- Theo quan hệ điều hành và căn cứ vào tính chất của chủ thể thực hiện thủ tục: TTHC là trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Ngoan
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Thu Quyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Hữu Ngoan đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND quận Long Biên, UBND phường Phúc Đồng, Thượng Thanh, Gia Thụy đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Thu Quyên
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ viii
Danh mục hộp viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Đóng góp mới 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thực hiện các thủ tục hành chính 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Các khái niệm liên quan 5
2.1.2 Đặc điểm, vai trò và quy định của quản lý thực hiện các thủ tục hành chính 10
2.1.3 Nội dung quản lý thực hiện thủ tục hành chính 15
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thực hiện các thủ tục hành chính 25
2.2 Cơ sở thực tiễn 29
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thực hiện thủ tục hành chính ở một số nước trên thế giới 29
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thực hiện thủ tục hành chính ở một số địa phương trong nước 30
Trang 52.2.3 Bài học quản lý thực hiện thủ tục hành chính cho Quận Long Biên 32
2.2.4 Một số nghiên cứu có liên quan đến quản lý thủ tục hành chính 34
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 36
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 36
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 40
3.2 Phương pháp nghiên cứu 44
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 44
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 45
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 46
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 46
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 47
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 48
4.1 Thực trạng quản lý thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn quận Long Biên 48
4.1.1 Trình tự ban hành các thủ tục hành chính 48
4.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý thủ tục hành chính 50
4.1.3 Thực trạng quản lý và thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội 54
4.1.4 Công tác rà soát và kiểm tra, giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính 66
4.1.5 Đánh giá kết quả thực hiện thủ tục hành chính tại quận Long Biên 69
4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến tăng cường quản lý thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn quận Long Biên 73
4.2.1 Hệ thống văn bản, chính sách của Đảng và Nhà nước về thủ tục hành chính 73
4.2.2 Công tác tổ chức, triển khai của lãnh đạo quận Long Biên 76
4.2.3 Chất lượng cán bộ công chức, viên chức quận Long Biên 78
4.2.4 Nhận thức của người dân về thực hiện thủ tục hành chính 80
4.2.5 Kinh phí thực hiện 83
4.2.6 Hệ thống cơ sở vật chất 84
4.2.7 Sự liên kết và phồi hợp hoạt động giữa các cơ quan 85
4.3 Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn quận Long Biên 86
Trang 64.3.1 Định hướng tăng cường quản lý thực hiện các thủ tục hành chính trên địa
bàn Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội 86
4.3.2 Các giải pháp tăng cường quản lý thực hiện các thủ tục hành chính trên địa bàn Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội 87
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 96
5.1 Kết luận 96
5.2 Kiến nghị 97
5.2.1 Đối với trung ương 97
5.2.2 Đối với chính quyền các cấp 98
Tài liệu tham khảo 99
Phụ lục 101
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Diện tích quận Long Biên so với các quận nội thành Hà Nội 39
Bảng 3.2 Hiện trạng cơ cấu kinh tế quận Long Biên 2015 – 2017 41
Bảng 3.3 Dân số trên địa bàn quận Long Biên qua các năm 42
Bảng 3.4 Thu thập số liệu và thông tin sơ cấp 46
Bảng 4.1 Quy trình giải quyết thủ tục hành chính tại Quận Long Biên 49
Bảng 4.2 Tổng hợp số lượng thủ tục hành chính quận Long Biên năm 2017 55
Bảng 4.3 Tổng hợp kết quả tiếp nhận hồ sơ hành chính giai đoạn 2015 - 2017 56
Bảng 4.4 Kết quả tiếp nhận hồ sơ hành chính theo nội dung TTHC giai đoạn 2015 - 2017 57
Bảng 4.5 Tình hình giải quyết hồ sơ lĩnh vực quản lý đất đai giai đoạn 2015 - 2017 58
Bảng 4.6 Tình hình giải quyết hồ sơ lĩnh vực quản lý xây dựng và nhà ở giai đoạn 2015 - 2017 61
Bảng 4.7 Tình hình giải quyết hồ sơ trong lĩnh vực Lao động - Thương binh - Xã hội giai đoạn 2015 - 2017 63
Bảng 4.8 Tình hình giải quyết hồ sơ trong lĩnh vực cấp giấy CN đăng ký kinh doanh giai đoạn 2015 - 2017 63
Bảng 4.9 Tình hình giải quyết hồ sơ trong lĩnh vực tư pháp giai đoạn 2015 - 2017 65
Bảng 4.10 Kết quả rà soát thủ tục hành chính từ giai đoạn 2015 - 2017 67
Bảng 4.11 Đánh giá cán bộ về công tác rà soát các thủ tục hành chính 68
Bảng 4.12 Đánh giá của cán bộ về các văn bản thủ tục hành chính 75
Bảng 4.13 Nội dung cần hoàn thiện trong văn bản về thủ tục hành chính 75
Bảng 4.14 Đánh giá về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quận Long Biên 79
Bảng 4.15 Nhu cầu đào tạo về thực hiện thủ tục hành chính của cán bộ quận Long Biên 80
Bảng 4.16 Cách tiếp cận thông tin về thủ tục hành chính 81
Bảng 4.17 Sự hài lòng của người dân về quá trình giải quyết các thủ tục hành chính quận Long Biên 82
Bảng 4.18 Nội dung hoàn thiện trong thực hiện các thủ tục hành chính 83
Bảng 4.19 Đánh giá về đầu tư trang thiết bị thực hiện thủ tục hành chính 83
Bảng 4.20 Trang thiết bị được đầu tư mua sắm phục vụ cho công việc giai đoạn 2015 - 2017 85
Bảng 4.21 Đánh giá về sự phối hợp và liên kết hoạt động trong thực hiện thủ tục hành chính 85
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1 Tổ chức quản lý thực hiện các thủ tục hành chính quận Long Biên 51
Sơ đồ 4.2 Mô hình tổ chức và quy trình giải quyết công việc theo cơ chế “một
cửa” tại UBND Quận Long Biên 52
DANH MỤC HỘP
Hộp 4.1 Tăng cường quy chế giám sát, kiểm tra cán bộ 69 Hộp 4.2 Thường xuyên chỉ đạo công tác thực hiện thủ tục hành chính 78
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phạm Thu Quyên
Tên luận văn: Tăng cường quản lý thực hiện các thủ tục hành chính trên địa bàn Quận
Long Biên, Thành phố Hà Nội
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 8 34 04 10
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá thực trạng về quản lý thực hiện các thủ tục hành chính trên địa bàn Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn trong thời gian tới Tương ứng với đó là mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thủ tục hành chính và quản lý thực hiện thủ tục hành chính; (2) Đánh giá thực trạng quản lý thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn Quận Long Biên; (3) Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản
lý thực hiện thủ tục hành chính của Quận Long Biên; (4) Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn Quận Long Biên trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng linh hoạt giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp để đưa ra các phân tích nhận định Trong đó số liệu thứ cấp thu thập từ các nguồn khác nhau như: Các sách, tạp chí, báo, báo cáo của các ngành, các cấp, trang web… có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài Số liệu sơ cấp được thu thập bằng các công cụ phỏng vấn sâu, phỏng vấn cấu trúc, bán cấu trúc các đối tượng điều tra Để đảm bảo tính đại diện của mẫu, chúng tôi tiến hành chọn mẫu điều tra là 130 mẫu bao gồm: 90 cá nhân, doanh nghiệp,
tổ chức, hộ kinh doanh khi thực hiện thủ tục hành chính, 10 cán bộ quản lý thủ tục hành chính cấp Quận và 30 cán bộ cơ sở quản lý, giải quyết các thủ tục hành chính cấp cơ sở
Kết quả nghiên cứu chính và kết luận
Qua đánh giá thực trạng quản lý thực hiện các thủ tục hành chính trên địa bàn Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội cho thấy: tổng số TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Quận Long Biên tăng qua các năm, năm 2015 là 46.336 TTHC, năm 2017 là 46.812 TTHC, trong đó TTHC cấp quận năm 2017 là 4.328 TTHC và cấp phường là 42.484 TTHC Năm 2017 lĩnh vực quản lý đất đai là 23.998 TTHC, Lĩnh vực quản lý xây dựng và nhà ở là 4.459 TTHC, Lĩnh vực Lao động - Thương binh - Xã hội là 6.320 TTHC, Lĩnh vực cấp giấy CN đăng ký kinh doanh là 5.252 TTHC, Lĩnh vực tư pháp là
Trang 111.399 TTHC và lĩnh vực khác là 5.384 TTHC Máy móc, trang thiết bị văn phòng được quản lý và theo dõi hàng năm nhằm phục vụ cho việc sửa chữa, thay thế khi bị hỏng hóc hoặc thiếu xót Năm 2017 thiết bị được đầu tư mua sắm phục vụ cho công việc là máy
vi tính 85 máy, 20 thiết bị truyền thông, 28 máy in, 03 máy chiếu, 03 ti vi UBND Quận Long Biên đã triển khai đầy đủ, kịp thời các văn bản của cấp trên và các sở, ngành liên quan đến công tác kiểm soát thủ tục hành chính tới từng phòng, ban, đơn vị và quán triệt thực hiện tốt công tác này thông qua các cuộc họp giao ban hàng tháng, phân công bộ phận thường trực tổng hợp báo cáo, đồng thời giao cho các đơn vị thường xuyên cập nhật chính sách, chế độ mới rà soát các thủ tục hành chính để đề xuất việc đơn giản hóa thủ tục hành chính
Các yếu tố ảnh hưởng đến trạng quản lý thực hiện các thủ tục hành chính trên địa bàn Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội: (1) : Hệ thống văn bản, chính sách của Đảng và Nhà nước về thủ tục hành chính; (2) Công tác tổ chức, triển khai của lãnh đạo quận Long Biên; (3) Chất lượng cán bộ công chức, viên chức quận Long Biên; (4) Nhận thức của người dân về thực hiện thủ tục hành chính; (5) Kinh phí thực hiện; (6) Hệ thống cơ sở vật chất; (7) Sự liên kết và phồi hợp hoạt động giữa các cơ quan
Thông qua nghiên cứu chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn Quận Long Biên trong thời gian tới: Xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm thủ tục hành chính; Tăng cường
tổ chức, triển khai thực hiện các thủ tục hành chính; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giải quyết thủ tục hành chính; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện cải cách hành chính; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện cải cách hành chính; Hiện đại hóa trang thiết bị và cơ sở vật chất trong thực hiện các thủ tục hành chính; Tiếp tục rà soát, sửa đổi và thay thế những thủ tục hành chính đã hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện thủ tục hành chính
