Với niềm tin đó, tôi mong muốn góp một chút công sức thông qua sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp nhằm nâng cao tính chủ động của học sinh trong việc học môn Giáo dục công dân ,tăn
Trang 1SỞ GD & ĐT QUẢNG BÌNH TRƯỜNG THPT LÊ HỒNG PHONG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“Một số biện pháp nhằm nâng cao tính chủ động của học sinh trong việc học môn Giáo dục công dân ,tăng cường cho kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia
bằng phương pháp dạy học tích cực.”
GIÁO VIÊN:ĐOÀN THỊ KIM LIÊN ĐƠN VỊ:Trường THPT Lê Hồng Phong.
Trang 2A.PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.Lý do chọn đề tài:
Giáo dục công dân (GDCD ) là một môn học có vai trò quan trọng trong giáo dụcđạo đức, nhân cách, phẩm chất, lối sống cho học sinh Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay,khi ngành giáo dục đang triển khai thực hiện Nghị quyết Quốc hội về đổi mới Căn bản,toàn diện về giáo dục và đào tạo, môn Giáo dục công dân có nhiệm vụ quan trọng trongviệc giáo dục công dân toàn cầu Do vậy, xây dựng và phát triển môn học ngày càng vữngmạnh là mong muốn của toàn ngành giáo dục, trong đó chúng ta- những giáo viên dạy bộmôn GDCD là lực lượng nòng cốt Nếu các giáo viên giảng daỵ môn GDCD đồng lòng,đồng sức, tôi tin chúng ta sẽ xây dựng và phát triển môn học vững mạnh Với niềm tin đó,
tôi mong muốn góp một chút công sức thông qua sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện
pháp nhằm nâng cao tính chủ động của học sinh trong việc học môn Giáo dục công dân ,tăng cường cho kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia (TNTHPTQG) bằng phương pháp dạy học tích cực.” Tôi mong rằng với sáng kiến kinh nghiệm(SKKN) này
bản thân tôi đã góp một viên gạch vào việc xây dựng ngôi nhà của môn Giáo dục công dânngày càng vững mạnh
Với nội dung và cách thức thi mới : Khó khăn lớn nhất là thái độ của học sinh đốivới môn học (vì từ trước nay môn GDCD dường như bị xem nhẹ, như môn phụ) và mọithứ đều rất mới mẻ Các thầy cô thực sự vừa dạy, vừa ôn, vừa rút kinh nghiệm Tài liệuphục vụ cho bộ môn còn ít, sách luyện theo dạng trắc nghiệm còn ít, một số sách mới pháthành “nóng vội” nên kiến thức còn nhiều câu sai, chưa sát chương trình
Chương trình thi gồm cả kiến thức lớp 11 và lớp 12 rất rộng Môn giáo dục công dân làmôn trực tiếp trang bị cho học sinh một cách tổng quát về nhận thức, tư tưởng chính trị,đạo đức, hiểu biết và thực hiện pháp luật trong đời sống Nhiệm vụ của chúng ta là dạyhọc Nhiệm vụ của học sinh là học những gì chúng ta dạy vì lợi ích thực tiễn của việc họcmang lại cho mỗi con người mà ai cũng biết nhưng do tâm lý coi môn học là phụ, là mônhọc “khó, khô, khổ” vì thế tính chủ động của học sinh khi học môn GDCD còn chưa thật
sự tích cực
Thi trắc nghiệm nghĩa là chấm dứt việc học tủ Điều mấu chốt quan trọng nhất trongviệc thi trắc nghiệm hay thi tự luận không phải là hình thức thi mà là kiến thức Điều kiệncần đầu tiên để học sinh có thể tham gia kỳ thi THPT quốc gia là học sinh cần nắm chắc tất
cả kiến thức trong sách giáo khoa Tự luận và trắc nghiệm là hai hình thức thi hoàn toànkhác nhau, đòi hỏi kỹ năng làm bài, giải bài khác nhau Nếu tự luận chú trọng vào từng
Trang 3bước giải chi tiết thì nay, trắc nghiệm đòi hỏi tư duy nhanh, kiến thức bao quát.
Việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ trong giờ dạy học, các phương pháp dạy học để kéongười học ra khỏi trạng thái thụ động, tích cực tham gia làm cho việc học, giờ học trở nênthích thú và hiệu quả hơn, là một mong muốn không riêng bất kỳ người giáo viên nào
Việc thực hành phương pháp dạy tích cực đòi hỏi phải xây dựng một quan hệ tốtgiữa người học và giáo viên - thông qua các phương pháp dạy tích cực người giáo viênphải có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm, kỹ năng và văn hóa giao tiếp tốt Chưa kể
là việc dạy và học phải có liên hệ với thực tế … Cách dạy này thực sự là một áp lực nhưng
là một áp lực tích cực nhằm khuyến khích, nâng cao chất lượng dạy và học chuẩn bị chocác em học sinh hành trang thật tốt chuẩn bị cho kì thi TNTHPTQG
1.2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này bản thân tôi nhằm mục đích tìm ra một số biện pháp cụ thể
để đổi mới cách dạy ,cách học môn GDCD tạo nên hứng thú cho học sinh và làm cho mônhọc bớt khô khan và gần gũi với thực tế cuộc sống hơn
Qua đó tôi muốn trao đổi cùng đồng nghiệp để tìm ra những biện pháp hiệu quảnhất trong giảng dạy môn GDCD ở trường phổ thông
1.3.Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng :Học sinh THPT nói chung và học sinh khối 12 nói riêng
a Giải thích các khái niệm
* Phương pháp và phương pháp dạy học
+ Phương pháp là thuật ngữ từ tiếng Hy Lạp “methodos”, có nghĩa là con đường,
cách thức vận động của sự vật hiện tượng nhằm đạt được mục đích Nghĩa chung nhất củaphương pháp thường được hiểu là cách thức, phương tiện, giải pháp được chủ thể sử dụng
để thực hiện mục đích nhất định Còn theo nghĩa khoa học, phương pháp là hệ thống nhữngnguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động, nhận
Trang 4thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu nhất định Như vậy có thể hiểuphương pháp là sự đúc kết kinh nghiệm, là khoa học và còn là nghệ thuật sáng tạo mangđậm dấu ấn của chủ thể trong việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp trong từng trườnghợp cụ thể.
+ Phương pháp dạy học: Dạy học là hoạt động được đặc trưng bởi quá trình giảng
dạy của giáo viên và quá trình học tập của học sinh thông qua một phương pháp đặc thùgọi là phương pháp dạy học Phương pháp dạy học là việc sử dụng hệ thống phương phápgiảng dạy và việc sử dụng phương pháp học tập nhằm thực hiện mục đích, yêu cầu học tập
đề ra phù hợp với cấp học, người học chương trình học cụ thể đã được xác định
Phương pháp dạy học không vì mục đích tự thân của nó, cũng không được rút ra từ
ý muốn chủ quan của người dạy, mà phương pháp dạy học được quy định bởi nội dung,đặc điểm kiến thức của từng bộ môn, từng bài học, người học … Việc sử dụng phươngpháp dạy học nào phải được người giáo viên lựa chọn để tổ hợp thành cách thức hoạt độngcủa thầy và trò trong quá trình dạy học, lĩnh hội kiến thức dưới sự chỉ đạo của người thầynhằm thực hiện nhiệm vụ học
Phương pháp dạy học quyết định đến sự thành công của quá trình dạy học: Mụctiêu bài học có đạt được hay không, các yêu cầu về kiến thức, về kỹ năng, tư tưởng và nănglực nhận thức Phương pháp dạy học kết hợp với nghiệp vụ chuyên môn cao, kỹ năng giaotiếp … làm cho học sinh yêu thích giờ học, môn học và vận dụng những điều đã học vàocuộc sống Phương pháp dạy học tạo nên giá trị, dấu ấn về người thầy trong lòng học sinh
… rất khó phai mờ
* Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực, hay phương pháp giáo dục chủ động, phương pháp
sư phạm hiện đại … là những cách gọi để chỉ những phương pháp, cách thức, kỹ thuật đềcao chủ thể nhận thức, chủ yếu phát huy tính tự giác, nhiệt tình chủ động của người học,làm cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn, người học được tham gia làm việc, được sángtạo … giải quyết các vấn đề phù hợp với khả năng hiểu biết của mình, đề xuất ý kiến, tựnguyện trình bày hay tham gia tranh luận trước tập thể và người dạy
Thực chất phương pháp dạy học tích cực là hướng tới khả năng chủ động, sáng tạocủa người học chứ không phải hướng tới việc phát huy tính tích cực của người dạy Ngườithầy đóng vai trò là người hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học độc lậpsuy nghĩ thông qua việc thảo luận, thí nghiệm, thực hành, thâm nhập thực tế theo mục tiêu,nội dung của bài học, người thầy là người tổng hợp hoạt động, ý kiến của người học để xâydựng nội dung bài học
Trang 5Khi áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực giờ giảng của một giáo viên trởnên sinh động, hấp dẫn và có ý nghĩa Người học là trung tâm nhưng vai trò uy tín củangười thầy được đề cao hơn Nhờ áp lực của phương pháp dạy học tích cực, khả năngchuyên môn của người thầy sẽ phải tăng lên bởi kiến thức của từng nội dung bài học phảiđược cập nhật liên tục để đáp ứng những tình huống, câu hỏi của người học trong thời đạithông tin mở rộng và mới mẻ.
