Lý do chọn đề tài: Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam được thành lập theo quyết định số 191/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, được coi là một bước cụ thể hóa chính sách công í
Trang 1HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐẶNG THỊ VIỆT ĐỨC
Tóm tắt luận văn thạc sĩ
HÀ NỘI – NĂM 2011
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam được thành lập theo quyết định số 191/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, được coi là một bước cụ thể hóa chính sách công ích được nêu trong Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông;
Nhiệm vụ trọng tâm của Quỹ trong thời gian qua là thực hiện Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2010 đã được phê duyệt theo quyết định số 74/2006/QĐ-TTg ngày 7/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ với tổng kinh phí thực hiện khoảng 5.200
tỷ đồng Như vậy, mỗi năm Quỹ tiếp nhận hàng nghìn tỷ đồng để thực hiện Chương trình với nhiệm vụ xoá khoảng trắng về số cho các vùng, miền còn lạc hậu Với nguồn vốn lớn, phạm vi rộng và chức năng, nhiệm vụ của Quỹ ngày một mở rộng nhằm đáp ứng các yêu cầu trong thời kỳ mới, để thực hiện thành công Chương trình 2011-
2015, việc tăng cường hệ thống thông tin tài chính là rất cần thiết nhằm trước hết cung cấp cho các cơ quan quản lý, cho xã hội những thông tin minh bạch về hoạt động và việc thực hiện các nhiệm vụ công của Quỹ, sau đó, quan trọng hơn, cung cấp kịp thời cho nhà quản lý Quỹ thông tin hữu ích trong việc quản lý và điều hành Quỹ Xuất phát từ thực tế hoạt động của Quỹ, với chức năng, vai trò
và ý nghĩa của công tác kế toán trong việc cung cấp các thông tin tài chính minh bạch, chính xác và kịp thời cho hoạt động giám sát từ bên ngoài cũng như chức năng quản trị nội bộ của Quỹ, đề tài “Tăng cường quản lý hoạt động kế toán tại Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích Việt Nam” được lựa chọn
Qua khảo sát sơ bộ, cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu nào về công tác kế toán tại Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích Việt
Trang 3Nam Vì vậy, đây sẽ là đề tài đầu tiên nghiên cứu và cung cấp thông tin tư vấn cho Quỹ về việc tổ chức hệ thống công tác kế toán nhằm trợ giúp hoạt động hiệu quả của Quỹ, hỗ trợ Quỹ thực hiện các chính sách thành công
2 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu hướng tới hai mục tiêu Thứ nhất, đề tài đề xuất các giải pháp tăng cường công tác kế toán phục vụ hữu ích cho hoạt động hiệu quả tại Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam Thứ hai, thông qua nghiên cứu của mình, đề tài hi vọng sẽ là một gợi
ý tốt về phương pháp cho các tổ chức đặc thù như Quỹ trong việc tổ chức và thực hiện hệ thống kế toán
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu về kế toán, chức năng, vai trò, và các nội dung
cơ bản của kế toán, có đi vào nội dung cụ thể của hai bộ phận kế toán chủ yếu là kế toán tài chính và kế toán quản trị Đề tài cũng xem xét các quy định của Nhà nước cũng như yêu cầu của các nhà quản lý trong tổ chức hệ thống kế toán trong một tổ chức, đặc biệt trong các
tổ chức dịch vụ tài chính mà Quỹ là một bộ phận
- Đánh giá hoạt động kế toán tại Quỹ, phân tích những điểm tồn tại và hạn chế trong tổ chức kế toán tại Quỹ, cũng như nghiên cứu hệ thống kế toán phù hợp với Quỹ từ đó đề xuất giải pháp tăng cường công tác kế toán tại Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích Việt Nam Đề tài sử dụng các số liệu của Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam để phục vụ cho việc nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, các phương pháp phân tích thực chứng Các phương pháp cụ thể bao gồm: phương pháp mô tả và khái quát hoá đối tượng nghiên cứu khi nghiên cứu các vấn đề chung về kế toán và thực trạng tại Quỹ; phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp đối chiếu để so sánh, đánh giá giữa lý luận và thực tiễn để đưa ra những nhận định,