Trang 12THESIS ABSTRACT
Author: Pham Thu Quyen
Thesis title: Strengthen the management of administrative procedures in Long Bien
District, Hanoi
Major: Economic management Code: 8.34.04.10
Education institution: Vietnam National University of Agriculture
of administrative procedures in Long Bien district in the coming time
Methodology
In this study, we used the flexibility between primary and secondary data to provide analytical analysis Secondary data collected from various sources such as books, journals, newspapers, reports of branches, websites related to research content Primary data was collected using in-depth interviews, structured interviews and semi- structured interviews To ensure the representation of the samples, we selected the sample of 130 samples including 90 individuals, enterprises, organizations, business households when carrying out administrative procedures, 10 cadre managers district- level administrative procedures and 30 grassroots cadres manage and settle administrative procedures at the grassroots level
Resulst
The assessment of the current administrative procedures in Long Bien District, Hanoi shows that the total number of administrative procedures under jurisdiction of Long Bien District increases over the years and in 2015 is 46,336 administrative procedures, in 2017 is 46,812, including 4,328 administrative procedures at district level and 42,484 administrative procedures at ward level In 2017 the area of land management was 23,998 Administrative procedures, construction and housing management were 4,459 administrative procedures, the Labor, Invalids and Social
Trang 13Affairs sector was 6,320 administrative procedures, the branch of business registration was 5,252 Administrative and judicial branch is 1,399 administrative procedures and 5,384 administrative procedures Office machinery and equipment are managed and monitored annually for repair and replacement when damaged or missing In the year
2017, equipment invested for the work is 85 computers, 20 communication devices, 28 printers, 03 projectors, 03 televisions The People's Committee of Long Bien district has timely and fully implemented the documents of the higher level and the departments related to the control of administrative procedures to each department, unit and thoroughly implement the work This is done through monthly meetings, assigning the Standing Committee to report and assign units regularly update policies and regimes to review administrative procedures to propose simplification of administrative procedures Main factors influencing management of administrative procedures in Long Bien District, Hanoi: (1) System of documents and policies of the Party and State on administrative procedures; (2) Organization and implementation of leaders of Long Bien district; (3) The quality of cadres and civil servants of Long Bien district; (4) People's awareness on the implementation of administrative procedures; (5) Funding for implementation; (6) infrastructure system; (7) Linkages and aggregation between agencies Through the research, we propose some solutions to enhance administrative management of administrative procedures in Long Bien District in the coming time: Develop and complete the documents of administrative procedures The Strengthening the organization and implementation of administrative procedures; Improve the quality
of human resources for administrative procedures; To intensify the examination and supervision of the implementation of administrative reforms; To intensify the examination and supervision of the implementation of administrative reforms; Modernization of equipment and facilities in the implementation of administrative procedures; Continuously reviewing, amending and replacing the invalid or invalid administrative procedures Inspection, supervision and evaluation of the implementation
of administrative procedures
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cải cách nền hành chính nhà nước là một quá trình liên tục mang tính định nhằm làm cho hoạt động thực thi quyền hành pháp ngày càng thích ứng hơn với yêu cầu của sự vận động và phát triển nền kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Cải cách hành chính nhà nước là một bộ phận của cải cách tổ chức và hoạt động của
hệ thống bộ máy nhà nước nói chung Các quốc gia phải thường xuyên cải cách nền hành chính bởi xu hướng phát triển chung của các nhà nước là phải thu hẹp phạm vi hoạt động của bộ máy hành chính Trình độ dân trí và tinh thần dân chủ ngày càng cao đã đặt ra những yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính và người dân ngày càng tham gia trực tiếp vào công việc của cơ quan hành chính Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đã đòi hỏi hoạt động hành chính nhà nước phải thay đổi cả về hình thức, nội dung; phải tuân theo nhiều thông lệ quốc tế trong hoạt động hành chính nhà nước
Bộ máy hành chính ở nước ta qua 60 năm xây dựng và phát triển đã đáp ứng yêu cầu quản lý nền kinh tế- xã hội qua các giai đoạn phát triển lịch sử của đất nước Tuy nhiên, bộ máy hành chính đã bộc lộ nhiều khuyết tật, không đáp ứng được những nhu cầu của công cuộc đổi mới đất nước Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã đề ra chủ trương cải cách bộ máy nhà nước, mà trọng tâm là cải cách hệ thống hành pháp và hành chính thông suốt từ trung ương xuống cơ sở, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu lực
Trong điều kiện chuyển đổi cơ chế kinh tế, Nhà nước cần dành sự quan tâm nhiều hơn đối với việc cải cách thủ tục hành chính nhằm đáp ứng các yêu cầu dịch vụ, phục vụ xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính luôn là một yêu cầu bức xúc Cải cách thủ tục hành chính là một công việc thuộc nội dung cải cách thể chế hành chính, trong khi đó, cải cách thể chế hành chính là một trong bốn nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính Tuy nhiên, cải cách thủ tục hành chính lại được đặt ra trước cải cách hành chính, được xem như là khâu đột phá của cải cách hành chính, và trong tiến trình cải cách hành chính, vấn đề thủ tục hành chính thường xuyên được Chính phủ quan tâm Đó là vì thủ tục hành chính hàng ngày liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, cấp chính quyền, cũng như
Trang 15đến các tổ chức và cá nhân công dân trong mối quan hệ với Nhà nước Các quyền, nghĩa vụ của mọi công dân đã được quy định ở Hiến pháp hay ở các bộ luật, cũng như các yêu cầu, nguyện vọng của họ có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào đều phải thông qua thủ tục hành chính do các cơ quan, các cấp chính quyền nhà nước quy định và trực tiếp giải quyết
Hiện nay, thành phố Hà Nội có 29 đơn vị hành chính cấp Quận, Huyện và tại địa bàn nghiên cứu là Quận Long Biên đã được UBND Thành phố Hà Nội cho thực hiện là điểm sáng về cải cách thủ tục hành chính Quận Long Biên được thành lập ngày 06/11/2003, có diện tích 6.038,24 ha với trên 190.000 nhân khẩu, có 14 đơn vị hành chính trực thuộc, có các đặc thù khác nhau là các phường: Cự Khối, Thạch Bàn, Long Biên, Bồ Đề, Ngọc Thụy, Ngọc Lâm, Gia Thụy, Thượng Thanh, Việt Hưng, Phúc Đồng, Sài Đồng, Phúc Lợi, Giang Biên, Đức Giang với
305 tổ dân phố Mật độ dân số bình quân 2,83 nghìn người trên km2 (UBND Quận Long Biên, 2017) Do có sự khác nhau như vậy nên sẽ khó khăn cho thành phố trong công tác quản lý và điều hành công việc Bên cạnh đó, thực trạng hoạt động của chính quyền cấp quận, huyện tại thành phố Hà Nội đã xuất hiện nhiều bất cập Bộ máy hành chính cồng kềnh, chưa có sự thống nhất giữa các quận, huyện, phường, xã Thủ tục hành chính tuy đã có việc đơn giản hóa và chuyển biến tích cực, nhưng hiện nay vẫn còn quá nhiều thủ tục chồng chéo và quy trình giải quyết còn rườm rà, chưa thực sự tạo được sự mới mẻ trong giao dịch giữa công dân, tổ chức, đơn vị doanh nghiệp với cơ quan hành chính Nhà nước Một hạn chế nữa liên quan đến công tác tổ chức cán bộ và công chức hiện nay là trình
độ giữa cán bộ và công chức giữa các quận, huyện, phường, xã nói chung cũng như trong chính các quận, huyện, phường, xã đó cũng có sự chênh lệch nhất định, ý thức và sự bức xúc của công dân khi tham gia, các thông tin chưa được công khai minh bạch, trách nhiệm của cán bộ công chức tại các cơ quan cũng tồn tại một số bất cập nhất định
Thực tiễn công tác quản lý nhà nước đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn một sự đột phá, có tính chất quyết định trong công tác cán bộ bảo đảm ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ mà trọng tâm là giải quyết kịp thời, hiệu quả các nguyện vọng của các tổ chức và công dân liên quan đến hồ sơ hành chính Mặc dù đã có nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước cũng như đã
có một số cuộc khảo sát về ý kiến đánh giá của tổ chức, Doanh nghiệp (hộ kinh doanh) trong việc thực hiện các TTHC tại các phường trên địa bàn Quận Long
Trang 16nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả Việc xác định những thành phần của chất lượng dịch vụ, các nhân tố hạn chế cũng như các nhân tố tác động vào việc thực hiện các TTHC là tiền đề nâng cao chất lượng dịch vụ
Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác cải cách thủ tục hành chính nhà nước hiện nay trên địa bàn thành phố Hà Nội và các quận, huyện, thị xã nên
tôi đã chọn đề tài “Tăng cường quản lý thực hiện các thủ tục hành chính trên
địa bàn Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp
chương trình Thạc sỹ của Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý thủ tục hành chính trên địa bàn Quận Long Biên, từ đó đề ra giải pháp tăng cường quản lý thực hiện TTHC trên địa bàn Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng giải quyết TTHC trên địa bàn Quận Long Biên như thế nào?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý thực hiện TTHC trên địa bàn Quận Long Biên là gì?
