1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN mới NHẤT) SKKN một số biện pháp pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ em dân tộc thiểu số trong trường mầm non ngọc thanh a

21 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 192,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng sự hiểu biết của mình tôi lựa chọn những nội dung những bài học và những hình thức, những hình ảnh đẹp hay những tình huống hẫp dẫn giúp trẻ học Tiếng Việt có hiệu quả vì vậy tôi đư

Trang 1

Một số biện pháp pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu

số trong trường mầm non Ngọc Thanh A

        Xuất phát từ cơ sở lý luận, căn cứ vào tình hình thực tế. Nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em là người dân tộc thiểu số trong trường mầm non. Tôi đã quyết định khảo sát, nghiên cứu, tham khảo ý kiến chuyên viên ngành học mầm non thành phố Phúc Yên, các đồng chí cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường để đưa

ra những phương pháp, biện pháp hiệu quả nhất nhằm đưa chất lượng chăm sóc của Trường Mầm non Ngọc Thanh A đạt kết quả cao.

      Mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình thực hiện theo hướng chuẩn hoá, tiếp cận với trình độ khoa học tiên tiến của khu vực, của địa phương mình. Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn giáo dục của nhà trường kết hợp với giáo dục giữa gia đình và xã hội, chú trọng giáo dục với thực tiễn, tích hợp nội dung theo chủ đề, tăng cường các hoạt động của trẻ thông qua hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân.

Để khắc phục những khó khăn trên tôi đã thực hiện một số biện pháp như sau:

Nắm vững những đặc điểm phát triển về ngôn ngữ của trẻ ở các độ tuổi.

Có các giải pháp hướng dẫn trẻ học Tiếng Việt một cách linh hoạt, phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế của nhà trường, phù hợp với địa phương và khả năng nhận thức của trẻ trong lớp.

Thường xuyên tham khảo tài liệu, sưu tầm các thông tin trên mạng intenet,

dự giờ kiến tập đồng nghiệp, học hỏi kinh nghiệm.

Trang 2

 Tuyên truyền cho các bậc phụ huynh cùng với giáo viên tích cực dạy Tiếng Việt cho trẻ.

      Để giúp trẻ tăng khả năng nghe hiểu và thực hành Tiếng Việt một cách tốt nhất tôi kiên trì, sáng tạo và gần gũi với trẻ. Bằng sự hiểu biết của mình tôi lựa chọn những nội dung những bài học và những hình thức, những hình ảnh đẹp hay những tình huống hẫp dẫn giúp trẻ học Tiếng Việt có hiệu quả vì vậy tôi đưa ra các biện pháp cụ thể như sau:

        Biện pháp 1: Dạy trẻ học Tiếng Việt theo trình tự nghe, hiểu và thực hành:

  Trẻ học hiểu nghĩa của từ và câu trước khi nói chính xác từ và câu đó:

  Bước vào trường mầm non trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữ thứ hai và đây cũng là thời kỳ đầu tiên trong quá trình trẻ học nói Tiếng Việt, tiếp thu kiến thức bằng Tiếng Việt. Mọi lời nói hướng dẫn, cách truyền đạt của cô đều thật khó đối với trẻ. Nửa đầu học kỳ I, nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triển khả năng nghe hiểu lời nói của cô.

Với mục đích trẻ hiểu nghĩa của từ ngữ rồi trẻ thực hành Tiếng Việt. Yêu cầu đối với giáo viên không cấm trẻ nói Tiếng mẹ đẻ và cần tránh dạy trẻ nói mà không hiểu nghĩa. Ở đây tôi thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan, hành động với đồ vật, bằng ngôn ngữ hình thể để diễn đạt một cách cụ thể dễ hiểu nhất giúp trẻ một phần nắm bắt dễ dàng và hiểu một cách chính xác vấn đề.