Mối quan hệ giữa thầy trò sẽ trở nên gần gũi, tốt đẹp khi cùng làm việc với nhau,cùng giải quyết các tình huống liên quan đến nội dung và cuộc sống của người học
Khi áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực người học sẽ thấy được học chứ không bịhọc Người học được làm việc, được nói, chia sẻ những kiến thức kinh nghiệm của mình songsong với bổ sung kiến thức, kinh nghiệm từ người dạy, bạn bè Cách học này làm tăng khảnăng ghi nhớ, vận dụng vào thực tế gấp nhiều lần so với cách học truyền thống Từ đó ngườihọc được tự tin khám phá năng lực của bản thân mình, có trách nhiệm, biết chia sẻ và tìmthấy vị trí, giá trị của bản thân với cộng đồng
Charles Handy, nhà triết lý kinh doanh nổi tiếng người Anh đã nói: “Để làm cho
tương lai trở thành hiện thực, chúng ta cần phải tự tin và tin tưởng vào giá trị của chính mình Đó là điều mà các trường học phải dạy cho mọi người”.
Chỉ khi người học tự mình khám phá kiến thức, tự học, tự làm, tự bổ sung cho nhauthì kiến thức mới trở thành tri thức của người học, chuyển thành hành động, thói quen hàngngày của họ
Khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực, quan hệ thầy trò trong việc dạy và họccũng đổi khác Người học trở nên chủ động trong việc học; chủ động tìm kiếm kiến thức,
có thể thu nhận kiến thức không phải chỉ từ người thầy mà còn từ nhiều nguồn khác nữa.Người thầy trở nên quan trọng hơn vì giữa biển tri thức mênh mông, điều gì cần gạn lọc, sửdụng và ứng dụng chúng vào cuộc sống, vào công việc, như thế nào … Tất cả những điều
ấy đều cần đến sự hướng dẫn của người thầy Sự thay đổi quan hệ thầy trò trong việc dạy
và học này yêu cầu người học cần hiểu rõ mình là ai, mình muốn là người như thế nào saunày và điều gì cần học và muốn học cái gì … Người dạy càng phải phấn đấu, tu dưỡngnhiều hơn, tự học, tự sáng tạo để có thể đảm nhận và xứng đáng trong vai trò mới mà sựphát triển của ngành giáo dục đòi hỏi
b.Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực là:
Thứ nhất: Dạy học lấy người học làm trung tâm
Vì lẽ cơ bản, học sinh là đối tượng của hoạt động giáo dục, của dạy học, nhà trườngtồn tại là vì học sinh Bằng hoạt động học tập, người học tự hình thành và phát triển nhân
Trang 6cách của mình, không ai có thể làm thay được Vị trí trung tâm của học sinh trong quá trìnhhọc tập cần phải đặt đúng vị trí của nó như đã vốn có Việc phát huy tính chủ động, tíchcực, khơi dậy tài năng của mỗi một cá nhân học sinh có ý nghĩa không phải chỉ hôm nay
mà còn là hành trang cho các em bước vào cuộc sống sau này
… Làm được điều này chỉ có thể là mọi hoạt động giáo dục - trong đó trọng tâm là việcdạy học, phải được tiến hành có kế hoạch dưới sự chỉ đạo trực tiếp của người giáo viên
Thứ hai: Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Kế hoạch học tập, bài giảng phải được thiết kế trước trong giáo án chứ không phảithực hiện một cách ngẫu hứng, tùy tiện Người dạy phải thông báo cho học sinh vào cuốibuổi học những công việc cần chuẩn bị cho giờ học kế tiếp, phân công nhiệm vụ rõ ràng,
để người học phải có tâm thế chuẩn bị, tham gia và hợp tác Trong khi tiến hành giờ học,người dạy phải linh hoạt thay đổi các hoạt động cho phù hợp với thực tế giờ học và nộidung bài học, nhằm kích thích người học hoạt động tích cực, tạo sự hưng phấn cho giờhọc Có như thế, mục tiêu dạy học, bài học mới được đảm bảo thành công
Thứ ba ,chú trọng rèn luyện phương pháp tự học trong dạy học
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy chúng ta “Về việc học phải lấy tự học làm cốt”.Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học, khả năng phát hiện vàgiải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Phương pháp tự học hướng đến việc khơidậy khả năng suy nghĩ, làm việc, nắm bắt kỷ cương và con đường đi đến kiến thức mới.Muốn làm được điều này học sinh buộc lòng phải làm việc nhiều hơn với sách vở (giáokhoa và sách tham khảo), làm bài tập, tự học ở ngoài trường và lớp… kết hợp với sự giúp
đỡ, hướng dẫn của giáo viên bộ môn Bồi dưỡng khả năng tự học chính là sự chuẩn bị cầnthiết cho khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn trong việc làm, thực tế sau này của ngườihọc, giúp họ có thể tự tin hòa nhập, tự vượt qua những áp lực, khó khăn, hướng đến tươnglai của bản thân và sự phát triển của tập thể mà họ là thành viên
Thứ tư: Hoàn thiện học của cá nhân phối hợp với học tập hợp tác tập thể.