- Giải pháp nào giúp tăng cường quản lý thực hiện các TTHC trên địa bàn Quận Long Biên?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của Luận văn là lý luận và thực tiễn quản lý
Trang 17thực hiện TTHC
- Đối tượng khảo sát là TTHC ở một số lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của 03 phường trên địa bàn Quận Long Biên
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại địa bàn Quận Long Biên chọn
đại diện 3 phường (Gia Thụy, Thượng Thanh và Phúc Đồng)
- Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn từ
tháng 10/2017 đến tháng 10/2018
Thời gian số liệu sử dụng: Từ năm 2015 đến 2017
Đề xuất giải pháp đến năm 2020
- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu và tìm hiểu về việc thực hiện các
thủ tục hành chính Đưa ra giải pháp tăng cường quản lý thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn Quận Long Biên Do thủ tục hành chính trên phạm vi Quận có rất nhiều nên đề tài chỉ tập trung vào các TTHC: Lĩnh vực quản lý đất đai; Lĩnh vực quản lý xây dựng và nhà ở; Lĩnh vực Lao động - Thương binh - Xã hội; Lĩnh vực cấp giấy CN đăng ký kinh doanh; Lĩnh vực tư pháp
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI
- Ý nghĩa về lý luận là phân tích tình hình thực hiện TTHC tại các phường trên địa bàn Quận Long Biên, nghiên cứu trên các mặt tiêu chí: cơ chế, chất lượng TTHC nhà nước, công tác lãnh đạo, quản lý chuyên môn là khả năng dự báo, phán đoán và xử lý tình huống trong thực hiện nhiệm vụ của cơ quan hành chính; năng lực thực thi công vụ của mỗi cán bộ công chức; năng lực thực thi công vụ của tập thể trong việc tiếp nhận và giải quyết các TTHC
- Ý nghĩa thực tiễn là nghiên cứu tình hình thực tiễn và kinh nghiệm về quản lý thực hiện các thủ tục hành chính của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam vận dụng vào địa bàn Quận Long Biên, thành phố Hà Nội Đi sâu đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thực hiện các thủ tục hành chính trên địa bàn Quận Long Biên, từ đó xây dựng được giải pháp tăng
cường quản lý các TTHC trên địa bàn Quận Long Biên
Trang 18PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
Theo các cách tiếp cận khác nhau thì TTHC cũng được hiểu khác nhau Một số cách tiếp cận chủ yếu là:
- Theo cách tiếp cận thông thường: TTHC là hồ sơ, giấy tờ mà người dân cần phải nộp cho cơ quan chính quyền khi đến để giải quyết công việc về hành chính
- Theo quan hệ điều hành và căn cứ vào tính chất của chủ thể thực hiện thủ tục: TTHC là trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan,
tổ chức và cá nhân công dân
- Theo khoa học pháp lý: toàn bộ các quy tắc pháp lý quy định về trình tự, trật tự, thực hiện thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết nhiệm
vụ nhà nước và công việc liên quan đến công dân tạo thành hệ thống quy phạm thủ tục, có tính bắt buộc các cơ quan nhà nước cũng như các cán bộ, công chức nhà nước phải tuân theo trong quá trình giải quyết công việc thuộc chức năng và thẩm quyền của mình Nó nhằm bảo đảm cho công việc đạt được mục đích đã định, phù hợp với thẩm quyền, chức năng do luật quy định cho các cơ quan trong hoạt động quản lý nhà nước
- Xét trong nội bộ của bộ máy hành chính, TTHC là cách thức giải quyết công việc, là trình tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước để giải quyết các công việc cụ thể của cơ quan mình
- Xét trong mối quan hệ với đối tượng quản lý, TTHC được hiểu là quan
hệ giữa cơ quan nhà nước với công dân trong quá trình giải quyết công việc của
Trang 19dân, theo yêu cầu bảo vệ quyền lợi của công dân và của nhà nước, cũng như thực hiện đúng nghĩa vụ của các bên (Diệp Văn Sơn, 2014)
Tóm lại, TTHC là một loại quy phạm pháp luật quy định trình tự về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước trong mối quan
hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân; đồng thời nó cũng gắn với thái
độ, cách thức ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân (Diệp Văn Sơn, 2014)
Để giải quyết một công việc nhất định đều cần có những thủ tục phù hợp Theo nghĩa thông thường, thủ tục có nghĩa là phương cách giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể thống nhất
Cũng có thể hiểu thủ tục là những quy tắc, chế độ, phép tắc hay quy định chung phải tuân theo khi làm việc công
Hoạt động quản lý Nhà nước được thể hiện qua các chính sách quản lý Nhà nước đó là những quy phạm pháp lý để hướng dẫn hoạt động quản lý Nhà nước, quản lý hoạt động của con người Để cụ thể hóa những quy phạm pháp lý này, thủ tục là loại kế hoạch qui định trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công việc Khoa học pháp lý gọi đó là những quy phạm thủ tục, quy phạm này gồm các bộ phận: Thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng
tư pháp và thủ tục hành chính
Thủ tục Lập pháp là thủ tục làm Hiến pháp và làm luật Thủ tục tố tụng Tư pháp là thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự, định tội, được thực hiện bởi các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử… thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động HCNN
Thủ tục hành chính (TTHC) là một loại quy phạm pháp luật qui định về trình tự về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của
bộ máy Nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của các cơ quan HCNN trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân
Thủ tục hành chính được đặt ra để các cơ quan Nhà nước có thể thực hiện mọi hình thức hoạt động cần thiết của mình trong đó bao gồm cả trình tự thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm, bói nhiệm, điều động viên chức, trình tự lập quy, áp dụng quy phạm để đảm bảo các quyền của chủ thể và xử lý vi phạm, trình tự điều hành, tổ chức các hoạt động tác nghiệp hành chính Đó chính là các
Trang 20quy tắc phải tuân thủ trong quá trình ra các quyết định hành chính của các cơ quan quản lý Nhà nước
Thủ tục hành chính là một bộ phận chế định của Luật hành chính Nói cách khác, TTHC là một loại hình quy phạm mang tính công cụ để giúp các cơ quan Nhà nước có điều kiện thực hiện chức năng của mình (Nguyễn Hữu Khiển, 2010)
Thủ tục hành chính do các cơ quan Nhà nước ban hành để thực thi Hiến pháp và pháp luật nhằm thực hiện chức năng quản lý của nền HCNN và hoàn thành nhiệm vụ của mình, đồng thời các cơ quan HCNN có trách nhiệm thực thi các thủ tục đó
Trước đây khi chưa triển khai cơ chế “một của” công dân, tổ chức phải đi lại nhiều lần, đến một hoặc nhiều cơ quan để liên hệ giải quyết công việc của mình Nay với cơ chế “một của” công dân, tổ chức chỉ phải đến liên hệ tại một bộ phận, việc phối hợp giải quyết công việc của công dân, tổ chức thuộc trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước
Thủ tục hành chính là tổng thể các quy phạm bắt buộc phải tuân theo khi tiến hành thành lập, thay đổi, giải thể, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phạm vi hoạt động của các tổ chức, khi ban hành các văn bản hành chính, khi thực hiện các hành vi hành chính; khi các công dân, các tổ chức quần chúng xã hội tiến hành những công việc đòi hỏi có sự chứng kiến, chứng nhận, giúp đỡ, can thiệp của các cơ quan và cán bộ, nhân viên nhà nước Thủ tục hành chính thuận tiện, đơn giản là một trong những điều kiện giúp nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước Ngược lại, thủ tục hành chính rườm rà, nặng
nề không những gây ra tổn phí về sức người, sức của của ngân sách nhà nước, tài sản xã hội, kìm hãm sự năng động trong hoạt động của mọi mặt đời sống mà còn
là điều kiện thuận lợi cho nạn tham ô, nhũng nhiễu phát sinh, phát triển Hoàn thiện, cải tiến thủ tục hành chính nhằm làm cho các thủ tục hành chính trở nên đơn giản, dễ làm, thuận tiện cho dân là một trong những phương hướng cải cách nền hành chính quốc gia (Nguyễn Hữu Khiển, 2010)
2.1.1.2 Thực hiện thủ tục hành chính
Theo nghĩa chung nhất, thực hiện thủ tục hành chính là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định
Trang 21Thực hiện thủ tục hành chính là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân Thực hiện thủ tục được coi là khâu đột phá trong cải cách nền hành chính Nhà nước, nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ hệ thống nền hành chính quốc gia; thủ tục hành chính là khâu được chọn đầu tiên, thực hiện thủ tục hành chính sẽ gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống khi bị tác động Thực hiện thủ tục hành chính bao gồm cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là thủ tục hành chính liên quan tới người dân, doanh nghiệp; thực hiện thủ tục hành chính
