CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG VÀ TIÊU THỤ THỦY SẢN 1.1Một số khái niệm cơ bản 1.1.1Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Theo giáo trình QLNN về Thương mại: Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và các mục tiêu đã xác định trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng được thực hiện thông qua hoạt động của cả 3 cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước được giơi hạn ở hoạt động quản lý có tính chất nhà nước được thực hiện bởi cơ quan hành pháp ( Chính phủ ) nhằm đạt tới các mục tiêu kinh tế – xã hội đã đặt ra. Như vậy, có thể hiểu một cách cụ thể quản lý Nhà nước là một quá trình, trong đó các cơ quan của hệ thống bộ máy quyền lực của một quốc gia cấp Trung ương đến cấp cơ sở (ở Việt Nam là cấp xã, phường) thực hiện các tác động vào đối tượng là: hệ thống các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các đoàn thể và các hộ gia đình trong xã hội bằng các công cụ hành chính, (các chỉ thị, nghị quyết, quyết định) và các biện pháp phi hành chính(sử dụng các chính sách khuyến khích kinh tế, các chương trình hỗ trợ phát triển…) nhằm đạt được tới mục tiêu phát triển được định sẵn thể hiện qua các chủ trương, quy hoạch, kế hoạch phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường). 1.1.2Khái niệm hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản Theo FAO: Nuôi trồng thủy sản là nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt, mặn và lợ, bao gồm áp dụng các kỹ thuật và quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất: thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể. Nuôi trồng thủy sản là một bộ phận cấu thành trong sản xuất nông nghiệp nên mang nhiều đặc điểm của sản xuất nông nghiệp. Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa. Đó là những cách thức, những con đường kết hợp hữu cơ giữa những người sản xuất và trung gian khác nhau trong quá trình vận động và phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng.. Tiêu thụ sản phẩm thủy sản được thể hiện trên kênh lưu thông qua nhiều cấp và nhiều khâu khác nhau. Tùy theo trình độ phát triển của mỗi nền sản xuất, lưu thông hàng hóa và tính chất của từng loại sản phẩm mà kênh tiêu thụ có thể ngắn hoặc dài, trực tiếp hay gián tiếp. Nghĩa là sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng có thể trực tiếp thông qua khâu trung gian hoặc gián tiếp phải qua nhiều khâu trung gian. Sản phẩm thủy sản trực tiếp tới tay người tiêu dùng dưới hình thức bán lẻ ở ngay các ngư trại nuôi trồng thủy sản, hoặc có thể ở các làng cá trên bờ biển, hoặc có thể bán lẻ ở các chợ nông thôn và thành phố. Sản phẩm thủy sản lưu thông tới tay người tiêu dùng có thể trải qua nhiều khâu trung gian như: thương mại thu gom sản phẩm, chế biến, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng … Từ hai khái niệm trên, có thể hiểu hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản là hoạt động nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt, mặn , lợ để tạo ra các sản phẩm thủy sản, đồng thời nhờ quá trình phân phối sản phẩm thủy sản đến với người tiêu dùng cuối cùng đê tạo ra giá trị cho sản phẩm thủy sản và lợi nhuận cho các bên liên quan: hộ nuôi trồng thủy sản, thương lái, công ty chế biến thủy sản và các công ty xuất khẩu thủy sản… 1.1.3Khái niệm Quản lý nhà nước đối với hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản •Chúng ta có thể hiểu Quản lý nhà nước về hoạt động NT&TTTS là việc nhà nước ban hành và tổ chức chỉ đạo thực hiện những quy định, chính sách và kế hoạch liên quan tới hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản như: Xác định quy hoạch, kế hoạch nuôi trồng thuỷ sản, quy định việc xuất khẩu và nhập khẩu giống thuỷ sản, đi giống, thuần hoá giống, Thống nhất quản lý chất lượng giống xây dựng và quản lý hệ thông giống; Đăng ký giống quốc gia; thông nhất quản lý về thức ăn nuôi trồng thuỷ sản, thú y thuỷ sản; Quản lý tiêu chuẩn các loại vật tư, hoá chất, chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thuỷ sàn; Phối hợp với các Bộ ngành, các địa phương kiểm soát ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật, chất thải công nghiệp và môi trường nuôi trồng thuỷ sản theo quy định của pháp luật; tổ chức chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch công nghiệp chế biến thủy sản; ban hành những chính sách nhằm thúc đẩy tiêu thụ thủy sản ... 1.2Một số lý thuyết về quản lý nhà nước đối với hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản 1.2.1Đặc điểm và vai trò của hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản 1.2.1.1 Đặc điểm và vai trò của hoạt động nuôi trồng thủy sản Đặc điểm của nuôi trồng thủy sản: •Nuôi trồng thủy sản là một ngành phát triển rộng khắp đất nước ta và tương đối phức tạp hơn so với các ngành sản xuất vật chất khác Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng là các loại động vật máu lạnh, sống trong môi trường nước, chịu ảnh hưởng trực tiếp của rất nhiều các yếu tố môi trường như thủy lý, thủy hóa, thủy sinh do đó muốn cho các đối tượng nuôi trồng phát triển tốt con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng. Các biện pháp kỹ thuật sản xuất chỉ khi nào phù hợp với các yêu cầu sinh thái, phù hợp với quy luật sinh trưởng, phát triển và sinh sản của các đối tượng nuôi trồng thì mới giúp đối tượng nuôi phát triển tốt, đạt được năng suất, sản lượng cao và ổn định. Hơn nữa, hoạt động nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xuất ngoài trời, các điều kiện sản xuất như khí hậu, thời tiết, các yếu tố môi trường… và sinh vật có ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau đồng thời luôn có sự biến đổi khôn lường. Sức lao động cùng bỏ ra như nhau nhưng chỉ gặp thời tiết thuận lợi (mưa thuận, gió hòa) mới có thể đạt được năng suất, sản lượng cao. Mặt khác, bờ biển Việt Nam khá dài, điều kiện khí hậu thời tiết của từng vùng có sự khác nhau thì mùa vụ sản xuất khác nhau và hiệu quả kinh tế của nó cũng không giống nhau, hơn nữa mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng cũng quyết định khả năng sản xuất và trình độ thâm canh của nghề nuôi trồng thủy sản. Vì vậy, trong quá trình sản xuất, ngành nuôi trồng thủy sản vừa chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên, vừa phải chịu sự chi phối của quy luật kinh tế. Do đó, nuôi trồng thủy sản là một hoạt động sản xuất phức tạp. Tính chất rộng khắp của ngành nuôi trồng thủy sản thể hiện nghề nuôi trồng thủy sản phát triển ở khắp các vùng trong nước từ đồng bằng trung du, miền núi cho đến các vùng ven biển, ở đâu có đất đai diện tích mặt nước là ở đó có thể phát triển nghề nuôi trồng thủy sản: Từ hồ ao, sông ngòi đến đầm phá, eo, vịnh… Mỗi