Lý luận hình thái kinh tế xã hội đã làm cho chủ nghĩa duy vật về lịch sử không còn là một giả thuyết, mà là một nguyên lý đã được chứng minh một cách khoa học. Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội, Đảng ta đã xác định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả lĩnh vực là một sự nghiệp rất khó khăn phức tạp cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ”. Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ ra nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường phát triển đã góp phần khẳng định: Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Thành tựu và những kinh nghiệm, bài học đúc kết từ thực tiễn tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA/ VIỆN
_ _
BÀI TẬP LỚN Môn: Triết học Mác – Lênin
Đề: Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào thực tiễn đổi mới kinh tế ở Việt Nam.
Họ và tên:
Lớp:
Mã SV:
GVHD:
Hà Nội – 2021
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ……… ……….………1 NỘI DUNG…… ……….……… 2
I NỘI DUNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI………
……… 2
1 Khái niệm, kết cấu hình thái kinh - tế xã hội……….…….… 2
2 Quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội……… 2
3 Giá trị khoa học bền vững và ý nghĩa cách mạng……….………… …
… 4
II VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM…….……….……….5
1 Các thành phần kinh tế tồn tại ở Việt Nam…
……… 5
2 Thực tiễn nền kinh tế Việt Nam hiện nay……….6
3 Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào thực tiễn đổi mới kinh tế ở Việt Nam………7 KẾT LUẬN….……….12
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… ……….………….13
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã làm cho chủ nghĩa duy vật về lịch sử không còn là một giả thuyết, mà là một nguyên lý đã được chứng minh một cách khoa học Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, Đảng ta đã xác định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tạo ra sự biến đổi về chất của
xã hội trên tất cả lĩnh vực là một sự nghiệp rất khó khăn phức tạp cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh
tế - xã hội có tính chất quá độ” Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ ra nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường phát triển đã góp phần khẳng định: Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử Thành tựu và những kinh nghiệm, bài học đúc kết từ thực tiễn tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới
Trang 5NỘI DUNG
I NỘI DUNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
1 Khái niệm, kết cấu hình thái kinh - tế xã hội:
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, dùng
để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy
Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội chỉ ra kết cấu xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định bao gồm ba yếu tố cơ bản, phổ biến: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất (cơ
sở hạ tầng); kiến trúc thượng tầng Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất của xã hội, tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau, yếu tố xét đến cùng quyết định sự vận động, phát triển của hình thái kinh tế - xã hội Quan hệ sản xuất là quan hệ khách quan, cơ bản, chi phối và quyết định mọi quan hệ xã hội, đồng thời là tiêu chuẩn quan trọng nhất để phân biệt bản chất các chế độ xã hội khác nhau Kiến trúc thượng tầng là sự thể hiện các mối quan hệ giữa người với người trong lĩnh vực tinh thần, tiêu biểu cho bộ mặt tinh thần của đời sống xã hội
Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội không chỉ mang tính trừu tượng mà còn mang tính cụ thể, cho phép xem xét xã hội ở từng quốc gia, dân tộc, trong từng giai đoạn lịch
sử cụ thể với các tiêu chí có thể xác định được với một quan hệ sản xuất đặc trưng, một trình độ phát triển lực lượng sản xuất nhất định và một kiểu kiến trúc thượng tầng tiêu biểu cho bộ mặt tinh thần của xã hội đó Và như vậy đem lại nhận thức sâu sắc cho con người, đem lại tính cụ thể trong tư duy về lịch sử xã hội
2 Quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội:
Khi phân tích sự phát triển của lịch sử nhân loại theo lý luận cấu trúc hình thái kinh tế - xã hội, Mác cho rằng: “Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một
Trang 6quá trình lịch sử - tự nhiên” Tính chất lịch sử - tự nhiên của quá trình phát triển các hình thái kinh tế - xã hội được phân tích ở các nội dung chủ yếu sau đây:
- Sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo ý chí chủ quan của con người mà tuân theo các quy luật khách quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tế - xã hội, là hệ thống các quy luật xã hội thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,… mà trước hết và cơ bản nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng
- Nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại, của mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, suy cho đến cùng đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội
- Quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, tức là quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử nhân loại, và do đó là sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, có thể do sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan nhưng nhân tố giữ vai trò quyết định chính là: sự tác động của các quy luật khách quan Dưới sự tác động của quy luật khách quan mà lịch sử nhân loại, xét trong tính chất toàn bộ của nó là quá trình thay thế tuần tự các hình thái kinh tế - xã hội: nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và tương lai nhất định thuộc về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