để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực của xã hội
và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững; thực hiện thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính nhà nước, các ngành, các cấp và trong nội bộ từng cơ quan hành chính nhà nước; kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật; công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính; thực hiện thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế, mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về thủ tục hành chính; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính và giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp
Thực hiện TTHC được hiểu là việc cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bằng trình độ, kỹ năng chuyên môn đã được đào tạo, áp dụng các TTHC để giải quyết nhu cầu cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo đúng quy định của pháp luật (Nguyễn Văn Thâm, 2014)
Nguyên tắc thực hiện TTHC: Công khai, minh bạch; Khách quan, công bằng; Liên thông, kịp thời, chính xác, không gây phiền hà; Quyền được phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức; Đề cao trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức
Nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện TTHC:
Cơ quan nhà nước phải quy định rõ ràng về chế độ công vụ, quy chế làm việc để tránh tình trạng vô trách nhiệm, giảm bớt phiền hà trong quá trình giải quyết công việc
Trang 22Công khai hóa các TTHC dưới các hình thức thích hợp
Thường xuyên tiến hành rà soát các TTHC liên quan đến hoạt động của cơ quan nêu trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cấp có thẩm quyền
Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng và sự hợp tác chặt chẽ trong quá trình thực hiện các TTHC
Có cán bộ đủ trình độ nghiệp vụ để thực thi công vụ
Thực hiện đầy đủ các giai đoạn trong giải quyết các vụ việc cụ thể (Nguyễn Văn Thâm, 2014)
2.1.1.3 Quản lý thủ tục hành chính
Quản lý thủ tục hành chính là yêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp, của các tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài, là khâu đột phá của tiến trình cải cách hành chính Nhà nước Trong tiến trình phát triển và hội nhập, quản lý thủ tục hành chính có một vai trò đặc biệt quan trọng Nếu thủ tục hành chính nói riêng, nền hành chính nói chung không được hay chậm cải cách thì sẽ là một rào cản kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước ta Kết quả công tác quản lý thủ tục hành chính giai đoạn 2005-2015 đã đạt được những kết quả nhất định trong thời gian qua về thủ tục hành chính Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng, thủ tục hành chính cần phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa
Theo nghĩa chung nhất, quản lý là một biện pháp được thực hiện để giải
quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định
Quản lý thủ tục hành chính là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân Quản lý thủ tục được coi là khâu đột phá trong cải cách nền hành chính Nhà nước, nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ hệ thống nền hành chính quốc gia; thủ tục hành chính là khâu được chọn đầu tiên, thực hiện thủ tục hành chính sẽ gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống khi bị tác động (Nguyễn Duy Gia, 2011)
Quản lý thủ tục hành chính là việc thống kê, tập hợp, phân tích, phát hiện
để kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ những quy định về thủ tục hành chính không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp, không đáp ứng được các nguyên tắc quy định thủ tục hành chính tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung
Trang 23Quản lý và đánh giá về kiểm soát thủ tục hành chính là hệ thống thông tin được xây dựng nhằm hỗ trợ các cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước, cán bộ, công chức và tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện một số nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính; theo dõi, đánh giá quá trình thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Nguyễn Duy Gia, 2011)
2.1.2 Đặc điểm, vai trò và quy định của quản lý thực hiện các thủ tục hành chính
2.1.2.1 Đặc điểm của quản lý thực hiện các thủ tục hành chính
Bộ TTHC bao gồm nhiều lĩnh vực, trong 1 lĩnh vực bao gồm nhiều thủ tục hành chính khác nhau
Quản lý thực hiện các thủ tục hành chính được pháp luật hành chính quy định chặt chẽ Thủ tục hành chính chỉ là những hoạt động quản lý hành chính nhà nước được quy phạm thủ tục hành chính Còn những hoạt động tổ chức- tác nghiệp cụ thể nào đó trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước do các quy định nội bộ điều chỉnh không phải là thủ tục hành chính Thủ tục hành chính được điều chỉnh bởi các quy phạm thủ tục luật hành chính Thủ tục hành chính luôn được phân biệt với các thủ tục lập pháp, tố tụng tư pháp và phần lớn nằm ngoài thẩm quyền của các cơ quan lập pháp và tư pháp Cần lưu ý các quy phạm thủ tục hành chính không chỉ quy định trình tự thực hiện quy phạm nội dung của luật hành chính, mà cả các ngành luật khác như đất đai, tài chính, dân sự, lao động (Phạm Ngọc Trung, 2014)
Quản lý thực hiện các thủ tục hành chính được thực hiện bởi nhiều cơ quan và công chức nhà nước, trong đó các cơ quan và công chức hành chính nhà nước là chủ thể thực hiện chủ yếu Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành các cơ quan lập pháp và tư pháp cũng thực hiện một số thủ tục hành chính nhất định
Quản lý thực hiện các thủ tục hành chính là trình tự và cách thức giải quyết các công việc nội bộ của nhà nước và thực hiện nghĩa vụ hành chính trong giải quyết các công việc có liên quan đến quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của công dân, như vậy có thể thấy công việc cần thực hiện rất đa dạng và phức tập
Do đó, cần thực hiện thủ tục hành chính sao cho nhanh gọn song vẫn đảm bảo thận trọng tỉ mỉ nhằm đạt hiệu quả quản lý cao (Lê Chi Mai, 2013)
Trang 24Quản lý hành chính nhà nước chủ yếu là hoạt động cho phép ra mệnh lệnh
có tính chất đơn phương và đòi hỏi phải được thi hành ngay nhằm kịp thời giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả mọi công việc diễn ra hàng ngày trong đời sống
xã hội Chính vì vậy, thủ tục hành chính phải được quy định sao cho thành những khuôn mẫu ổn định tương đối, chặt chẽ tương thích với từng trường hợp cụ thể Hiện nay, trong tinh thần đổi mới nền hành chính nhà nước đang chuyển dần từ hành chính cai quản đơn thuần sang hành chính phục vụ, làm dịch vụ cho
xã hội, từ quản lý tập trung sang cơ chế thị trường làm cho hoạt động quản lý hành chính đa dạng về nội dung và phong phú uyển chuyển về hình thức, biện pháp ; đồng thời đối tượng quản lý của nó là xã hội dân sự cũng muôn hình muôn
vẻ không chỉ thuộc phạm vi nội bộ của công dân nước ta mà còn liên quan đến các yếu tố nước ngoài (Lê Chi Mai, 2013)
Quản lý thực hiện các thủ tục hành chính luôn luôn gắn liền với công tác văn thư một hoạt động quan trọng và không thể thiếu trong mọi cơ quan tổ chức nhà nước
Cơ quan cung cấp dịch vụ hành chính công của UBND quận, huyện có số lượng cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận này căn cứ vào lĩnh vực công tác được áp dụng thực hiện theo cơ chế “một cửa”, thông thường cán bộ có khoảng 4 đến 5 người nhưng lại phục vụ một lượng lớn người dân đến làm thủ tục hành chính Quản lý HCNN chủ yếu là hoạt động cho phép ra mệnh lệnh có tính chất đơn phương và đũi hỏi thi hành kịp thời nhằm giải quyết nhanh chúng, có hiệu quả mọi công việc diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội Chính điều đó dẫn đến việc quy định TTHC phải kết hợp những khuôn mẫu ổn định tương đối và chặt chẽ với các biện pháp thích ứng cho từng loại công việc và đối tượng để đảm bảo kịp thời giải quyết công việc theo từng trường hợp cụ thể
Hoạt động HCNN chủ yếu thực hiện tại Văn phòng của công sở Nhà nước
và phương tiện truyền đạt quyết định cũng như các thông tin quản lý phần lớn là văn bản (công văn, giấy tờ) Với thế nó gắn chặt với công tác văn thư, với việc tổ chức ban hành, sử dụng và quản lý văn bản trong các cơ quan Nhà nước (Lê Chi Mai, 2013)
2.1.2.2 Vai trò của quản lý thực hiện các thủ tục hành chính