vùng có điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết khác nhau, do đó dẫn tới sự khác nhau về đối tượng sản xuất, về quy trình kỹ thuật, về mùa vụ sản xuất. Do đó trong công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất của các ngành cần lưu ý đến các vấn đề như: Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch, chính sách giá cả, đầu tư cho phù hợp với từng khu vực, từng vùng lãnh thổ. •Trong nuôi trồng thủy sản đất đai diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được Đất đai diện tích mặt nước là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của chúng lại rất khác, đất đai chỉ là nền móng xây dựng nhà máy công xưởng, trụ sở phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh. Trái lại trong nuôi trồng thủy sản, đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, không có đất đai diện tích mặt nước thì chúng ta không thể tiến hành nuôi trồng thủy sản được. Đất đai là tư liệu sản xuất, song nó là tư liệu sản xuất đặc biệt, khác với các tư liệu sản xuất khác là: Diện tích của chúng có giới hạn, vị trí của chúng cố định, sức sản xuất của chúng thì không có giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý thì đất đai diện tích mặt nước không bị hao mòn đi mà còn tốt hơn nên (tức là độ phì nhiêu, độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước ngày một tăng), mặt khác đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình, vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước giữa các vùng thường là khác nhau. Chính vì vậy, khi sử dụng đất đai diện tích mặt nước phải hết sức tiết kiệm, phải quản lý chặt chẽ đất đai diện tích mặt nước trên cả ba mặt: pháp chế, kinh tế, kỹ thuật. Về mặt pháp chế: Phải quản lý chặt chẽ các loại đất đai diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản, phân vùng quy hoạch đưa vào sản xuất theo hướng thâm canh và chuyên canh.Về mặt kỹ thuật: Cần xác định đúng đắn các đối tượng nuôi trồng cho phù hợp với từng vùng, đồng thời cần quan tâm đến việc sử dụng, bồi dưỡng và nâng cao độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước. Về mặt kinh tế: Mọi biện pháp quản lý sử dụng đất đai diện tích mặt nước phải đưa đến kết quả đất đai diện tích mặt nước cho năng suất cao và không ngừng được cải tạo. Phát triển ngành nuôi trồng thủy sản không những không chiếm dụng đất nông nghiệp mà còn có thể tác động trợ giúp cho sự phát triển của các ngành khác như nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc. Những năm gần đây, các tỉnh thuộc vùng duyên hải Việt Nam đã áp dụng cách thức “đào ao, cải tạo ruộng” để tiến hành khai thác tổng hợp. Việc làm này không phải lấn chiếm đất canh tác mà còn cải tạo đất canh tác, coi việc phát triển ngành nuôi trông thủy sản làm động lực kéo theo các ngành khác cùng phát triển như ngành trồng cây công nghiệp, ngành trồng cây ăn quả, ngành chăn nuôi gia súc và công nghiệp phụ trợ. Những bãi bồi ven biển và những vùng đất trũng phèn sau một số năm được cải tạo để nuôi trồng thủy sản đã biến thành những đồng ruộng màu mỡ, phì nhiêu có thể phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. •Nuôi trồng thủy sản có tính thời vụ cao
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ - LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH ĐÀO TẠO: KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực tập
- Họ và tên: Ts.Nguyễn Thị Hương Giang - Họ và tên:
- Bộ môn: Quản lý kinh tế - Lớp: K54F4
Trang 2HÀ NỘI, 2022
Trang 3TÓM LƯỢC
Sau khi hội nhập kinh tế thế giới, đi cùng với sự phát triển lớn mạnh của đất nước, cáccông ty sản xuất bánh kẹo nội địa ngày càng phát triển và dần khẳng định vị thế quantrọng của mình trên thị trường Đứng trước yêu cầu ngày càng cao của cạnh tranh trên thịtrường Hà Nội thì tập trung các giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ bánh kẹo là cầnthiết và cần phải nghiên cứu kỹ Vì vậy, qua quá trình thực tập ở Công ty cổ phần BánhMứt Kẹo Hà Nội, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình với đề tài: “Phát triểnthị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội trên thị trườngnội địa”
Bài khóa luận đã hệ thống hóa lại các kiến thức cơ bản về phát triển thị trường tiêuthụ sản phẩm của doanh nghiệp Việc phân tích, đánh giá thực trạng phát triển thị trườngtiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội để rồi rút ra những thànhcông, hạn chế và nguyên nhân Từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển thịtrường tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo của công ty trong tương lai
Trang 4Em cũng xin cảm ơn Ban giám đốc Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo đã cho phép vàtạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại công ty.
Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn trong bài khóa luận sẽ không tránh khỏicòn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp của thầy giáo, côgiáo để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5Một trong những vấn đề mà doanh nghiệp phải quan tâm hàng đầu nếu muốn công
ty phát triển vững mạnh đó là vấn đề phát triển thị trường tiêu thụ Trong lĩnh vực kinhdoanh hàng tiêu dùng, nhất là sản phẩm không phải mặt hàng thiết yếu và nhu cầu luônthay đổi như bánh kẹo thì vấn đề làm sao bán được hàng là vấn đề rất khó khăn Doanhnghiệp luôn phải tự đặt cho mình những câu hỏi: Thị trường là ai? Thị trường cần gì?Làm thế nào để có thể duy trì được thị trường vốn có và phát triển được những thị trườngmới? Duy trì và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp đã trở thành yếu
tố then chốt, nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian một bên là sản xuất,phân phối một bên là tiêu dùng Vì vậy, một công ty kinh doanh có hiệu quả, nhất thiếtphải quan tâm đến thị trường tiêu thụ của mình
Riêng đối với một công ty chuyên sản xuất bánh kẹo như Công ty cổ phần BánhMứt Kẹo Hà Nội cần phải đặc biệt quan tâm đến các hoạt động bán hàng và xúc tiến bánhàng, lượng hàng bán ra trong mỗi thời kì ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của công
ty Để thực hiện tốt những yêu cầu này, Công ty cần phải có những chiến lược, biện phápphù hợp với tình hình thực tế của thị trường Trên cơ sở đó thấy được những mặt mạnh
mà công ty đã làm được trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, đồng thời phát hiện ra nhữnghạn chế của nó Từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần giúp công ty khắc phục nhữnghạn chế khó khăn, duy trì và phát triển thị trường hoá chất của công ty ra các khu vựctrong cả nước Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em đã chọn đề tài Khóa
luận tốt nghiệp: “Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội trên thị trường nội địa”.
