Từ thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Sơn chúng tôi đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHÙNG THANH SƠN
TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CHO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THANH
SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Song
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trı̀nh nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trı̀nh bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vê ̣ lấy bất kỳ ho ̣c vi ̣ nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Phùng Thanh Sơn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Song đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian, công sức và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế tài nguyên và môi trường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài
và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND huyện Thanh Sơn và các hộ dân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Phùng Thanh Sơn
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới của luận văn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận về huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới 5
2.1.1 Khái niệm, vai trò, đối tượng và nguyên tắc huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới 5
2.1.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới 12
2.1.3 Nội dung huy động nguồn lực trong xây dựng Nông thôn mới 13
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 22
2.2 Cơ sở thực tiễn 23
2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số tỉnh trong nước 23
2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số huyện tỉnh Phú Thọ 26
2.2.3 Bài học cho huyện Thanh Sơn trong việc tăng cường huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 31
Trang 5Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 33
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
3.1.1 Đặc điểm chung về huyện Thanh Sơn 33
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 39
3.2.2 Chọn mẫu nghiên cứu 39
3.2.3 Nguồn số liệu 39
3.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 41
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 42
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 43
4.1 Khái quát về tình hình xây dựng nông thôn mới ở huyện Thanh Sơn 43
4.1.1 Khái quát về xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Sơn 43
4.1.2 Khái quát huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Sơn 46
4.2 Thực trạng huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Sơn 47
4.2.1 Công tác thành lập tiểu ban huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới 47
4.2.2 Công tác tuyên truyền về huy động nguồn lực trong xây dựng nông
thôn mới 48
4.2.3 Nội dung huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới 51
4.2.4 Công tác tổ chức huy động và tiếp nhận nguồn lực huy động 71
4.2.5 Công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng các nguồn lực huy động xây dựng nông thôn mới 72
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở huyện Thanh Sơn 73
4.3.1 Những tồn tại hạn chế trong huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Sơn 73
4.3.2 Ảnh hưởng của cơ chế, chính sách và năng lực ban quản lý chương trình xây dựng NTM 77
4.3.3 Ảnh hưởng của các yếu tố về phía cộng đồng 80
4.3.4 Ảnh hưởng của yếu tố thu nhập và nghề nghiệp 82
Trang 64.4 Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường huy động nguồn lực trong
xây dựng nông thôn mới ở huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 86
4.4.1 Phương hướng tăng cường huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020 86
4.4.2 Giải pháp tăng cường huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 86
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 95
5.1 Kết luận 95
5.2 Kiến nghị 96
5.2.1 Đối với Trung ương và tỉnh 96
5.2.2 Đối với huyện Thanh Sơn 96
Tài liệu tham khảo 98
Phụ lục 100
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Diện tích các loại đất năm 2018 của huyện Thanh Sơn 35 Bảng 3.2 Đối tượng và cơ cấu phiếu điều tra 40 Bảng 4.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Sơn 44 Bảng 4.2 Quy định về vốn và nguồn vốn thực hiện chương trình xây dựng nông thôn
mới 51 Bảng 4.3 Kế hoạch tài chính cho việc thực hiện các dự án trong Chương trình xây
dựng nông thôn mới năm 2015 – 2020 của huyện Thanh Sơn 53 Bảng 4.4 Kết quả huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới của huyện Thanh Sơn
giai đoạn 2016– 2018 56 Bảng 4.5 Tỷ lệ huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới của huyệnThanh Sơn giai
đoạn 2016 – 2018 57 Bảng 4.6 Đánh giá việc huy động vốn tín dụng cho xây dựng nông thôn mới huyện
Thanh Sơn 58 Bảng 4.7 Đánh giá kết quả huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới 60 Bảng 4.8 Kết quả huy động vốn ngân sách cho hạ tầng kinh tế - xã hội trong chương
trình xây dựng nông thôn mới của huyện Thanh Sơn (2016 – 2018) 62 Bảng 4.9 Kết quả huy động vốn xây dựng văn hóa, xã hội, môi trường và hệ thống
chính trị trong xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Sơn (2016-2018) 66 Bảng 4.10 Đánh giá việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện
Thanh Sơn thời gian qua 69 Bảng 4.11 Đánh giá kết quả huy động nguồn lực đất đai cho xây dựng nông thôn mới
so với kế hoạch đề ra 69 Bảng 4.12 Kết quả huy động nguồn nhân lực cho xây dựng nông thôn mới 71 Bảng 4.13 Ý kiến của cán bộ huyện, xã về khó khăn trong huy động đóng góp từ cộng
đồng cho xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng 74 Bảng 4.14 Ý kiến của các hộ dân, con em xa quê hương về việc huy động nguồn lực
đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng (n = 90) 75 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của nhóm các yếu tố về cơ chế, chính sách và năng lực ban
quản lý chương trình xây dựng NTM 80
Trang 9Bảng 4.16 Ảnh hưởng của các yếu tố về phía cộng đồng đến huy động nguồn lực cho
xây dựng nông thôn mới 82
Bảng 4.17 Thu nhập của người dân huyện Thanh Sơn qua điều tra 83
Bảng 4.18 Mối quan hệ giữa mức thu nhập với khả năng huy động 83
Bảng 4.19 Mối quan hệ giữa nghề nghiệp và khả năng huy động 84
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Tiểu ban huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới 14
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phùng Thanh Sơn
Tên luận văn:Tăng cường huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện
Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 8340410 Tên cơ sở đào tạo: Học viện nông nghiệp Việt Nam