Quản lý thực hiện các thủ tục hành chính là một nội dung của cải cách hành chính, nhưng là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa nhà nước và
Trang 25công dân, đồng thời là nội dung có nhiều bức xúc nhất của người dân, doanh nghiệp, cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế Trong điều kiện nguồn lực còn nhiều khó khăn nên chưa thể cùng một lúc thực hiện được nhiều nội dung cải cách như: cải cách tài chính công, cải cách tiền lương, cải cách tổ chức bộ máy… Thông qua cải cách TTHC, chúng ta có thể xác định căn bản các công việc của cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp; qua đó chúng ta có thể xây dựng bộ máy phù hợp và từ đó có thể lựa chọn đội ngũ cán bộ, công chức hợp lý, đáp ứng được yêu cầu công việc (Mai Hữu Khuê, 2015)
Như vậy, có thể coi Quản lý thực hiện các thủ tục hành chính là tiền đề để thực hiện các nội dung cải cách khác như: nâng cao chất lượng thể chế; nâng cao trình độ, thay đổi thói quen, cách làm, nếp nghĩ của cán bộ, công chức; phân công, phân cấp thực hiện nhiệm vụ giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp của
bộ máy hành chính; thực hiện chính phủ điện tử (Mai Hữu Khuê, 2015)
Hiện nay, thủ tục hành chính ở nước ta còn những nhược điểm: Hình thức đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho nhân dân; nặng nề, nhiều cửa, nhiều cấp trung gian, rườm rà, không rõ ràng về trách nhiệm; không phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mở cửa và hội nhập Thủ tục hành chính thiếu thống nhất, thường
bị thay đổi một cách tuỳ tiện, thiếu công khai, minh bạch Những hạn chế này gây phiền hà, cản trở cho việc thực hiện quyền tự do, lợi ích và công việc chung của cơ quan, gây trở ngại cho việc giao lưu và hợp tác giữa nước ta với nước ngoài, gây ra tệ cửa quyền, bệnh giấy tờ trong hệ thống cơ quan hành chính, là nơi thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng phí phát sinh gây phiền hà cho tổ chức,
cá nhân và doanh nghiệp Thực hiện thủ tục hành chính là một trong những biện pháp để cải cách nền hành chính nhà nước hiện nay Thực hiện thủ tục hành chính là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân Thực hiện thủ tục được coi là khâu đột phá trong cải cách nền hành chính Nhà nước (Chính Phủ, 2013)
Quản lý thực hiện các thủ tục hành chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cần thiết trong tiến trình đổi mới, phát triển và hội nhập của nước ta Cần phải xây dựng những cơ chế thích hợp cho việc thực hiện các thủ tục hành chính đã ban hành Ngoài việc ban hành hệ thống các văn bản hợp lý và
Trang 26đơn giản hóa các thủ tục hành chính, cần thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông và tiến tới một cửa liên thông hiện đại, thực hiện giao dịch điện tử rộng rãi và phổ biến; xây dựng Chính phủ điện tử; áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn VN ISO 9001:2008 đối với các cơ quan hành chính nhà nước các cấp Tất nhiên, điều quan trọng nhất là phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngoài trình độ chuyên môn tốt, cần phải có tinh thần, ý thức, trách nhiệm trong giải quyết các thủ tục hành chính đối với tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp; thực sự là những “công bộc” của dân (Chính Phủ, 2013)
2.1.2.3 Yêu cầu về quy định quản lý thực hiện các thủ tục hành chính
Yêu cầu của việc quy định thủ tục hành chính được cụ thể hóa tại Điều 8 của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính, gồm các nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, thủ tục hành chính phải được quy định trong văn bản quy phạm
pháp luật do Chính phủ ban hành hoặc trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành; do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành
Thứ hai, việc quy định một thủ tục hành chính cụ thể chỉ hoàn thành khi
đáp ứng đầy đủ các bộ phận cấu thành cơ bản sau đây:
- Tên thủ tục hành chính: Tên TTHC phải được nêu chính xác theo quy định của văn bản hoặc đặt tên một cách chính xác nhất (đối với trường hợp chia tách 1 TTHC thành nhiều TTHC nhỏ)
- Trình tự thực hiện: Nêu, mô tả thứ tự các bước thực hiện TTHC theo đúng quy định tại văn bản để đối tượng thực hiện (người dân, tổ chức và doanh nghiệp) biết được phải làm gì trước, làm gì sau và phải tới những cơ quan nào giải quyết, địa chỉ ở đâu
- Cách thức thực hiện: Nêu cách thức thực hiện TTHC theo đúng quy định tại văn bản, hoặc được cơ quan thực hiện TTHC quy định bổ sung
- Thủ tục hồ sơ (thành phần hồ sơ, số lượng hồ sơ): Liệt kê đầy đủ, rõ ràng các thành phần, số lượng bộ hồ sơ bắt buộc phải có để thực hiện thủ tục hành chính
- Thời hạn giải quyết: Là thời hạn tối đa giải quyết xong TTHC theo quy định của văn bản (ghi rõ ngày hoặc ngày làm việc) Trường hợp có nhiều cơ quan phối hợp giải quyết, ghi rõ thời hạn giải quyết đối với từng cơ quan
Trang 27- Đối tượng thực hiện: Cá nhân hoặc tổ chức thực hiện TTHC hoặc cả 2 đối tượng nói trên
- Cơ quan thực hiện:
+ Cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định: là cơ quan hoặc người
ra quyết định cuối cùng về kết quả của việc thực hiện TTHC
+ Cơ quan hoặc người có thẩm quyền được ủy quyền hoặc phân cấp thực hiện (nếu có)
- Kết quả thực hiện: Chọn một hoặc nhiều kết quả của TTHC trong trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính
Thứ ba, một thủ tục hành chính cụ thể được quy định tại văn bản quy
phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phải bảo đảm đầy đủ các bộ phận tạo thành như đã nêu ở trên Trường hợp thủ tục hành chính có yêu cầu, điều kiện thì yêu cầu, điều kiện phải được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Đối với yêu cầu, điều kiện thể hiện dưới dạng quy chuẩn kỹ thuật phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ
Thứ tư, một thủ tục hành chính cụ thể được quy định tại các văn bản quy
phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải quy định
rõ ràng, cụ thể các bộ phận còn lại của thủ tục hành chính
Trường hợp thủ tục hành chính có đơn, tờ khai hành chính thì mẫu đơn, mẫu
tờ khai hành chính phải được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ
Thứ năm, khi được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ phân cấp hoặc ủy quyền quy định về thủ tục hành chính,
Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải bảo đảm quy định đầy đủ, hướng dẫn rõ ràng, chi tiết, cụ thể về các bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính (Chính Phủ, 2010)
Tóm lại, một thủ tục hành chính được quy định thông thường phải đảm bảo đầy đủ các nội dung sau:
Trang 28-Trình tự, các bước thực hiện
- Cách thức thực hiện
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện
- Thời hạn giải quyết
- Thành phần hồ sơ bắt buộc phải có
- Số lượng hồ sơ cần thiết phải nộp
- Các biểu mẫu cần thiết có liên quan
- Các yêu cầu, điều kiện; phí và lệ phí
2.1.3 Nội dung quản lý thực hiện thủ tục hành chính
2.1.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý thủ tục hành chính
Đã xác định rõ hơn, điều chỉnh một bước chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước; đẩy mạnh một bước phân cấp quản lý hành chính giữa Trung ương và địa phương , quy định rõ thẩm quyền cho từng cấp; sắp xếp, điều chỉnh, thay đổi cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp (Lê Quang Dân, 2014)
3.1.3.3 Triển khai thực hiện thủ tục hành chính
a.Lĩnh vực quản lý đất đai
Đất đai là tài sản thuộc sở hữu nhà nước, là một trong những nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia Dân số tăng nhanh nhưng nguồn tài nguyên đất không tăng Đặc biệt với xu hướng đô thị hoá hiện nay, việc quản lý đất sao cho hiệu quả là một đòi hỏi cấp thiết hơn
- Trình tự thực hiện:
Trang 29Bước 1: Hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của UBND cấp xã nơi có đất Cán bộ tiếp nhận kiểm tra hồ sơ, viết phiếu tiếp nhận và hẹn trả kết quả, vào sổ tiếp nhận, chuyển hồ sơ cho công chức chuyên môn để xử lý
Bước 2: Ủy ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm thực hiện các công việc Bước 3: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm thực hiện các nội dung công việc
Bước 4: Cán bộ cấp xã nhận Giấy chứng nhận tại Bộ phận Tiếp nhận và
trả kết quả của UBND cấp huyện Khi nhận kết quả phải xuất trình phiếu tiếp
nhận và hẹn trả kết quả
Bước 5: Hộ gia đình, cá nhân nhận Giấy chứng nhận tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của UBND cấp xã Khi nhận kết quả phải xuất trình phiếu tiếp nhận và hẹn trả kết quả