Những tri thức mà học sinh khám phá dễ mang tính chủ quan, phiến diện, do vậycác em cần trao đổi, hợp tác tri thức cá nhân được kiểm nghiệm tăng tính khách quan vàkhoa học Đồng thời tạo thói quen giao tiếp, khả năng thuyết phục, lắng nghe, nói trướcđám đông … ý thức hợp tác, chia sẻ và tính kỷ luật …
Dạy học thông qua hợp tác tạo nên quan hệ bình đẳng giữa người học và môi trườnghọc tập an toàn là điều kiện để xây dựng tình bạn, tính cạnh tranh lành mạnh, thói quenchia sẻ, tính trách nhiệm Xây dựng quan hệ thầy - trò - bạn bè tốt đẹp không chỉ lúc còn đihọc mà cả trong cuộc sống và công việc sau này
Trang 7Thứ năm: Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò
Trong quá trình dạy học, đánh giá học sinh là rất quan trọng để giáo viên nắm bắtđược thực trạng học tập của học sinh và điều chỉnh việc dạy sao cho phù hợp hơn, đạt kếtquả cao hơn Với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh biết tựđánh giá khả năng, sự hiểu biết của mình để điều chỉnh việc học; giáo viên phải tạo điềukiện thuận lợi để người học được tham gia, và biết cách đánh giá bản thân Thông qua việcđánh giá khích lệ nhau, nhận ra được ưu điểm và hạn chế của từng cá nhân để khắc phục,đánh giá việc học tập phải dựa trên tiêu chuẩn văn hóa đánh giá tức là tìm ra được ưu điểm
và đề nghị được giải pháp sửa chữa khuyết điểm… Có làm được điều này thì phương phápdạy học tích cực với đặc trưng thứ năm là đánh giá việc học - người học mới thực sự có ýnghĩa!
Tuy nhiên khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực chúng ta cũng gặp một sốtrở ngại như: Lớp học đông không áp dụng được phương pháp mới, người học lười phátbiểu, thụ động, sợ không đủ thời gian, cháy giáo án Người học thì e dè, ngại làm việc, chỉthích nghe ghi, ngại đứng dậy phát biểu trước lớp, sợ thầy,cô áp dụng phương pháp mới,kiến thức không được cô đọng lại rõ ràng mà thi lại tiến hành theo kiểu học cũ … Để khắcphục những trở ngại này phải có thời gian để người dạy thực hành và rút kinh nghiệm …Trước mắt có thể thực hiện những điều sau để có giờ giảng thành công như:
Tìm hiểu kỹ về người học, đặc biệt là nhu cầu, mong đợi của họ đối với môn họccủa mình phụ trách để lựa chọn phương pháp phù hợp
Chuẩn bị kỹ bài giảng: Chọn thông điệp ý nghĩa nhất để chuyển tải nội dung Tốtnhất bài giảng nên tuân theo quy tắc số 3: Chia bài giảng thành 3 phần, mỗi phần 3 ý …cùng với các ví dụ, tư liệu minh họa cụ thể, sinh động
Giao tiếp với người học: Tôn trọng và là người bạn cùng với thái độ thân thiện, lịch
sự, nhẹ nhàng, sự khuyến khích sẽ cho người thầy rất nhiều cơ hội để mở rộng tâm hồn vàtrí tuệ của người học …
Rút kinh nghiệm sau từng giờ giảng Về nội dung bài giảng, phong cách, ứng xử củagiáo viên … Bằng cách xin nhận xét của học trò qua phiếu không ghi tên …Điều cuốicùng, chúng ta cần nhớ là học phương pháp nhưng không phụ thuộc vào phương pháp Tất
cả sự thành công của giờ học và nhiều giờ học tiếp nối sẽ được quyết định bởi bản lĩnh, kỹ
năng, kinh nghiệm, năng lực và tấm ḷòng của người giáo viên có duyên với nghề dạy học.
2 Phương pháp dạy học tích cực kết hợp với phương tiện được vận dụng trong chương trình Giáo dục công dân
Hiện nay có rất nhiều biện pháp để thực hiện phương pháp dạy học tích cực, có thể sử
Trang 8dụng vào tất cả các bài dạy trong chương trình giáo dục công dân ở cấp trung học như:
- Biện pháp kích thích động não
- Biện pháp xử lý tạo tình huống
- Biện pháp thảo luận nhóm
đích là trao kiến thức, tránh nhàm chán và tạo nên sự yêu thích “Dạy học là phải chạm
được vào tâm hồn và trái tim người học”.
