Thuận lợi:
- Đa số học sinh đều ngoan, có ý thức ham học, mưu cầu tiến bộ.
- Phần đông phụ huynh đã quan tâm đến việc học tập của con em mình nên
đã mua sắm đầy đủ sách giáo khoa, vở và học cụ cho học sinh, thường xuyênnắm bắt tình hình học tập của con em mình từ GVCN lớp
- Giáo viên nắm từng đối tượng học sinh của lớp mình phụ trách.
- Chi bộ, Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo sâu sát về công
tác đổi mới phương pháp dạy học đặc biệt chỉ đạo việc vận dụng mô hình lớphọc VNEN vào dạy học
Bên cạnh những thuận lợi, khi vận dụng dạy học theo lớp học VNEN cũnggặp không ít khó khăn
1.2 Khó khăn:
- Người giáo viên phải làm rất nhiều ĐDDH (chủ yếu là phiếu học tập).
- Chuyển đổi từ phương pháp truyền thống qua phương pháp học tích cực
một cách đột ngột, nên không khỏi gây cho GV, HS và phụ huynh tâm lý hoangmang sợ học sinh không tiếp thu được kiến thức bài học, nhất là đối tượng họcsinh trung bình, yếu
- Cơ sở vật chất, không gian lớp học và bàn ghế chưa đạt chuẩn và
kinh phí để trang trí lớp học cũng là một vấn đề ảnh hướng tới lớp họcvận dụng theo mô hình VNEN
- Công tác quản lí, chỉ đạo của nhà trường cũng là một vấn đề cần
được chú trọng: cần một sự tâm huyết, tự học tự nghiên cứu và tổ chứchướng dẫn cho giáo viên cụ thể, điều chỉnh hợp lí, chu đáo… không
Trang 6chỉ cho một giáo viên mà nhiều giáo viên có trình độ nhận thức khácnhau.
- Về học sinh: Thực tế trong năm học này, lớp 5A do tôi phụ trách có nhiều
em còn rụt rè, chưa mạnh dạn tự tin; còn thụ động trong học tập và sinh hoạtchung Một số em chưa biết cách diễn đạt, trình bày, ứng xử có phần còn mangtính “ tuỳ tiện ” Một số ít em tiếp thu bài còn chậm nhưng chưa dám hỏi bạn,hỏi cô giáo những điều mình chưa biết
1.3 Điều tra khảo sát, thống kê một số kĩ năng:
* Khảo sát nội dung: “Thảo luận nhóm” qua quan sát HS thực hành thảo luận nhóm trong một số tiết Khoa học- Lịch sử - Địa lí.
* Khảo sát về chất lượng môn Toán- Tiếng Việt đầu năm học:
Tiếng Việt 7 28 9 36 5 20 4 16
Trang 72 Biện pháp thực hiện:
Để vận dụng dạy học theo mô hình trường học mới VNEN đạt hiệu quả caotrong giai đoạn hiện nay khi một số yêu cầu cho mô hình còn chưa được đápứng, trước mắt theo tôi người giáo viên cần thực hiện một số biện pháp sau:
2.1 Biện pháp 1: Tìm hiểu kĩ về mô hình lớp học VNEN: Cấu trúc, chương trình, sách giáo khoa, hình thức tổ chức dạy học…
Muốn vận dụng tốt mô hình VNEN vào quá trình dạy học, GV phải tìm hiểu
kĩ về mô hình này Ngoài các chuyên đề cấp trường, cấp cụm đã thảo luận,những chỉ đạo mang tính định hướng của trường, ngành trong vận dụng mô hìnhVNEN, tuy nhiên GV phải tự tìm hiểu, nghiên cứu thêm, có nắm kĩ thì mới tìm
ra được những mặt tích cực để vận dụng một cách phù hợp vào giảng dạy Một
số điểm cần lưu ý trong mô hình VNEN như sau:
*Về cấu trúc mô hìnhh VNEN:
- Mô hình VNEN giữ nguyên nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng và kế hoạch
dạy học theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Bài học mô hình VNEN được cấu trúc theo một đơn vị kiến thức hoàn
chỉnh, nhằm giải quyết trọn vẹn, liên tục một vấn đề: hình thành, củng cố, vậndụng, ứng dụng kiến thức vào thực tế
- Quy trình, cấu trúc 5 bước của mô hình VNEN: Gợi động cơ, tạo hứng thú
học tập cho HS - Trải nghiệm - Phân tích, khám phá, rút ra bài học - Thực hành
- HĐ cơ bản: Giúp HS trải nghiệm, tìm tòi, khám phá, phát hiện kiến thức
mới thông qua hoạt động ( HS hoạt động theo nhóm, cặp đôi, cá nhân và hoạtđộng chung cả lớp)
Trang 8- HĐ thực hành: Giúp HS áp dụng trực tiếp kiến thức đã học, củng cố kiến
thức, rèn luyện kĩ năng
- HĐ ứng dụng: Giúp HS vận dụng kiến thức vào thực tế, cùng với sự giúp