- Cách thức thực hiện: Trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND cấp xã
c) Giấy tờ về giao hoặc tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết; d) Giấy tờ về sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ mà nhà đất đó không thuộc diện Nhà nước xác lập sở hữu toàn dân theo quy định tại Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khoá XI
"về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01
Trang 30tháng 7 năm 1991", Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm
2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội "quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991";
đ) Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng cho hoặc đổi hoặc nhận thừa kế nhà
ở đã có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật
Trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế hoặc thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật kể từ ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành thì phải có văn bản về giao dịch đó theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở Trường hợp nhà ở do mua của doanh nghiệp đầu tư xây dựng để bán thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở do hai bên ký kết; trường hợp mua nhà kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 (ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành) thì ngoài hợp đồng mua bán nhà ở, bên bán nhà ở còn phải có một trong các giấy tờ về dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán (quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu
tư hoặc giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư);
e) Bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật; g) Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có một trong những giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác thì phải có một trong các giấy tờ về mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 có chữ ký của các bên có liên quan và phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận; trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm
2006 mà không có giấy tờ về việc đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có chữ ký của các bên có liên quan thì phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về thời điểm mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở đó;
h) Trường hợp cá nhân trong nước không có một trong những giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở đã được xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm
2006, nhà ở không có tranh chấp, được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy
Trang 31hoạch điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật; trường hợp nhà ở xây dựng từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng, không
có tranh chấp và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp nhà ở xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2007
3- Trường hợp Người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có các giấy tờ sau: a) Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng cho hoặc nhận thừa kế nhà ở hoặc được sở hữu nhà ở thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật về nhà ở; b) Một trong các giấy tờ của bên chuyển quyền quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này
4- Ngoài giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại mục
2, 3 trên, phải có hợp đồng thuê đất hoặc hợp đồng góp vốn hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc văn bản chấp thuận của người sử dụng đất đồng ý cho xây dựng nhà ở đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật và bản sao giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai 5- Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có);
6- Sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ quy định tại mục 2, 3 trên đã có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng) (Lê Chi Mai, 2013)
Bước 2: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chuyển hồ sơ tới phòng chuyên môn để xử lý
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, đơn vị được giao thẩm định hồ sơ có trách nhiệm xem xét hồ sơ, kiểm tra thực địa (nếu
Trang 32cần thiết) Khi xem xét hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải xác định các tài liệu còn thiếu, các tài liệu không đúng theo quy định hoặc không đúng với thực tế
để thông báo một lần bằng văn bản cho chủ đầu tư bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ;
Trường hợp hồ sơ bổ sung chưa đáp ứng được yêu cầu theo văn bản thông báo thì Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm thông báo bằng văn bản hướng dẫn cho chủ đầu tư tiếp tục hoàn thiện hồ sơ Chủ đầu tư có trách nhiệm
bổ sung, hoàn thiện hồ sơ theo văn bản thông báo Sau hai lần bổ sung, hồ sơ vẫn không đáp ứng được các điều kiện theo quy định thì Ủy ban nhân dân cấp huyện
có quyền không xem xét việc cấp giấy phép và thông báo cho chủ đầu tư biết;
Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm đối chiếu với các điều kiện cấp giấy phép để gửi văn bản lấy ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước về những lĩnh vực liên quan đến công trình xây dựng;
Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ các quy định hiện hành và các điều kiện cấp giấy phép để quyết định việc cấp giấy phép xây dựng Nếu hồ sơ đáp ứng đủ điều kiện cấp giấy phép, Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp giấy phép xây dựng cho Chủ đầu tư Chủ đầu tư nhận giấy phép xây dựng kèm theo hồ sơ thiết
kế có đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp huyện tại nơi tiếp nhận hồ sơ; nếu Hồ
sơ không đủ điều kiện cấp giấy phép, Ủy ban nhân dân cấp huyện có văn bản trả lời tại nơi tiếp nhận hồ sơ, theo thời hạn ghi trong giấy biên nhận
Bước 3: Cá nhân xuất trình phiếu hẹn trả kết quả, nộp lệ phí và nhận kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
- Cách thức thực hiện: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả - UBND cấp huyện
- Thành phần hồ sơ
+ Đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ ở đô thị theo mẫu; + Bản sao được công chứng hoặc chứng thực một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;
+ Hai bộ bản vẽ thiết kế, mỗi bộ gồm:
Bản vẽ mặt bằng công trình trên lô đất tỷ lệ 1/50 - 1/500, kèm theo sơ đồ
vị trí công trình;
Bản vẽ mặt bằng các tầng, các mặt đứng và mặt cắt chủ yếu của công trình, tỷ lệ 1/50 - 1/200;
Bản vẽ mặt bằng móng tỷ lệ 1/50 - 1/200 và mặt cắt móng tỷ lệ 1/50, kèm
Trang 33theo sơ đồ đấu nối hệ thống thoát nước mưa, xử lý nước thải, cấp nước, cấp điện, thông tin tỷ lệ 1/50 - 1/200 (Lê Chi Mai, 2013)
c Lĩnh vực Lao động - Thương binh - Xã hội
- Trình tự thực hiện
Bước 1: Cá nhân nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND huyện, thành phố; cán bộ tiếp nhận hướng dẫn viết giấy đề nghị đăng ký kinh doanh, kiểm tra hồ sơ và viết giấy hẹn
Bước 2: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chuyển hồ sơ tới phòng chuyên môn để xử lý
Bước 3: Cá nhân xuất trình phiếu hẹn trả kết quả, nộp lệ phí và nhận kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
d Lĩnh vực cấp giấy CN đăng ký kinh doanh
- Trình tự thực hiện
Bước 1: Cá nhân nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND huyện, thành phố; cán bộ tiếp nhận hướng dẫn viết giấy đề nghị đăng ký kinh doanh, kiểm tra hồ sơ và viết giấy hẹn
Bước 2: Hồ sơ được chuyển tới phòng Tài chính - Kế hoạch để thẩm định
và hoàn thiện giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Bước 3: Phòng tài chính - Kế hoạch trình lãnh đạo UBND huyện xem xét
và ký giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Hồ sơ được chuyển lại một cửa của UBND huyện
Bước 4: Cá nhân xuất trình giấy hẹn trả kết quả, nộp lệ phí và lấy Giấy
CN kinh doanh tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND huyện
- Cách thức thực hiện: Tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND huyện
- Thành phần hồ sơ bao gồm:
1- Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh;
2- Bản sao Chứng minh thư nhân dân;
3- Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề (đối với ngành nghề đủ điều kiện phải có chứng chỉ hành nghề) (Lê Chi Mai, 2013)
e Lĩnh vực tư pháp
- Trình tự thực hiện
Trang 34Bước 1: Người yêu cầu cấp bản chính Giấy khai sinh có thể nộp trực tiếp hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả - UBND cấp huyện Cán bộ kiểm tra và tiếp nhận hồ sơ, công dân nộp lệ phí cấp lại bản chính Giấy khai sinh
