MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP1.1 Một số khái niệm cơ bản1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh Ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới những góc độ khác nhau. Dưới thời kỳ Chủ nghĩa tư bản (CNTB) phát triển vượt bậc Mác đã quan niệm: “Cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Theo từ điển kinh doanh của Anh (xuất bản năm 1992): Cạnh tranh được xem là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình.Theo nhà kinh tế học Micheal Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.Theo quan điểm cạnh tranh hiện đại ngày nay: Cạnh tranh hợp tác kết hợp những ưu điểm của hai khái niệm cạnh tranh và hợp tác vào một khuôn khổ mới và năng động hơn nhằm tạo nhiều lợi nhuận và lợi ích hơn bằng cách thay đổi môi trường kinh doanh. Các doanh nghiệp nhận thấy không có khả năng chiếm hữu toàn bộ tài nguyên, thay vì cản trở mà chuyển nhượng cho đối thủ những thiết kế phát minh với giá cả ưu đãi để loại trừ việc phát triển độc lập các sản phẩm cùng loại, từ đó khẳng định địa vị dẫn đầu của doanh nghiệp trên thị trường. Mặt khác, do nhu cầu của khách hàng ngày càng phức tạp, phân tán, nên một doanh nghiệp nếu muốn tồn tại, phát triển và tạo dựng địa vị ưu thế ổn định thì sẽ phải hợp tác với các doanh nghiệp khác, thậm chí là với các đối thủ cạnh tranh trước kia, cùng kích thích nhu cầu tiêu dùng, cùng phát triển thị trường, cùng đề phòng những đe dọa từ sản phẩm thay thế.Tóm lại, các quan điểm trên đây tuy có sự khác biệt trong cách diễn đạt nhưng đều có những nét tương đồng về nội dung. Qua các khái niệm và phân tích ở trên thì cạnh tranh được hiểu là: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế tranh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường.1.1.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh đã và đang là chủ đề được bàn luận nhiều ở cả các nước phát triển và đang phát triển vì tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế. Mặc dù các nhà kinh tế thống nhất với nhau về tầm quan trọng nhưng lại có những nhận thức khác nhau về năng lực cạnh tranh. Do vậy có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ năng lực cạnh tranh và các cấp độ áp dụng cũng rất khác nhau.Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh…Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt được lợi ích kinh tế cao và bền vững”.1.1.3 Khái niệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpTrong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, nâng cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn quyết định đến sự tồn tại của các doanh nghiệp. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tạo ra cho sản phẩm những ưu điểm, biểu hiện ở chất lượng, giá bán, sự khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ… Nâng cao năng lực cạnh tranh là tạo ra những đặc điểm, những ưu thế vượt trội, những sự khác biệt so với đối thủ. Khi doanh nghiệp này có năng lực cạnh tranh trên thị trường thì khách hàng sẽ sẵn sàng lựa chọn doanh nghiệp cho tiêu dùng của mình. Doanh nghiệp cũng vì thế mà có nhiều cơ hội mở rộng thị trường và tạo ra nhiều lợi nhuận hơn. Đích đến cuối cùng của các doanh nghiệp đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận, khi đó thì nâng cao năng lực cạnh tranh được xem là chiến lược trong kinh doanh không thế thiếu góp phần phát triển, nâng cao định hướng và hoàn thành mục tiêu mà mỗi doanh nghiệp đề ra.Có thể nói nâng cao năng lực cạnh tranh là nâng cao “quy mô, trình độ và chất lượng nguồn lực về kinh tế, kỹ thuật, quản lý và thương mại của doanh nghiệp”, nó không chỉ nhằm mục đích đem lợi lợi ích cho doanh nghiệp mà còn giúp tăng trưởng kinh tế cho quốc gia.1.2. Một số lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường miền Bắc1.2.1. Đặc điểm thị trường miền Bắc và doanh nghiệp kinh doanh chăn nuôi gia cầm trên thị trường miền Bắca) Đặc điểm thị trường chăn nuôi và kinh doanh gia cầm miền Bắc Đặc điểm thị trường chăn nuôi và kinh doanh gia cầm miền Bắc là những đặc trưng và văn hóa trong tiêu dùng của miền Bắc. Khi nắm bắt được những đặc điểm của thị trường này chính là nền tảng cho sự thành công của doanh nghiệp khi kinh doanh trên thị trường đó. Vì đặc điểm khác nhau mà thị trường kinh doanh trên hai miền Nam – Bắc cũng khác biệt, đặc điểm tiêu dùng ít nhiều có sự khác biệt so với thị trường miền Nam, mạng đậm tính chất miền Bắc.Miền Bắc là một thị trường năng động trong lĩnh vực chăn nuôi và kinh doanh gia cầm được thể hiện mức độ tăng trưởng qua từng năm nhiều khả quan. Tuy nhiên đây là thị trường khó tính, họ không đón nhận sản phẩm mới một cách dễ dàng người Bắc khó tính nhưng một khi đã gắn bó và trải nghiệm sản phẩm thấy hài lòng, họ sẽ trung thành hơn, họ sẽ đắn đo năm lần bảy lượt mới quyết định mua sản phẩm nhưng một khi đã sử dụng họ sẽ gắn bó và trung thành. Người tiêu dùng ở thị trường miền Bắc bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi ý kiến và lời giới thiệu của người thân, hàng xóm, vì vậy đối với các sản phẩm về con giống lai tạo mới mất một khoảng thời gian để xâm nhập vào thị trường này, nếu không có được phản hồi tốt sẽ bị đào thải một cách nhanh chóng.Thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng thị trường miền Bắc trong chăn nuôi và kinh doanh gia cầm có xu hướng lo xa cho tương lai, chú trọng đầu tư và cân nhắc về giá trị sản phẩm mang lại so với giá thành của nó. Tuy nhiên ngược lại với thói quen tiết kiệm khi tiêu dùng thì họ lại sẵn sàng chi trả cho những mặt hàng chất lượng, bởi vì họ là những người có xu hướng tiết kiệm và sống cho lâu dài do đó cần chi cho các sản phẩm tốt khả năng chi trả của họ là rất cao.Miền Bắc có thể coi là một thị trường mở trong ngành chăn nuôi và kinh doanh gia cầm. Xu hướng thị trường hướng tới sự ổn định lâu dài, có niềm tin đối với các doanh nghiệp lâu năm, có tiếng nói trên thị trường. Tuy nhiên chăn nuôi và kinh doanh gia cầm chưa phát triển mạnh mẽ như ở thị trường miền Nam nơi có rất nhiều doanh nghiệp đứng top đầu cả nướcVới định hướng đẩy mạnh liên kết trong phát triển kinh tế xã hội, thị trường miền Bắc đang kỳ vọng vào sự phát triển đột phá trong một tương lai không xa. Bởi, sự liên kết chặt chẽ đó sẽ góp phần tạo động lực phát triển đồng bộ các tỉnh, thành phố phát huy tốt các tiềm năng, lợi thế, tạo ra động lực mới cho sự phát triển, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong xu thế hội nhập hiện nay. Môi trường kinh doanh hấp dẫn đã huy động được các nguồn lực lớn trong xã hội để phát triển kinh tế xã hội của thị trường, tạo điều kiện cho thị trường miền Bắc phát triển cạnh tranh với thị trường trong nước và quốc tế.b) Đặc điểm doanh nghiệp kinh doanh chăn nuôi gia cầm trên thị trường miền Bắc Về thành lập, xây dựng doanh nghiệp: Với nền kinh tế hội nhập và phát triển như hiện nay, các công ty về lĩnh vực chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển tăng nhanh về số lượng và thị trường doanh nghiệp ngày càng sôi động. Nếu doanh nghiệp kinh doanh giống gia cầm thì khi đăng ký thành lập công ty phải lựa chọn loại hình doanh nghiệp cụ thể. Về sản phẩm: Với sản phẩm là giống gia cầm thì trong kinh doanh gồm các loại gà giống, trứng giống, giống gà lai tạo. Hoạt động kinh doanh có 2 hình thức lưu chuyển chính là bán buôn, bán lẻ. Sự vận động của hàng hoá không giống nhau, tùy thuộc vào nguồn hàng từ các trang trại, đại lý... Do đó chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng hoá cũng khác nhau. Về môi trường kinh doanh: Trong những năm qua, mạng lưới kinh doanh chăn nuôi gia cầm phát triển đa dạng về kinh doanh con giống, lai tạo con giống, chế biến gia cầm... Mạng lưới kinh doanh mở rộng xuống địa bàn khu dân cư làm chức năng giao lưu, trao đổi hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Những năm gần đây, cơ sở hạ tầng được tỉnh chú trọng đầu tư và có bước phát triển rõ nét, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất và đưa con giống tới người tiêu dùng. Với điều kiện địa hình và khí hậu, Miền Bắc thu hút được nhiều đầu tư về lĩnh vực này. Thấy được hiệu quả tiềm năng như vậy mà miền Bắc đã xây dựng kế hoạch phát triển các doanh nghiệp kinh doanh chăn nuôi gia cầm. Bên cạnh đó với tốc độ phát triển của xã hội xuất hiện nhiều doanh nghiệp tham gia vào ngành nghề này giúp đẩy mạnh quá trình xã hội hóa trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất. Với việc tăng cường đầu tư, thu hút đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp, hoạt động chăn nuôi không ngừng phát triển với tốc độ cao, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu người tiêu dùng. Về xu hướng phát triển: Theo đánh giá của đại diện Cục chăn nuôi, ngành chăn nuôi gia cầm các năm tới sẽ có nhiều cơ hội phát triển bởi nhu cầu tiêu dùng trong nước về sản phẩm của gia cầm ngày càng cao do sự gia tăng về dân số Việt Nam từ 95 triệu dân năm 2019 lên khoảng 100 triệu dân vào năm 2025 và do đô thị hóa, công nghiệp hóa cùng với tăng trưởng cao về khách du lịch ở nước ta.Chăn nuôi gia cầm phát triển đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp sản phẩm cho các hệ thống siêu thị, đại lý trang trại; đồng thời tạo ra thị trường sôi động, khối lượng con giống lưu thông liên tục tăng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân. Việc cải thiện, nâng cấp chất lượng, sản lượng của ngành đang rất được quan tâm phát triển. Ngành chăn nuôi gia cầm đã có những vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tế, góp phần vào tăng trưởng GDP của miền Bắc.1.2.2. Bản chất, vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpa) Bản chất của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào yếu tố bên trong và bên ngoài (yếu tố bên trong gồm: thực lực và lợi thế bên trong; yếu tố bên ngoài: môi trường kinh doanh) tác động. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phản ánh qua nhiều tiêu chí khác nhau như phản ánh thông qua hiệu quả kinh doanh: thị phần, năng suất lao động, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, uy tín của doanh nghiệp,… hay phản ánh thông qua lợi thế kinh doanh: khoa học công nghệ, nhân lực, tài chính, sản phẩm, dịch vụ,… Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì không chỉ đánh giá các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp mà quan trọng phải đem ra so sánh với các đối thủ, đối tác cạnh tranh trên cùng một sản phẩm, thị trường trong cùng thời điểm. Nhờ đặc điểm này mà các đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải tạo ra các sản phẩm, dịch vụ chất lượng nhất để thỏa mãn nhu cầu khách hàng, nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất, chiến lĩnh thị phần trên thị trường.b) Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpNâng cao năng lực cạnh tranh là một điều tất yếu trong nền kinh tế thị trường ngày nay, nó được coi là động lực phát triển không chỉ mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp mà cả nền kinh tế nói chung. Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải luôn không ngừng đổi mới, đưa ra những ý tưởng, biện pháp sáng tạo nhằm có chỗ đứng trên thị trường và tăng năng lực cạnh tranh của mình. Vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh trong mỗi doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng, cụ thể như: Đối với nền kinh tế quốc dân:Nâng cao năng lực cạnh tranh góp một phần không nhỏ trong sự phát triển nền kinh tế đất nước. Năng lực cạnh tranh sẽ đảm bảo việc điều tiết quan hệ cung – cầu. Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ là môi trường thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xóa bỏ những bất công, bất hợp lý, sự độc quyền trong kinh doanh mà còn giúp nâng cao sự tiên tiến của khoa học kỹ thuật, tạo nhiều việc làm cho người lao động, đa dạng hóa các sản phẩm, nâng cao chất lượng đời sống, xã hội và phát triển nền kinh tế. Nâng cao năng lực cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh tạo khả năng cho các doanh nghiệp có thể vươn ra thị trường nước ngoài. Đối với doanh nghiệp:Nâng cao năng lực cạnh tranh chính là kết quả quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Chỉ khi nền kinh tế có sự cạnh tranh thì các doanh nghiệp mới có sự đầu tư nhằm nâng cao chất lượng các sản phẩm, hàng hóa ngày càng đa dạng phong phú đáp ứng người tiêu dùng. Năng lực cạnh tranh tạo động lực cho các doanh nghiệp chú trọng hơn trong từng khâu của công ty, luôn phải đổi mới tư duy, cập nhập tình hình thị trường để không bị tụt lùi lại phía sau. Khi xã hội ngày càng phát triển nhanh chóng, khoa học kỹ thuật không ngừng tiên tiến, nếu doanh nghiệp cứ đi theo một lối mòn cũ thì chỉ trong tích tắc đối thủ cạnh tranh sẽ có những bước tiến dài, vì vậy có cạnh tranh là một cuộc đua mà buộc các doanh nghiệp phải tạo một cái đầu tư duy chiến lược, bắt kịp với xu hướng trong thị yếu người tiêu dùng. Nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, phù hợp với thị yếu của người tiêu dùng. Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng thì càng có khả năng tồn tại lâu bền trong thị trường hiện nay. Đối với người tiêu dùng:Người tiêu dùng là nhân tố quan trọng chứng minh được doanh nghiệp đang ở vị trí nào. Khi hội nhập ngày càng dễ dàng, thị yếu con người ngày càng yêu cầu về chất lượng và mẫu mã thì cũng là lúc các doanh nghiệp phải nương mình theo dòng chảy của thị trường. Có cạnh tranh thì hàng hóa sản phẩm, dịch vụ sẽ đa dạng và chất lượng hơn, người tiêu dùng có thể dễ dàng thỏa mái với nhiều sự lựa chọn các sản phẩm hợp túi tiền của mình. Đồng thời, các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng dịch vụ trước và sau bán hàng. Đây là lợi ích mà người tiêu dùng nhận được từ nâng cao năng lực cạnh tranh.1.2.3. Sự cần thiết của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpTrong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luật kinh tế khách quan và do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnh tranh trên thị trường luôn được đặt ra đối với các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là cần thiết vì:Một là, nâng cao năng lực cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tồn tại và đứng vững trên thị trường. Cạnh tranh ngày càng gay gắt, khi trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, trình độ quản lý và có sức mạnh thị trường. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi cấp bách để doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trên thương trường. Cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, phù hợp với thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng nhất. Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện nay.Hai là, nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ nhằm mục đích là đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, mà còn góp phần vào sự tăng trưởng của ngành và trách nhiệm với xã hội. Không những thế, với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, việc nâng cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, và quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Bởi lẽ, mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh, của doanh nghiệp là mang lại càng nhiều lợi nhuận, khi đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh, tại các doanh nghiệp được xem như là một chiến lược không thể thiếu, trong định hướng phát triển và nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu doanh nghiệp. Bất kì một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt động kinh doanh đều có những mục tiêu nhất định. Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà doanh nghiệp đặt ra cho mình những mục tiêu khác nhau. Để đạt được các mục tiêu doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới bằng mọi giá tìm ra phương cách, biện pháp tối ưu để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng cao hơn, cung ứng những dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh. Chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triền.Ba là, doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và là một yếu tố kích thích kinh doanh. Quy luật cạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất, sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Do vậy, muốn phát triển thì doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Muốn phát triển được thì doanh nghiệp cần phải phát huy hết ưu thế của mình, tạo ra những điểm khác biệt so với đối thủ cạnh tranh từ đó doanh nghiệp mới có khả năng phát triển và nâng cao vị thế của mình trên thị trường.1.3. Nội dung và nguyên lý nâng ca
Trang 1CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội khái niệm về cạnh tranh đượcnhiều tác giả trình bày dưới những góc độ khác nhau Dưới thời kỳ Chủ nghĩa tư bản(CNTB) phát triển vượt bậc Mác đã quan niệm: “Cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự ganhđua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợitrong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”
Theo từ điển kinh doanh của Anh (xuất bản năm 1992): Cạnh tranh được xem là sựganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùngmột loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình
Theo nhà kinh tế học Micheal Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần.Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuậntrung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quânhóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thểgiảm đi
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữanhững người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nềnkinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất,tiêu thụ và thị trường có lợi nhất
Theo quan điểm cạnh tranh hiện đại ngày nay: Cạnh tranh hợp tác kết hợp những ưuđiểm của hai khái niệm cạnh tranh và hợp tác vào một khuôn khổ mới và năng động hơnnhằm tạo nhiều lợi nhuận và lợi ích hơn bằng cách thay đổi môi trường kinh doanh Cácdoanh nghiệp nhận thấy không có khả năng chiếm hữu toàn bộ tài nguyên, thay vì cản trở
mà chuyển nhượng cho đối thủ những thiết kế phát minh với giá cả ưu đãi để loại trừ việcphát triển độc lập các sản phẩm cùng loại, từ đó khẳng định địa vị dẫn đầu của doanhnghiệp trên thị trường Mặt khác, do nhu cầu của khách hàng ngày càng phức tạp, phântán, nên một doanh nghiệp nếu muốn tồn tại, phát triển và tạo dựng địa vị ưu thế ổn định
Trang 2thì sẽ phải hợp tác với các doanh nghiệp khác, thậm chí là với các đối thủ cạnh tranhtrước kia, cùng kích thích nhu cầu tiêu dùng, cùng phát triển thị trường, cùng đề phòngnhững đe dọa từ sản phẩm thay thế.