đỡ của cha mẹ, người lớn
Để tổ chức cho HS học tập, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện đúngquy trình 10 bước lên lớp của mô hình VNEN:
1 Em học tập theo nhóm;
2 Em ghi đầu bài vào vở;
3 Em đọc mục tiêu bài học;
4 Em bắt đầu thực hiện hoạt động cơ bản ;
5 Kết thúc hoạt động cơ bản, em báo cáo với thầy, cô giáo;
6 Em bắt đầu hoạt động thực hành;
7 Em bắt đầu hoạt động ứng dụng;
8 Em đánh giá cùng thầy, cô giáo;
9 Em tự đánh giá vào bảng đo tiến độ;
10 Em đã hoàn thành bài học hay còn phải học lại những phần nào;
Điều dễ nhận thấy ở một tiết học của mô hình Trường học mới đó là khôngkhí lớp học rất sôi nổi Việc trao đổi giữa HS và GV tỏ ra đơn giản và thườngxuyên; các em HS được chia thành các nhóm nhỏ để cùng học, khi có gì khókhông thể giải đáp được, HS sẽ yêu cầu sự trợ giúp từ GV bằng cách sử dụngmặt khóc để cứu trợ
Sự phân công công việc trong một nhóm rất rõ ràng, mỗi người một nhiệm
vụ, những HS yếu cũng được tham gia và bình đẳng như các bạn khác trongnhóm Điểm khác biệt lớn nhất là trước kia để đánh giá được mức độ hiểu bàicủa HS sau mỗi tiết học, cô giáo cũng chỉ có thể kiểm tra một vài HS thì ở môhình này, tất cả các học sinh đều được các bạn khác trong nhóm, thậm chí là cácthành viên nhóm khác kiểm tra nên không xảy ra tình trạng “giấu dốt”
Với cách thức hoạt động như vậy nên vai trò của GV trong lớp học chỉ làđịnh hướng và theo dõi hoạt động nhóm của HS Khi phát hiện có nhóm cần sự
Trang 9trợ giúp thì lúc đó GV mới tham gia hướng dẫn Nói một cách khác là GV gầnnhư là giao lớp học cho chính các em HS tự quản.
2.2 Biện pháp 2: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS
Việc xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh
gồm: xác định những kiến thức, kĩ năng( KT, KN) mà HS đã có và cần có; dự
kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải
quyết
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng vận dụng mô hình
VNEN, GV không những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu HS
để lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và đánhgiá cho phù hợp Như vậy, trước khi soạn giáo án cho giờ học mới, GV phảilường trước các tình huống, các cách giải quyết nhiệm vụ học tập của HS Nóicách khác, tính khả thi của giáo án phụ thuộc vào trình độ, năng lực học tập của
HS, được xuất phát từ : những KT, KN mà HS đã có một cách chắc chắn, vững
bền; những KT, KN mà HS chưa có hoặc có thể quên; những khó khăn có thểnảy sinh trong quá trình học tập của HS Bước này chỉ là sự dự kiến; nhưngtrong thực tiễn, có nhiều giờ học do không dự kiến trước, GV đã lúng túngtrước những ý kiến không đồng nhất của HS với những biểu hiện rất đa dạng,đặc biệt trong vận dụng mô hình VNEN việc tích cực, sáng tạo ở HS được đặt
ra rất cao Do vậy, GV nên dành thời gian để nắm bắt, phân loại đối tượng, kếthợp với kiểm tra đánh giá thường xuyên để có thể dự kiến trước khả năng đápứng các nhiệm vụ nhận thức cũng như phát huy tích cực vốn KT, KN đã có củaHS
2.3 Biện pháp 3: Tăng cường tự học, nghiên cứu bài dạy trước khi lên lớp Tự làm những ĐDDH đơn giản, dễ làm, phù hợp, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
Để thiết kế bài giảng, chuẩn bị các tình huống sư phạm, những đồ dùng dạyhọc cho một tiết học cụ thể, GV phải xác định kĩ mục tiêu, nội dung yêu cầu của
Trang 10bài học để lựa chọn PPDH cho phù hợp Xác định mục tiêu, nội dung bài họcthường căn cứ vào các trường hợp sau:
Trường hợp 1: Đối với dạy bài mới thì có thể lựa chọn PPDH trực quan và
kết hợp với làm việc theo nhóm để tìm ra kiến thức.
Ví dụ: Diện tích tam giác ( Toán lớp 5).