- Thời gian nhận hồ sơ: Trong giờ hành chính từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần Bước 2: Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp căn cứ vào Sổ đăng ký khai sinh đang lưu trữ để ghi vào nội dung bản chính Giấy khai sinh, nếu Sổ đăng ký khai sinh chỉ lưu tại Uỷ ban nhân dân cấp
xã, thì Uỷ ban nhân dân cấp huyện yêu cầu Uỷ ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin để ghi vào nội dung bản chính Giấy khai sinh Uỷ ban nhân dân cấp
xã có trách nhiệm trích lục thông tin trả lời bằng văn bản, hoặc sao chụp trang
Sổ đăng ký khai sinh có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã và gửi cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện
Bước 3: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký và cấp cho đương sự một bản chính Giấy khai sinh mới, thu hồi lại Giấy khai sinh cũ (nếu có)
Bước 4: Khi cấp lại bản chính Giấy khai sinh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện không phải lập sổ riêng mà chỉ ghi chú việc cấp lại bản chính trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh theo quy định tại Khoản 2 Điều 63 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP Số, quyển số ghi trong bản chính Giấy khai sinh khi cấp lại được ghi theo số, quyển số của Sổ đăng ký khai sinh trước đây
Bước 5: Công dân nhận kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả - UBND cấp huyện
- Thời gian trả kết quả: Trong giờ hành chính từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần
- Cách thức thực hiện
Trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả - UBND cấp huyện
Thành phần hồ sơ:
1- Tờ khai (theo mẫu quy định);
2- Bản chính Giấy khai sinh cũ (nếu có);
3- Xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu của người đi đăng
ký hộ tịch để xác định về cá nhân người đó;
Trang 354- Văn bản uỷ quyền được công chứng hoặc chứng thực trong trường hợp người có yêu cầu cấp lại bản chính giấy khai sinh mà không có điều kiện trực tiếp thực hiện thủ tục Nếu người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền, thì không cần phải có văn bản ủy quyền, nhưng phải có giấy tờ chứng minh về mối quan hệ nêu trên (Lê Quang Dân, 2014)
2.1.3.4 Công tác rà soát và kiểm tra, giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính
a Công tác rà soát thực hiện thủ tục hành chính
Tiếp tục đẩy mạnh công tác rà soát các quy định thủ tục hành chính ở bộ phận "tiếp nhận và trả hồ sơ giấy tờ" Trước mắt, cần tập trung vào một số loại thủ tục: Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp giấp phép xây dựng; Thủ tục đăng ký kinh doanh, dịch vụ; Thủ tục tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Đối với các địa phương, những vấn đề về đất đai, xây dựng, kinh doanh, buôn bán và khiếu nại, tố cáo thường là những vấn đề bức xúc Vì vậy, cần có một đầu mối trực thuộc ủy ban nhân dân tỉnh gắn liền với trách nhiệm của chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh để tiến hành rà soát và chỉ đạo thực hiện các thủ
tục hành chính trong giải quyết những vấn đề này
Rà soát nhằm đánh giá sự cần thiết, phù hợp của TTHC và các quy định có liên quan đến TTHC so với mục tiêu quản lý nhà nước, đáp ứng các nguyên tắc
về quy định TTHC và thực hiện TTHC tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ
Trong quá trình rà soát phải chú ý đến đối tượng chịu sự tác động của các TTHC nhằm xây dựng phương án sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quy định về TTHC, đảm bảo đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện và cắt giảm chi phí tuân thủ TTHC cho các đối tượng thực hiện TTHC; kịp thời phát hiện những quy định
về TTHC không cần thiết, không phù hợp, không đáp ứng được các nguyên tắc
về quy định và thực hiện TTHC, đề xuất với thành phố và cơ quan có thẩm quyền phương án sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc hủy bỏ
Đối với các TTHC, quy định có liên quan chặt chẽ với nhau, kết quả thực hiện TTHC này là tiền đề để thực hiện TTHC tiếp theo thì phải rà soát đồng thời, tổng thể theo nhóm TTHC, các quy định có liên quan (Võ Kim Sơn, 2012)
b Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện thủ tục hành chính
Trang 36Kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện thủ tục hành chính là việc xem xét, theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính Hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện thủ tục hành chínhđã được Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, ngày 8/6/2010 của Chính phủ quy định về kiểm soát thủ tục hành chính
Kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện thủ tục hành chính phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu thực hiện thủ tục hành chính, cải cách hành chính; bảo đảm điều phối, huy động sự tham gia tích cực, rộng rãi của tất cả các
cơ quan, tổ chức, cá nhân vào quá trình kiểm soát thủ tục hành chính
Kịp thời phát hiện để loại bỏ hoặc chỉnh sửa thủ tục hành chính không phù hợp, phức tạp, phiền hà; bổ sung thủ tục hành chính cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế; bảo đảm quy định thủ tục hành chính đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính
Kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện thủ tục hành chính được thực hiện ngay khi dự thảo quy định về thủ tục hành chính và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính (Bùi Văn Nhơn, 2015)
2.1.3.5 Đánh giá kết quả thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế mới
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện trên hầu khắp các lĩnh vực đời sống xã hội, từ kinh tế, xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục, dân tộc, tôn giáo cho đến an ninh - quốc phòng, đối ngoại Chức năng quản lý nhà nước không chỉ nhằm bảo vệ pháp luật, chế độ chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, các quyền hợp pháp chính đáng của mọi tổ chức và công dân, mà còn tạo điều kiện, môi trường pháp lý, môi trường xã hội thuận lợi cho các tổ chức và công dân làm ăn, sinh sống Việc tạo điều kiện, môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức và công dân sinh sống, phát triển kinh tế thường được xác định như là một chính sách; còn trên thực tế, sự thuận lợi hay khó khăn trong làm ăn, sinh sống của người dân cũng như niềm tin của họ đối với Nhà nước như thế nào lại được thẩm định thông qua các quy định thủ tục hành chính và cách thức giải quyết các thủ tục ấy
Trong điều kiện Nhà nước ta thực hiện chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và tham gia sâu rộng vào các quan hệ quốc tế, thì các nhu
Trang 37cầu của các tầng lớp dân cư trong xã hội cũng tăng lên về số lượng và đa dạng, phong phú, phức tạp về hình thức, nội dung Tình hình đó đặt ra các yêu cầu mà Nhà nước phải thực hiện: 1- Chuyển đổi cơ chế quản lý thích ứng với cơ chế kinh
tế thị trường, hội nhập quốc tế 2- Mở rộng và nâng cao khả năng cung ứng dịch
vụ, phục vụ xã hội 3- Khắc phục tình trạng yếu kém, hạn chế, bất cập của bộ máy quản lý, gồm: tổ chức, thể chế, cán bộ - công chức, cơ sở vật chất - tài chính Cải cách nền hành chính nhà nước bao gồm cải cách tổ chức bộ máy, cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và cải cách tài chính Đó là những vấn đề có tính nội bộ của nền hành chính nhà nước Nhưng cải cách thể chế hành chính, trong đó có thủ tục hành chính, lại là một vấn đề không riêng của Nhà nước, mà còn liên quan đến đời sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội
Đó chính là nguyên do đòi hỏi Nhà nước phải dành sự quan tâm nhiều hơn đối với việc thực hiện thủ tục hành chính, nhằm đáp ứng các yêu cầu dịch vụ, phục
vụ xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong điều kiện chuyển đổi cơ chế kinh tế
Hiện nay, các thủ tục hành chính còn tồn tại một số hiện tượng mang tính khá phổ biến như: rườm ra, trùng chéo, cứng nhắc (hợp pháp nhưng chưa hợp lý, chưa phù hợp thực tế); thủ tục cũ, mới lẫn lộn Bên cạnh đó, việc ban hành thủ tục hành chính có lúc, có nơi còn tuỳ tiện, kể cả ban hành "giấy phép con"; cách thức giải quyết thủ tục vẫn còn hiện tượng cửa quyền, hạch sách, chậm trễ theo lối "dân cần, quan không vội” và vẫn còn qua nhiều khâu trung gian lòng vòng; thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết thủ tục nhiều khi không rõ và vẫn còn hiện tượng tổ chức, công dân (khách hàng) đi lại nhiều lần, ca thán hoặc lo lót, hối lộ