Ngoài ra, không thể bỏ qua vai trò của các nhân tố khác đối với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử mỗi cộng đồng người cụ thể nói riêng,
đó là sự tác động của các nhân tố thuộc về điều kiện địa lý, tương quan lực lượng chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hóa của mỗi cộng đồng người, điều kiện tác động của tình hình quốc tế đối với tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người trong lịch sử,… Nhờ sự tác động này mà tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người có thể diễn ra với những con đường, hình thức và bước đi khác
Trang 7nhau, tạo nên tính phong phú, đa dạng trong sự phát triển của lịch sử nhân loại Tính chất phong phú đa dạng của tiến trình phát triển các hình thái kinh tế - xã hội có thể bao hàm những bước phát triển “bỏ qua” một hay vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định Tuy nhiên, những sự “bỏ qua” như vậy đều phải có những điều kiện khách quan
và chủ quan nhất định
Như vậy, lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói riêng vừa tuân theo tính tất yếu quy luật xã hội vừa chịu sự tác động đa dạng của các nhân tố khác nhau, trong đó có cả nhân tố hoạt động chủ quan của con người, từ
đó lịch sử phát triển của xã hội được biểu hiện ra là lịch sử thống nhất trong tính đa dạng và đa dạng trong tính thống nhất của nó
3 Giá trị khoa học bền vững và ý nghĩa cách mạng:
Lý luận hình thái kinh tế - xã hội ra đời đem lại một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử xã hội Đây là biểu hiện tập trung của quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử xã hội, bác bỏ quan niệm trừu tượng, duy vật tầm thường, duy tâm, phi lịch sử về xã hội trước đó, trở thành hòn đá tảng của khoa học xã hội, cơ sở phương pháp luận khoa học và cách mạng cho sự phân tích lịch sử xã hội Lý luận hình thái kinh
tế xã hội đã giải quyết một cách khoa học về vấn đề phân loại các chế độ xã hội và phân
kỳ lịch sử, thay thế các quan niệm duy tâm, siêu hình trước đó đã thống trị trong khoa học xã hội Chỉ ra động lực phát triển của lịch sử xã hội không phải do một lực lượng tinh thần hoặc lực lượng siêu nhiên thần bí nào cả, mà do hoạt động thực tiễn của con người, trước hết là thực tiễn sản xuất vật chất dưới sự tác động của các quy luật khách quan
Muốn nhận thức và cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải nhận thức và tác động cả ba yếu tố cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất (cơ sở hạ tầng) và kiến trúc thượng tầng Xem nhẹ hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố nào cũng sai lầm, xét đến cùng
sự là bắt đầu từ việc xây dựng, phát triển lực lượng sản xuất
Trang 8Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học và cách mạng trong đấu tranh bác bỏ những quan điểm thù địch, sai trái, phiến diện về xã hội Phê phán thuyết kỹ trị, thuyết hội tụ đã tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế - kỹ thuật, xóa nhòa sự khác nhau về bản chất của các chế độ xã hội nhằm chứng minh cho sự tồn tại vĩnh viễn của chế độ tư bản
Ngày nay thực tiễn xã hội và sự phát triển của nhận thức khoa học đã bổ sung, phát triển mới các quan niệm lịch sử xã hội, song lý luận hình thái kinh tế - xã hội vẫn giữ nguyên giá trị, là quan niệm duy nhất khoa học và cách mạng để phân tích lịch sử và nhận thức các vấn đề xã hội, là cơ sở nền tảng lý luận cho chủ nghĩa xã hội khoa học Nghiên cứu lý luận hình thái kinh tế - xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với nâng cao nhận thức về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng chủ nghĩa xã hội, củng cố niềm tin, lý tưởng cách mạng, kiên định con đường chủ nghĩa xã hội Đây cũng là cơ sở khoa học và cách mạng trong cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại các quan điểm phiến diện, sai lầm, phản động hòng phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
II VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1 Các thành phần kinh tế tồn tại ở Việt Nam:
Trong thời kỳ bao cấp, Việt Nam chỉ có 2 thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Thế nhưng, với sự biến đổi không ngừng của xu thế phát triển thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng có nhiều sự thay đổi đáng kể đó là hình thành 4 thành phần kinh tế mũi nhọn Trong văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nêu rõ, 4 thành phần kinh tế hiện nay mà nhà nước ta chú trọng là:
Trang 9- Kinh tế nhà nước: Đây là thành phần kinh này tập trung vào những lĩnh vực trọng điểm và những địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh
- Kinh tế tập thể, hợp tác xã: Kinh tế tập thể dựa trên việc hợp tác đôi bên cùng có lợi, áp dụng những phương thức quản lý, vận hành và sản xuất tiên tiến Nhà nước cũng
có các cơ chế, chính sách để hỗ trợ hợp tác xã về nguồn vốn, nhân lực, kỹ thuật và thị trường