Tính tất yếu khách quan của việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong môn giáo dục công dân
- Cơ sở triết học: Theo quan điểm triết học Mác Lênin, bản chất con người là tổng
hòa mối quan hệ xã hội Trong các yếu tố hình thành nên bản chất con người, giáo dục có ýnghĩa vô cùng quan trọng Vì vậy để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực cầntạo ra hoàn cảnh môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có thể tác động đến con người,giúp con người được giáo dục theo nhiều phương diện khác nhau, từ hoạt động nhận thứcthực tiễn đến quan hệ ứng xử, điều chỉnh hành vi … Tóm lại là các khả năng hướng đến sựphát triển toàn diện của người công dân mới theo yêu cầu của xã hội
Giáo dục công dân là môn học có đặc điểm tri thức mang tính khái quát hóa và trừutượng cao Chương trình giáo dục công dân tập trung khá nhiều nội dung liên quan đến cácphân môn khác, chứa đựng kiến thức các môn khoa học khác nhau Ở trường trung học phổthông môn giáo dục công dân trực tiếp trang bị cho học sinh một cách tổng quát về nhậnthức tư tưởng chính trị, đạo đức và ý thức pháp luật Mục tiêu này hình thành nội dung cơbản của sách giáo khoa các cấp học; là môn học được xem là “khó, khô, khổ” đối với cảngười dạy lẫn người học, do đó việc giáo viên biết sử dụng các phương pháp dạy học tíchcực để đưa những nội dung rất khái quát ấy vào thực tiễn đời sống giúp học sinh tiếp cận,nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản của môn giáo dục công dân để dần dần hình thànhcho bản thân thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học, giúp học sinh nângcao hiệu quả quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn của bản thân
- Cơ sở tâm lý giáo dục học:
Đối với môn giáo dục công dân “mục tiêu dạy người” luôn được xác định là quan
Trang 9trọng nhất, luôn ở vị trí hàng đầu trong việc định hướng, phát triển nhân cách, tâm hồn củahọc sinh Mỗi học sinh là một chủ thể của sự phát triển nhân cách, phát triển xã hội Tronggiai đoạn hiện nay vì nguyên nhân khác nhau, tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống củamột bộ phận không nhỏ học sinh , học sinh đã đặt ra cho xã hội và ngành giáo dục (đặc biệt
là ở bộ môn giáo dục công dân) phải có những biện pháp, giải pháp để góp phần điều chỉnhnhững suy nghĩ, nhận thức, hành vi lệch chuẩn đó
Với những kết quả nghiên cứu tâm sinh lý và điều tra xã hội học gần đây cho thấy ởlứa tuổi trung học, học sinh không thỏa mãn với vai trò người tiếp thu thụ động, chấp nhậngiải pháp có sẵn mà các em có ham muốn, một yêu cầu là được lĩnh hội độc lập các tri thức
và được phát triển kỹ năng cá nhân Đó là một yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục nói chung
và môn giáo dục công dân nói riêng Chỉ có thay đổi phương pháp dạy học tích cực mới cóthể phát huy những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu về đặc điểm tâm sinh lý củahọc sinh bậc trung học, mang lại hiệu quả dạy học cao hơn, tạo sự yêu thích, thoải mái cho
cả người dạy lẫn người học
Luật giáo dục, điều 28, khoản 2, 2005 chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh ”.
Do vậy, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới tạo thói quen chủ động học tập,phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo Người học sinh được rèn luyện, tudưỡng có thể tự tin, nhạy bén trước những thay đổi của cuộc sống, cuộc đời, giúp ích, giúpsức cho bản thân học sinh là sự phát triển của xã hội
Chương trình giáo dục công dân với tên gọi “Công dân với pháp luật”, đây là sự pháttriển tiếp nối phần pháp luật ở môn GDCD cấp trung học cơ sở, cung cấp những hiểu biết
cơ bản về bản chất, vai trò, vị trí của pháp luật nhằm giúp học sinh chủ động,tự giác điềuchỉnh hành vi của mình, đánh giá được hành vi của người khác theo quyền và nghĩa vụ củangười công dân trong xã hội dân chủ và công bằng
Nhiệm vụ môn GDCD là nhận biết được thế giới quan,nhân sinh quan,vấn đề dạođức,kinh tế -xã hội –chính trị ,vai trò và giá trị cơ bản của pháp luật đối với sự tồn tại vàphát triển của mỗi công dân xã hội và nhà nước Hiểu được một số nội dung của pháp luậtliên quan đến việc thực hiện và bảo vệ quyền bình đẳng - tự do - dân chủ và phát triển củacông dân trong đời sống
Nội dung học phần lớn đã gắn kết thực sự với thực tế đời sống xã hội Mục đích của
Trang 10dạy học là nhằm tạo ra sự nhất quán giữa nhận thức và hành động, lời nói và hành vi.