để được việc
Có thể nói, tính bức xúc của việc đẩy mạnh thực hiện thủ tục hành chính không chỉ nhìn từ khía cạnh kinh tế, tức là tiết kiệm tiền của, là xây dựng môi trường pháp lý để các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư yên tâm làm ăn, phát triển; không chỉ nhìn từ khía cạnh xã hội, tức là tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước Hơn thế, nó còn xuất phát từ việc sắp xếp, tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ, hiện đại; đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức về chuyên môn, nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hoá; góp phần bài trừ tệ quan liêu, cửa quyền, hối lộ, làm trong sạch bộ máy nhà nước (Nguyễn Văn Thâm, 2015)
Trang 382.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thực hiện các thủ tục hành chính
2.1.4.1 Hệ thống văn bản, chính sách của Đảng và Nhà nước về thủ tục hành chính
Cải cách hành chính là một chủ trương lớn được Đảng, Nhà nước thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Đối với lĩnh vực tài chính, cải cách hành chính cũng rất quan trọng, thể hiện qua các Nghị quyết của Đảng, Chương trình, kế hoạch của Chính phủ và các Thông tư, quyết định của ngành Tài chính, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý thuế, hải quan, tài chính doanh nghiệp, đầu tư xây dựng cơ bản, ngân sách nhà nước
Các thủ tục hành chính luôn được quan tâm cải cách để phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội ngày càng tốt hơn, hạn chế sự sách nhiễu của các cơ quan nhà nước hướng đến việc đơn giản hóa thủ tục hành chính
Theo đánh giá chương trình đơn giản hóa TTHC của Việt Nam, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Chính phủ Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc cải thiện quản trị công, nâng cao chất lượng thể chế, kích thích năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bình đẳng Rất ít quốc gia trên thế giới thực hiện được chương trình cải cách có quy mô như Đề án 30”
Kết quả của Đề án 30 đã giúp Chính phủ nhận diện được khiếm khuyết, bất cập của hệ thống các quy định về TTHC, đặc biệt là vấn đề chất lượng của các quy định này Đề án 30 cho thấy, có thể loại bỏ rất nhiều quy định hành chính
là rào cản cho hoạt động kinh doanh và đời sống của nhân dân mà vẫn đảm bảo mục tiêu quản lý nhà nước Các quy trình xây dựng, ban hành các quy định hành chính trước đây nặng về tính hợp pháp của văn bản và các quy định mà chưa chú trọng đến các yếu tố kinh tế, kỹ thuật Bên cạnh đó, những yêu cầu hội nhập, những thách thức của cạnh tranh trong hội nhập quốc tế và các biến động kinh tế
- xã hội trên quy mô toàn cầu cũng đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục nỗ lực cải cách TTHC bằng việc nâng cao chất lượng hệ thống thể chế TTHC Đây là một trong các nhiệm vụ trọng tâm đã được xác định tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI (Đinh Duy Hòa, 2015)
2.1.4.2 Công tác tổ chức, triển khai của lãnh đạo quận
Lãnh đạo quận là người đứng đầu cơ quan của quận nên cần có tầm nhìn chiến lược về thực hiện thủ tục hành chính Lãnh đạo quận nếu chỉ đạo sát sao và
có các hướng dẫn về thực hiện cải cách hành chính sẽ góp phần đơn giản hóa các
Trang 39thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả giải quyết các thủ tục hành chính Nếu thiếu sự quan tâm chỉ đạo cũng như giám sát quá trình thực hiện cải cách hành chính sẽ làm giảm hiệu quả cải cách Lãnh đạo quận cần nghiên cứu và đề xuất thay đổi những thủ tục hành chính gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức đồng thời hoàn thiện các quy định về thể chế một cách chặt chẽ và phù hợp với tình hình thực tế của quận
Việc triển khai thực hiện cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" còn thiếu đồng bộ, thủ tục giải quyết một số loại hồ sơ hành chính còn bị cắt khúc theo cấp hành chính, chưa tạo thành quy trình giải quyết thống nhất từ Trung ương đến địa phương nên còn gây phiền hà cho tổ chức, công dân khi thực hiện các giao dịch hành chính (Đinh Duy Hòa, 2015)
2.1.4.3 Chất lượng cán bộ công chức, viên chức
Trình độ là yếu tố bên trong ảnh hưởng đến năng lực viên chức Trình độ được hiểu là trình độ học vấn, trình độ tri thức của mỗi viên chức có trước khi đảm nhận vị trí việc làm Tùy theo từng vị trí việc làm mà trong quá trình công tác, viên chức sẽ được đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ Đối với viên chức thì trình độ sẽ được đánh giá qua trình độ nhận thức chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ Trình độ là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến năng lực của mỗi cá nhân Bởi lẽ cá nhân có trình độ được đào tạo càng cao thì khả năng tiếp thu cũng như khả năng vận dụng những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để giải quyết công việc càng lớn Trình độ sẽ ảnh hưởng đến năng lực trí tuệ (học vấn) và năng lực hoạt động thực tiễn (kinh nghiệm)
TTHC sẽ không được thực hiện nếu không có các chủ thể tiến hành Nói cách khác, TTHC chỉ là những quy định trên giấy tờ khi không có chủ thể tham gia hay chủ thể thực hiện Vì vậy, các chủ thể tham gia và thực hiện vào quá trình cải cách TTHC được nhận thức đầy đủ, sâu sắc và tầm quan trọng của công cuộc cải cách TTHC thì sẽ có thái độ tích cực làm thúc đẩy quá trình cải cách nhanh chóng đạt được mục đích đặt ra Các nhóm chủ thể xác định được vai trò, vị trí, trách nhiệm và quyền lợi của mình khi tham gia TTHC sẽ làm quá trình giải quyết TTHC trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn Công cuộc cải cách TTHC muốn thành công đòi hỏi con người hay chủ thể thực hiện TTHC phải nhận thức được tầm quan trọng của cải cách TTHC trong hệ thống hành chính, từ người đứng đầu các cơ quan, đơn vị đến đội ngũ cán bộ, công chức tiếp xúc trực tiếp tới người
Trang 40dân và doanh nghiệp hay tổ chức Công cuộc cải cách TTHC sẽ không thể đạt được mục tiêu nếu chỉ có cơ quan hay đơn vị ban hành quy định TTHC hay cán
bộ, công chức thực hiện TTHC hay chủ thể tham gia TTHC mà không đề cập tới người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị có liên quan Trên thực tế, việc nâng cao ý thức phục vụ và chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố có tính quyết định Bởi vì, các chủ trương, biện pháp dù hay và thiết thực đến mấy
mà đội ngũ cán bộ, công chức giải quyết các TTHC không thực hiện hoặc thực hiện không nhiệt tình thì hiệu quả của cải cách TTHC không được như mong muốn Cải cách muốn thành công thì trước hết nằm ở yếu tố con người Khi TTHC được rút gọn nhưng các loại phí “ bôi trơn” vẫn còn thì TTHC vẫn chỉ là phương tiện để một số người trục lợi Do đó, cần giám sát thường xuyên, có hiệu quả đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong tiếp nhận, xử lý công việc của cá nhân và tổ chức; thiết lập cơ chế giám sát từ bên trong, từ trên xuống dưới (Bùi Văn Nhơn, 2015)
2.1.4.4 Nhận thức của người dân về thực hiện thủ tục hành chính
Nhận thức của người dân về thực hiện thủ tục hành chính hiện nay còn nhiều hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong nhận thức trên một phần xuất phát từ việc thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của mình, một phần cũng do yếu tố lịch sử
Sự thiếu thông tin là do người dân thường không mấy quan tâm đến công việc của chính quyền, đến quyền lợi của mình Chỉ khi có nhu cầu cần giao dịch với chính quyền thì mới đến, mới đưa yêu cầu mà rất có thể còn chưa biết về những quyền và nghĩa vụ của mình trong giao dịch Do vậy, họ thường không đảm bảo đầy
đủ các thủ tục cần có để được giải quyết Nhưng họ lại nghĩ rằng, cán bộ, công chức dựa vào đó để sách nhiễu Người dân cũng đôi khi không chủ động tìm hiểu thông tin về các TTHC cần thực hiện mà nghe qua dư luận mang tính chủ quan, phiến diện, thổi phồng vấn đề lên hoặc cố tình tô vẽ làm sai lệch để trục lợi
Yếu tố lịch sử làm lệch lạc nhận thức của người dân về TTHC và cải cách TTHC là một nguyên nhân có tính phức tạp Nước ta trải qua một thời kỳ dài với
cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp mà cơ chế “xin - cho” đã ăn sâu vào tâm lý của nhiều thế hệ Tâm lý đó khó có thể thay đổi một sớm một chiều Xa hơn, nước ta đã trải qua 1.000 năm Bắc thuộc, hàng nghìn năm dưới chế độ quân chủ chuyên chế và 80 năm Pháp thuộc Sự cai trị, đô hộ, đàn áp của thực dân phong