- Kinh tế tư nhân: Đối với kinh tế tư nhân, nhà nước khuyến khích thành phần này phát triển ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế và góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, tham gia vào chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trong đó, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển và các nền kinh tế khác thì bình đẳng, được pháp luật bảo vệ
2 Thực tiễn nền kinh tế Việt Nam hiện nay:
Nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam là
“nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XII, thể chế KTTT định hướng XHCN ngày càng được hoàn thiện và được chứng minh tính đúng đắn: Từ nước nghèo, thu nhập thấp, Việt Nam
đã gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới của nền kinh tế, để đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững, Đảng và Nhà nước nhận định vai trò kiến tạo của Nhà nước, vai trò của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), vai trò của kinh tế tư nhân (KTTN) là những trụ cột quan
Trang 10trọng để tạo nên sức mạnh kinh tế cho quốc gia Nhận diện và chấn chỉnh các biểu hiện lệch lạc trong quá trình xây dựng KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là cần thiết và không thể xem nhẹ
Ở Việt Nam, sau hơn 30 năm đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN đã hình thành, phát triển, đến nay đã có những yếu tố của một nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế và bảo đảm định hướng XHCN Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần; có sự phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường, thị trường trong nước gắn kết với thị trường quốc tế Thị trường đã phát huy vai trò trong việc xác định giá cả, phân bổ nguồn lực, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa; nền kinh tế đã vận hành theo các quy luật của KTTT Đồng thời, nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN; Nhà nước vừa xây dựng và hoàn thiện thể chế, tạo khung khổ pháp luật, môi trường ổn định, thuận lợi cho kinh tế phát triển, vừa sử dụng các nguồn lực kinh tế của Nhà nước để điều tiết, thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, phát triển bền vững cả kinh tế, xã hội, môi trường; gắn phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Những yếu tố này hoàn toàn tương đồng với các định hướng xã hội của các nền KTTT hiện đại trên thế giới
Như vậy, từ thực tiễn và lý luận, có thể khẳng định, KTTT định hướng XHCN là mô hình KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế không chỉ phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại, mà còn là mô hình kinh tế phù hợp với các nước kinh tế chưa phát triển quá độ lên CNXH
3 Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào thực tiễn đổi mới kinh tế ở Việt Nam:
Ở Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có đủ kinh nghiệm và bản lĩnh trong việc tranh thủ sự giao lưu, hợp tác quốc tế để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chúng ta đang sống trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, nó
Trang 11tạo cơ hội cho ta có thể nhảy vọt trong thời gian ngắn như thực tế nhiều quốc gia đã chứng minh Đó là công cuộc đổi mới hiện đại hoá, công nghiệp hoá, đó là một cuộc chạy đua về mặt thời gian và thời đại, ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa xã hội Định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế nó bao hàm sự cam kết về tốc độ, đảm bảo, nhanh chóng trong mọi quá trình tự phát và do lực lượng sản xuất được phát triển mạnh hơn Trước mắt phải vạch ra được những phương hướng, chương trình cụ thể trên các lĩnh vực của xã hội Định hướng lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài lên trong văn kiện Đại hội lần thứ VI và Đại hội lần thứ VII của Đảng, được Đảng ta xác nhận trên tinh thần: Xây dựng nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa vừa bảo đảm mọi thành phần kinh tế phát triển và cạnh tranh lành mạnh vừa tạo điều kiện để thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa từng bước trở thành thành phần kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Nhưng để thực hiện được quá trình đổi mới là cả một vấn đề lâu dài, chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta chủ chương thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá ở các vùng nông thôn
Như đã biết, nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu chiếm 80% dân cư sống tại các vùng nông thôn - là nơi tập chung đại bộ phận những người nghèo khổ của xã hội Vì vậy việc phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn đang là một vấn đề nóng bỏng của toàn xã hội Nhưng không phải tự nó có thể đổi mới được cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại để tạo công ăn việc làm cho người dân lao động mà phải có tác động mạnh mẽ của công nghệ dịch vụ phát huy tối đa, triệt để tiềm lực vốn có của từng vùng, từng địa phương Có như thế mới phá vỡ được tình trạng trì trệ, lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp làm sản phẩm xã hội và tổng thu nhập quốc dân phát triển cao và giảm được nạn đói, giảm được nạn nghèo, làm cho đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao và cải thiện ngày một tốt hơn Đối với người nhân dân lao động, Đảng ta đã thực hiện chính sách khoán hộ cho nhân dân dài hạn, có quyền sở hữu mảnh ruộng đất ấy mà mỗi vụ hoặc mỗi năm chỉ việc nộp thuế thu nhập cho Nhà nước Bên cạnh đó còn đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất vì thực tế nông thôn đang đứng trước một loạt