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Nguyễn Thị Bắc (2018), “Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nấm đông trùng
hạ thảo của Công ty cổ phần ứng dụng khoa học kỹ thuật Việt Nam”, Khóa luận tốt
nghiệp, Khoa Kinh tế - Luật, Đại học Thương mại Đề tài đã tập trung phân tích thực
Trang 6trạng tiêu thụ sản phẩm nấm đông trùng hạ thảo của Công ty cổ phần ứng dụng khoa học
kỹ thuật Việt Nam trên thị trường nội địa, từ đó rút ra những nguyên nhân và hạn chế màcông ty đang vướng mắc, đồng thời đề ra phương án mới thúc đẩy mặt hàng tiêu thụ trongtương lai
Trương Thị Khánh Vân (2018), “Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thép của công ty cổ phần Nguyễn Hưng”, Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế - Luật, Đại học
Thương mại Khóa luận tập trung nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến pháttriển thị trường tiêu thụ sản phẩm thép của Công ty cổ phần Nguyễn Hưng, từ đó đưa ranhững kiến nghị thúc đẩy sự phát triển thị trường tiêu thụ dựa trên nguyên lý vận dụngcác nhân tố thị trường
Phạm Thu Trang (2019), “Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm thép của Công ty
cổ phần kỹ thuật thương mại Thiên Minh”, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Kinh tế - Luật,
Đại học Thương mại Đề tài đi sâu nghiên cứu về thực trạng phát triển thị trường tiêu thụsản phẩm thép của Công ty cổ phần kỹ thuật thương mại Thiên Minh trên thị trường miềnBắc, những thay đổi trong biện pháp quản lý kinh doanh của công ty đã ảnh hưởng trựctiếp đến sự phát triển thị trường, từ đó đề xuất những giải pháp để mở rộng thị trường tiêuthụ sản phẩm của công ty
Lương Thị Tài (2019), “Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm trái cây của Công
ty TNHH phát triển thương mại Phúc Linh”, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Kinh tế - Luật,
Đại học Thương mại Về lý thuyết thì khóa luận đã tập hợp đầy đủ khái niệm, lý thuyết cơbản, các tiêu chí đánh giá thị trường tiêu thụ sản phầm, từ đó làm cơ sở đưa ra các nhómgiải phải phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Áp dụng hệ thống lýthuyết đó, Công ty TNHH phát triển thương mại Phúc Linh đã dự đoán các rủi ro có thểxảy ra với thị trường tiêu thụ trái cây, từ đó đưa ra các chiến lược kinh doanh mới pháttriển thị trường sản phẩm trong tương lai
Lê Ngọc Hưng (2019), “Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm phụ tùng ô tô xe máy của Công ty cổ phần xích lốp Đông Anh”, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Kinh tế -
Luật, Đại học Thương mại Thông qua việc phân tích các chỉ tiêu, vai trò và các nhân tốảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ sản phẩm, khóa luận đã tổng kết những kinh nghiệmthực tiễn và rút ra các bài học cho các doanh nghiệp đang hướng tới mục tiêu phát triểnthị trường Với mục tiêu phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm phụ tùng ô tô xe máy cả ởthị trường trong nước và ngoài nước, công ty đang từng bước xây dựng các chiến lượckinh doanh mới, các nhóm giải pháp hữu hiệu để phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trang 73 Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Bánh Mứt Kẹo Hà Nộitrên thị trường nội địa
Bao gồm các loại sản phẩm bánh mứt kẹo của công ty
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu lí luận: Trên cơ sở phản ánh và phân tích thực trạng hoạt động sản xuấtkinh doanh của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội phát hiện tồn tại, phân tíchnguyên nhân tồn tại ảnh hưởng đến sản phẩm, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm pháttriển thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty trong thời gian tới và khắc phục những mặtcòn hạn chế
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải quan niệm, đặc điểm, nội dung và một số vấn đề lý luận về thị trường tiêuthụ sản phẩm, về vai trò của phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa.Nghiên cứu, làm rõ quá trình phát triển thị trường tiêu thụ, phân tích thực trạng pháttriển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường nội địa
Làm rõ kết quả hoạt động kinh doanh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, từ đó đưa
ra các đánh giá khách quan về mức độ phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp
Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tiêu thụ sảnphẩm, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường nội địa
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Về nội dung
Khóa luận tập trung nghiên cứu vấn tình hình phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩmbánh mứt kẹo trên thị trường nội địa giai đoạn 2018-2020 Vấn đề mà khóa luận nghiên
Trang 8cứu là những vấn đề lý thuyết liên quan đến phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm bánhmứt kẹo của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội trên khía cạnh tập trung vào một sốchỉ tiêu tăng trưởng sản lượng, doanh thu tiêu thụ, lợi nhuận của công ty.
4.2 Về thời gian
Khóa luận thực hiện đánh giá thị trường tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo của Công ty cổphần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội dựa trên số liệu thứ cấp trong giai đoạn từ năm 2018 đếnnăm 2020 và đề xuất giải pháp trong 5 năm tới 2022 đến 2027
4.3 Về không gian
Khóa luận tập trung nghiên cứu việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm bánhmứt kẹo của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội trên địa bàn Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp E CẦN VIẾT LẠI PHẦN NÀY
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp được thực hiện qua phương pháp sử dụngphiếu điều tra, phỏng vấn Nội dung phiếu điều tra về một số vấn đề liên quan đến hoạtđộng kinh doanh sản phẩm bánh kẹo tại công ty
- Phương pháp sử dụng phiếu điều tra: Phiếu điều tra được chia sẻ cho 20 đối tượng
là nhân viên của công ty, thể hiện khái quát về việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩmcho công ty Mỗi phiếu sẽ bao gồm khoảng 10 tới 12 câu hỏi trắc nghiệm lựa chọn câu trảlời Sau đó phân tích dữ liệu 20 phiếu đã phát
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành trao đổi trực tiếp với Ban lãnh đạo của công ty,
và trưởng các phòng ban (phòng kinh doanh, phòng giám sát, phòng hành chính nhân sự,
…) chuẩn bị 1 số câu hỏi liên quan đến hoạt động tiêu thụ của công ty
Ngoài ra, các dữ liệu thu thập được bằng những quan sát trực tiếp thực tế tại công ty
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp mà em thu thập để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài bao gồm:
- Số liệu kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm trong Báo cáo thường niên 3 năm 2018 đếnnăm 2020 của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội tài liệu của phòng kinh doanh,phòng kế toán có liên quan đến thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Các tài liệu khóa luận tốt nghiệp, luận văn có liên quan đến phát triển thị trườngtiêu thụ sản phẩm của các khoá trước Các tài liệu có liên quan đến phát triển thị trườngtiêu thụ sản phẩm đã công bố từ các bài báo trong tạp chí khoa học, báo cáo chuyên đềkhoa học trong các hội nghị của công ty
Trang 9- Trên website chính thức của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội.
5.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương pháp phân tích dữ liệu sơ cấp
Trên cơ sở các dữ liệu sơ cấp thu được từ các phương pháp được tổng hợp lại từthực tế có thể bổ sung, làm rõ thêm các vấn đề sau:
- Nguyên nhân dẫn đến những yếu kém trong hoạt động kinh doanh phát triển thịtrường tiêu thụ sản phẩm
- Những giải pháp để nhận dạng, khắc phục và phát triển thị trường tiêu thụ sảnphẩm trong doanh nghiệp
Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp
- Phương pháp thống kê: Thống kê các dữ liệu, liệt kê các vấn đề có thể gặp phảitrong phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội
- Phương pháp phân tích: Phân tích những vấn đề có thể gặp phải để đề xuất cácbiện pháp giải quyết, khắc phục
5.3 Phương pháp phân tích so sánh và tổng hợp
Sau khi thu thập đầy đủ thông tin liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu, cần phải
sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu, so sánh và tổng hợp Dựa vào các thông tin trong
và ngoài công ty ta tiến hành phân tích các thông tin về tình hình khách hàng, thị trường,nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh Sử dụng kỹ năng tổng hợp số liệu thành một hệ thốnglogic rồi thực hiện so sánh, thống kê so sánh tuyệt đối, tương đối, số liệu các năm để tiếnhành phân tích sự tăng trưởng qua các năm, nguyên nhân của sự tăng trưởng đó Lập nêncác bảng biểu, sơ đồ, đồ thị biểu diễn mối quan hệ và sự tăng trưởng của quá trình tiêu thụsản phẩm gạch không nung xi măng cốt liệu qua các năm Từ các bảng biểu lập được rút
ra những đánh giá tổng quát về tình hình nghiên cứu trên mọi mặt, tìm ra những vấn đềchủ chốt và những giải pháp kịp thời
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảngbiểu, danh mục từ viết tắt, lời mở đầu, tài liệu tham khảo, các phụ lục, thì gồm có 3chương:
Chương 1 Một số lí luận cơ bản về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm củadoanh nghiệp trên thị trường nội địa
Chương 2 Thực trạng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phầnBánh Mứt Kẹo Hà Nội trên thị trường nội địa
Trang 10Chương 3 Các đề xuất và kiến nghị nhằm phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩmcủa Công ty Bánh Mứt Kẹo Hà Nội trên thị trường nội địa.