Ví dụ: Trẻ làm quen với tên gọi các bạn: đây là bạn Mai chi, đây là bạn Mai Trang… cô dắt trẻ lên và giới thiệu cho các bạn nghe, lần lượt các bạn trong lớp Cho trẻ làm quen với tên gọi và đồ dùng đồ chơi ở các góc trong lớp học: Đây là viên gạch, đây là quả táo…Khi cô giới thiệu cho trẻ nghe cô hỏi lại để kiểm tra đối với các trẻ. Cô giới thiệu và làm mẫu một số hành động cụ thể : đứng lên, ngồi xuống, đi ra ngoài… kết hợp sử dụng tiếng mẹ đẻ để giải thích nghĩa của từ

Trang 3

từ ngữ nhẹ nhàng để khen ngợi trẻ, nêu những điểm nổi bật làm trẻ thích thú và chăm chú nghe cô nói.

Sử dụng đồ dùng cho trẻ tiếp cận theo nhóm đối tượng giúp trẻ dễ sâu chuỗi được vấn đề hơn:         

Vi dụ: Cho trẻ quan sát tranh các con vật cô hỏi “ Con gì đây” và “đây là con gì” đầu tiên trẻ chưa biết tôi hướng dẫn trả lời rồi cho trẻ bắt chước sau đó trẻ tự trả lời, và cứ như vậy trẻ sẽ tự hiểu đó là những con vật. Vì vậy khi cho trẻ tiếp súc đối tượng tôi thường đưa các đối tượng có cùng chủng loại: các loại quả, các đồ chơi

Tôi thường xuyên trao đổi với trẻ bằng cách chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn,

dễ hiểu kết hợp hướng dẫn giúp trẻ hiểu những vấn đề, nhiệm vụ gần gũi đối với trẻ:  Ví dụ: Khi trẻ đến lớp cô nhắc “ Chào cô nào” và cô hướng dẫn cho trẻ thực hiện nói “ Cháu chào cô” và các khái niệm, các từ chỉ tên người, đồ vật ví dụ: Tên bạn, quần áo, bát đĩa, tên đồ dùng đồ chơi trong lớp, một số hoạt động hàng ngày trẻ phải thực hiện ví dụ: con hát nào, con hãy đọc thơ, con thực hiện cùng cô nào…

Tôi luôn chú ý phát rõ âm để trẻ dễ tiếp thu, dạy trẻ cần phải kèm tranh minh họa, vật thật đôi khi cần có cả sự giải thích, khi sử dụng từ ngữ cô lựa chọn cầu từ ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với trẻ. Chú ý cung cấp từ mới cho trẻ phải nhắc đi nhắc lại giúp trẻ nghe rõ và hiểu vấn đề một cách cụ thể.

Tạo cho trẻ năng lực bắt chước kết hợp âm thanh, trẻ thường xuyên học nhắc lại những gì nghe được từ cô và các bạn, đây cũng là một trong những biện pháp trẻ dễ học dễ hiểu nhất: Ví dụ: Trong giờ học tôi đưa một bức tranh và hỏi trẻ cô có gì đây? Một số trẻ trả lời “ Tranh con vịt” cô khẳng định là đúng

và cho cả lớp và cá nhân bắt chước nói giống cô và các bạn cứ như vậy trẻ học rất nhanh và hiệu quả cũng rất cao.

Trang 4

Nghe với những hình ảnh động: Các hình ảnh đính kèm những ngôn ngữ làm cho trẻ ‘hiểu’ được ít nhiều nội dung của vấn đề, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu.

Ví dụ: Thường xuyên mở các bài hát, đoạn video về các con vật, các hiện tượng tự nhiên hay các sự kiện… cho trẻ xem, trẻ chăm chú phán đoán và trẻ cũng dần hiểu một số câu từ trong những đoạn video, clip đó.

Luyện nghe cho trẻ cũng rất quan trọng, luyện cho trẻ nghe được các âm vị cấu trúc âm tiết khác nhau , nghe biểu cảm về phương diện âm thanh. 

Mặc dù có thể hơi khó với trẻ nhưng đọc hay kể chuyện cho trẻ nghe ngay từ những ngày đầu tới lớp của trẻ là một trong những cách tốt nhất giúp trẻ làm quen với ngôn ngữ Tiếng Việt. Thông qua việc dành thời gian đọc, kể cho trẻ nghe từ đó giúp trẻ nhận biết những điều kỳ diệu mà ngôn ngữ đem lại và

sự thích thú của trẻ đối với những điều kỳ diệu đó sẽ biến trẻ thành người ham học.

Yêu cầu ở nội dung này cô cần phải kiên trì, thường xuyên trò chuyện giao tiếp cùng trẻ có nhiều biện pháp giúp trẻ nghe hiểu một cách chính xác nội dung cô cần truyền đạt. Do vậy tôi luôn chú ý đến lời nói phải chính xác, rõ ràng, mạch lạc, tránh nói lắp, nói ngọng.

  Lựa chọn nội dung giáo dục và hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ.

Ví dụ: Lựa chọn những bài thơ, bài hát ngắn gọn dễ hiểu, tìm những bài thơ, ca dao, đồng dao giúp trẻ dễ đọc dễ nhớ và cũng thuận lợi trong việc khai thác nội dung.

Luôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tình phù hợp, chính xác và có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm. Đặc biệt khi lựa chọn đề tài này cần phải chú trọng hơn khi xây dựng nội dung giáo dục để đảm bảo tính hiệu quả phù hợp với nội dung và đối tượng vùng miền.

 Trẻ học tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế:

Trang 5

Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằm giúp trẻ tham gia vào môi trường sử dụng Tiếng Việt một cách tự nhiên, không gượng ép. Các hoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cách riêng trong học tập và sử dụng Tiếng Việt. Phong cách riêng chính là nền tảng của chất lượng và hiệu quả học tập Tiếng Việt cho trẻ em. Nắm bắt được đặc điểm này tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để tạo các tình huống và đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm.

Ví dụ: Tổ chức các trò chơi cho trẻ như:

- Trò chơi những chiếc thuyền: Cô đổ nước vào chậu hoặc bát to. Để 3 cái hộp rỗng vào. Cần thổi chúng chuyển động từ bờ bên này sang bờ khác. Cô nói với Trẻ: “Con tưởng tượng xem, đây là biển nhé. Để cho tàu ra khơi, cần có gió đẩy thuyền đi. Con hít sâu vào rồi thổi mạnh đi!”. Điều quan trọng là theo dõi việc thở ra và khuyến khích trẻ thực hiện theo yêu cầu của cô. Để kích thích khẩu ngữ của bé, cô đặt những câu hỏi: “Thời tiết trên biển thế nào con nhỉ?”,

“Con thấy mặt nước trông như thế nào?”…cô  cho trẻ chơi theo nhóm nhỏ các trẻ khác quan sát và nhận xét về các con thuyền, nhận xét cách chơi của các bạn cùng với những lời tán thưởng của cô trẻ rất thích thú cổ vũ cho những con thuyền, đây cũng là một hình thức trẻ được chơi một cách thoải mái nhất nhưng trẻ lại nhớ lâu những từ mới như “con thuyền”, “mặt nước”, “thổi mạnh”, “thuyền đi nhanh, thuyền đi chậm”… bởi qua lúc chơi trẻ hò reo cổ vũ theo cô và các bạn.

- Trò chơi dàn nhạc đặc biệt: Cần 6 cái hộp và 3 loại vật liệu hạt rời (ngũ cốc, đường, bột, hạt cườm…). Điều quan trọng là đổ từng đôi hộp số lượng vật liệu như nhau để âm thanh trùng nhau chính xác. Nhưng âm thanh của đôi hộp này cần khác biệt với đôi khác. Một bộ đưa cho trẻ, còn bộ kia cô giữ. Cô lắc “Hộp” bất kì, còn trẻ cần tìm trong bộ của mình cái thùng có âm thanh y

Trang 6

như thế. Cô tăng dần số lượng hộp. Cô nghĩ ra những tên gọi lí thú cho những dụng cụ đó: Tiếng ồn, quả bom, lúc lắc, lạo sạo…  trẻ được chơi cả lớp và cô yêu cầu cá nhân lên chọn “Hộp”  cả lớp cùng nhắc giúp bạn với sự gợi ý của

cô. Cô nói các con chú ý xem chiếc “Hộp”  này có tiếng kêu thế nào ? ai giỏi lên tìm hộp có tiếng kêu giống hộp của cô nào. Trẻ sẽ phải lắc các hộp để tìm cùng với sự chỉ dẫn của các bạn “ Hộp này, hộp kia, đúng rồi, sai rồi, tìm đi, lắc hộp đi…” đó là những từ được nhắc nhiều trong trò chơi, trẻ cổ vũ, chỉ dẫn cho bạn, đây cũng là cách trẻ được học những từ mới mà không cần cô chỉ dẫn song vẫn đạt yêu cầu… trẻ em rất thích điều đó.

- Trò chơi cái bao bí ẩn: Cần một cái bao hoặc túi không trong suốt để không nhìn thấy được những vật dụng bên trong túi. Cho vào đó những đồ vật hình oval và hình tròn (trứng, quả bóng nhỏ, bóng lục lạc, cái hộp…). Trước khi cô cho những vật trên vào bao, hãy cho trẻ sờ chúng trước và gọi tên những vật

đó. Sau đó, đề nghị trẻ tìm vật cần thiết qua cảm ứng: “Bàn tay con có đôi mắt thần kì đó. Con hãy dùng tay lấy cho cô quả bóng xem nào!” (hoặc vật khác).

Cô hỏi trẻ về đồ vật trẻ lấy ra khỏi bao: “Đây là cái gì?”, “Có thể chơi bóng như thế nào nhỉ?”.

- Các tình huống gắn liền với hoạt động trong ngày cũng là những cơ hội để giáo viên giúp trẻ tăng cường Tiếng Việt cho trẻ. Tôi giúp trẻ làm giàu thêm vốn từ vựng của mình và giúp trẻ phát triển khả năng nghe, phản xạ bằng cách yêu cầu trẻ nêu tên tất cả những đồ vật mà trẻ biết bắt đầu bằng những tên bạn trong lớp, tên cô, tên các đồ dùng đồ chơi.

Ví dụ: Cô hướng trẻ với những sự vật hiện tượng xung quanh để trò chuyện và

mở rộng ngôn ngữ cho trẻ, gợi ý tạo sự tò mò của trẻ vào những thay đổi khác thường chẳng hạn: Cây đào sân trường ra hoa, trời mưa rất to, bạn Hoa có áo mới…

Trang 7

       Biện pháp 2: Dạy trẻ học Tiếng Việt qua phương pháp trực quan hành động:

Phương pháp này rất hiệu quả đối với người bắt đầu học một ngôn ngữ mới (ngoài tiếng mẹ đẻ), cho phép người học tiếp thu ngôn ngữ mới một cách dễ dàng và tự nhiên mà không bắt buộc phải quá tập trung hay căng thẳng Phương pháp này được áp dụng rộng rãi và hiệu quả ở nhiều hình thức khác nhau. Với phương pháp này, người học được sử dụng tích cực các giác quan

và vận động của cơ thể trong suốt quá trình tham gia vào hoạt động học tập

và thực hành ngôn ngữ mới. Các kỹ năng nghe - quan sát - phản hồi (bằng hành động của cơ thể) được sử dụng hiệu quả trong quá trình học tập Phương pháp này giúp giáo viên và trẻ có thể áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các hoạt động dạy và học để đạt được những giờ học thực sự tích cực. Sử dụng đồ dùng trực quan đẹp, bắt mắt đó cũng là cách làm trẻ tò mò xem đó là gì, thích được tham gia vào hoạt động với đồ dùng đó.

  Để góp phần đưa các biện pháp dạy Tiếng Việt cho trẻ mầm non. Là người lãnh đạo nhà trường tôi đã chỉ đạo cán bộ, giáo viên tổ chức họp tuyên truyền phụ huynh tích cực hợp tác với nhà trường, cùng thống nhất dạy Tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mội nơi. Đặc biệt khi trẻ ở nhà các thành viên trong gia đình cần dùng Tiếng Việt giao lưu với trẻ thường xuyên. Mỗi giáo viên cần phải có trách nhiệm gần gũi trò chuyện với trẻ kết hợp với cử chỉ, hành động để trẻ dần được làm quen với Tiếng Việt một cách tự nhiên không gò bó.

  Ví dụ: Thông qua biện pháp trực quan hành động giúp cho người học tiếp thu có hiệu quả và học ngôn ngữ mới một cách tự nhiên hứng thú. Mục đích của phương pháp này nhằm giúp cho người học đạt được các mục đích như: hiểu và sử dụng ngôn ngữ mới trong giao tiếp, hình thành và rèn luyện kỹ năng nghe, nói một ngôn ngữ mới. Không cho trẻ nói khi chưa thực hiện thành thạo được các hành động, để có thể tập trung lắng nghe chuẩn xác. Khi

Trang 8

đã nghe rõ, hiểu, thuộc và tự tin làm đúng, trẻ xẽ tự muốn nói và có thể tự thực hành với bạn của mình, giáo viên cần cho trẻ đều được thực hành ở mỗi lần học. Chỉ sử dụng ngôn ngữ đơn giản, ngắn gon, không dẫn dắt, giảng giải nhiều vì trẻ chưa hiểu Tiếng Việt. Khi dạy trẻ, giáo viên cần xác định trước những loại từ, câu nào sẽ sử dụng khi hướng dẫn trẻ. Nên sử dụng các điệu

bộ cử chỉ để ra hiệu cho trẻ hiểu ý đồ của mình, thay cho việc nói nhiều của người dạy. Lúc đầu dạy từ 1-2 từ dễ hiểu kết hợp với hành động như: Đứng lên, ngồi xuống  đến ngày hôm sau cô giáo cần cho trẻ ôn lại những gì được học ngày hôm trước, để khắc sâu sự ghi nhớ bằng hình thức chơi mà không cần phải giữ nguyên thứ tự từ các bước ngày hôm trước dạy nữa ví dụ: Đứng lên - ngồi xuống, ngồi xuống - đứng lên, rửa tay - rửa chân…Dạy Tiếng Việt với biện pháp trực quan hành động với đồ vật, biện pháp này dạy trẻ các từ mới như: Cái bàn, cái ghế, quyển vở…Ngoài ra còn sử dụng các biện pháp dạy trẻ học Tiếng Việt qua kể chuyện, đóng vai, đối với mỗi câu chuyện, làm các

đồ chơi minh hoạ, đơn giản tượng trương cho các nhân vật chính, sử dụng các nhân vật có sẵn để làm đồ dùng minh hoạ. Hoặc trẻ học Tiếng Việt thông qua việc dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái Tiếng Việt. Nội dung chủ yếu của việc dạy này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng chữ cái Chúng ta có thể coi việc giúp trẻ làm quen với chữ cái là cốt lõi của việc làm quen với Tiếng Việt có nghĩa là việc cho trẻ làm quen với chữ cái chưa phải là tất cả những nội dung công việc giúp trẻ làm quen với Tiếng Việt .Cách gọi làm quen với Tiếng Việt thường gợi ra một phạm vi nội dung rộng rãi hơn so với cách gọi làm quen với chữ cái. Do đó có thể thấy nội dung dạy trẻ làm quen với Tiếng Việt không chỉ là dạy trẻ phát âm, dạy trẻ tập tô 29 chữ cái

mà còn dạy trẻ đọc đúng các chữ cái, các từ trong tranh, hiểu được nội dung của từ và biết dùng từ để diễn đạt thành câu, muốn được như vậy trước hết

ta phải giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái trong Tiếng Việt. Có một số ít trẻ nói được Tiếng Việt nhưng chưa biết các chữ cái hay từ ngữ của

Trang 9

Tiếng Việt .Vì vậy việc dạy trẻ làm quen với chữ cái giúp trẻ nhận biết chính xác cấu tạo của chữ cái, cách phát âm để từ đó trẻ nghe cô phát âm để tìm được chữ cái tương ứng, nhìn chữ cái phát âm được chữ cái.

Ví dụ : Hôm nay cô cho trẻ nhận biết chữ s – x chẳng hạn: Cô cho trẻ xem tranh " Hoa Sen xanh" cho trẻ đọc từ : Hoa Sen xanh Trẻ nhận biết trong từ Hoa Sen xanh có bao nhiêu tiếng ? Có mấy con chữ cái ? Rồi cô ghép thẻ chữ rời cho cháu nhận biết dấu thanh tìm chữ đã học rồi phát âm lại những chữ

đó. Còn lại cô giới thiệu cho trẻ làm quen s- x, tôi phân tích các nét cơ bản cấu tạo nên chữ cái s-x, cho trẻ phát âm chữ s-x nhiều lần giúp trẻ khắc sâu cấu tạo của chữ cái và trẻ nhận biết một cách chính xác từng chữ cái.

Biện pháp 3: Cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ thông qua việc làm quen với chữ cái:

Nội dung chủ yếu của việc dạy này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng chữ cái .Chúng ta có thể coi việc giúp trẻ làm quen với chữ cái là cốt lõi của việc làm quen với Tiếng Việt có nghĩa là việc cho trẻ làm quen với chữ cái chưa phải   là   tất   cả   những   nội   dung   công   việc   giúp   trẻ   làm   quen   với   Tiếng Việt .Cách gọi làm quen với Tiếng Việt thường gợi ra một phạm vi nội dung rộng rãi hơn so với cách gọi làm quen với chữ cái . Do đó có thể thấy nội dung dạy trẻ làm quen với Tiếng Việt không chỉ là dạy trẻ phát âm, dạy trẻ tập tô

29 chữ cái mà còn dạy trẻ đọc đúng các từ, hiểu được nội dung của từ và biết dùng từ để diễn đạt thành câu, muốn được như vậy trước hết ta phải giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chư cái trong Tiếng Việt.

Có một số trẻ nói được Tiếng Việt nhưng chưa biết các chữ cái hay từ ngữ của Tiếng Việt. Vì vậy, việc dạy trẻ làm quen với chữ cái giúp trẻ nhận biết chính xác cấu tạo của chữ cái, cách phát âm để từ đó trẻ nghe cô phát âm để tìm được chữ cái tương ứng, nhìn chữ cái phát âm được chữ cái tương ứng.

Ví dụ: Hôm nay cô cho trẻ nhận biết chữ  h - k chẳng hạn:

Trang 10

Trẻ nhận biết trong từ Hoa loa kèn có bao nhiêu tiếng? Có mấy con chữ cái?  rồi cô ghép thẻ từ rời cho cháu nhận biết dấu thanh tìm chữ đã học rồi phát

âm lại những chữ đó .Còn lại cô giới thiệu cho trẻ làm quen h- k, tôi phân tích các nét cơ bản cấu tạo nên chữ cái h-k, cho trẻ phát âm chữ h-k nhiều lần giúp trẻ khắc sâu cấu tạo của chữ cái  và trẻ nhận biết một cách chính xác từng chữ cái.

Sau khi giúp trẻ làm quen và nắm được 29 chữ cái trong Tiếng Việt tôi tiến hành cho trẻ tham gia các trò chơi với chữ cái, cho trẻ tập tô chữ cái giúp trẻ dần dần nắm được toàn bộ hệ thống chữ cái qui định trong chương trình, đồng thời chính xác hoá cách phát âm. Do đặc điểm của lứa tuổi nên việc giáo dục trẻ mẫu giáo được tiến hành theo phương châm học bằng chơi, chơi mà học. Từ đó tôi luôn nghĩ cần phải phát huy hết tác dụng của các trò chơi để dạy trẻ. Điều đáng chú ý là trẻ mầm non xã Ngọc Thanh rất ham thích được học qua hình ảnh trực quan, tổ chức hoạt động học thông qua các trò chơi Mỗi khi được nhìn thấy đồ dùng, đồ chơi trẻ rất vui, thích tìm hiểu sờ mó và cùng nhau khám phá. nắm bắt được đặc điểm này chúng tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm. Ví dụ: Trò chơi tìm chữ cái s-x trong bài thơ "Hoa Sen" Tôi viết bài thơ lên giấy tô ki (mỗi tờ tranh đã được viết nội nội dung một bài), tôi mời lớp tôi chia làm 2 đội lên dùng bút tìm và gạch chân chữ s-x có trong từ có trong mỗi câu thơ và đọc chữ cái mình đang gạch chân đội nào tìm gạch chân được nhiều chữ s-x thì chiến thắng và được tuyên dương. Tôi còn cho trẻ nhận biết và phát âm chữ cái qua nhiều trò chơi khác như "Nối chữ cái với từ có chứa chữ cái đó"…

"Dạy trẻ phát âm Tiếng Việt thông qua trò chơi tìm chữ cái theo yêu cầu của cô" Tăng cường Tiếng Việt thông qua trò chơi gắn chữ cái trên đồ dùng, đồ

Ngày đăng: 06/04/2022, 08:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w