Do vậy, việc người giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực chính là nhữngthực hành bước đầu để gắn lý thuyết về những chuẩn mực người công dân cần đạt tới vớiđời sống sinh động được kiểm chứng và khẳng định Có thế nội dung bài học không còn
là những tri thức xa xôi, khô khan mà là những kiến thức, tình huống, bài học từ cuộcsống sinh động gắn bó mà các em có thể nhìn thấy trong cuộc sống hàng ngày
Ngoài ra trong quá trình dạy học bản thân tôi đã cung cấp cho các em nhữngphương pháp học tập tích cực từ những phương pháp tích cực học tập từ nước ngoài, chẳng
hạn như:áp dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình học:
Sơ đồ tư duy ra đời dựa trên tốc độ tư duy của não bộ và quá trình tâm lý của trí nhớnên rõ ràng nó là phương pháp tối ưu nhất giúp cho học sinh học tập tốt hơn, tích cực hơnđối với môn GDCD Sơ đồ tư duy là phương tiện tốt nhất để nắm bắt, phân tích và phổbiến thông tin khi đó học sinh sẽ không còn vấp phải những khó khăn trong việc học hành,
tư duy, sáng tạo và sử dụng trí nhớ Vì vậy sẽ nắm được những kiến thức căn bản của mônhọc GDCD từ đó trong mỗi học sinh sẽ tự tin hơn, hứng thú hơn ; năng lực tập trung, tưduy, trí nhớ sẽ đạt đến trình độ cao nhất gặt hái đươc những thành công trong học tậpchuẩn bị thật tốt cho kì thi TNTHPTQG 2019
Vận dụng Sơ đồ tư duy nâng cao chất lượng môn học, giải quyết triệt để những khókhăn vướng mắc mà học sinh gặp phải khi học tập và nghiên cứu môn GDCD thì trước hết tacần hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến những thực trạng tiêu cực của học sinh nhiều năm qua như:
Ghi chép thụ động
Môn GDCD 12 là một môn học với hệ thống kiến thức môn GDCD có 4 chủ đềchính: Pháp luật cơ bản, quyền bình đẳng, quyền tự do dân chủ, pháp luật với sự phát triểncủa đất nước Môn GDCD lớp 11 với hệ thống kiến thức là Các vấn đề kinh tế-chính trị-xãhội.Khối lượng kiến thức cho 1 tiết học là vô cùng lớn đòi hỏi học sinh phải hoạt động mộtcách tích cực, phải có kế hoạch chuẩn bị bài một cách cẩn thận trước khi đến lớp mới cóthể tiếp nhận tất cả các thông tin mà giáo viên truyền đạt Nhưng sau khi điều tra thực tế tôinhận thấy rằng có đến hơn 70% học sinh nhận định rằng nếu có đọc bài trước vào lớp cũng
sẽ rất khó để có thể hiểu một cách tường tận, nắm bắt thông tin một cách chính xác những
gì mà giáo viên nói, điều bất cập ở đây chính là học sinh còn giữ cách học tập của nhữngnăm học THCS, việc chuẩn bị bài của học sinh chỉ là việc “làm cho có”, thậm chí chưađược xem trọng, học sinh thường có tâm lý ngại đọc sách, tìm hiểu thông tin trước khi lênlớp, học sinh đọc nhưng không neo giữ lại thông tin một cách chủ động mà chỉ giới hạn ởviệc tóm tắt sách giáo khoa, bài giảng, những ý tưởng không phải là của mình, chính học
Trang 11sinh đã tự đẩy bản thân mình rơi vào thế bị động Trong quá trình giảng dạy học sinh lớp
12 , tôi đưa ra yêu cầu trong vòng 30 phút các em học sinh phải chuẩn bị một bài trước khilên lớp, với những câu hỏi được đưa ra sau khi đọc và tóm tắt sách giáo khoa, học sinhtham gia được dùng nhiều loại giấy, bút màu để đưa ra những kiến thức mà mình chuẩn bịđược, yêu cầu là bản ghi chú có thể giúp học sinh tìm ra nhanh những thông tin cần thiết đãđọc để có thể trả lới nhanh những câu hỏi mà tôi đã sắp đặt, những câu hỏi mà tôi đặt ra chỉ
là những định nghĩa có sẵn trong sách giáo khoa nhưng khi trả lời học sinh thường mất rấtnhiều thời gian cho việc tìm kiếm những thông tin mà mình đã đọc qua, điều đó gây mấthứng thú và giảm động cơ học tập cho học sinh, đa số đều rất lúng túng khi tôi đưa ranhững câu hỏi mang tính chất lý thuyết Ở đây chúng ta thấy rằng học sinh thật sự chưa có
kỹ năng ghi chú một cách hiệu quả những gì mình đã chuẩn bị, lối ghi chú thụ động nàylàm hạn chế khả năng học hỏi và tiếp nhận thông tin của học sinh rất nhiều