Chương 1 Một số lí luận cơ bản về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường nội địa
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm sản phẩm bánh mứt kẹo
Bánh kẹo là những thực phẩm giàu đường và carbohydrate Định nghĩa chính xác làkhó khăn Tuy nhiên, nói chung, bánh kẹo được chia thành hai loại là bánh kẹo và kẹo.Bánh kẹo của Bakers là các sản phẩm chứa >50% bột mì, bao gồm bánh ngọt, bánh ngọt
và các loại bánh nướng tương tự Kẹo là loại thực phẩm ở dạng viên, thỏi có chứa thànhphần chính là đường ăn chiếm >50%, và bao hàm bất kỳ loại kẹo ngọt nào, gồm sô-cô-la,kẹo cao su, kẹo đường, kẹo hoa quả,
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự gia tăngtrong quy mô dân số với cơ cấu trẻ, bánh kẹo là một trong những ngành có tốc độ tăngtrưởng cao và ổn định tại Việt Nam
Bánh kẹo tại thị trường Việt Nam vốn là sản phẩm phát triển từ hộ gia đình, là nghềsản xuất truyền thống, không cần công nghệ cao Nét độc đáo của bánh kẹo Việt Nam làrất đa dạng chủng loại, mang tính địa phương cao Mặc dù không nằm trong số các hànghóa thiết yếu, nhưng bánh kẹo là nhóm sản phẩm không thể thiếu trên thị trường Rấtnhiều doanh nghiệp bánh kẹo Việt thành danh hiện nay đi lên từ hộ sản xuất gia đình.Điều này cho thấy, thị trường bánh kẹo trong nước rất hấp dẫn và ngày càng lớn
Sản xuất bánh kẹo hiện nay là một phân đoạn phát triển và năng động của khu vựcchế biến thực phẩm và đồ uống Ngành công nghiệp bánh kẹo bao gồm công ty chuyênsản xuất và kinh doanh các sản phẩm bánh, kẹo, sô cô la
1.1.2 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Theo nghĩa hẹp, tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển hóa hình thái giá trị của sảnphẩm từ hàng sang tiền Nói cách khác, tiêu thụ sản phẩm là hoạt động trong đó doanhnghiệp bán các sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra cho khách hàng để thu hồi vốn và
có lợi nhuận
Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động, bắtđầu từ hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm cho đến khi sản phẩm đượcđưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng và cả các dịch vụ sau bán
Trang 11Tiêu thụ sản phẩm là khâu lưu thông hàng hóa, là cầu nối trung gian giữa một bên làsản phẩm sản xuất và phân phối với một bên là tiêu dùng Việc chuẩn bị hàng hóa sảnxuất trong lưu thông Các nghiệp vụ sản xuất ở các khâu bao gồm: Phân loại, lên nhãnhiệu sản phẩm, bao gói, chuẩn bị các lô hàng để bán và vận chuyển theo yêu cầu kháchhàng Để thực hiện các quy trình liên quan đến giao nhận và sản xuất sản phẩm hàng hóađòi hỏi phải tổ chức hợp đồng ký kết lao động trực tiếp ở các kho hàng và tổ chức tốtcông tác nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu về mặt hàng về chủng loại sản phẩmcủa doanh nghiệp Như vậy, “tiêu thụ sản phẩm” là tổng thể các biện pháp về tổ chức kinh
tế và kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trường Nó baogồm các hoạt động: Tạo nguồn, chuẩn bị hàng hóa, tổ chức
1.1.3 Khái niệm về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm là tổng hợp các cách thức, biện pháp củadoanh nghiệp nhằm đưa tối đa khối lượng sản phẩm của công ty vào thị trường, tăngdoanh số bán và thị phần bằng cách kích thích tăng khối lượng tiêu thụ sản phẩm trên thịtrường hiện tại, bán sản phẩm hiện tại ở thị trường mới hoặc nghiên cứu phát triển sảnphẩm mới
Phát triển thị trường sản phẩm của doanh nghiệp ngoài việc đưa sản phẩm hiện tạivào bán trong thị trường mới còn chú trọng đến việc phát triển và khai thác tốt thị trường
ở hiện tại để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, từ đó gia tăng và mở rộng thị phần vàphát triển thị trường ngày một rộng lớn hơn
Như vậy, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty chính là việc mở rộngbán hàng trên thị trường mục tiêu Sản phẩm bán có thể là sản phẩm hiện có của công tycũng có thể là sản phẩm mới Thị trường mục tiêu của công ty có thể là thị trường mớihoặc các phân đoạn mới của thị trường hiện tại hay các nhóm khách hàng tiềm năng trêncác phân đoạn mới của thị trường hiện tại hay các nhóm khách hàng tiềm năng trên cácđoạn thị trường hiện tại Theo các lý luận phân tích về thị trường thì thị trường mới có thể
là mới về mặt địa lý, mới về mặt nhân khẩu học, hoặc mở rộng phạm vi sử dụng bằngcách phổ biến công dụng mới sản phẩm để đáp ứng những nhu cầu mới nảy sinh củangười tiêu dùng
1.2 Một số lí thuyết về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
trên thị trường nội địa
1.2.1 Đặc điểm, vai trò của sản phẩm bánh mứt kẹo
Đặc điểm của sản phẩm bánh mứt kẹo
Trang 12Thứ nhất: Nguyên vật liệu đầu vào chính của ngành bánh mứt kẹo bao gồm bột mì,đường, còn lại là sữa, trứng và các nguyên vật liệu khác Trong đó, nguyên vật liệu phảinhập khẩu là bột mì (gần như toàn bộ), và đường (nhập 1 phần), hương liệu và 1 số chấtphụ gia, chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành Chính vì vậy sự biến động của giá bột mì,đường trên thị trường thế giới sẽ có những tác động nhất định đến giá thành của bánh mứtkẹo.
Thứ hai: Thị trường bánh mứt kẹo Việt Nam có tính chất mùa vụ khá rõ nét Sảnlượng tiêu thụ thường tăng mạnh vào thời điểm từ tháng 8 Âm lịch (Tết Trung thu) đếnTết Nguyên Đán với các mặt hàng chủ lực mang hương vị truyền thống Việt Nam nhưmứt Tết, bánh Trung thu, kẹo cứng, mềm, bánh qui cao cấp, các loại mứt, hạt Trong khi
đó, sản lượng tiêu thụ bánh kẹo khá chậm vào thời điểm sau Tết Nguyên đán và mùa hè
do khí hậu nắng nóng
Thứ ba: Dây chuyền công nghệ sản xuất bánh mứt kẹo của các doanh nghiệp kháhiện đại và đồng đều, đều được nhập khẩu từ các quốc gia nổi tiếng về sản xuất bánh kẹonhư công nghệ cho bánh phủ socola (Hàn quốc), công nghệ bánh quy (Đan mạch, Anh,Nhật)…
Thứ tư: Việt Nam là một thị trường tiềm năng với quy mô thị trường lớn và tốc độtăng trưởng bình quân cao trên 15% so với mức trung bình trong khu vực 3% và trungbình của thế giới 1-1,5% Vềề̀ dư địa phát triển vẫn còn rất lớn, khi mức tiêu thụ bánh kẹobình quân trên đầu người Việt Nam vẫn khá thấp chưa quá 3 kg/người/năm, thấp hơn mứctiêu thụ trung bình của thế giới
Ngành bánh kẹo sẽ không được thuận lợi khi tình hình giá cả lạm phát cao bởi đâykhông phải là mặt hàng thiết yếu của người tiêu dùng
Vai trò của sản phẩm bánh mứt kẹo
Ngành sản xuất bánh mứt kẹo là một trong những ngành có vai trò quan trọng vào
sự đóng góp chung vào sự phát triển nền kinh tế đất nước Đặc biệt là trong giai đoạn hiệnnay, mức sống của người dân không ngừng cải thiện, nhu cầu cũng ngày một phong phú
và đa dạng Để đáp ứng được yêu cầu đó ngành sản xuất bánh mứt kẹo cần không ngừngnâng cao, cải tiến máy móc, thiết bị sản xuất nhằm làm tăng năng suất, nâng cao chấtlượng sản phẩm (mẫu mã, bao bì, ), ổn định thị trường Đồng thời để cạnh tranh cới cácsản phẩm bánh kẹo ngoại nhập ngày càng nhiều trên thị trường
Các sản phẩm bánh kẹo tuy không phải mặt hàng thiết yếu nhưng lại giữ vai tròquan trọng đối với cuộc sống con người Cũng giống như thực phẩm, con người cần bánh
Trang 13kẹo để bổ sung năng lượng, chất béo có trong các loại bánh ngọt đã giúp kích thích nãotiết ra nhiều endorphin và serotonin, giúp con người dễ dàng có tâm trạng hưng phấn khó
tả, giảm stress và mau chóng quên đi nỗi buồn
Bên cạnh đó, ngành sản xuất bánh mứt kẹo góp phần vào việc giải quyết công ănviệc làm cho người lao động, nâng cao đời sống của người lao động và đồng thời làm tăngngân sách cho nhà nước
