Tiếng mẹ đẻ giữ vai trò đặc biệt giữa các môn học khác là vì, một mặt do ý nghĩa của những kiến thức phổ thông mà môn học này đa lại cho học sinh- về ngôn ngữ nh là một phơng tiện thông
Trang 1A.Đặt vấn đề:
I Lí do chọn đề tài:
1/ Vai trò tiếng mẹ đẻ ở trờng Tiểu học:
“Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài ngời”(Lê nin) “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của t tởng” (Mác) Ngôn ngữ là phơng tiện biểu hiện tâm trạng, tình cảm Chức năng quan trọng của ngôn ngữ đã quy định sự cần thiết nghiên cứu sâu sắc tiếng mẹ đẻ trong nhà trờng
Tiếng mẹ đẻ đóng vai trò to lớn trong việc hình thành những phẩm chất quan trọng nhất của con ngời và trong vệc thực hiện những nhiệm vụ của hệ thống giáo dục quốc dân Nắm ngôn ngữ, lời nói là điều kiện thiết yếu của việc hình thành tính tích cực xã hội của nhân cách Không có một khoa học nào
mà ngời học sinh sẽ nghiên cứu trong tơng lai, không có một phạm
vi hoạt động xã hội nào mà không đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc về tiếng mẹ đẻ Chính vì vậy tiếng mẹ đẻ là môn học trung tâm ở trờng Tiểu học
Đặc trng cơ bản của tiếng mẹ đẻ với t cách một môn học ở tr-ờng phổ thông là ở chỗ nó vừa là đối tợng nghiên cứu vừa là công
cụ để học tập tất cả các môn học khác Kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là điều kiện và phơng tiện cần thiết của lao động học tập của học sinh Nói cách khác, trẻ em muốn nắm kĩ năng học tập,
tr-ớc hết cần nghiên cứu tiếng mẹ đẻ của mình, chìa khóa của nhận thức, của học vấn, của sự phát triển trí tuệ đúng đắn Thiếu ngôn ngữ, con ngời không thể tham gia vào cuộc sống xã hội hiện đại, vào sản xuất hiện đại, vào sự phát triển văn hóa nghệ thuật
Tiếng mẹ đẻ giữ vai trò đặc biệt giữa các môn học khác là vì, một mặt do ý nghĩa của những kiến thức phổ thông mà môn học này đa lại cho học sinh- về ngôn ngữ nh là một phơng tiện thông báo, về những đặc điểm của tiếng mẹ đẻ- hệ thống
âm thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp, khả năng biểu cảm của ngôn ngữ mặt khác, những kĩ năng, kĩ xảo mà nó hình thành trong giờ học tiếng mẹ đẻ là những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống của ngời học sinh, không phụ thuộc vào nghề nghiệp tơng lai của họ
2/ Mục tiêu môn tiếng Việt ở Tiểu học:
Trang 2Môn tiếng Việt ở Tiểu học nhằm:
2.1 Hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động của lứa tuổi
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của t duy
2.2 Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con ngời, văn hóa, văn học của Việt Nam và nớc ngoài
2.3 Bồi dỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con ngời Việt nam xã hội chủ nghĩa
Từ những yêu cầu trong thực tiễn đặt ra và xác định dợc tầm quan trọng của viêc dạy tập đọc cũng nh mong muốn giúp học sinh học tập một cách có hiệu quả tối u nhất, đáp ứng đợc xu thế phát triển, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu
“Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lợng đọc cho học sinh lớp 3”
II Mục đích nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này, tôi đã đề ra một số mục đích sau:
* Tìm hiểu thực trạng dạy và học môn phân môn Tập đọc ở khối lớp 3 theo chơng trình Tiểu học mới
* Tìm ra những biện pháp khả thi ; vận dụng các biện pháp
đó vào thực tiễn giảng dạy đạt hiệu quả cao
III Nhiệm vụ nghiên cứu:
1 Nghiên cứu một số vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
2 Tìm hiểu thực trạng dạy học Tập đọc lớp 3 ở Trờng Tiểu học số 2 Kiến Giang
3 Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lợng dạy môn Tập
đọc lớp 3
IV Đối tợng, phạm vi nghiên cứu:
- Phơng pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3
- Nội dung chơng trình dạy học phân môn Tập đọc lớp 3
V Phơng pháp nghiên cứu:
Trang 31 Nghiên cứu lí luận: Đọc các tài liệu tham khảo, sách giáo khoa, sách giáo viên, thiết kế bài giảng, các tạp chí có liên quan đến đề tài