Tóm lại, các quan điểm trên đây tuy có sự khác biệt trong cách diễn đạt nhưng đều
có những nét tương đồng về nội dung Qua các khái niệm và phân tích ở trên thì cạnh
tranh được hiểu là: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế tranh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường.
1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh đã và đang là chủ đề được bàn luận nhiều ở cả các nước pháttriển và đang phát triển vì tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế.Mặc dù các nhà kinh tế thống nhất với nhau về tầm quan trọng nhưng lại có những nhậnthức khác nhau về năng lực cạnh tranh Do vậy có nhiều cách hiểu khác nhau về thuậtngữ năng lực cạnh tranh và các cấp độ áp dụng cũng rất khác nhau
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanhnghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng
để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bêntrong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại
và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnhtranh trên thị trường
Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và
là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh không chỉ được tínhbăng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mànăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệpđưa ra thị trường Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với thị phần mà nó nắm giữ,cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh…
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc
Trang 3tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt được lợi ích kinh tế cao và bền vững”.
1.1.3 Khái niệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, nâng cao năng lực cạnh tranh ở cácdoanh nghiệp có ý nghĩa to lớn quyết định đến sự tồn tại của các doanh nghiệp Nâng caonăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tạo ra cho sản phẩm những ưu điểm, biểu hiện ởchất lượng, giá bán, sự khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ… Nâng cao năng lực cạnhtranh là tạo ra những đặc điểm, những ưu thế vượt trội, những sự khác biệt so với đối thủ.Khi doanh nghiệp này có năng lực cạnh tranh trên thị trường thì khách hàng sẽ sẵn sànglựa chọn doanh nghiệp cho tiêu dùng của mình Doanh nghiệp cũng vì thế mà có nhiều cơhội mở rộng thị trường và tạo ra nhiều lợi nhuận hơn
Đích đến cuối cùng của các doanh nghiệp đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận, khi
đó thì nâng cao năng lực cạnh tranh được xem là chiến lược trong kinh doanh không thếthiếu góp phần phát triển, nâng cao định hướng và hoàn thành mục tiêu mà mỗi doanhnghiệp đề ra
Có thể nói nâng cao năng lực cạnh tranh là nâng cao “quy mô, trình độ và chất lượng nguồn lực về kinh tế, kỹ thuật, quản lý và thương mại của doanh nghiệp”, nó không chỉ nhằm mục đích đem lợi lợi ích cho doanh nghiệp mà còn giúp tăng trưởng kinh tế cho quốc gia.
1.2 Một số lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường miền Bắc
1.2.1 Đặc điểm thị trường miền Bắc và doanh nghiệp kinh doanh chăn nuôi gia cầm trên thị trường miền Bắc
a) Đặc điểm thị trường chăn nuôi và kinh doanh gia cầm miền Bắc
Đặc điểm thị trường chăn nuôi và kinh doanh gia cầm miền Bắc là những đặctrưng và văn hóa trong tiêu dùng của miền Bắc Khi nắm bắt được những đặc điểm củathị trường này chính là nền tảng cho sự thành công của doanh nghiệp khi kinh doanh trên
Trang 4thị trường đó Vì đặc điểm khác nhau mà thị trường kinh doanh trên hai miền Nam – Bắccũng khác biệt, đặc điểm tiêu dùng ít nhiều có sự khác biệt so với thị trường miền Nam,mạng đậm tính chất miền Bắc.
Miền Bắc là một thị trường năng động trong lĩnh vực chăn nuôi và kinh doanh giacầm được thể hiện mức độ tăng trưởng qua từng năm nhiều khả quan Tuy nhiên đây làthị trường khó tính, họ không đón nhận sản phẩm mới một cách dễ dàng người Bắc khótính nhưng một khi đã gắn bó và trải nghiệm sản phẩm thấy hài lòng, họ sẽ trung thànhhơn, họ sẽ đắn đo năm lần bảy lượt mới quyết định mua sản phẩm nhưng một khi đã sửdụng họ sẽ gắn bó và trung thành Người tiêu dùng ở thị trường miền Bắc bị ảnh hưởngmạnh mẽ bởi ý kiến và lời giới thiệu của người thân, hàng xóm, vì vậy đối với các sảnphẩm về con giống lai tạo mới mất một khoảng thời gian để xâm nhập vào thị trường này,nếu không có được phản hồi tốt sẽ bị đào thải một cách nhanh chóng
Thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng thị trường miền Bắc trong chăn nuôi và kinhdoanh gia cầm có xu hướng lo xa cho tương lai, chú trọng đầu tư và cân nhắc về giá trịsản phẩm mang lại so với giá thành của nó Tuy nhiên ngược lại với thói quen tiết kiệmkhi tiêu dùng thì họ lại sẵn sàng chi trả cho những mặt hàng chất lượng, bởi vì họ lànhững người có xu hướng tiết kiệm và sống cho lâu dài do đó cần chi cho các sản phẩmtốt khả năng chi trả của họ là rất cao
Miền Bắc có thể coi là một thị trường mở trong ngành chăn nuôi và kinh doanh giacầm Xu hướng thị trường hướng tới sự ổn định lâu dài, có niềm tin đối với các doanhnghiệp lâu năm, có tiếng nói trên thị trường Tuy nhiên chăn nuôi và kinh doanh gia cầmchưa phát triển mạnh mẽ như ở thị trường miền Nam nơi có rất nhiều doanh nghiệp đứngtop đầu cả nước
Với định hướng đẩy mạnh liên kết trong phát triển kinh tế - xã hội, thị trườngmiền Bắc đang kỳ vọng vào sự phát triển đột phá trong một tương lai không xa Bởi, sựliên kết chặt chẽ đó sẽ góp phần tạo động lực phát triển đồng bộ các tỉnh, thành phố pháthuy tốt các tiềm năng, lợi thế, tạo ra động lực mới cho sự phát triển, tăng năng suất, chấtlượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong xu thế hội nhập hiện nay Môi trường kinh doanhhấp dẫn đã huy động được các nguồn lực lớn trong xã hội để phát triển kinh tế - xã hội
Trang 5của thị trường, tạo điều kiện cho thị trường miền Bắc phát triển cạnh tranh với thị trườngtrong nước và quốc tế.
b) Đặc điểm doanh nghiệp kinh doanh chăn nuôi gia cầm trên thị trường miền Bắc
- Về thành lập, xây dựng doanh nghiệp: Với nền kinh tế hội nhập và phát triển nhưhiện nay, các công ty về lĩnh vực chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển tăng nhanh về
số lượng và thị trường doanh nghiệp ngày càng sôi động Nếu doanh nghiệp kinh doanhgiống gia cầm thì khi đăng ký thành lập công ty phải lựa chọn loại hình doanh nghiệp cụthể
- Về sản phẩm: Với sản phẩm là giống gia cầm thì trong kinh doanh gồm các loại
gà giống, trứng giống, giống gà lai tạo Hoạt động kinh doanh có 2 hình thức lưu chuyểnchính là bán buôn, bán lẻ Sự vận động của hàng hoá không giống nhau, tùy thuộc vàonguồn hàng từ các trang trại, đại lý Do đó chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hànghoá cũng khác nhau
- Về môi trường kinh doanh: Trong những năm qua, mạng lưới kinh doanh chănnuôi gia cầm phát triển đa dạng về kinh doanh con giống, lai tạo con giống, chế biến giacầm Mạng lưới kinh doanh mở rộng xuống địa bàn khu dân cư làm chức năng giao lưu,trao đổi hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ Những năm gần đây, cơ sở hạ tầngđược tỉnh chú trọng đầu tư và có bước phát triển rõ nét, tạo điều kiện thuận lợi cho doanhnghiệp sản xuất và đưa con giống tới người tiêu dùng Với điều kiện địa hình và khí hậu,Miền Bắc thu hút được nhiều đầu tư về lĩnh vực này Thấy được hiệu quả tiềm năng nhưvậy mà miền Bắc đã xây dựng kế hoạch phát triển các doanh nghiệp kinh doanh chănnuôi gia cầm Bên cạnh đó với tốc độ phát triển của xã hội xuất hiện nhiều doanh nghiệptham gia vào ngành nghề này giúp đẩy mạnh quá trình xã hội hóa trong đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất Với việc tăng cường đầu tư, thu hút đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp, hoạtđộng chăn nuôi không ngừng phát triển với tốc độ cao, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầungười tiêu dùng
- Về xu hướng phát triển: Theo đánh giá của đại diện Cục chăn nuôi, ngành chănnuôi gia cầm các năm tới sẽ có nhiều cơ hội phát triển bởi nhu cầu tiêu dùng trong nước
Trang 6về sản phẩm của gia cầm ngày càng cao do sự gia tăng về dân số Việt Nam từ 95 triệudân năm 2019 lên khoảng 100 triệu dân vào năm 2025 và do đô thị hóa, công nghiệp hóacùng với tăng trưởng cao về khách du lịch ở nước ta.
Chăn nuôi gia cầm phát triển đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp sảnphẩm cho các hệ thống siêu thị, đại lý trang trại; đồng thời tạo ra thị trường sôi động,khối lượng con giống lưu thông liên tục tăng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu củangười dân Việc cải thiện, nâng cấp chất lượng, sản lượng của ngành đang rất được quantâm phát triển Ngành chăn nuôi gia cầm đã có những vai trò, vị trí quan trọng trong nềnkinh tế, góp phần vào tăng trưởng GDP của miền Bắc
1.2.2 Bản chất, vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
a) Bản chất của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào yếu tố bên trong và bênngoài (yếu tố bên trong gồm: thực lực và lợi thế bên trong; yếu tố bên ngoài: môi trườngkinh doanh) tác động
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phản ánh qua nhiều tiêu chí khácnhau như phản ánh thông qua hiệu quả kinh doanh: thị phần, năng suất lao động, lợinhuận và tỷ suất lợi nhuận, uy tín của doanh nghiệp,… hay phản ánh thông qua lợi thếkinh doanh: khoa học công nghệ, nhân lực, tài chính, sản phẩm, dịch vụ,…
- Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì không chỉ đánh giá cácyếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp mà quan trọng phải đem ra so sánh với các đối thủ,đối tác cạnh tranh trên cùng một sản phẩm, thị trường trong cùng thời điểm Nhờ đặcđiểm này mà các đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải tạo ra các sản phẩm, dịch vụ chấtlượng nhất để thỏa mãn nhu cầu khách hàng, nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tốtnhất, chiến lĩnh thị phần trên thị trường
b) Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nâng cao năng lực cạnh tranh là một điều tất yếu trong nền kinh tế thị trường ngàynay, nó được coi là động lực phát triển không chỉ mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp mà cả
Trang 7nền kinh tế nói chung Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải luôn không ngừng đổimới, đưa ra những ý tưởng, biện pháp sáng tạo nhằm có chỗ đứng trên thị trường và tăngnăng lực cạnh tranh của mình Vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh trong mỗi doanhnghiệp có vai trò rất quan trọng, cụ thể như:
- Đối với nền kinh tế quốc dân:
Nâng cao năng lực cạnh tranh góp một phần không nhỏ trong sự phát triển nềnkinh tế đất nước Năng lực cạnh tranh sẽ đảm bảo việc điều tiết quan hệ cung – cầu Nângcao năng lực cạnh tranh không chỉ là môi trường thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nềnkinh tế thị trường, góp phần xóa bỏ những bất công, bất hợp lý, sự độc quyền trong kinhdoanh mà còn giúp nâng cao sự tiên tiến của khoa học kỹ thuật, tạo nhiều việc làm chongười lao động, đa dạng hóa các sản phẩm, nâng cao chất lượng đời sống, xã hội và pháttriển nền kinh tế Nâng cao năng lực cạnh tranh làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh tạokhả năng cho các doanh nghiệp có thể vươn ra thị trường nước ngoài
- Đối với doanh nghiệp:
Nâng cao năng lực cạnh tranh chính là kết quả quyết định sự tồn tại của doanhnghiệp Chỉ khi nền kinh tế có sự cạnh tranh thì các doanh nghiệp mới có sự đầu tư nhằmnâng cao chất lượng các sản phẩm, hàng hóa ngày càng đa dạng phong phú đáp ứngngười tiêu dùng Năng lực cạnh tranh tạo động lực cho các doanh nghiệp chú trọng hơntrong từng khâu của công ty, luôn phải đổi mới tư duy, cập nhập tình hình thị trường đểkhông bị tụt lùi lại phía sau Khi xã hội ngày càng phát triển nhanh chóng, khoa học kỹthuật không ngừng tiên tiến, nếu doanh nghiệp cứ đi theo một lối mòn cũ thì chỉ trongtích tắc đối thủ cạnh tranh sẽ có những bước tiến dài, vì vậy có cạnh tranh là một cuộcđua mà buộc các doanh nghiệp phải tạo một cái đầu tư duy chiến lược, bắt kịp với xuhướng trong thị yếu người tiêu dùng Nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ tạo ra môi trườngkinh doanh thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, phù hợp với thị yếu của người tiêudùng Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng thì càng có khả năng tồntại lâu bền trong thị trường hiện nay
- Đối với người tiêu dùng:
Trang 8Người tiêu dùng là nhân tố quan trọng chứng minh được doanh nghiệp đang ở vịtrí nào Khi hội nhập ngày càng dễ dàng, thị yếu con người ngày càng yêu cầu về chấtlượng và mẫu mã thì cũng là lúc các doanh nghiệp phải nương mình theo dòng chảy củathị trường Có cạnh tranh thì hàng hóa sản phẩm, dịch vụ sẽ đa dạng và chất lượng hơn,người tiêu dùng có thể dễ dàng thỏa mái với nhiều sự lựa chọn các sản phẩm hợp túi tiềncủa mình Đồng thời, các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng dịch vụ trước và saubán hàng Đây là lợi ích mà người tiêu dùng nhận được từ nâng cao năng lực cạnh tranh.
1.2.3 Sự cần thiết của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luật kinh tế khách quan
và do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnh tranh trên thị trường luôn được đặt
ra đối với các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng như hiệnnay Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là cần thiết vì:
Một là, nâng cao năng lực cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tồn tại và đứng vững trên thị trường Cạnh tranh ngày càng
gay gắt, khi trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều các đối thủ cạnh tranh nước ngoài,với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, trình độ quản lý và có sức mạnh thị trường.Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi cấp bách để doanh nghiệp
đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trên thương trường Cạnh tranh sẽ tạo
ra môi trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng,phù hợp với thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào càng đáp ứngtốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nền kinh tếthị trường hiện nay
Hai là, nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ nhằm mục đích là đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, mà còn góp phần vào sự tăng trưởng của ngành và trách nhiệm với xã hội Không những thế, với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, việc nâng
cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, và quyết địnhđến sự sống còn của doanh nghiệp Bởi lẽ, mục đích cuối cùng trong hoạt động kinhdoanh, của doanh nghiệp là mang lại càng nhiều lợi nhuận, khi đó việc nâng cao năng lựccạnh tranh, tại các doanh nghiệp được xem như là một chiến lược không thể thiếu, trongđịnh hướng phát triển và nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu doanh nghiệp Bất kìmột doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt động kinh doanh đều có nhữngmục tiêu nhất định Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà doanh
Trang 9nghiệp đặt ra cho mình những mục tiêu khác nhau Để đạt được các mục tiêu doanhnghiệp cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới bằng mọi giá tìm raphương cách, biện pháp tối ưu để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng caohơn, cung ứng những dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh Chỉ có cạnh tranh thì doanhnghiệp mới có thể tồn tại và phát triền.
Ba là, doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển Ngày nay trong nền kinh tế
thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và là một yếu tố kích thích kinh doanh Quy luậtcạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất, sản xuất hàng hóa ngày càng pháttriển thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt Do vậy, muốn phát triển thì doanh nghiệp cầnphải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốthơn nhu cầu của khách hàng Muốn phát triển được thì doanh nghiệp cần phải phát huyhết ưu thế của mình, tạo ra những điểm khác biệt so với đối thủ cạnh tranh từ đó doanhnghiệp mới có khả năng phát triển và nâng cao vị thế của mình trên thị trường
1.3 Nội dung và nguyên lý nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.1 Các nguyên tắc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
a) Sáng tạo ra các giá trị cao, độc lập
Các doanh nghiệp với nguồn lực hạn hẹp, thường lo sợ lợi thế về quy mô và sứcmạnh tài chính của các doanh nghiệp lớn Thực ra, ngay cả các doanh nghiệp lớn cũngluôn tránh được cuộc cạnh tranh đối đầu về giá Bản chất hoạt động kinh doanh là tạo ragiá trị cho cộng đồng, cụ thể là cho khách hàng Giá trị được tạo ra càng lớn thì phầnthưởng (lợi nhuận, uy tín, sự trung thành của khách hàng, nguồn lực ) mà công ty nhậnđược từ khách hàng càng lớn Vì thế, các doanh nghiệp cần tập trung tìm hiểu nhu cầucủa xã hội, khách hàng, phải có chiến lược kinh doanh riêng, bảo đảm tạo ra những giá trịcao, độc đáo cho khách hàng
Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã nổi lên trong việc tạo ra chỗ đứngriêng như bưởi Năm Roi, tranh cát, hoa đất sét Hiệu quả này xuất phát từ việc nắm bắtnhững nhu cầu của khách hàng, từ đó tạo ra giá trị làm thỏa mãn những nhu cầu cụ thểcủa khách hàng
b) Đầu tư vào yếu tố dịch vụ
Trang 10Thế giới đang phát triển ngày một nhanh chóng, khoa học kỹ thuật liên tục pháttriển, dưới sự dẫn dắt chóng mặt của công nghệ 4.0 cùng với các yếu tố khác, điều nàytác động rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp Các nhu cầu mới cho sản xuất, tiêudùng, sự kỳ vọng của khách hàng ngày một tăng đòi hỏi các doanh nghiệp cần thay đổi từviệc sản xuất kinh doanh, phân phối hàng hóa, marketing,… để làm hài lòng người tiêudùng không những vậy còn cho họ những trải nghiệm mới lạ về dịch vụ Trong bối cảnhthị trường gay gắt, các đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều, các sản phẩm thay thế đều dễdàng có được thì dịch vụ khách hàng là chìa khóa cho các doanh nghiệp khi muốn có một
vị thế vững vàng trên thị trường Dịch vụ khách hàng có ảnh hưởng tới suy nghĩ củakhách hàng Doanh nghiệp cần có những đánh giá của họ để nâng cao và cải thiện dịch vụngày càng hoàn chỉnh, kích thích nhu cầu khách hàng Dịch vụ khách hàng càng chấtlượng thì mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp ngày được duy trì, từ đó doanhnghiệp có được tập khách hàng trung thành và tin tưởng – đây là yếu tố tác động đến tâm
lý khách hàng, là chất xúc giác quyết định tới hành vi mua hàng Hơn nữa nếu chú trọngvào dịch vụ thì nó sẽ trở thành một hình thức quảng bá thương hiệu của doanh nghiệptrong tâm trí khách hàng khi họ sẽ luôn nhớ tới những gì gây cho khách hàng một cách ấntượng
c) Có tầm nhìn dài hạn về sự phát triển
Tầm nhìn là những điều mà doanh nghiệp muốn đạt được trong tương lai Đâyđược coi là nguồn động lực và cảm hứng cho các doanh nghiệp Tầm nhìn về sự pháttriển của doanh nghiệp nó giống như một cái la bàn dẫn đường chỉ lối cho mỗi doanhnghiệp Trong thời đại mà sự xuất hiện đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều thì doanhnghiệp cần có một tầm nhìn sâu rộng về sự phát triển để đưa được công ty đi đúng conđường Khi hoạch định tầm nhìn chiến lược, sẽ giúp doanh nghiệp và khách hàng tintưởng và hành động theo niềm tin đó Những doanh nghiệp luôn chủ động có thể hìnhdung một cách rõ nét và tập trung về sự phát triển tương lai như thế nào Tầm nhìn dàihạn khiến các doanh nghiệp hình thành được hệ thống sản xuất kinh doanh phù hợp, từngbước chuyên nghiệp trong sự phát triển Từ đó, doanh nghiệp mới đảm bảo được nănglực quản lý hệ thống trong tương lai
d) Tìm hiểu những phân khúc thị trường phù hợp
Trang 11Bằng cách tìm hiểu các phân khúc thị trường doanh nghiệp có thể tận dụng mụctiêu này trong chiến lược công ty Nghiên cứu các phân khúc thị trường phù hợp, doanhnghiệp có thể dễ dàng tiếp cận để làm tăng doanh số bán hàng đáng kể, cho phép doanhnghiệp đưa ra những mức giá tối ưu nhất để thu lại lợi nhuận và phát triển các nhóm sảnphẩm, dịch vụ phù hợp.
Ví dụ như hệ thống bán hàng trực tuyến Amazon quảng cáo sản phẩm cho kháchhàng dựa trên những mặt hàng mà khách hàng đã từng mua Hay khi công nghệ ngàycàng phát triển, những chiếc điện thoại thông minh ngày càng được ưu chuộng, nhiềukhách hàng sử dụng điện thoại không chỉ để nghe gọi mà còn chú trọng vào tính năng đadạng, kiểu dáng sang trọng nên Apple liên tục cho ra mắt các mẫu điện thoại Iphone đánhvào nhóm khách hàng chịu chi tiền để sở hữu những chiếc điện thoại đầu tiên ra mắt này
Như vậy nghiên cứu, tìm hiểu phân khúc thị trường đúng đắn cũng là một chiếnlược nâng cao khả năng cạnh tranh trong mỗi doanh nghiệp
e) Cạnh tranh dựa trên yếu tố tốc độ
Các doanh nghiệp lớn luôn có bộ máy cồng kênh, các quy trình và thủ tục phức tạpnên thường gặp nhiều khó khăn và chậm chạp trong quá trình chuyển đổi sản phẩm hoặcdịch vụ Trong thời đại toàn cầu hóa và số hóa hiện nay, phần thắng luôn thuộc về cáccông ty kịp thời thỏa mãn nhu cầu và yêu cầu của khách hàng Ai gần với khách hànghơn, nắm bắt nhanh hơn, phản ứng tốt với sự thay đổi này và làm khách hàng thỏa mãn sẽđược lựa chọn
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
a) Tổng sản lượng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Tổng sản lượng là hàng hóa hay dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một thời
kỳ nhất định Yếu tố này phụ thuộc vào năng suất sản xuất, nguồn lao động và nhu cầuthị trường Tổng sản lượng các doanh nghiệp cho thấy quy mô sản xuất cũng như vị trícủa doanh nghiệp trên thị trường
Doanh thu là một yếu tố quan trọng cần có trong kinh doanh Doanh thu là tổng sốtiền doanh nghiệp thu được từ: bán hàng, sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ,…
Trang 12Doanh thu là nguồn tài chính đáng kể của doanh nghiệp, là cơ số quan trọng xác định kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để xem xét xem việc kinh doanhcủa công ty có hiệu quả hay không thì phải xét chi phí sản xuất ra các sản phẩm, từ đótính được lợi nhuận mà doanh nghiệp có được Trong kinh tế học doanh thu được tínhbằng giá bán nhân sản lượng:
D= P * Q
Trong đó: D: doanh thu
P: Giá bán sản phẩm Q: sản lượng sản phẩm (bán ra/tiêu thụ)
Như vậy, doanh thu nhiều hơn và có tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí
sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp ra quyết định mở rộng đầu tư sản xuất sản phẩm đó Mộtcông ty có doanh thu và lợi nhuận tăng đồng nghĩa với việc công ty có lợi thế cạnh tranhcao và ngược lại Đây là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp trên thị trường
b) Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Với bất kỳ doanh nghiệp nào thì lợi nhuận là thứ đáng quan tâm nhất Lợi nhuận làyếu tố sống còn mỗi doanh nghiệp, không thu được lợi nhuận thì doanh nghiệp khó có thểtồn tại Lợi nhuận tác động đến mọi mặt của doanh nghiệp, nó tác động tới tình hình tàichính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó Nếu doanh nghiệp đạt được lợi nhuận
ổn định thì có thể dễ dàng giữ vững được vị trí trên thị trường Lợi nhuận là phần chênhlệch giữa tổng doanh thu của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trừ đi tổng chi phí cho sảnphẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ và thuế theo quy định của pháp luật
Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí kinh doanh
Để phản ánh một thời kỳ nhất định doanh nghiệp thu được bao nhiêu lợi nhuận thì
ta sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận Thông qua con số của tỷ suất lợi nhuận các doanhnghiệp có thể nắm bắt tương đối chính xác tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đó, từ
Trang 13đó có những điều chỉnh phương án kinh doanh sao cho phù hợp Tỷ suất lợi nhuận đượctính bằng lợi nhuận chia cho doanh thu tại một thời điểm
Tỷ suất lợi nhuận= Lợi nhuận
Tổng doanh thu x 100 %
Tỷ số này cao nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh rất thuận lợi nhưng ngược lại, tỷ
số này thấp chứng tỏ sự cạnh tranh trên thị trường ngày gay gắt, điều đó chứng tỏ lúc nàydoanh nghiệp phải tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh để đạt được lợi nhuận tối ưunhất
c) Thị phần của doanh nghiệp
Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đó đangchiếm giữ Thị phần có thể coi là một dấu hiệu của khả năng cạnh tranh tương đối các sảnphẩm hoặc dịch vụ của công ty Một công ty phát triển thì thị phần sẽ tăng doanh thunhanh hơn các đối thủ cạnh tranh Công ty nào chiếm được thị phần lớn chứng tỏ sảnphẩm của doanh nghiệp được khách hàng tin dùng và ưu chuộng sẽ giúp doanh nghiệp cólợi thế thống trị thị trường Thị phần tăng cho phép doanh nghiệp có quy mô hoạt độnglớn hơn và cải thiện khả năng sinh lời Để chiếm lĩnh được thị phần trước các đối thủ,mỗi doanh nghiệp cần có những chiến lược phù hợp Ngoài chiếm lĩnh thị trường thì cácdoanh nghiệp cũng cần phải bảo vệ thị phần của mình Khi xác định được thị phần, cácdoanh nghiệp có thể dễ dàng nhìn ra tốc độ phát triển của công ty trên từng phân khúc, từ
đó đưa ra những chiến lược kinh doanh đúng đắn Thị phần của doanh nghiệp được xácđịnh bằng công thức sau:
Thị phần của doanh nghiệp( A)= Doanhthu của doanh nghiệp
Tổng doanhthu tiêu thụtrênthị trường
Nếu A > 1: lợi thế cạnh tranh thuộc về doanh nghiệp
A < 1: lợi thế cạnh tranh thuộc về đối thủ
A = 1: lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp bằng lợi thế cạnh tranh của đối thủtrên thị trường
Trang 14Từ công thức trên thấy, thị phần càng lớn thì năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp càng cao tốc độ tăng doanh thu nhanh hơn so với các đối thủ và ngược lại thị phầncàng nhỏ thì doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh để mở rộng quy môhoạt động, gia tăng thị phần cho công ty.
d) Các tiêu chí khác
- Uy tín của doanh nghiệp: Uy tín là giá trị vô hình của doanh nghiệp, nó được thể
hiện qua: sản phẩm, các hành xử với khách hàng, hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước, …Tâm lý người tiêu dùng là luôn muốn xủ dụng những sản phẩm rõ nguồn gốc, chất lượngtốt vì vậy tạo ra được uy tín sẽ là một đòn đánh tâm lý hiệu quả vào khách hàng Uy tín làtiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh hàng đầu nó quyết định đến sự thành hay bại củadoanh nghiệp Việc gia tăng thị phần, mở rộng mạng lưới hoạt động, tăng lợi nhuận phụthuộc rất nhiều vào uy tín của mỗi doanh nghiệp Uy tín của doanh nghiệp càng lớn thìnăng lực cạnh tranh càng cao
- Chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm là điều mà người tiêu dùng quan
tâm hơn cả Xu thế toàn cầu hóa, mở ra cho thị trường thêm rộng làm tăng lượng cungtrên thị trường Như vậy người tiêu dùng có quyền lựa chọn các nhà sản xuất, cung ứngrộng rãi hơn vì thế yêu cầu về chất lượng sản phẩm ngày một khắt khe Chất lượng tạo rasức hấp dẫn với người tiêu dùng, tạo lợi thế cạnh tranh cho mỗi doanh nghiệp Chấtlượng làm tăng uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp, là cơ sở cho hoạt động trên thị trườngcủa doanh nghiệp bền vững và chiếm lĩnh thị phần dễ dàng hơn Nâng cao chất lượng sảnphẩm phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng quyết định đến khả năng cạnh tranh, khẳngđịnh vị thế của sản phẩm trên thị trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay
1.3.3 Một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
a) Nhóm giải pháp 1: Giải pháp cho sản phẩm – dịch vụ của doanh nghiệp
- Chất lượng sản phẩm – dịch vụ: Là yếu tố hàng đầu của một sản phẩm – dịch vụ,
là công cụ cạnh tranh hiệu quả, đem lại lợi thế cho doanh nghiệp Chất lượng sản phẩm làtổng hợp từng đặc tính của sản phẩm Khi chất lượng được đảm bảo, năng suất tăng, sảnphẩm tiêu thụ nhiều hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường, tăngdoanh thu và lợi nhuận Trong thời điểm hội nhập toàn cầu và cạnh tranh gay gắt giữa các
Trang 15doanh nghiệp thì việc áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất, chấtlượng là những giải pháp giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩmnhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nâng cao vị thế và uy tín, hình ảnh của doanhnghiệp trên thị trường.
- Giá: Mục tiêu của việc xác định mức giá là đưa ra một giá cả tốt nhất, hợp lý
nhất trong mắt người tiêu dùng Khi các sản phẩm có tiêu chuẩn cùng chất lượng, đồngnhất hoặc khá rõ ràng thì một mức giá luôn thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh sẽ luônđược người tiêu dùng lựa chọn Để áp dụng được biện pháp này thì doanh nghiệp phảisản xuất sản phẩm với giá thành thấp, giảm được các chi phí tổn thất thương mại, tốithiểu hóa chi phí bảo quản nguyên vật liệu,… Các chính sách về giá đúng cho phépdoanh nghiệp có thể định giá và quản lý hiệu quả trong kinh doanh
- Thị trường: Thị trường là vô cùng phong phú và đa dạng, mặt khác nhu cầu
mong muốn của khách hàng là vô cùng vô tận Để doanh nghiệp có thể dễ dàng đáp ứngnhững yêu cầu từ người tiêu dùng thì các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu rõ thị trường
để phân khúc thị trường, phân biệt từng đối tượng khách hàng có những đòi hỏi riêngbiệt Từ đó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phục vụ, cung cấp các sản phẩm đến tay ngườitiêu dùng một cách khiến họ hài lòng nhất Ngoài ra, các doanh nghiệp có thể khảo sát về
xu hướng thị trường, đối thủ cạnh tranh,…để có những chính sách về giá và phân phốimột cách hợp lý nhất Điều này cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc quảng bá các sảnphẩm của doanh nghiệp
b) Nhóm giải pháp 2: Phát triển nguồn nhân lực doanh nghiệp
Một trong những nhận thức rõ ràng nhất cùng như thực tế cho thấy rằng nguồnnhân lực là tài sản quý báu nhất, quan trọng nhất trong quá trình phát triển của mỗi doanhnghiệp Nguồn nhân lực doanh nghiệp cần được đáp ứng tốt về nhu cầu chuyên môn,nghiệp vụ cũng như vị trí từng việc làm Nguồn nhân lực kém trong doanh nghiệp là mộttrong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của doanh nghiệp Nguồn lực trong doanhnghiệp được chia làm hai cấp:
- Đội ngũ quản lý: Cán bộ quản lý là những người luôn đi đầu trong mọi hoạt
động, các phong trào và hiểu rõ từng công việc cụ thể Các bộ phận phòng ban phải được
Trang 16phân chia rõ ràng, không chồng chéo lên nhau và phải sợ gắn kết chặt chẽ với nhau đó làmột trong những hoạt động của cán bộ quản lý Ngoài ra, họ còn phải biết cách nhìn nhậnvấn đề, những lợi ích, hạn chế hay năng lực tiềm ẩn của nhân viên để sử dụng nguồnnhân lực phù hợp nhất.
- Đội ngũ nhân viên: Đội ngũ này chi phối trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp thông qua các yếu tố: năng lực, ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật, sáng tạo,
… Các yếu tố kết hợp với nhau góp phần quyết định vào năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp
Để phát triển nguồn nhân lực, các doanh nghiệp cần tạo điều kiện thuận lợi chongười lao động được học tập như hỗ trợ kinh phí, thời gian, bố trí người làm thay để nhânviên của mình toàn tâm, toàn ý cho quá trình học tập Doanh nghiệp cũng nên thúc đẩyviệc nhân viên tự tìm tòi, học hỏi và tự nâng cao trình độ bản thân thông qua các khóađào tạo trực tuyến, internet và tạo môi trường học tập ngay tại doanh nghiệp Phát hiện,bồi dưỡng và sử dụng nhân tài đúng nơi đúng chỗ trong doanh nghiệp sẽ tạo kết quả cao
về hiệu suất làm việc, là nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Và điềuquan trọng trong quá trình tuyển dụng thì doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch tuyểndụng nhân sự hợp lý và có chiến lược Thay vì tuyển dụng một cách đại trà, hãy sàng lọc
kỹ các ứng viên để tìm ra những nhân sự có năng lực và phù hợp với văn hóa doanhnghiệp Phát triển được nguồn nhân lực sẽ nâng cao được tối đa năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp
c) Giải pháp 3: Nâng cao chất lượng dịch vụ, chăm sóc khách hàng
Chất lượng dịch vụ, chăm sóc khách hàng đóng một vai trò quyết định để tạo đượckhách hàng trung thành, nó tạo ra sự khác biệt, nâng cao lợi thế cạnh tranh, cải thiện hoạtđộng kinh doanh Nhiều khi hoạt động dịch vụ, chăm sóc khách hàng còn quan trọng hơnsản phẩm trong quá trình thu hút khách hàng Một công ty cạnh tranh mạnh và phát triển
là luôn có mối quan hệ tốt với khách hàng Chăm sóc khách hàng không chỉ là nhiệm vụcủa một người mà là của cả một tập thể Các doanh nghiệp hiện nay phải tạo ra được trảinghiệm khách hàng xuyên suốt, làm họ hài lòng từ khi họ nhìn thấy sản phẩm, phát sinhnhu cầu, có ý định mua, cho đến khi hoàn tất thanh toán và thậm chí trong suốt quá trình
sử dụng sau này Muốn tạo được một dịch vụ, chăm sóc khách hàng tốt thì những người
Trang 17quản lý doanh nghiệp cần phải nắm bắt tốt tâm lý của khách hàng, xem họ cần gì, muốngì? Đặc biệt nhất là đặt mình vào người mua để cảm nhận một cách khách quan nhất vềsản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp mình.
d) Giải pháp 4: Xây dựng văn hóa doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp là tập hợp những người khác nhau về trình độ chuyên môn,trình độ văn hóa, quan hệ xã hội,… chính sự khác nhau này tạo nên một môi trường làmviệc đa dạng, phức tạp Văn hóa doanh nghiệp giúp nhân viên thấy rõ được mục tiêu,định hướng công việc mình phải làm Ngoài ra còn tạo mối quan hệ tốt đẹp cho nhân viêntrong công ty Xây dựng một văn hóa doanh nghiệp phù với đặc điểm công ty thì nó cũng
là một cơ chế trong việc quản lý con người Tổng hợp các yếu tố gắn kết, điều phối, kiểmsoát, tạo động lực,… sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động và tạo sự khác biệt trên thị trường
Để xây dựng văn hóa doanh nghiệp cần xác lập các tiêu chí để xây dựng khung kiến thức
cơ bản cho mọi người, theo đó thường xuyên xem xét lại những điểm mạnh, điểm yếu khiđánh giá về văn hoá doanh nghiệp để tuyên truyền, nhắc nhở mọi người về trách nhiệm
và nghĩa vụ của mỗi cá nhân trong cộng đồng và trong mỗi doanh nghiệp Hiệu quả và sựkhác biệt sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt trên thị trường
và thức ăn chăn nuôi dành cho gà bản địa Từ khi thành lập với vốn điều lệ là 20 tỷ đồngvới hoạt động kinh doanh chủ yếu là sản xuất và phân phối giống gà lai tạo, thiết lập một
hệ thống nhiều khu vực để tiêu thụ sản phẩm Trong những năm qua, doanh nghiệp
Trang 18không ngừng phấn đấu vươn lên, mở rộng thị trường, phát triển nhiều đối tượng kháchhàng Sản phẩm của công ty đưa đến đã được người tiêu dùng biết đến và công ty đangdần trở thành một lựa chọn đáng tin cậy cho khách hàng Tập khách hàng mà công tyhướng tới là các trang trại, đại lý, doanh nghiệp, hệ thống siêu thị, bếp ăn công ty Ngoài
hệ thống các trang trại, đại lý gà giống, công ty cũng có hơn 100 đối tác lớn nhỏ ở nhiềutỉnh trong việc cung cấp mặt hàng gà sạch, gà chế biến như: hệ thống siêu thị Aeon Mall,Mega Market, Lotte, Vinmart, BigC, Coopmart… một số bếp ăn khu công nghiệpSamsung Welstory, LG Display, Nomura, Visip, Doosan Hàn Quốc, Damen sông Cấm;
hệ thống trường học Đoàn Thị Điểm Ecopark, Đinh Tiên Hoàng, Olympia, Marie Curie;
hệ thống đồ ăn nhanh Lotteria; hệ thống nhà hàng khách sạn Redsun, Goldgate CổngVàng, Hải Đăng Plaza… Quy mô thị trường ngày càng mở rộng, ban đầu việc cung cấpcác sản phẩm chỉ tập trung tại Hải Phòng, sau đó công ty đã dần vươn ra các tỉnh lân cận:Hải Dương, Hà Nội, Thái Bình,…
Năm 2014, đánh dấu một bước ngoặt lớn khi công ty mở thêm một chi nhánh ởHải Dương, chính thức đi sâu vào thị trường Hải Dương Tháng 10/2017, công ty mởthêm một chi nhánh và một nhà máy chế biến gia cầm ở Hải Phòng để có thể khai thácmột cách tối ưu nhất thị trường tiềm năng Hải Phòng Tuy là công ty đa dạng hóa các sảnphẩm về gà giống nhưng công ty cũng gặp phải nhiều đối thủ cạnh tranh đặc biệt lànhững đối thủ cạnh tranh sản xuất gà ta và cung cấp tập trung chủ yếu vào một mặt hàngnhất định Hay như chỉ riêng con giống nội địa cũng vấp phải nhiều đối thủ như: Công
ty TNHH giống gia cầm Phùng Dầu Sơn, Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco, Công
ty cổ phần giống gia cầm Việt Cường,… Với những cán bộ và nhân viên được đào tạobài bản, tổ chức khoa học và có nhiều năm trong ngành, đặc biệt sự quan tâm ủng hộ củađông đảo Quý khách hàng là các cá nhân, doanh nghiệp trong nước Do đó Công tyLượng Huệ cam kết cung cấp hàng hóa và dịch vụ tốt nhất đến tay người tiêu dùng, vớiphương châm công ty là “Đơn vị cung cấp con giống dài lâu”
Với lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp là các loại gà giống lai tạo, gặpphải nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường, song Công ty Cổ phần giống gia cầmLượng Huệ luôn không ngừng thay đổi để đưa công ty ngày càng phát triển, giữ vững vịtrí trên thị trường
VIẾT LẠI: FONT CHỮ, VIẾT RÕ VỀ TÌNH HÌNH KINH DOANH – THƯƠNGMẠI CHUNG CỦA CTY LƯỢNG HUỆ
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần giống gia cầm Lượng Huệ trên thị trường miền Bắc.
a) Nhân tố khách quan
Trang 19+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Trong bối cảnh hiện nay, miền Bắc vừa thực
hiện nhiệm phòng chống dịch bệnh, vừa tạo động lực phát triển kinh tế, vì vậy tốc độtăng trưởng của kinh tế tác động rõ rệt đối với doanh nghiệp, trong đó có các doanhnghiệp kinh doanh chăn nuôi gia cầm Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ làm thu nhậpdân cư tăng lên Thu nhập dân cư lại có ảnh hưởng đến quyết định thanh toán của họ.Nếu thu nhập tăng thì nhu cầu sử dụng hàng hóa về con giống tăng lên, khả năng chi trảcũng tăng, nên đây là cơ hội tốt cho các nhà doanh nghiệp như Lượng Huệ tạo động lựcphát triển cạnh tranh hơn nữa trong thị trường này Với vị trí trụ sở đặt tại Hải Phòng -một trong 3 vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc với các cụm khu công nghiệp, mức sốngcao, thu nhập ổn định cùng với tốc độ tăng trưởng cao của kinh tế làm cho các doanhnghiệp tìm ra giải pháp tối ưu góp phần nâng cao năng lực, đứng vững trong ngành
+ Lãi suất cho vay của ngân hàng: cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp, đây là ngành được Nhà nước ưu tiêncủng cố phát triển, nhất là các doanh nghiệp hạn chế về vốn phải vay ngân hàng Nếu tỉ lệlãi suất cao, chi phí của doanh nghiệp tăng dẫn đến khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp giảm, nhất là so với các đối thủ có tiềm lực về vốn Các doanh nghiệp kinh doanhchăn nuôi con giống phải qua nhiều khâu tuyển chọn con giống bố mẹ đảm bảo chấtlượng lai tạo, chi phí phối giống, chi phí công nghệ ảnh hưởng lớn đến khả năng chi trảcủa doanh nghiệp, thêm vào là lãi suất cho vay quá lớn sẽ tăng chi phí đầu vào của doanhnghiệp, từ đó mất đi khả năng cạnh tranh với các công ty khác trên cùng thị trường
Trang 20gian và chủ động trở thành lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Việc độc lập trongnguồn vốn sẽ khiến doanh nghiệp rút ngắn thời gian và thực hiện các quyết định quản trị
+ Nguồn nhân lực:
Với đội ngũ nhân viên đông đảo, có trình độ chuyên môn lâu năm trong ngành,được đào tạo bài bản, khả năng làm việc cao giúp công ty đạt được hiệu quả trong kinhdoanh Bộ máy quản lý công ty luôn được hoàn thiện không ngừng Đến nay, công ty đãtrở thành công ty với cơ cấu khá hoàn chỉnh, đội ngũ nhân viên đồng bộ trong đó:
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động của Công ty Cổ phần giống gia cầm Lượng Huệ
Trình độ học vấn Tỷ trọng (%)
Trên đại học và đại học 30%
Cao đẳng và trung cấp 14%
Lao động phổ thông 56%
Nguồn: Hồ sơ quản lý nhân sự của Công ty CP giống gia cầm Lượng Huệ
Công ty Lượng Huệ sử dụng nguồn nhân lực đúng người, đúng việc, đúng với khảnăng của nhân viên vào đúng thời điểm để đạt mục đích phát triển Đây là nguồn lựcquan trọng đóng vai trò chủ chốt trong việc thúc đẩy đồng thời luôn chiếm vị trí trọngtâm trong các kế hoạch điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của công ty
- Đối thủ cạnh tranh của công ty
Nền kinh tế phát triển càng sôi động thì bất kỳ công ty nào hay bất kỳ ngành nghềnào đều có đối thủ cạnh tranh Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp gồm có đối thủcạnh tranh trực tiếp, đối thủ cạnh tranh gián tiếp và đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Tính đếndòng sản phẩm con giống của Lượng Huệ là gà lai tạo thì đối thủ cạnh tranh trực tiếp củacông ty là Công ty TNHH MTV Gà giống DABACO và Công ty Cổ phần giống gia cầmViệt Cường Điểm mạnh của hai đối thủ là đều thành lập sớm hơn Lượng Huệ nên xâydựng được uy tín và quy mô rộng hơn Đặc biệt là Công ty TNHH MTV Gà giốngDABACO đi theo lĩnh vực kinh doanh giống gà lai tạo được nhập khẩu gà bố mẹ chấtlượng cao từ thị trường nước ngoài – đây là một đối thủ lớn của công ty So với các đốithủ cạnh tranh dù bước chân vào thị trường muộn hơn so với đối thủ song Lượng Huệvẫn xây dựng được hình ảnh và vị trí với người tiêu dùng khi hàng hóa cung cấp ra đượcbảo đảm theo tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng theo nhu cầu khách hàng Ngoài cung cấpsản phẩm con giống, Lượng Huệ cũng chú trọng vào nghiên cứu thức ăn chăn nuôi, dịch