1.2.2 Bản chất, vai trò của phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm E VIẾT CẦN
GẮN VỚI SP BÁNH MỨT KẸO VÀ THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
Bản chất của phát triển phát thị trường tiêu thụ sản phẩm
Bản chất của phát triển thị trường là mở rộng mối quan hệ giữa khách hàng vàdoanh nghiệp
Mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp là mối quan hệ mua bán Như vậytheo quan niệm này thì phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm bao gồm phát triển thịtrường theo chiều rộng và theo chiều sâu:
- Phát triển thị trường theo chiều rộng liên quan đến khách hàng và khu vực địa lý.Vậy phát triển thị trường là phát triển quy mô, đối tượng khách hàng và mở rộng khu vựcđịa lý
- Phát triển thị trường theo chiều sâu liên quan tới đổi mới sản phẩm của doanhnghiệp Sản phẩm này có thể là sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ Doanh ngiệp luônchú ý đến việc nâng cao chất lượng, thay đổi mẫu mã sản phẩm của mỡnh để đáp ứng tốthơn nhu cầu của người tiêu dùng
Mục tiêu cuối cùng của kinh doanh là đạt được lợi nhuận cho doanh nghiệp khi kinhdoanh trên thị trường, mục tiêu của phát triển thị trường là bán được nhiều hàng hoá trênthị trường, sau đó mới là mục tiêu hướng tới là lợi nhuận Khi doanh nghiệp mới hìnhthành đi vào hoạt động hay ngay cả khi doanh nghiệp đã có chỗ đứng trên thị trường thìdoanh nghiệp vẫn phải quan tâm tới công tác phát triển thị trường, từ đó doanh nghiệpcàng phát triển
Như vậy, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm là một quá trình mang tính chất lâudài của doanh nghiệp và gắn liền với sự phát triển của doanh nghiệp
Vai trò của phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Vai trò của phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm có vai trò hết sức quan trọngtrong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Sản phẩm làm ra phải được bán trên thị
Trang 14trường hay tiêu thụ được thì doanh nghiệp mới thu hồi được vốn để thực hiện quá trìnhsản xuất, tái mở rộng và phát triển doanh nghiệp:
- Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm góp phần khai thác nội lực của doanhnghiệp Về phương diện kinh tế, nội lực được xem là sức mạnh nội tại, là động lực và làtoàn bộ nguồn lực bên trong của sự phát triển kinh tế Phát triển thị trường là cầu nối vàđộng lực khai thác nội lực tạo thực lực kinh doanh cho doanh nghiệp Nếu thị trường tácđộng theo hướng tích cực sẽ làm nội lực của doan nghiệp mạnh mẽ, trái lại thì thị trườngcũng sẽ làm hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp
- Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp quay vòng đượcvốn Khi phát triển được thị trường tiêu thụ được sản phẩm nhanh thì vòng quay của vốn
sẽ nhanh và ngược lại khi tiêu thụ chậm thì vòng quay của vốn sẽ chậm Tiêu thụ nhanh
sẽ tiết kiệm được vốn
- Phát triển thị trường khiến cho doanh nghiệp tránh được tình trạng bị tụt hậu Cơhội chỉ thực sự đến với các doanh nghiệp nhạy bén, am hiểu thị trường Phát triển thịtrường giúp doanh nghiệp đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, khai thác triệt để tiềm năngcủa thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tăng lợi nhuận và khẳng định vaitrò của doanh nghiệp trên thị trường
- Duy trì và mở rộng thị trường làm rút ngắn thời gian sản phẩm nằm trong quá trìnhlưu thông, do đó làm tăng tốc tốc độ tiêu thụ sản phẩm, góp phần vào việc đẩy nhanh chu
kỳ tái đầu tư mở rộng, tăng vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận Tăng nhanh tốc độ tiêuthụ sản phẩm, khiến cho các doanh nghiệp có điều kiện tăng nhanh tốc độ khấu hao máymóc thiết bị, giảm bớt hao mòn vô hình và do đó có điều kiện thuận lợi hơn trong việc đổimới tư liệu sản xuất, ứng dụng kỹ thuật mới vào kinh doanh Đến lượt nó kỹ thuật mới lạigóp phần vào việc đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, duy trì và mở rộng thị trường tiêuthụ sản phẩm
1.2.3 Đặc điểm của thị trường tiêu thụ sản phẩm bánh mứt kẹo nội địa Việt Nam
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự gia tăngtrong quy mô dân số với cơ cấu trẻ, bánh kẹo là một trong những ngành có tốc độ tăngtrưởng cao và ổn định tại Việt Nam
Bánh kẹo tại thị trường Việt Nam vốn là sản phẩm phát triển từ hộ gia đình, là nghềsản xuất truyền thống, không cần công nghệ cao Nét độc đáo của bánh kẹo Việt Nam làrất đa dạng chủng loại, mang tính địa phương cao Mặc dù không nằm trong số các hànghóa thiết yếu, nhưng bánh kẹo là nhóm sản phẩm không thể thiếu trên thị trường Rất
Trang 15nhiều doanh nghiệp bánh kẹo Việt thành danh hiện nay đi lên từ hộ sản xuất gia đình.Điều này cho thấy, thị trường bánh kẹo trong nước rất hấp dẫn và ngày càng lớn Tại thịtrường Việt Nam, các doanh nghiệp nội địa đang chiếm lĩnh thị trường, trong đó, thị phầndoanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (Tập đoàn Kinh Đô, CTCP Bánh kẹo Hải Hà, CTCPBibica) là 42%, doanh nghiệp khác 38%
Mặc dù là thị trường tiềm năng, song theo các đơn vị nghiên cứu thị trường, thịtrường bánh kẹo đang cạnh tranh ngày càng khốc liệt bởi gần đây hành vi tiêu dùng củangười Việt đã có nhiều thay đổi Cụ thể, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, thói quen tiêudùng và chi tiêu của khách hàng đã thay đổi Trong khi trên thị trường ngày càng trànngập những sản phẩm ngoại nhập với chất lượng, mẫu mã đẹp, giá cả cạnh tranh thì bánh,kẹo, mứt truyền thống vẫn chưa đầu tư đúng mức cho cải tiến chất lượng, mẫu mã nênkhó được người tiêu dùng ưu tiên lựa chọn So sánh trên thị trường tiêu thụ, có thể thấybánh kẹo nhập khẩu ngày càng nhiều, nhất là khi Hiệp định Thương mại hàng hóaASEAN được thực thi, sản phẩm bánh kẹo từ các nước ASEAN (Indonesia, Thái Lan,Malaysia) được giảm thuế nhập khẩu về 0% không ngừng tăng số lượng vào Việt Nam.Tuy vậy, các doanh nghiệp trong nước vẫn tự tin, sản phẩm trong nước vẫn làm chủ thịtrường Bởi hàng nhập khẩu số lượng ngày càng nhiều hơn, nhưng hiện chưa chiếm quá5% thị phần bánh kẹo Việt Mặt khác, bánh kẹo ngoại chỉ chọn một số kênh phân phốinhất định là siêu thị, cửa hàng tiện lợi tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ ChíMinh Thị trường tiêu thụ chủ yếu vẫn là thị trường nội địa với khoảng 70% sản lượng sảnxuất được cung cấp cho nhu cầu trong nước Song theo xu thế hội nhập phát triển chung,các doanh nghiệp trong ngành đã không ngừng nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường,góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu ngành hàng bánh kẹo qua các năm
Theo đánh giá của BMI, Việt Nam đang là một trong những thị trường bán lẻ hấpdẫn nhất tại Châu Á (chỉ sau Ấn Độ) trong lĩnh vực thực phẩm Tốc độ tăng trưởng nhanh
và ổn định của ngành công nghiệp bánh kẹo đang thu hút đầu tư mạnh của các doanhnghiệp nước ngoài với lợi thế vốn và công nghệ (tăng từ 20% lên 40% trong gần 10 nămtrở lại đây) Điều này sẽ nâng cao sự cạnh tranh trong ngành, từ đó thúc đẩy sự phát triểnchung của ngành
1.3 Nội dung và nguyên lý phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp
1.3.1 Nội dung phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Phát triển thị trường theo chiều rộng
Trang 16Phát triển thị trường theo chiều rộng đối với doanh nghiệp kinh doanh sản phẩmbánh mứt kẹo, đó là sự mở rộng thị trường, thiết lập các đại lý, đại diện cho doanh nghiệptại các khu vực địa lý khác nhau Số lượng khách hàng sẽ tăng lên, khối lượng sản phẩmtiêu thụ theo đó cũng tăng theo.