Việc ghi chú không chỉ dừng lại ở việc ghi chép, tóm tắt những gì mình đã đọc mà khilên lớp học sinh cũng không quan tâm đến việc mình phải ghi chép bài như thế nào để cóthể dễ dàng tìm lại, xem lại, đó thật sự làm hạn chế kiến thức mà mỗi học sinh cần đạt khilên lớp, có hơn 90% học sinh cố gắng ghi chép tất cả những gì khi giáo viên soạn giảng vàghi bảng, ngay cả khâu tiếp nhận thông tin học sinh cũng không chủ động thì việc xử lýthông tin là một điều rất khó khăn, học sinh cố gắng ghi chép nhưng đa số đều không đọclại mà nếu có đọc lại thì cũng không nhớ hết được những gì mà giáo viên đã giảng, tựuchung lại cách ghi chép hay ghi chú của học sinh thật sự có vấn đề, qua tiếp xúc và điều trabằng bảng hỏi tôi nhận thấy rằng ngay từ lối ghi chú học sinh đã không tổ chức được các ýtưởng của riêng bản thân học sinh, không có gì sáng tạo ngoài bài giảng trên slide chiếu vàbài giảng của giáo viên; tổng hợp lại có 3 lối ghi chú được 95% học sinh áp dụng đó chínhlà:
Lối dùng câu hoặc tường thuật, đơn giản là ghi chú nội dung cần lĩnh hội ở dạng
tường thuật, ghi chép tất cả những gì thấy được, nghe được từ giáo viên, có những ý có sẵntrong sách giáo khoa vẫn ghi chép lại làm mất rất nhiều thời gian
Lối liệt kê, là ghi lại các ý tưởng theo tuần tự xuất hiện của bài giảng hay sách giáo
khoa có sẵn
Lối dàn ý đánh thứ tự bằng số hay alphabet, là ghi chú theo kiểu xâu chuỗi, phân cấp
nhóm chính và nhóm con
Các lối ghi chú này thật sự không tận dụng hết các công cụ của lớp vỏ não- khả năng
tư duy thật sự của con người, vì nó bỏ qua các thành phần thiết yếu trong hoạt động tư duytoàn diện nhằm đưa kiến thức của bộ môn GDCD thấm nhuần vào tư duy của học sinh giúp
Trang 12học sinh có thể lĩnh hội được kiến thức để đánh những câu trắc nghiệm thật tốt , nhữngthành phần thiết yếu ấy như: nhịp điệu thị giác, màu sắc, hình ảnh, hình dung, kích thước,đặc biệt là liên kết… ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tư duy môn học cho học sinh vì thếtất nhiên cũng không ngoại lệ những học sinh tham gia cộng tác đều cảm thấy rất khó khăntất cả đều cảm thấy “ngán ngẩm”, “cực hình”, “đau đầu”, “phí thời gian”, “gò bó”,
“chán”… Với những tư tưởng như thế này thì thật khó có thể học tốt môn học GDCD
Chúng ta thấy rằng việc học chỉ bằng lối ghi chép một cách thụ động để xử lý thôngtin là ta đã đang và chỉ sử dụng một phần của não bộ Nguyên nhân là các khả năng chuyêndụng của bán cầu não không thể tương tác với nhau để tạo ra những vòng xoáy hoạt độngcủa tư duy, chỉ có ghi chép mà không tư duy tức là chúng ta đang đẩy tình trạng não đếnnguy cơ khước từ và bỏ quên vì những bất lợi mà lối ghi chép thụ động mang lại như:
Lãng phí thời gian
Một điều đáng lo ngại của học sinh khi học môn GDCD là ghi chép dẫn đến lãng phí thờigian rất nhiều; khi ghi chú như vậy buộc học sinh phải đọc đi đọc lại những ghi chú khôngthật sự cần thiết; có khi không trả lời được vào chủ đề mà các câu hỏi trắc nghiệm đã đưara
Không kích thích sự sáng tạo trong môn học
Bản chất của lối trình bày tuần tự trong bản ghi chép hay ghi chú thông thường làm cản trởnão tìm các mối liên kết, chống lại hoạt động sáng tạo và ký ức Hơn nữa đối diện với cácbản ghi chú theo lối liệt kê, đa số học sinh đều không thể tư duy những câu trắc nghiệmmang tính bao quát
Như vậy ngay từ lối ghi chép của học sinh khi học môn GDCD đã khá thụ động trước việctiếp thu môn học, càng ghi chép nhiều nhưng càng không hiệu quả và dẫn đến tình trạng làcàng ngày học sinh càng mất tự tin vào năng lực bản thân, đánh mất sự ham học hỏi hiểnnhiên vốn có của học sinh, nỗ lực nhưng không có kết quả khiến học sinh dễ rơi vào tìnhtrạng buồn chán, thất vọng Bằng chứng là các em học sinh rất lười học bài thậm chí làkhông thèm học bài và không hoàn thành hết tất cả các câu hỏi trắc nghiệm mà giáo viên đưara