Để hình thành cách tính diện tích một hình nói chung và diện tích hình tamgiác nói riêng có tính chất khái quát và trừu tượng Với trình độ của HS tiểuhọc, GV không thể sử dụng kiến thức cao cấp để trình bày Do đó, với bài họcnày, GV nên sử dụng PPDH trực quan kết hợp với các PPDH khác (vấn đáp,quan sát) để tổ chức hoạt động dạy học
Khi sử dụng PPDH trực quan để hình thành biểu tượng mới cho HS, GV cầnbiết cách lựa chọn, sử dụng, bố trí hình ảnh, đồ dùng trực quan hợp lý và tăngdần mức độ khái quát, trừu tượng để rèn tư duy cho HS; biết cách hướng dẫn
HS hoạt động trên hình ảnh trực quan, đồ dùng trực quan để nhận dạng và tạo rabiểu tượng mới
Sau đó, để kiểm nghiệm kết quả, phát huy tính chủ động, sáng tạo và tinhthần hợp tác của HS, GV có thể lựa chọn, sử dụng PPDH hợp tác theo nhómnhỏ để tổ chức hoạt động thực hành làm các bài tập tiếp theo
Trường hợp 2: Đối với dạy bài luyện tập thì có thể lựa chọn luyện tập kết
hợp với làm việc theo nhóm vận dụng những kiến thức đã học vào làm bài tập.
Ví dụ: Trong tiết luyện tập: Luyện tập về từ đồng nghĩa( LTVC lớp 5)
Để vận dụng kiến thức đã học ở tiết trước vào làm bài tập, GV tổ chức chonhóm trưởng điều hành các thành viên thực hiện các hoạt động học tập:
Bước 1 của hoạt động nhóm là tất cả các thành viên đều làm việc cá nhân đểthực hiện yêu cầu các bài tập: Bài tập 1: Tìm những từ đồng nghĩa trong đoạnvăn; bài tập 2: Xếp các từ thành nhóm từ đồng nghĩa; bài tập 3: Viết một đoạnvăn tả cảnh khoảng 5 câu, trong đó có dùng một số từ đã dùng ở bài tập 2
Bước 2: Học sinh trao đổi kết quả bài làm với nhau theo cặp đôi;
Bước 3: Nhóm trưởng huy động kết quả của nhóm; Đại diện nhóm trình kếtquả trước lớp
Trang 11Sau phần trình bày của các nhóm, GV chốt và khắc sâu kiến thức.
Trường hợp 3: Nếu nội dung bài học yêu cầu ôn tập, hệ thống kiến thức thì
GV lựa chọn, sử dụng PPDH Ôn tập – Hệ thống hóa kiến thức để tổ chức hoạt động dạy học.
Ví dụ: Trong tiết: Ôn tập: Vật chất và năng lượng( Khoa học lớp 5)
Để giúp HS ôn tập, hệ thống kiến thức đã học, GV chuẩn bị sẵn các câu hỏivào phiếu học tập và yêu cầu các nhóm thực hiện hoạt động ôn tập dưới sự điềukhiển của các nhóm trưởng: Trả lời theo các câu hỏi ôn tập từ câu 1 đến câu 7 ởphiếu Sau khi thực hiện xong nhiệm vụ, GV cho HS trở về toàn lớp để huyđộng kết quả thảo luận của các nhóm thông qua trò chơi: “Ai nhanh ai đúng” đểđiền vào các ô chữ sao cho phù hợp
Phần GV chốt và khắc sâu kiến thức cần có hệ thống câu hỏi, mở rộng cácnội dung có liên quan đến bài học Cuối hoạt động trò chơi, GV có thể hỏi HS:
Sự biến đổi hóa học của các chất: lớp gỉ sắt màu nâu; lớp gỉ đồng màu xanh trênchiếc mâm đồng; từ vôi sống trở thành vôi tôi xảy ra trong những điều kiệnnào?
Như vậy, tùy từng loại bài cụ thể, để GV có những lựa chọn các PPDH, hìnhthức tổ chức phù hợp song tất cả đều hướng tới mục tiêu: Học sinh được pháthuy tối đa tính tích cực, chủ động, tinh thần hợp tác, chia sẻ trong nhóm Họcsinh được rèn luyện cách học, cách tư duy Học sinh được tự học, hoạt động,trải nghiệm, hợp tác từ đó có được năng lực mới (kiến thức, kĩ năng, các phẩmchất, yếu tố khác của năng lực) Và giáo viên luôn chỉ ở góc độ tư vấn, hỗ trợ, tổchức quá trình tự học của HS
2.4 Biện pháp 4: Thay đổi không gian lớp học phù hợp với thực tế, tổ chức các hoạt động dạy học linh hoạt phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh.
Không gian lớp học được bố trí với nhiều thông tin Có “góc cộng đồng” vớinhững tấm hình về người lao động và các ngành nghề Có bản đồ “đường emđến lớp” trong đó mỗi học sinh sẽ dán hình của mình tương ứng với vị trí nhàmình trên bản đồ Có các hộp thư: hộp thư điều em muốn nói, hộp thư cam kết,