Nội dung của phát triển thị trường theo chiều rộng bao gồm:
- Đưa thêm càng nhiều hàng hóa, sản phẩm dịch vụ vào thị trường
Trong cơ chế thị trường để tồn tại và phát triển hơn bao giờ hết các nhà kinh doanh,các công ty phải ra sức đầu tư phát triển các ý tưởng mới trong cuộc chạy đua về sảnphẩm Các doanh nghiệp đều cố gắng đưa ra thị trường nhiều chủng loại hàng hóa đápứng sự đa dạng phong phú trên thị trường
Để đưa thêm nhiều sản phẩm, hàng hóa và thị trường một cách tối ưu nhất, đa dạnghóa sản phẩm kinh doanh là sự lựa chọn ưu tiên hàng đầu của doanh nghiệp Đa dạng hóakinh doanh là việc thực hiện kinh doanh theo nhiều nghành, nhiều lĩnh vực khác nhaugiúp cho việc phân bố rủi ro và hỗ trợ lẫn nhau giữa các lĩnh vực Mỗi loại sản phẩm mớitrong một lĩnh vực mới ra đời sẽ thu hút thêm một lường khách hàng mới, thị trường cũng
từ đó dược mở rộng, đa dạng hóa kinh doanh là một hình thức kinh doanh năng động vàhiệu quả
- Mở rộng thị trường khách hàng cả về số lượng lẫn chất lượng
Mở rộng thị trường chính là phát triển khách hàng cả về số lượng lẫn chất lượng bởi
đó chính là đối tượng mà công ty phục vụ Trong hoạt động kinh doanh nắm bắt được nhucầu của khách hàng và tổ chức thực hiện sản xuất ra các sản phẩm để đáp ứng tốt nhu cầucủa khách hàng thì có thể nói doanh nghiệp đã nắm được thị trường có khả năng mở rộngthị tường của mình
Trong điều kiện cạnh tranh các doanh nghiệp thu hút dành giật khách hàng của nhau
Có khách hàng tức là có thị trường tiêu thụ sản phẩm như thế doanh nghiệp mới tồn tại vàphát triển vì khách hàng là người tiêu dùng và trả lãi cho doanh nghiệp Song để thu hútkhách hàng đòi hỏi các doanh nghiệp phải có biện pháp hợp lý như các chính sách về giá
cả, hệ thống kênh phân phối thuận tiên, chính sách quảng cáo hấp dẫn, đặc biệt coi trọngvấn đề uy tín của doanh nghiệp, của sản phẩm trên thị trường
- Mở rộng thị trường về mặt không gian địa lý và phạm vi địa lý
Doanh nghiệp phải luôn luôn không ngừng mở rộng về phạm vi địa lý Trong điềukiện hiện nay công ty mở rộng thị trường không chỉ bó hẹp trong một vùng, một địaphường, một khu vực mà có thể rộng khắp trên toàn quốc và xa hơn nữa là thị trường
Trang 17quốc tế Với điều kiện nguồn lực hiện nay của công ty công ty đã chiếm lĩnh được thịtrường trên toàn quốc.
Phát triển thị trường theo chiều sâu
Phát triển thị trường theo chiều sâu liên quan tới sự đổi mới sản phẩm bao gồm cảsản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ Phát triển thị trường theo chiều sâu cần phát triểndịch vụ đi kèm với sản phẩm như: Dịch vụ chăm sóc khách hàng, dịch vụ đổi hàng khihàng bị hư hỏng Những dịch vụ đó tạo cho khách hang sự an tâm hơn khi họ tiêu dùngsản phẩm của doanh nghiệp
Phát triển thị trường theo chiều sâu cần xác định được những nội dung sau:
- Xâm nhập sâu hơn vào thị trường
Đây là hình thức phát triển thị trường theo chiều sâu trên cơ sở khai thác tốt hơnnhững hàng hóa hiện tại trên thị trường hiện tại Để tăng được doanh số bán hàng trên thịtrường này ngành hàng nói chung và mặt hàng may mặc nói riêng phải thu hút đượckhách hàng hiện tại Với thị trường này khách hàng đã quen với hàng hóa của ngànhhàng, vì vậy để thu hút khách hàng, doanh nghiệp có thể sử dụng chiến lược giảm giáthích hợp, tiến hành quảng cáo, xúc tiến, khuyến mại, nâng cao chất lượng dịch vụ kháchhàng để không mất đi một khách hàng nào và tập trung vào những khách hàng mới Việcxâm nhập sâu hơn vào thị trường hàng hóa hiện tại là một cố gắng lớn hơn của ngànhhàng, Mặc dù ngành hàng có thuận lợi với sản phẩm của ngành Do vậy để gây được sựchú ý tập trung của người tiêu dùng thì doanh nghiệp phải thêm một khoản tài chính nhấtđịnh, Tùy thuộc vào quy mô thị trường hiện tại mà doanh nghiệp lựa chọn chiến lược xâmnhập sâu hơn vào thị trường
- Phân đoạn lựa chọn thị trường mục tiêu
Các nhóm người tiêu dùng có thể hình thành theo các đặc điểm khác nhau như tâm
lý, trình độ, tuồi tác, giới tính, sở thích, quá trình hình phân chia người tiêu dùng thànhcác nhóm trên cơ sở các đặc điểm khác biệt gọi là phân đoạn thị trường, Mỗi đoạn thịtrường khác nhau quan tâm tới đặc tính khác nhau của sản phẩm Do vậy mỗi doanhnghiệp, mỗi ngành hàng đều tập trung mọi nỗ lực của chính mình vào việc thỏa mãn tốtnhu cầu đặc thù của mỗi đoạn thị trường nào để tăng doanh số bán và thu nhiều lợi nhuận,công tác phân đoạn thị trường giúp cho doanh nghiệp tìm được thị phần hấp dẫn nhất , tìm
ra thị trường trọng điểm để khai thác
- Phát triển kênh phân phối
Trang 18Là việc doanh nghiệp khống chế kênh tiêu thụ àng hóa đến tận tay người tiêu dùngcuối cùng Mở rộng thị trường tiêu thụ bằng cách khống chế kênh tiêu thụ có nghĩa làngành hàng tổ chức mạng lưới tiêu thụ, kênh phân phối hàng hóa đầy đủ hoàn hảo chođến tận tay người tiêu dùng cuối cùng Thông qua hệ thống kênh phân phối và đường dâytiêu thụ được sản phẩm được quản lý chặt chẽ, thị trường sản phẩm sẽ có khả năng pháttriển và đảm bảo cho người tiêu dùng sẽ nhận được mặt hàng mới với mức giá tối ưu dodoanh nghiệp đặt ra mà không phải chịu bất cứ mộ khoản chi phí nào khác Việc pháttriển thị trường đồnh nghĩa với tổ chức mạng lưới tiêu thụ và kênh phân phối hàng hóahoàn hảo của doanh nghiệp, hệ thống tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở rộng bao nhiêu thìkhả năng phát triển thị trường càng lớn bấy nhiêu, việc phát triển và quản lý các kênhphân phối đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng , cùng với việc tổ chức các kênh phânphối đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng, cùng với tổ chức các dịch vụ tiêu thụ đầy đủ
và hoàn hảo không chỉ đem lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn bảo vệ lợi ích của ngườitiêu dùng, của xã hội
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Về doanh thu và lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ là tổng giá trị sản phẩm tiêu thụ được của doanh nghiệptrong kỳ