đề xuất trong luận văn Các phương pháp này được kết hợp chặt chẽ,
bổ trợ với nhau để rút ra những kết luận phục vụ cho đề tài
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và các Phụ lục, luận văn gồm 3
Trang 4chương với kết cấu như sau:
Chương 1 Những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động kế toán Chương 2 Thực trạng công tác kế toán của Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam
Chương 3 Một số đề xuất tăng cường quản lý hoạt động kế toán tại Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam
Trang 5CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KẾ TOÁN
1.1 Khái quát về kế toán
1.1.1 Khái ni ệm về kế toán
Kế toán là công cụ phục vụ quản lý kinh tế, gắn liền với hoạt động quản lý xuất hiện cùng với sự hình thành đời sống kinh tế xã hội loài người
Trong các tài liệu, sách kinh tế có thể gặp những định nghĩa, nhận thức về kế toán trong những phạm vi và góc độ khác nhau Trong Luật kế toán có nêu: “kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”
Các khái niệm về kế toán đều cho ta thấy được những nhận thức, quan điểm về kế toán ở những phạm vi, góc độ khác nhau nhưng đều gắn kế toán với việc phục vụ cho công tác quản lý Kế toán là công cụ không thể thiếu được trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế, kế toán là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản, sự vận động của tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính; kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của tổ chức, đơn vị
1.1.2 Vai trò k ế toán với chức năng quản lý
Kế toán có thể được coi là một hệ thống thông tin Quan điểm này được trình bày trên Hình 1.1, theo đó kế toán là một hoạt động
có tính chất dịch vụ Nó là gạch nối giữa các hoạt động của tổ chức
và những người ra quyết định
Trang 6Hình 1.1: Kế toán - một hệ thống thông tin
Theo Neddles & cs (2003) - Viện kế toán công chứng Hoa Kỳ, thông thường các bước trong tiến trình ra quyết định bao gồm 5 bước: (1) đặt mục tiêu, (2) xem xét các phương án phối hợp nguồn lực sẵn có, (3) ra quyết định, (4) thực hiện các quyết định và (5) cuối cùng là báo cáo phản hồi
Hình 1.2 Quá trình ra quyết định và thông tin kế toán
Trong xã hội có nhiều đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin
do kế toán cung cấp, như những nhà quản lý, những người bên ngoài
có quyền lợi tài chính trực tiếp, những người bên ngoài có quyền lợi tài chính gián tiếp Chúng ta có thể mô hình hoá các đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong hình 1.3 dưới đây
Trang 7Hình 1.3 Đối tượng sử dụng dụng thông tin kế toán
1.2 Kế toán tài chính và kế toán quản trị
Theo quy định tại khoản 1 điều 10 Luật kế toán thì “Kế toán ở đơn vị kế toán gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị”
1.2.1 K ế toán t ài chính
1.2.1.1 Vai trò, nhiệm vụ và các đối tượng của kế toán tài chính Theo quy định tại Luật Kế toán: “Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán.”
- Các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin gồm những đối tượng bên trong và bên ngoài đơn vị Đối tượng bên ngoài cần thông tin, thường bao gồm các cổ đông, cơ quan chức năng như thuế, thanh tra , các chủ nợ, tổ chức tín dụng, ngân hàng và chủ yếu phục vụ cho các nhu cầu quản lý vĩ mô
1.2.1.2 Nguyên tắc kế toán tài chính
Các nguyên tắc kế toán gồm: (1) cở sở dồn tích, (2) hoạt động liên tục, (3) giá gốc – giá vốn, (4) nguyên tắc trọng yếu, (5) nguyên tắc phù hợp, (6) nguyên tắc thận trọng và (7) nguyên tắc nhất quán
Trang 81.2.1.3 Các phần hành kế toán tài chính cơ bản
Kế toán vốn bằng tiền; Kế toán vật tư, hàng tồn kho; Kế toán Các khoản phải thu, phải trả; Kế toán công nợ phải thu; - Kế toán công nợ phải trả; Kế toán Thuế; Kế toán Tài sản cố định; Kế toán Tiền lương và các khoản trích theo lương; Kế toán Vốn chủ sở hữu;