2 Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm: Tiến hành điều tra, phỏng vấn, khảo sát, tổng kết kinh nghiệm của các giáo viên tiểu học, dùng lí luận phân tích kinh nghiệm, rút ra kinh nghiệm có tính thiết thực góp phần nâng cao chất lợng giảng dạy môn Tập
đọc lớp 3
3 Phơng pháp điều tra khảo sát thực tế
B Nội dung:
I Cơ sở lí luận :
1/ Vị trí của dạy đọc ở Tiểu học:
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ , là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có
âm thanh (ứng với đọc thầm)
2/ ý nghĩa của việc đọc:
Nếu không biết đọc thì con ngời không thể tiếp thu nền văn minh của loài ngời, không thể sống một cuộc sống bình th-ờng, có hạnh phúc với đúng ý nghĩa của từ này trong xã hội hiện
đại Biết đọc, con ngời đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây, anh ta biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, t duy Biết đọc, con ngời sẽ có khả năng chế ngự một phơng tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp đợc với thế giới bên trong của ngời khác, thông hiểu t tởng, tình cảm của ngời khác Đặc biệt, khi đọc các tác phẩm văn
ch-ơng, con ngời không chỉ đợc thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ớc mơ tốt đẹp, đợc khơi dậy những năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng nh đợc bồi d-ỡng tâm hồn Không biết đọc, con ngời sẽ không có điều kiện h-ởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành đợc một nhân cách toàn diện Đặc biệt, trong thời đại bùng
nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp
ng-ời ta sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là học
Vì những lẽ trên, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn ở Tiểu học
Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với ngời học Đầu tiên, trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học Đọc giúp trẻ
Trang 4em chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập.
Đọc là công cụ để học tập các môn học khác Đọc tạo ra hứng thú
và động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học Đọc là một khả năng không thể thiếu đợc của con ngời trong thời đại văn minh
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng nh t duy của ngời đọc Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái
đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng nh biết t duy hình tợng Nh vây, đọc có một ý nghĩa to lớn còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dỡng, giáo dục và phát triển
II Cơ sở thực tiễn:
1/ Vị trí, vai trò của phân môn Tập đọc ở bậc Tiểu học:
Tập đọc, với t cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng cầu hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh
a Hình thành năng lực đọc cho học sinh:
Tập đọc là phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc
đ-ợc tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lợng của
“đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu đợc nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Bốn kĩ năng này đợc hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng đợc rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những
kĩ năng khác Ví dụ, đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng
nh cho phép thông hiểu nội dung của văn bản
b Giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phơng pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh
Thông qua việc dạy đọc, phải làm cho học sinh thích thú
đọc và thấy đợc khả năng đọc là có ích cho các em trong cả cuộc
đời, phải làm cho học sinh thấy đợc đó là một trong những con
đờng đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ
và phát triển
c Những nhiệm vụ khác:
Trang 5Vì việc đọc không thể tách rời khỏi những nội dung đợc
đọc nên bên cạnh nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách Phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ:
- Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh Thông qua việc đọc, đặc biệt là thông qua các tác phẩm văn học, thông qua các sách về khoa học mỗi ngời sẽ