Doanh thu tiêu thụ = Qi x Pi
Trong đó: Qi : Khối lượng sản phẩm i tiêu thụ
Pi : Đơn giá sản phẩm i được tiêu thụ
Khi so sánh với kỳ kế hoạch hoặc so sánh với năm trước, doanh thu tiêu thụ cànglớn thể hiện tốc độ tăng trưởng về tiêu thụ ở khu vực đó của doanh nghiệp càng cao.Trong mối quan hệ tương quan so sánh với đối thủ cạnh tranh, doanh thu tiêu thụ củadoanh nghiệp cao hơn chứng tỏ hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp tốt hơn đối thủ củamình
Trang 19Thị phần của doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa thị phần tuyệt đối và thị phầntương đối Trong đó: Thị phần tuyệt đối là phần doanh thu của doanh nghiệp so được tiêuthụ trên thị trường Thị phần tương đối được xác định trên cơ sở thị phần tuyệt đối củadoanh nghiệp so với thị phần tuyệt đối của doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường
Doanh nghiệp có thị phần tương đối và tuyệt đối cao chứng tỏ có mức cạnh tranhlớn trên thị trường
1.3.3 Một số nhóm giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Công tác nghiên cứu phát triển thị trường
Sản phẩm của công ty vốn đã có uy tín trên thị trường nên công ty cần ết ức chútrọng trọng việc khai thác và sử dụng lợi thế này Sản xuất kinh doanh luôn gắn liền vớithị trường, thị trường càng rộng lớn thì khả năng tiêu thụ càng lớn, Nhưng muốn pháttriển thị trường tiêu thụ thì vấn đề hết sức quan trọng là nắm bắt nhu cầu thị trường, điều
đó đòi hỏi công ty phải tăng cường khảo sát, nghiên cứu phân đoạn thị trường Công tynên thành lập một tổ chuyên trách nghiên cứu thị trường để có thể thực hiện những côngviệc trên nhằm xây dựng hệ thống các chính sách cho công ty Qua nghiên cứu thị trườngcông ty phải xác định được thị trường mà mình muốn đầu tư kinh doanh Công ty cần giữvững thị trường truyền thống và thâm nhập khai thác được các thị trường mới nhằm thựchiện tốt chiến lược phát triển thị trường
Xây dựng và triển khai chính sách sản phẩm
Xây dựng và triển khai chính sách sản phẩm có vai trò quan trọng trong hoạt độngtiêu thụ sản phẩm của công ty, đặc biệt trong việc phát triển và mở rộng thị trường tiêuthụ Các chính sách sản phẩm chủ yếu, chính sách chủng loại và cơ cấu mặt hàng, sảnphẩm Đối với những sản phẩm mũi nhọn của doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoàn thiện sảnphẩm cả về chất lượng lẫn mẫu mã, các dịch vụ sau bán hàng để thỏa mãn nhu cầu của thịtrường Từ đó công ty có thể duy trì và phát huy tốt hơn ưu thế riêng trong chiến lượcphát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Phát triển sản phẩm
- Về sản phẩm: Điều quan trọng đầu tiên để xây dựng mối quan hệ hợp tác kinhdoanh của doanh nghiệp đó là phương châm lấy chữ tín làm hàng đầu, công ty phải luônkhông ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm,của công ty trên thị trường, tạo vị thế và uy tín cho sản phẩm, cho công ty trên thị trường
Để gia tăng thị phần thị trường của mình, các doanh nghiệp phải luôn thúc đẩy không
Trang 20ngừng tạo ra các sản phẩm mới, cải tiến các sản phẩm cũ dựa theo thị hướng của ngườitiêu dùng, vậy thì sản phẩm của doanh nghiệp mới có chỗ đứng trên thị trường so với cácđối thủ cạnh tranh khác.
- Giá cả: Doanh nghiệp phải kiểm soát được các yếu tố chi phí đầu vào, phân tíchdiễn biến của chi phí cố định và chi phí biến đổi trong tương quan với khách hàng khốilượng sản phẩm sản xuất ra Tiết kiệm và giảm chi phí sản xuất và chi phí quản lý ở mứctối thiểu và xây dựng các mức giá nào và khách hàng nào, khối lượng tiêu thụ là baonhiêu để thu được lợi nhuận tối đa
- Đa dạng hoá sản phẩm: giúp cho công ty đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của thịtrường, thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng, thị hiếu tiêu dùng từng loại sản phẩm củakhách hàng, mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm cả về địa lý và mùa Đồng thờichiến lược đa dạng hoá sản phẩm sẽ giúp cho công ty đáp ứng được đầy đủ nhu cầu củathị trường, thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng từng loại sản phẩm của khách hàng, mở rộngđược thị trường tiêu thụ sản phẩm cả về địa lý và mùa, đồng thời chiến lược đa dạng hoásản phẩm giúp công ty tận dụng hết khả năng sản xuất, sản xuất hết công suất thiết kế vàbảo đảm nâng cao năng lực tiêu thụ sản phẩm Khi thực hiện đa dạng hoá sản phẩm công
ty cần thực hiện theo các hướng sau:
Chiến lược quảng cáo, marketing, chăm sóc khách hàng
Bên cạnh các giải pháp về sản phẩm, nguồn tài chính của công ty thì công tácquảng cáo, marketing và chăm sóc khách hàng là hết sức quan trọng Công ty cần thựchiện một số biện pháp để khuếch đại thương hiệu sản phẩm và công ty tới các khách hànghơn nữa Tăng cường quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, bao gồm truyềnhình trung ương và địa phương, báo chí, đài phát thanh, Lựa chọn một số thị trường màdoanh nghiệp muốn đẩy mạnh phát triển để tổ chức quảng cáo nhằm cung cấp các thôngtin về sản phẩm, lôi cuốn sự chú ý, quan tâm và quyết định mua hàng của khách hàng.Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tham gia các hoạt động xã hội để khuếch trương uy tín củacông ty như tài trợ một số hoạt động thể thao, văn hóa, tổ chức các cuộc giao lưu canhạc, Tham gia các hoạt động giúp công ty thiết lập được hình ảnh tốt trước mắt côngchúng
Cải thiện tổ chức cơ cấu phòng kinh doanh
Lý do cơ bản là do mạng lưới tiêu thụ của công ty càng phát triển rộng, khối lượngcông việc càng lớn nhưng số lượng nhân viên của phòng còn ít, trình độ chuyên môn còn
Trang 21nhiều mặt hạn chế do phải kiêm nhiều việc Do vậy, công ty cần phải hoàn thiện hoạtđộng của phòng kinh doanh như sau:
- Tăng cường thêm một số nhân viên có trình độ, năng lực, có lòng nhiệt thành vàophòng kinh doanh để đảm nhiệm một số công việc cụ thể, dần dần chuyên môn hoá độingũ lao động