Kế toán Tập hợp chi phí và tính giá thành; Kế toán Bán hàng (doanh
thu) và xác định kết quả; Báo cáo Tài chính
1.2.2.2 Nguyên tắc kế toán quản trị
Kế toán quản trị không mang tính pháp lệnh, thông tin của kế toán quản trị mang tính linh hoạt và phụ thuộc vào yêu cầu quản lý bên trong tổ chức
1.2.2.3 Các phần hành kế toán quản trị cơ bản
Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm; Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc
ra quyết định; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh và kế toán quản trị một số khoản mục khác
Theo quy định tại điểm 2 Chương I thông tư BTC ngày 12/6/2006 hướng dẫn áp dụng chế độ kế toán quản trị trong doanh nghiệp thì đối tượng áp dụng thông tư gồm: “doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại, dịch vụ” Riêng các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, Tổ chức tín dụng, ngân hàng, như Công ty bảo hiểm, Công ty chứng khoán,
Trang 953/2006/TT-Công ty quản lý Quỹ Đầu tư chứng khoán, Tổ chức tín dụng, ngân hàng, Tổ chức tài chính, vận dụng các nội dung phù hợp hướng dẫn tại Thông tư 53/2006/TT-BTC”
1.2.3 Quan h ệ giữa kế toán t ài chính và k ế toán quản trị
Kế toán tài chính và kế toán quản trị là hai bộ phận cấu thành của kế toán nói chung Mối quan hệ thống nhất giữa hệ thống kế toán quản trị và hệ thống kế toán tài chính được thể hiện trong hình 1.4 dưới đây
Hình 1.4 Mối quan hệ giữa các hệ thống kế toán trong một tổ chức 1.3 Tổ chức công tác kế toán
Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ chức công tác quản lý đối với mỗi một tổ chức, đơn vị
Để tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý thì việc tổ chức công tác
kế toán phải thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản theo quy định
Trang 101.3.1.5 Tin học hóa công tác kế toán
1.4 Công tác kế toán trong các tổ chức dịch vụ tài chính
Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính như quỹ đầu
tư, công ty bảo hiểm, công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán… là những loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực tài chính Về cơ bản, kế toán tại các đơn vị cũng thực hiện các chức năng kế toán tài chính, kế toán thuế và kế toán quản trị với những đặc điểm sau:
+ Các giao dịch phức tạp hơn, thí dụ các giao dịch mua bán ngoại tệ, chứng khoán…
+ Hệ thống thông tin hiện đại, thí dụ phần lớn các ngân hàng đều trang bị hệ thống mạng trực tuyến nối kết tất cả các chi nhánh… Đối với các tổ chức dịch vụ tài chính, việc xây dựng và tổ chức công tác kế toán dựa trên cơ sở các chế độ kế toán được ban hành cho các loại hình tổ chức đặc thù như đã nêu trong phần 1.3.1 của luận văn Đối với mỗi một loại hình tổ chức khác nhau, chế độ kế toán có
sự khác nhau cơ bản bởi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tuy nhiên giữa chế độ kế toán đều có sự đồng nhất về (1) nguyên tắc hạch toán
kế toán cơ bản; (2) phương pháp luân chuyển chứng từ tuân thủ theo hai loại chứng từ bắt buộc và hướng dẫn; (3) tổ chức bộ máy kế toán cũng theo ba hình thức: phân tán, tập trung, vừa tập trung vừa phân tán; (4) hình thức kế toán áp dụng và (5) hệ thống báo cáo
Trang 11CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUỸ DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu về Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Đảm bảo công bằng trong cạnh tranh khi mở cửa thị trường viễn thông, tách bạch giữa hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích, nâng cao năng lực các doanh nghiệp viễn thông trong thời kỳ mới, đảm bảo phù hợp khi gia nhập WTO và giảm khoảng cách số giữa các vùng, miền trong cả nước, ngày 08/11/2004, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 191/2004/QĐ-TTg quyết định thành lập
“Quỹ Dịch vụ Viễn thông Công ích Việt Nam” nhằm hỗ trợ thực hiện chủ trương chính sách của Nhà nước về cung cấp dịch vụ viễn thông công ích trên phạm vi cả nước
2.1.2 Ch ức năng, nhiệm vụ của Quỹ
Địa vị pháp lý và nguyên tắc hoạt động của Quỹ
Theo quy định, Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam (sau đây viết tắt là Quỹ) là tổ chức tài chính nhà nước, trực thuộc Bộ Bưu chính, Viễn thông, Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận
Nhiệm vụ và quyền hạn của Quỹ
Quỹ được tiếp nhận, huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính theo quy định để thực hiện hai nhiệm vụ chính:
+ Hỗ trợ chi phí phát triển và duy trì cung ứng dịch vụ viễn thông công ích trong từng giai đoạn
+ Cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp viễn thông và Internet thực hiện đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, mở rộng hạ tầng viễn thông, Internet và các cơ sở vật chất khác phục vụ cung cấp dịch
vụ viễn thông công ích
2.1.3 Cơ cấu tổ chức
Bộ máy quản lý và điều hành Quỹ gồm: Hội đồng quản lý, Ban kiểm soát và Cơ quan điều hành Hội đồng quản lý Quỹ (sau đây
Trang 12gọi tắt là Hội đồng quản lý) gồm có 05 (năm) thành viên, do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Quỹ 2.2 Đặc điểm của Quỹ ảnh hưởng tới công tác kế toán
- Hoạt động của Quỹ
Hoạt động của Quỹ gồm hai nhiệm vụ chính:
+ Hỗ trợ chi phí phát triển và duy trì cung ứng dịch vụ viễn thông công ích trong từng giai đoạn
+ Cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp viễn thông và Internet thực hiện đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, mở rộng hạ tầng viễn thông, Internet và các cơ sở vật chất khác phục vụ cung cấp dịch
vụ viễn thông công ích
Bên cạnh đó Quỹ được thực hiện một số hoạt động sau: Quỹ được sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi không có nguồn gốc ngân sách để mua trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật
và theo quy định của Điều lệ Quỹ
Trang 13Quỹ có thể ủy thác việc thực hiện một số tác nghiệp về cấp phát, giải ngân vốn vay qua Kho bạc Nhà nước, qua Tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính theo quy định của pháp luật
- Về cơ chế tài chính
Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích Việt Nam theo quy định là một tổ chức tài chính Nhà nước, hỗ trợ thực hiện chính sách của Nhà nước về cung cấp dịch vụ viễn thông công ích trên phạm vi cả nước, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận Quỹ là tổ chức tự chủ về tài chính, chủ động quản lý vốn để tạo nguồn thu nhập, hình thành các nguồn thu nhập để phục vụ các khoản phải chi cần thiết cho hoạt động của Quỹ, thu nhập đảm bảo bù đắp các chi phát phát sinh
Quỹ được miễn thuế thu nhập doạnh nghiệp đối với các hoạt động liên quan đến hỗ trợ thực hiện chính sách của Nhà nước, nhưng đối với những hoạt động khác Quỹ vẫn phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế Giá trị gia tăng (nếu có) – như thu nhập từ tiền gửi Tổ chức tín dụng, ngân hàng, trái phiếu chính phủ, thanh lý TSCĐ Quỹ khác với doanh nghiệp là lợi nhuận hình thành trên cơ
sở thu trừ chi được phân bổ vào Vốn điều lệ và Quỹ đầu tư phát triển
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Quỹ và lĩnh vực hoạt động, xem xét trên góc độ tài chính, Quỹ tồn tại các dòng tài chính sau: Dòng hỗ trợ (dòng hoạt động); Dòng tiền đầu tư tài chính; Dòng tiền cho vay; Dòng tiền lưu động; Dòng chi quản lý; Dòng tiền vốn chủ sở hữu
Với đặc điểm hoạt động của Quỹ, các dòng tiền, công tác Kế toán tài chính có thể chia thành các phần hành kế toán sau: Kế toán vốn bằng tiền; Kế toán nợ phải thu; Kế toán nợ phải trả; Kế toán Nợ phải thu, phải trả khác; Kế toán đầu tư tài chính; Kế toán cho vay;
Kế toán công cụ dụng cụ; Kế toán Tài sản Cố định; Kế toán lương
và các khoản theo lương; Kế toán Vốn sở hữu; Kế toán tổng hợp Đối với quản trị tài chính và công tác kế toán quản trị tại Quỹ,