Nhưng khi ghi chép hay ghi chú bằng sơ đồ tư duy ghi chú sẽ trở nên chủ động và thuận lợihơn cho người học Nó có thể khắc phục bất lợi trong kiểu ghi chú thông dụng hiện nay,chúng ta sẽ thấy những ưu điểm của sơ đồ tư duy như tiết kiệm thời gian hơn vì chỉ ghi chúcác từ liên quan, chỉ đọc các từ liên quan, thời gian ôn bài khi ghi chép bằng sơ đồ tư duy tiếtkiệm đến 90% lối ghi chú thụ động thông thường; nhanh chóng đáp ứng nhu cầu tương táctrong dạy học cho giáo viên nhờ nhanh chóng tìm ra các từ khoá trong một rừng chữ dông
Trang 13dài Hơn nữa lối ghi chép bằng sơ đồ tư duy là một lối ghi chép chủ động là vì cải thiện sứcsáng tạo và trí nhớ, nhờ khả năng tập trung tức thời những từ khoá thiết yếu,nhờ những mốiliên kết mạch lạc, tối ưu giữa các từ khoá Không giống như với các bản ghi chú tuần tự đơnđiệu, tẻ nhạt, não dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ với những sơ đồ tư duy kích thích thị giác, đasắc và đa chiều hơn Trong quá trình thực hiện sơ đồ tư duy, chúng ta luôn bắt gặp các cơ hộikhám phá tìm hiểu, tạo điều kiện cho dòng chảy tư duy liên tục bất tận
Sơ đồ tư duy là một kỹ thuật họa hình đóng vai trò là chiếc chìa khóa vạn năng đểkhai phá tiềm năng của bộ não Vì vậy việc áp dụng sơ đồ tư duy để cải thiện tình hình họctập, tăng khả năng tư duy môn GDCD là một vấn đề tất yếu nhằm nâng cao chất lượng họctập, tăng cường tinh thần tự học cho các em học sinh, chuẩn bị những hành trang thật tốtcho các em bước vào kỳ thi thật nghiêm túc và hiệu quả
Lập sơ đồ tư duy (hoặc sơ đồ ý tưởng) là việc bắt đầu từ một ý tưởng trung tâm vàviết ra những ý khác liên quan tỏa ra từ trung tâm Bằng cách tập trung vào những ý tưởngchủ chốt được viết bằng từ ngữ của học sinh, sau đó tìm ra những ý tưởng liên quan và kếtnối giữa những ý tưởng lại với nhau hình thành nên một sơ đồ tư duy Tương tự, nếu họcsinh lập một sơ đồ kiến thức cho từng chương của môn GDCD , nó sẽ giúp học sinh hiểu
và nhớ những thông tin mới và nắm kiến thức sâu hơn
Ý tưởng của sơ đồ tư duy là suy nghĩ sáng tạo và liên kết bằng một cách thức phituyến tính Có rất nhiều thời gian để chỉnh sửa thông tin sau này nhưng ở bước đầu tiên,việc đưa mọi khả năng vào sơ đồ là rất quan trọng Đôi khi một trong những khả năngtưởng như là không thể ấy lại trở thành ý tưởng chủ chốt đưa học sinh đến kiến thức đó, cụthể:
Vài học sinh phát hiện rằng sử dụng những kí tự viết hoa sẽ thu hút các em hơn chỉchú ý vào những điểm chính Chữ viết hoa cũng dễ đọc hơn trong một sơ đồ Tuy nhiên,học sinh có thể viết vài ghi chú, giải thích bằng chữ viết thường Một số học sinh làm thế
để khi cần xem lại bản đồ tư duy một thời gian sau, trong lúc số khác lại dùng để ghi lạinhững đánh giá, phê bình
Hầu hết học sinh sau khi tôi đưa ra những sơ đồ tư duy mẫu của từng chương đềuthấy tiện dụng khi lật ngang trang giấy và vẽ sơ đồ tư duy của họ theo chiều ngang Đặt ýtưởng hoặc chủ đề chính vào chính giữa trang giấy, ta sẽ có có không gian tối đa chonhững ý khác tỏa ra từ trung tâm; sau khi đã tạo dựng ảnh trung tâm và các nhánh chính sơ
đồ tư duy cho phép học sinh đưa ra bất kỳ ý tưởng nào có trong đầu và những ý mà giáoviên nêu, các dòng ý tưởng đều tuôn trào một cách tự nhiên và điều tất nhiên học sinh sẽ
dễ dàng nắm bắt; ví dụ như khi nói đến Pháp luật sẽ có các từ khóa như “quy tắc xử sự
Trang 14chung”- “Nhà nước ban hành”-“đảm bảo”- “Quyền lực Nhà nước” nhờ những liên kết
có trong sơ đồ tư duy mà học sinh có thể dễ dàng nhớ được “Định nghĩa Pháp luật”
Ví dụ: Nhìn vào Sơ đồ tư duy bên dưới các em có thể dễ dàng đánh chính xác được một số câu hỏi trắc nghiệm như: