1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN mới NHẤT) SKKN một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giải toán cho học sinh lớp 1

20 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 246,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ vị trí và nhiệm và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán, vấn đề đặt ra cho ngời dạy là làm thế nào để giờ dạy- học toán ở lớp 1 nói chung và giải toán nói riêng có hiệu quả cao, h

Trang 1

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lợng giải toán cho

học sinh lớp 1

A Phần mở đầu

1.Lí do chọn đề tài.

Trong các môn học ở tiểu học môn toán là công cụ để học

tốt các môn học khác Các kiến thức, kỹ năng của môn toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống Nó góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phơng pháp suy nghĩ, suy luận, giải quyết vấn đề, phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo; nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng cho con ngời nh :cần cù, cẩn thận, có ý chí vợt khó , làm việc có kế hoạch, có nền nếp và tác phong khoa học Vì vậy môn toán là một môn học không thể thiếu trong tất cả các cấp học Nói về vị trí vai trò của bộ môn

Toán Cố thủ tớng Phạm Văn Đồng có nói :“Trong các môn khoa

học và kỹ thuật, toán học giữ một vị trí nổi bật Nó có tác dụng lớn đối với kỹ thuật, với sản xuất và chiến đấu Nó là một môn thể thao của trí tuệ, giúp chúng ta nhiều trong việc rèn luyện phơng pháp suy nghĩ, phơng pháp suy luận, phơng pháp học tập, phơng pháp giải quyết các vấn đề, giúp chúng

ta rèn luyện trí thông minh sáng tạo Nó còn giúp chúng ta rèn luyện nhiều đức tính quý báu khác nh: Cần cù và nhẫn nại, tự lực cánh sinh, ý chí vợt khó, yêu thích chính xác, ham chuộng chân lý.”    

Đối với môn Toán lớp 1,nó là môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, là điểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học Môn Toán mở đờng cho các em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học Rồi mai đây, các em lớn lên , nhiều em trở thành nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ trở thành những ngời lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống ; trên tay có máy tính xách tay, trong túi có máy tính bỏ túi Nhng các em không bao giờ quên đợc những ngày đầu tiên cắp sách đến trờng học đếm và học các phép tính cộng, trừ Các em không quên đợc vì đó là kỷ niệm đẹp đẽ nhất của đời ngời và hơn thế nữa, những con số, những phép tính ấy cần thiết cho suốt cả cuộc đời

Đối với mạch kiến thức : "Giải toán có lời văn", là một trong

bốn mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chơng trình Toán cấp tiểu học Thông qua giải toán có lời văn, các em đợc phát triển trí

Trang 2

tuệ, đợc rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học.Giải toán có lời văn các em sẽ đợc giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo

đại lợng Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế

đời sống, giữa toán học với các môn học khác

Từ vị trí và nhiệm và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán, vấn đề đặt ra cho ngời dạy là làm thế nào để giờ dạy- học toán ở lớp 1 nói chung và giải toán nói riêng có hiệu quả cao, học sinh tích cực,chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức rèn kỹ năng giải toán Là một cán bộ quản lý nhiều năm chỉ đạo dạy học bản thân suy nghĩ phải tìm một số biện pháp nhằm chỉ đạo dạy giải toán có hiệu quả Chính vì lẽ đó tôi chọn đề tài nghiên cứu "Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lợng dạy giải toán cho học sinh lớp 1”

2 Phạm vi và đối tợng nghiên cứu.

Tập trung nghiên cứu,chỉ đạo dạy học môn toán( nói chung)

và mạch kiến thức dạy giải toán lớp 1( nói riêng) ở trờng Tiểu học

số 2 Thị trấn Kiến Giang

B Nội dung

I Cơ sở lý luận

Các phơng pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vị trí mục đích và nhiệm vụ mục tiêu giáo dục của môn học Nó không phải là cách thức truyền thụ kiến thức toán học, mà kỹ năng giải toán là phơng tiện để tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, độc lập và giáo dục phong cách làm việc khoa học, hiệu quả cho học sinh tức là dạy cách học Vì vậy giáo viên phải

đổi mới phơng pháp và cách thức dạy học để nâng cao hiệu quả dạy-học

Xuất phát từ cuộc sống hiện tại do đổi mới của nền kinh tế, xã hội, văn hoá, thông tin đòi hỏi con ngời phải có bản lĩnh dám nghĩ, dám làm năng động, sáng tạo có khả năng để giải quyết vấn đề Để đáp ứng các yêu cầu giảng dạy nói chung, trong dạy học toán nói riêng đòi hỏi GVcần phải vận dụng linh hoạt sáng tạo các phơng pháp và hình thức dạy học để năng cao hiệu quả giảng dạy

Hiện nay toàn ngành giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng đang thực hiện yêu cầu đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng phát huy tính tích cực của học sinh làm cho hoạt

động dạy trên lớp "nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả" Để đạt đợc yêu cầu đó giáo viên phải có phơng pháp và hình thức dạy học để nâng cao hiệu quả cho học sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm

Trang 3

sinh lý của lứa tuổi tiểu học và trình độ nhận thức của học sinh

để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nớc nói chung và của ngành giáo dục nói riêng

II Cơ sở thực tiễn:

Trong chơng trình môn toán tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng Thông qua việc giải toán các em thấy

đợc nhiều khái niệm toán học nh: các số, các phép tính, các đại l-ợng, các yếu tố hình học đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con ngời, thấy đợc mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm Qua việc giải toán đã rèn luyện cho học sinh năng lực t duy

và những đức tính của con ngời mới Có ý thức vợt khó khăn, đức tính cẩn thận,làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn

cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, sáng tạo, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán, kỹ năng tính toán,

   Trong các mạch kiến thức toán ở chơng trình toán Tiểu học thì mạch kiến thức “Giải toán  có lời văn” là mạch kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một Bởi vì đối với lớp Một: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng t duy lôgic của các em còn rất hạn chế Một nét nổi bật hiện nay là học sinh cha biết cách tự học, cha học tập một cách tích cực Nhiều khi với một bài toán

có lời văn các em có thể đặt và tính đúng kết quả của bài nhng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có đợc phép tính nh vậy Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Cha biết cách tóm tắt, phân tích đề toán để tìm ra hớng giải, tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, cha có biện pháp, phơng pháp học toán.Học toán và giải toán một cách máy móc nặng về dập khuôn, bắt chớc

Chính vì vậy việc nắm vững nội dung và phơng pháp dạy toán có lời văn ở cấp tiểu học chung và lớp 1 nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên tiểu học cần phải học để nâng cao chất lợng giải toán cho học sinh

III Thực trạng dạy học giải toán 4 ở trờng tiểu học số 2 Kiến Giang.

Ưu điểm:Trong những năm qua cùng với toàn ngành đội ngũ

GV đã có nhiều cố gắng trong việc nắn vững nội dung, chơng trình và phơng pháp dạy học môn toán nói chung và mạch kiến thức giải toán lớp 1 nói riêng GV đã biết lựa chọn các hình thức

Trang 4

và phơng pháp dạy học theo hớng tích cực tạo cơ hội cho HS hoạt

động tích cực để tự chiếm lĩnh kiến thức, hứng thú say mê học toán Nhiều học sinh đã nắm và vận dụng kiến thức vào thực hành khá tốt chất lợng học Toán (nói chung) và chất lợng giải toán (nói riêng) của học sinh đợc nâng lên rõ rệt

Hạn chế:

* Giáo Viên:  Vẫn còn một số giáo viên nắm cha cha thật

chắc cấu trúc nội dung chơng trình ,sách giáo khoa toán lớp 1 cha hiểu hết ý đồ của sách giáo khoa, chuyển đổi phơng pháp giảng dạy còn lúng túng, cha phát huy đợc tích cực chủ động của học sinh Một số giáo viên dạy theo cách thông báo kiến thức sẵn có, dạy theo phơng pháp thuyết trình có kết hợp với

đàm thoại, thực chất vẫn là “thầy truyền thụ, trò tiếp nhận ghi nhớ” Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh hoạ, ngại tóm tắt bằng sơ đồ hình vẽ hoặc đoạn thẳng,

Trong một số tiết thao giảng giáo viên chỉ tập trung vào một

bộ phận HS giỏi lên bảng làm để chữa bài hoặc hớng dẫn bài cho

HS làm trớc bài tập định giải Cha giúp HS phân tích để hiểu các thuật ngữ về toán học cho nên một số HS trung bình và yếu kết quả chất lợng bài giải đạt thấp

* Học sinh - Trình bày bài làm còn cha sạch đẹp

   - Một số học sinh cha biết cách đặt câu lời giải phù hợp

   - Một số ít học sinh không hiểu nội dung bài toán có lời văn dẫn

đến không làm đợc bài

Nguyên nhân

   Về mặt nhận thức giáo viên còn coi việc dạy cho học sinh

“Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp 1 là đơn giản, dễ dàng nên cha chú tâm vào nghiên cứu, vẫn còn một số giáo viên nắm cha thật chắc cấu trúc nội dung chơng trình ,sách giáo khoa toán lớp 1 cha hiểu hết ý đồ của sách giáo khoa, chuyển đổi phơng pháp giảng dạy còn lúng túng, cha phát huy đợc tích cực chủ

động của học sinh,cha tìm tòi nghiên cứu để có phơng pháp giảng dạy có hiệu quả

   Vốn từ, vốn kiến thức, kinh nghiệm thực tế của học sinh lớp 1 còn rất hạn chế nên khi giảng dạy cho học sinh lớp 1 giáo viên đã diễn đạt nh với các lớp trên làm học sinh lớp 1 khó hiểu và không thể tiếp thu đợc kiến thức và không đạt kết quả Tốt trong việc giải các bài toán có lời văn

     Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều phơng pháp để dạy mạch kiến thức: “Giải toán có lời văn” ở lớp 1 còn thiếu linh hoạt

Trang 5

   Giáo viên còn lúng túng khi tạo các tình huống s phạm để nêu vấn đề.Cha khuyến khích động viên và giúp đỡ một cách hợp lý các nhóm cũng nh các đối tợng học sinh trong quá trình học

   Khả năng kiên trì của học sinh lớp 1 trong quá trình học nói chung cũng nh học “Giải toán có lời văn”  nói riêng còn cha cao

IV Một số biện pháp chỉ đạo

1 Thông qua dự giờ thăm lớp để nắm bắt tình hình.

Đầu năm tổ chức dự giờ thăm lớp để nắm bắt tình hình, kết hợp với những tiết thao giảng dự giờ trong năm học trớc nắm bắt những điểm còn yếu trong dạy giải toán của GV và kết quả bài là của HS để xác định nội dung bồi dỡng

2 Xây dựng nội dung chuyên đề bồi dỡng.

I/ Những nội dung cần bồi dỡng

   1) Nắm bắt cấu trúc nội dung chơng trình toán1nói chung

và mạch kiến thức giải toán có lời văn nói riêng

   2) Sử dụng đồ dùng thiết bị trong dạy " Giải toán có lời văn"    3) Dạy "Giải toán có lời văn" ở lớp Một

   4) Một số phơng pháp thờng sử dụng trong giảng dạy “Giải toán có lời văn” ở lớp 1

II/ Biện pháp thực hiện

   1)Nắm và hiểu sâu cấu trúc nội dung chơng trình sách giáo khoa toán 1

1.1Cấu trúc chơng trình toán 1:

Môn toán1 gồm 140 tiết,gồm 4 mạch kiến thức cơ bản;giải toán là một trong bốn mạch kiến thức cơ bản đó

*Có 3 tiết dạy bài mới đó là:

-Tiết 84 : Giới thiệu bài toán có lời văn

-Tiết 85: Giải toán có lời văn ( Thực hiện bằng một phép tính cộng)

-Tiết109: Giải toán có lời văn ( Thực hiện bằng một phép tính trừ)

* Có 6 tiết luyện tập về giải toán có lời văn đó là : Tiết 87,88,90,110,111,112

Ngoài ra còn có nhiều tiết ôn tập ở học kì 2 và cuối năm

đều có các bài toán giải ( cha kể các bài toán giải đợc trình bày ngầm dới dạng nhìn hình vẽ điền số phép tính và kết quả vào ô trống bắt đầu từ tuần 7 )

Trang 6

1.2 nội dung chơng trình và phơng pháp dạy

   Để dạy tốt môn Toán lớp 1 nói chung, "Giải bài toán có lời văn" nói riêng, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chơng trình, sách giáo khoa Nhiều ngời nghĩ rằng Toán tiểu học, và đặc biệt là toán lớp 1 thì ai mà chẳng dạy đợc

Đôi khi chính giáo viên đang trực tiếp dạy cũng rất chủ quan và cũng có những suy nghĩ tơng tự nh vậy Qua dự giờ một số

đồng chí giáo viên tôi nhận thấy giáo viên dạy bài nào chỉ cốt khai thác kiến thức của bài ấy, còn các kiến thức cũ có liên quan giáo viên nắm không thật chắc Ngời ta thờng nói " Biết

10 dạy 1" chứ không thể " Biết 1 dạy 1" vì kết quả thu đợc sẽ không còn là 1 nữa

   a) Trong chơng trình toán lớp Một, giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ nên cha thể đa ngay "Bài toán có lời văn" Mặc dù đến tận tuần 23, học sinh mới đợc chính thức học cách giải "Bài toán có lời văn" song chúng ta phải ngầm hiểu rằng cấu trúc nội dung chuẩn bị từ xa cho việc làm này ngay từ bài

"Phép cộng trong phạm vi 3 (Luyện tập) " ở tuần 7

   * Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 16 trong hầu hết các tiết dạy về phép cộng trừ trong phạm vi (không quá) 10 đều

có các bài tập thuộc dạng "Nhìn tranh nêu phép tính" ở đây học sinh đ làm quen với việc:

   - Xem tranh vẽ

   - Nêu bài toán bằng lời

   - Nêu câu trả lời

   - Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh)

   Ví dụ: Sau khi xem tranh vẽ ở trang 46 (SGK), học sinh tập nêu bằng lời : "Có 1 quả bóng trắng và 2 quả bóng xanh Hỏi

có tất cả mấy quả bóng?" rồi tập nêu miệng câu trả lời : "có tất cả 3 quả bóng", sau đó viết vào dãy năm ô trống để có phép tính :

   * Tiếp theo đó, kể từ tuần 17, học sinh đợc làm quen với việc

đọc tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời, sau đó nêu cách giải và

tự điền số và phép tính thích hợp vào dãy năm ô trống ở đây không còn tranh vẽ nữa (xem bài 3b - trang 87, bài 5 - trang 89)

   * Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề để giải toán

có lời văn là chuẩn bị cho học sinh cả về viết câu lời giải và viết phép tính Chính vì vậy ngay sau các bài tập "nhìn

Trang 7

tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống" chúng ta chịu khó đặt thêm cho các em những câu hỏi để các em trả lời miệng

    Ví dụ: Từ bức tranh "3 con chim trên cành, 1 con chim bay tới" ở trang 47 - SGK, sau khi học sinh điền phép tính vào dãy

ô trống:       

   Giáo viên nên hỏi tiếp: "Vậy có tất cả mấy con chim?" để học sinh trả lời miệng: "Có tất cả 4 con chim" ; hoặc "Số chim có tất cả là bao nhiêu? (Số chim có tất cả là 4)

   Cứ làm nh vậy nhiều lần, học sinh sẽ quen dần với cách nêu lời giải bằng miệng Do đó các em sẽ dễ dàng viết đợc các câu lời giải sau này

   * Tiếp theo, trớc khi chính thức học "Giải các bài toán có lời văn" học sinh đợc học bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn (gồm hai thành phần đó là những cái đã cho (đã biết) và những cái phải tìm (cha biết) Vì khó có thể giải thích cho học sinh "Bài toán là gì?" nên mục tiêu của tiết này là chỉ giới thiệu cho các em hai bộ phận của một bài toán:

   + Những cái đã cho là các số (dữ kiện)

   + Và cái phải tìm (câu hỏi)

  Để làm việc này sách Toán 1 đã vẽ bốn bức tranh, kèm theo là bốn đề toán: 2 đề còn thiếu dữ kiện, 1 đề còn thiếu câu hỏi, 1 đề thiếu cả dữ kiện lẫn câu hỏi (biểu thị bằng dấu ) Học sinh quan sát tranh rồi nêu miệng đề toán, sau đó điền

số vào chỗ các dữ kiện rồi điền từ vào chỗ câu hỏi (còn để trống) Từ đó giáo viên giới thiệu cho các em " Bài toán thờng

có hai phần ":

   + Những số đã cho.(các thông tin đã biết)

   + Số phải tìm (câu hỏi).( chỉ thông tin cần tìm)

   Bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của "Bài toán

có lời văn".  

   b) * Các loại toán có lời văn trong chơng trình chủ yếu là hai loại toán "Thêm -  Bớt" thỉnh thoảng có biến tấu một chút:

   - Bài toán "Thêm" thành bài toán gộp, chẳng hạn: "An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?", dạng này khá phổ biến

   - Bài toán "Bớt" thành bài toán tìm số hạng, chẳng hạn : " Lớp 1A có 35 bạn, trong đó có 20 bạn nữ Hỏi lớp 1A có bao nhiêu

Trang 8

bạn nam?", dạng này ít gặp vì dạng này hơi khó (trớc đây dạy

ở lớp 2)

   * Về hình thức trình bày bài giải, học sinh phải trình bày bài giải đầy đủ theo quy định thống nhất từ lớp 1 đến lớp 5:

   - Câu lời giải

   - Phép tính giải

   - Đáp số

   Ví dụ: Xét bài toán "Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con

gà Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?"

   * Học sinh lớp 1 cũ chỉ cần giải bài toán trên nh sau:

         Bài giải

5   +   4   =   9 ( con gà )       Học sinh lớp 1 hiện nay phải giải nh sau:

       Bài giải

Số gà nhà An có tất cả là:

5   +   4   =   9 ( con gà )

Đáp số : 9 con gà

   * Về số lợng bài toán trong một tiết học đợc rút bớt để dành thời gian cho trẻ viết câu lời giải Chẳng hạn trớc đây trong 1 tiết " Bài toán nhiều hơn" học sinh phải giải 8 bài toán (4 bài mẫu, 4 bài luyện tập) , thì bây giờ trong tiết " Giải toán có lời văn (thêm) " học sinh phải giải 4 bài (1 bài mẫu, 3 bài luyện tập)

   * Để lờng trớc về vốn từ và khả năng đọc hiểu của học sinh khi "Giải bài toán có lời văn" chơng trình toán 1 đã có những giải pháp:

   - Hạn chế dùng các vần khó và tiếng khó trong đề toán nh: thuyền, quyển, Quỳnh, tăng cờng dùng các vần và tiếng dễ

đọc , dễ viết nh : cam, gà, bạn,quả trong các đề toán

   - Lựa chọn câu hỏi trong đề toán sao cho học sinh chỉ cần chỉnh sửa một chút thôi là đợc ngay câu lời giải

   - Cài sẵn "cốt câu" lời giải vào tóm tắt để học sinh có thể dựa vào tóm tắt mà viết câu lời giải

   - Cho phép (thậm chí khuyến khích) học sinh tự nghĩ ra nhiều cách đặt lời giải khác nhau Chẳng hạn, với bài toán :

"An có 4 quả bóng Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy

Trang 9

quả bóng?"; Học sinh có thể đặt lời giải theo rất nhiều cách nh:

   + Cả hai bạn có:

   + Hai bạn có:

   + An và bình có:

   + Tất cả có:

   + Số bóng tất cả là:

   2) Sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học

   Nh chúng ta đã biết, con đờng nhận thức của học sinh tiểu học là: "Từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng, rồi từ t duy trừu tợng trở lại thực tiễn" Đồ dùng thiết bị dạy học là

ph-ơng tiện vật chất, phph-ơng tiện hữu hình cực kỳ cần thiết khi dạy "Giải toán có lời văn" cho học sinh lớp Một Cũng trong cùng một bài toán có lời văn, nếu chỉ dùng lời để dẫn dắt, dùng lời

để hớng dẫn học sinh làm bài thì vừa vất vả tốn công, vừa không hiệu quả và sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với dùng đồ dùng thiết bị, tranh ảnh, vật thực để minh hoạ Chính vì vậy rất cần thiết phải sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học để dạy học sinh "Giải bài toán có lời văn"

   Hiện nay bộ đồ dùng trang bị đến từng lớp đã có khá nhiều các đồ dùng mẫu vật cho việc sử dụng dạy "Giải toán có lời văn" song vẫn là thiếu nếu giáo viên thực sự có trách nhiệm Mỗi nhà trờng cần có kế hoạch mua bổ sung, từng tổ khối, cá nhân giáo viên cần su tầm, làm thêm các thiết bị nh: vật thực, tranh ảnh làm đồ dùng, dùng chung và riêng cho từng lớp

Một số nơi điều kiện kinh tế phát triển GV sử dụng giáo án

điện tử vào các bài học có nội dung giải toán sẽ rất hấp dẫn với

HS tạo điều kiện cho HS tiếp thu bài dễ dàng và hiệu quả hơn

   Một điều hết sức quan trọng là một số giáo viên còn ngại, hoặc lúng túng sử dụng đồ dùng dạy học khi giảng dạy nói chung và khi dạy "Giải toán có lời văn" nói riêng Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần có ý thức chuẩn bị sử dụng đồ dùng dạy học trớc khi lên lớp Cần cải tiến nội dung sinh hoạt chuyên môn để đa việc thống nhất sử dụng đồ dùng dạy học

và phơng pháp sử dụng đồ dùng dạy học

3) Dạy  "Giải bài toán có lời văn" ở lớp Một.

3.1/ Quy trình " Giải bài toán có lời văn " thông th ờng qua 4 bớc:

   - Đọc và tìm hiểu đề bài

Trang 10

   - Tìm cách giải bài toán.

   - Trình bày bài giải

   - Kiểm tra lại bài giải

a) Đọc và tìm hiểu đề toán

   Muốn học sinh hiểu và có thể giải đợc bài toán thì điều quan trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu đợc nội dung bài toán Giáo viên cần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng nh " thêm , và , tất cả, " hoặc "bớt, bay đi, ăn mất, đã thả,đã bán, " (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ) Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài Không nên gạch chân quá nhiều các từ ngữ, hoặc gạch chân các từ cha sát với nội dung cần tóm tắt Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn

  *  Tóm tắt bài toán :Trong thời kỳ đầu, giáo viên nên giúp

học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm thoại " Bài toán cho gì? Hỏi gì?" và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán

Đây là cách rất tốt để giúp trẻ ngầm phân tích đề toán.Sau khi HS đợc rèn luyện và quen dần thì HS sẽ tự đọc và tóm tắt bài toán rồi nhìn tóm tắt để giải vào vở

   Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi Ví dụ, với bài 3 trang 118, giáo viên có thể hỏi:

   - Em thấy dới ao có mấy con vịt? ( có 5 con vịt)

   - Trên bờ có mấy con vịt? ( có 4 con vịt)

   - Em có bài toán thế nào? ( )

   Sau đó giáo viên cho học sinh đọc (hoặc nêu) đề toán ở sách giáo khoa

   Trong trờng hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên

có thể gắn mẫu vật (gà, vịt, ) lên bảng từ (bảng cài, bảng

nỉ, ) để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán

   * Thông thờng có 3 cách tóm tắt đề toán:

   - Tóm tắt bằng lời:

   Ví dụ1:Tổ em có 5 bạn nam và 5 bạn nữ Hỏi tổ emcos tất cả mấy bạn ?

Ngày đăng: 06/04/2022, 08:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w