- Thành lập bộ phận chuyên nghiên cứu thị trường, nhiệm vụ cơ bản của bộ phậnnày là thu thập và xử lý thông tin về mức độ, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm màcông ty sản xuất, nghiên cứu sự biến động của nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng
- Thành lập bộ phận chuyên nghiên cứu thị trường, nhiệm vụ cơ bản của bộ phậnnày là thu thập và xử lý thông tin về mức độ, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm màcông ty sản xuất, nghiên cứu sự biến động của nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng
Chương 2 Thực trạng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội trên thị trường nội địa Việt Nam
2.1 Tổng quan tình hình và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường tiêu thụ
sản phẩm của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội
2.1.1 Tổng quan tình hình kinh doanh chung của Công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo
Hà Nội
K PTÍCH NGAY TÌNH HÌNH KD NTN
CÁC SỐ LIỆU CẦN CẬP NHẬT 2021
XEM LẠI HÌNH THỨC CÁC CON SỐ
Bảng 3.3 So sánh kết quả hoạt động kinh doanh của Công Ty cổ Phần Bánh
Mứt Kẹo Hà Nội 2018-2020
Đơn vị: VNĐ
So sánh 2019/2018 2020/2019
Số tiền Tỷ lệ
(%) Số tiền
Tỷ lệ (%)
120.529.1 58.708
106.121.58 8.276
97.971.22
14.407.57 0.432 -12,5
Trang 22Doanh thu thuần 120.468.54
7.021
120.344.6 12.872
105.947.15 1.988
123.934.1 49
0,01
14.397.46 0.884
12
Lợi nhuận sau
thuế
8.831.907.7 64
6.033.719 304
4.648.755.4 31
2.798.188 460
32
1.384.963 873
23
Nguồn: Phòng Tài chính kế toán
Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội cónhiều biến động qua các năm Năm 2018 là một năm khá thuận lợi với Công ty khi tổnggiá trị tài sản đạt 79,5 tỷ VND, trong đó doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt120,6 tỷ VNĐ, kéo theo lợi nhuận sau thuế cũng tăng cao đạt mức 8,8 tỷ VNĐ
Nền kinh tế thị trường năm 2019 có nhiều biến động khi kinh tế thế giới tiếp tụctăng trưởng chậm lại, căng thẳng chính trị trên thế giới; kèm theo đó là nhiều thách thứcnhư thời tiết diễn biến phức tạp; dịch tả lợn châu Phi xảy ra Điều đó cũng ảnh hưởngkhông nhỏ đến Công ty cổ phần Bánh Mứt kẹo Hà Nội So với 2018, doanh thu bán hàngtrong năm 2019 đạt 120,5 tỷ VNĐ giảm 97 triệu VNĐ, doanh thu thuần cũng giảm giảm0,01%, tức 123 triệu VNĐ, đạt 120,3 tỷ VNĐ Do doanh thu liên tục giảm nên lợi nhuậncũng giảm theo, lợi nhuận sau thuế năm 2019 đạt 6,03 tỷ VNĐ giảm 32% tức 2,7 tỷ VNĐ
so với năm 2018
Bước sang năm 2020, dịch Covid – 19 bùng nổ mạnh mẽ, kinh tế thế giới nói chung
và kinh tế Việt Nam nói riêng bị ảnh hưởng nặng nề, suy thoái mạnh, do đó các mức chỉtiêu của công ty hầu hết giảm so với năm 2019 Doanh thu thuần năm 2020 chỉ đạt 105,9
tỷ VNĐ, giảm 12% so với năm 2019, cùng với đó là lợi nhuận sau thuế cũng giảm xuống23% khi chỉ đạt 4,6 tỷ VNĐ Tổng giá trị tài sản năm 2020 bị tụt xuống thấp nhất trong 3năm trở lại đây khi chỉ còn 76,8 tỷ VNĐ, giảm 12% so với năm 2019 Trong khi doanhthu và nguồn vốn liên tục biến động thất thường thì chi phí đầu tư tăng khá nhiều vào việcmua sắm trang thiết bị, nguyên liệu, sửa sang, nâng cấp cơ sở vật chất, Chi phí tăngnhiều trong khi doanh thu tăng ít làm cho lợi nhuận sau thuế liên tục giảm qua các năm,dẫn tới việc lợi nhuận âm
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công
ty Bánh Mứt Kẹo Hà Nội
2.1.2.1 Nhân tố khách quan
2.1.2.1.1.Nhân tố về chính trị, pháp luật
Trang 23Chính trị, pháp luật quy định các nhân tố khác của môi trường kinh doanh Nó có thểtạo ra thời cơ, cơ hội hoặc cản trở các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Điều này phản ảnh sự tác động, can thiệp của các chủ thể quản lý vĩ mô đến kinh doanhcủa doanh nghiệp nhằm điều chỉnh hành vi kinh doanh, hành vi tiêu dùng, quan hệ traođổi thương mại… Những thay đổi về quan điểm đường lối chính trị pháp luật có thể mở
ra hoặc làm sụp đổ thị trường làm cho hoạt động của một số ngành, thậm chí của các mộtquốc gia bị đảo lộn Các yếu tố thuộc môi trường chính trị pháp luật chi phối mạnh mẽ sựhình thành cơ hội tiêu thụ và khả năng thực hiện mục tiêu của Công ty cổ phần Bánh MứtKẹo Hà Nội:
Chính sách thuế
Thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, Nghị định ban hànhbiểu thuế ASEAN – Việt Nam ATIGA có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 Theo lộ trình giảmthuế suất nhập khẩu, thuế nhập khẩu đối với mặt hàng bánh kẹo từ ASEAN giảm xuốngcòn 0-5% Trong đó các mặt hàng nguyên, vật liệu chính trong sản xuất bánh kẹo như:đường, bột mì, chế phẩm bánh kẹo hoa quả nhiệt đới, sữa đều được áp mức thuế suấtthấp nhất là 0%
Tác động tích cực: Việc giảm thuế nhập khẩu sẽ kéo giảm đáng kể giá nhiều mặt
hàng, điều này có tác động vô cùng lớn đến cơ cấu nhập khẩu của Công ty Bánh Mứt Kẹo
Hà Nội Đường và bột mì là nguyên liệu được nhập nhiều nhất, nay lại được hạ giá thànhgiúp công ty tiết kiệm được phần lớn chi phí nhập nguyên, vật liệu
Tác động tiêu cực: Việc giảm thuế nhập khẩu đem đến lợi ích khi nhập các thành
phẩm với giá rẻ, nhưng cũng đồng thời nguồn bánh kẹo nhập khẩu tràn vào Việt Namngày càng gia tăng đột biến Điều đó gây sức ép lớn đối với thị trường bánh kẹo của Công
ty cố phẩn Bánh Mứt Kẹo Hà Nội nói riêng và trong nước nói chung Sản phẩm của công
ty không chỉ phải cạnh tranh với sản phẩm của các công ty trong nước mà còn phải đốimặt với sự cạnh tranh khốc liệt của sản phẩm ngoại nhập Dù có lợi thế về mặt hàngtruyền thống nhưng đứng trước thị hiếu yêu thích hàng ngoại cộng thêm giá rẻ khiến chosản phẩm của Công ty Bánh Mứt Kẹo Hà Nội đứng trước khó khăn rất lớn để mở rộngthêm thị trường và tăng sản lượng tiêu thụ
Chính sách về an toàn thực phẩm
Ngày 2/2/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2018/NĐ-CP hướng dẫn một
số điều của Luật An toàn thực phẩm Nghị định mới có nhiều thay đổi về việc quản lý antoàn thực phẩm, cụ thể: Cắt giảm mạnh thủ tục đăng ký, công bố, kiểm tra chuyên ngành