tự làm giàu cho mình những từ ngữ về khoa học, về tự nhiên xã hội Thông qua đọc, học sinh nắm đợc những từ hay những cấu trúc câu đặc biệt củng cố thêm về t duy lôgic và t duy trừu tợng
- Giáo dục t tởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh Thông qua việc đọc, học sinh sẽ đợc nâng cao về
đạo đức; nâng cao tình cảm đối với quê hơng, Tổ quốc; biết
đợc cái xấu, thiện, ác
2/ Nội dung dạy Tập đọc ở lớp 3:
a Rèn kĩ năng đọc:
- Rèn kĩ năng đọc thành tiếng và đọc thầm thông qua các bài Tập đọc thuộc các loại hình văn bản khác nhau: Nghệ thuật, hành chính, báo chí,
- Rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thông qua phần hớng dẫn s phạm cuối bài Tập đọc (chú thích và giải nghĩa từ, câu hỏi và bài tập tìm hiểu bài); giúp học sinh nắm đợc ý chính của đoạn, tập nhận xét về một số hình ảnh, nhân vật, chi tiết trong bài Tập
đọc
b Kết hợp rèn kĩ năng nghe - nói
Qua việc hớng dẫn học sinh luyện đọc và tìm hiểu bài, GV giúp các em có cơ hội rèn kĩ năng nghe - nói ( nghe GV và các bạn
đọc, nghe GV hớng dẫn học bài hoặc các bạn trả lời câu hỏi, nói trớc lớp hoặc trao đổi với bạn về nội dung bài đọc)
c Cung cấp và mở rộng vốn sống
Các bài tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3 phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau, từ gia đình, nhà trờng, quê hơng, các vùng miền
và các dân tộc anh em trên đất nớc ta đến các hoạt động văn hóa, khoa học, thể thao và các vấn đề lớn của xã hội nh bảo vệ hòa bình, phát triển tình hữu nghị, sự hợp tác giữa các dân tộc, bảo vệ moi trờng sống, chinh phục vũ trụ,
Thông qua hệ thống bài tập đọc theo chủ điểm về các lĩnh vực khác nhau, qua những câu hỏi, bài tập khai thác nội dung bài, phân môn Tập đọc còn cung cấp cho học sinh những hiểu
Trang 6biết về thiên nhiên, xã hội và con ngời, cung cấp vốn từ, vốn diễn
đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học (nh đề tài, cốt truyện, nhân vật), qua đó góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh
3/ SGK dạy học tập đọc:
ở lớp 3, các bài tập đọc đợc phân bố vào từng tuần cùng với các phân môn khác Các chủ đề đợc bố trí nh sau:
1) Măng non
2) Mái ấm
3) Tới trờng
4) Cộng đồng
5) Quê hơng
6) Bắc Trung Nam
7) Anh em một nhà
8) Thành thị và nông thôn
9) Bảo vệ Tổ quốc
10) Sáng tạo
11) Nghệ thuật
12) Lễ hội
13) Thể thao
14) Ngôi nhà chung
15) Bầu trời - Mặt đất
III Thực trạng và tình hình:
1 Tìm hiểu thực trạng của học sinh trong quá trình dạy tập đọc lớp 3 ở nhà trờng hiện nay:
Năm học 2011- 2012, tôi đợc phân công làm công tác chủ nhiệm và giảng dạy môn Toán, Tiếng Việt lớp 32 Đây là lớp học
có độ tuổi đồng đều Tổng số học sinh là 39 em , diện chính sách không có, diện có hoàn cảnh khó khăn 1 em, học sinh diện hòa nhập 1 em
Qua khảo sát thực tế đầu năm học, tôi nhận thấy việc đọc của học sinh còn nhiều hạn chế: đọc chậm, vừa nhẩm vừa đọc, phát âm cha chuẩn, đọc cha trôi chảy, cha lu loát Trong đó, việc phát âm cha chuẩn một số từ ngữ có âm, vần, thanh dễ phát âm sai là tình trạng phổ biến nhất Phần lớn các em phát
âm cha chuẩn do phơng ngữ, ví dụ: nhầm lẫn giữa vần in-inh,
ân-anh, ong-ông, uân- oanh, iêu-ơu; nhầm lẫn giữa âm s-x; phát âm sai dấu hỏi, ngã Việc ngắt nghỉ cha phù hợp với các
Trang 7dấu câu Đọc cha đúng các ngữ điệu câu (câu hỏi, câu cầu khiển, câu cảm, câu kể ) Từ việc đọc cha đúng, cha chuẩn nên dẫn đến việc đọc diễn cảm còn hạn chế Khi đọc, khả năng chú ý của học sinh cha cao nên chất lợng của đọc hiểu còn thấp Qua các tiết tập đọc, khả năng cảm thụ văn học, yêu thích cái hay cái đẹp qua việc đọc của học sinh còn hạn chế
Đó là những tình trạng còn tồn tại đặc biệt là của học sinh lớp tôi chủ nhiệm khiến tôi luôn băn khoăn, trăn trở và tìm biện pháp khắc phục
2 Qua tìm hiểu và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy tình trạng này xảy ra bởi do những nguyên nhân sau:
- Học sinh ham chơi hơn ham học, cha có thái độ học tập
đúng đắn, cha chịu khó học tập
- Học sinh cha thấy đợc tầm quan trọng của phân môn Tập
đọc, cha có ý thức tự rèn đọc
- Giáo viên cha chú ý rèn đọc, kèm cặp những học sinh học yếu, thiếu thờng xuyên và cha kiên trì
- Phụ huynh cha quan tâm, nhắc nhở thờng xuyên việc học của con em mình
- Nguyên nhân chủ yếu của việc phát âm sai ở học sinh
là do ngôn ngữ riêng của địa phơng, và "Cái phơng ngữ " đó
đợc các em sử dụng tơng đối nhiều khi giao tiếp (nói và viết) ,khiến ngời đọc, ngời nghe khó hiểu Trong khi những
ng-ời gần gũi với các em, tiếp xúc với các em hằng ngày nh ông, bà, cha ,mẹ, anh , chị, … của các em cũng nói sai Khi đến trờng, nơi các em học tập, cũng có không ít giáo viên phát âm sai (do phơng ngữ) Vì thế, một số em còn đọc sai là lẽ đơng nhiên
IV Các biện PHáP cụ thể:
1 Biện pháp 1: Phân loại đối tợng học sinh ngay từ đầu năm học:
Qua khảo sát bài Tập đọc “ Cậu bé thông minh” của lớp 32
ngày 22 tháng 8 năm 2011, tôi thu đợc kết quả nh sau:
* Ưu điểm:
- Nhiều học sinh đọc đúng, trôi chảy, to, rõ ràng
Trang 8- Một số em đã biết ngắt, nghỉ hơi đúng sau các dấu phẩy, dấu chấm và giữa các cụm từ
* Hạn chế:
- Một số em đọc còn chậm, vừa nhẩm vừa đọc, còn ê a, ngắc ngứ
- Các em đọc sai các từ ngữ có âm, vần, thanh dễ phát
âm sai
- Đa số học sinh cha biết đọc phân biệt lời ngời kể và lời các nhân vật
Tôi phân loại đối tợng học sinh để nắm đợc trình độ của từng em, và thu đợc kết quả nh sau:
2 Biện pháp 2: Luyện cho học sinh đọc đúng
Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác không có lỗi Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm Đọc đúng pahir thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm Nói cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phơng lệch chuẩn
a/ Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm Tiếng Việt
- Đọc đúng các phụ âm đầu: Có ý thức phân biệt để không đọc “chim sẻ” thành “chim xẻ”
- Đọc đúng các âm chính: Có ý thức phân biệt để không
đọc “mua rợu” thành “mua riệu”, “con hơu” thành “con hiêu”,
“thành công ” thành “thần công”,
- Đọc đúng các âm cuối: Có ý thức để không đọc “một nghìn” thành “một nghình”
- Đọc đúng bao gồm cả đúng tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu câu Cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, các từ, để ngắt hơi cho đúng Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở
Trang 9cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm diễn đạt trong câu cảm với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ nội dung cầu khiến khác nhau Ngoài ra còn hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu
Nh vậy, đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm
b/ Trớc khi lên lớp, giáo viên phải dự tính để ngăn ngừa các lỗi khi đọc Tùy đối tợng học sinh, giáo viên xác định các lỗi phát
âm mà học sinh địa phơng mắc phải để định ra các tiếng,
từ, cụm từ, câu khó để luyện đọc trớc
3.Biện pháp 3: Luyện cho học sinh đọc nhanh
Đọc nhanh (còn gọi là đọc lu loát, trôi chảy) là nói đến
phẩm chất đọc về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a ngắc ngứ Vấn đề tốc độ đọc đặt ra sau khi đã dọc đúng
Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn: đọc không
ê a, ngắc ngứ, không vừa đọc vừa đánh vần Về sau tốc độ
đọc phải đi song song với việc tiếp nhận có ý thức bài đọc Khi
đọc cho ngời khác nghe thì ngời đọc phải xác định tốc độ nhanh nhng để cho ngời nghe hiểu kịp đợc Vì vậy, đọc nhanh không phải đọc liến thoắng
Giáo viên hớng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ đã định Đơn vị
để đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc Ngoài ra còn có biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của thầy, của bạn để điều chỉnh tốc độ Giáo viên đo tốc độ bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng cho trớc và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút Đinh tốc độ nh thế nào còn phụ thuộc vào
độ khó của bài đọc
4.Biện pháp 4: Giúp cho giáo viên hiểu thế nào là
đọc diễn cảm, bài tập để luyện đọc diễn cảm.
Đọc diễn cảm là một yêu cầu đặt ra khi đọc những văn bản văn chơng hoặc có các yếu tố của ngôn ngữ nghệ thuật
Đó là việc đọc thể hiện ở kĩ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cờng độ giọng v.v để biểu đạt đúng ý nghĩ
Trang 10và tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong bài đọc, đồng thời biểu đạt đợc sự thông hiểu, cảm thụ của ngời đọc đối với tác phẩm Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ cao và chỉ thực hiện đợc trên cơ sở đọc đúng và đọc lu loát
Đọc diễn cảm chỉ thực hiện đợc trên cơ sở hiểu thấu đáo bài đọc Đọc diễn cảm yêu cầu đọc đúng giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm phù hợp từng ý nghĩ cơ bản của bài đọc, phù hợp với kiểu câu, thể loại, đọc có cảm xúc cao, biết nhấn giọng
ở những từ ngữ biểu cảm, gợi tả, phân biệt đợc lời nhân vật, lời tác giả Để đọc diễn cảm, phải làm chủ đợc chỗ ngắt giọng,
ở đây muốn nói đến kĩ thuật ngắt giọng biểu cảm ở tiểu học, khi nói đến đọc biểu cảm, ngời ta thờng nói về một số kĩ thuật nh ngắt giọng biểu cảm, sử dụng tốc độ và ngữ điệu
Ngắt giọng biểu cảm đối lập với ngắt giọng lôgic Ngắt giọng lôgic là chỗ dừng để tách các nhóm từ trong câu Ngắt giọng lôgic hoàn toàn phụ thuộc vào ý nghĩa và quan hệ giữa các từ
Ngắt giọng biểu cảm là phơng tiện tác động đến ngời nghe Ngắt giọng lôgic thiên về trí tuệ, ngắt giọng biểu cảm thiên về cảm xúc Ngắt giọng biểu cảm là những chỗ lắng, sự
im lặng có tác dụng truyền cảm
Ví dụ:
"… Rồi ngời ấy nghẹn ngào:
- Mẹ tôi là ngời miền Trung… Bà đã qua đời hơn tám năm rồi
Nói đến đây ngời trẻ tuổi lẳng lặng cúi đầu, đôi môi mím chặt lộ vẻ đau thơng Còn Thuyên, Đồng thì bùi ngùi nhớ
đến quê hơng, yên lặng nhìn nhau mắt rớm lệ …"
( Giọng quê hơng - Sách Tiếng Việt 3 -Tập 2)
ở đoạn văn này, tôi cho học sinh đọc thể hiện ngắt giọng bằng nội tâm và cảm xúc của riêng mình Cách ngắt giọng của các em có khác nhau nhng đều thể hiện nỗi thơng nhớ mẹ, yêu quý quê hơng của các nhân vật trong bài tập đọc
Tốc độ đọc ảnh hởng đến sự diễn cảm, đặc biệt là chỗ
có thay đổi tốc độ gây sự chú ý, có giá trị biểu cảm tốt