Trong những năm vừa qua, công tác huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thanh Sơn nói riêng và các địa phương khác trên cả nước nói chung gặp nhiều khó khăn, hạn chế Vì điều kiện về thời gian không cho phép, trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung phân tích, đánh giá thực trạng tình hình huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Từ đó, đề xuất các giải pháp tăng huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn tiếp theo Tương ứng với đó là mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) góp phần hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới; (2) đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Thanh Sơn giai đoạn 2015 – 2017; (3) đề xuất những giải pháp thích hợp để tăng cường huy động nguồn lực trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Thanh Sơn thời gian tới
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng linh hoạt giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp
để đưa ra các phân tích nhận định Trong đó số liệu thứ cấp được thu thập từ nguồn báo cáo văn bản liên quan đến nguồn lực huy động xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Sơn
Số liệu sơ cấp được thu thập qua phiếu điều tra, phỏng vấn các đối tượng là cán bộ quản lý Chương trình xây dựng nông thôn mới cấp huyện, xã; cán bộ thuộc các tổ chức đoàn thể và các hộ dân, con em xa quê hương Tiến hành điều tra 150 phiếu trong đó có 90 hộ dân, con
em xa quê hương, 30 cán bộ quản lý Chương trình xây dựng nông thôn mới và 30 cán bộ thuộc các tổ chức đoàn thể Nội dung điều tra đó là: kết quả huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới thời gian qua trên địa bàn huyện Thanh Sơn; đánh giá kết quả của sự huy động nguồn lực sau khi đã được huy động; đánh giá về phương pháp huy động; các yếu
tố ảnh hưởng đến công tác huy động nguồn lực tại địa phương
Nghiên cứu đánh giá thực trạng huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ thời gian qua, bao gồm các nội dung: huy động nguồn lực từ ngân sách Nhà nước, nguồn lực từ sức dân, nguồn vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới Trong đó, nguồn lực huy động từ cộng đồng dân cư đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định đến sự thành công của chương
Trang 12trình Bên cạnh đó, nguồn lực từ Ngân sách nhà nước, tín dụng và doanh nghiệp cũng đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Nghiên cứu cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới, gồm có: (1) Năng lực của Ban chỉ đạo và Ban quản lý xây dựng nông thôn mới; (2) sự tham gia của cộng đồng trong huy động các nguồn lực; (3) thu nhập và nghề nghiệp; (4) cơ chế, chính sách trong huy động nguồn lực xây dựng
nông thôn mới;
Từ thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Sơn chúng tôi đã đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực của huyện cho chương trình xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới: Thực hiện lồng ghép các chương trình MTQG với chương trình xây dựng nông thôn mới; vận dụng có hiệu quả cơ chế chính sách hỗ trợ của cấp trên; tích cực, chủ động tạo nguồn thu ngân sách; tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; thực hiện đa dạng các hình thức tín dụng, giúp nhân dân tiếp cận được với nguồn vốn vay phát triển sản xuất; công khai, minh bạch, công bằng trong đóng góp của nhân dân; tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về mục đích, ý nghĩa của chương trình xây dựng nông thôn mới; nâng cao thu nhập cho người dân
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Phung Thanh Son
Thesis title: Strengthen mobilization of resources for "Nong Thon Moi" construction
program in Thanh Son district, Phu Tho province
Maijor: Economics Management Code: 8340410 Educational Organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
In recent years, the mobilization of resources for the NTM construction program
in Thanh Son district has many difficulties and limitations This study with entitled
“Strengthen mobilization of resources for "Nong Thon Moi" construction program
in Thanh Son district, Phu Tho province”aim to (1) To systemize the theoretical and
practical issues which related the mobilization of resources for "Nong Thon Moi" (2) Assessment the situation of mobilization of resources for "Nong Thon Moi" construction program in Thanh Son district, Phu Tho province (3) Analyze the factors were affected to the mobilization of resources for "Nong Thon Moi" construction program in Thanh Son district, Phu Tho province (4) To propose some solutions to enhance the mobilization of resources for "Nong Thon Moi" construction program in Thanh Son district, Phu Tho province
This study used primary and secondary data, the depth interviews, structured interviews 150 samples in departments of Agriculture and Rural development, households and many managers in local government The research methodology such as described statistical analysis, comparative, forecasting to assess the mobilization of resources for "Nong Thon Moi" construction program in Thanh Son district, Phu Tho province The results show that the situation of resource mobilization for NTM construction in Thanh Son district, Phu Tho province in the past time, included mobilize resources from the State budget, the people, credit capital, and enterprise capital In particular, the most important of resources mobilized from the population community Besides, resources from the State Budget, credit and enterprises capital also play an indispensable role in the process of socio-economic development of the locality However, there are many limitations and factors impacted to mobilization
semi-of resources for "Nong Thon Moi" construction program in Thanh Son district, Phu Tho province such as (1) Capacity of the Committee and the Management Board of NTM; (2) community participation in mobilizing resources; (3) income and occupation; (4) mechanisms and policies in mobilizing resources for NTM construction
There are some groups of solution to enhance mobilization of resources for
"Nong Thon Moi" construction program in Thanh Son district, Phu Tho province such
Trang 14as integrating national programs with the NTM construction program; apply the mechanisms and policies of higher levels; actively and proactively create budget revenues; create a favorable environment for businesses in agriculture and rural areas; implementing various forms of credit, easy access loans for production development; publicity, transparency, equality in people's contributions; improve income for people
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam hiện nay vẫn là nước nông nghiệp, nông dân chiếm đa số (68,25%) và sống chủ yếu ở nông thôn Phát triển nông thôn, cùng với phát triển nông nghiệp và nông dân, là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khoá X) đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009, về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM và Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010, về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020
Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới (NTM) không chỉ là phát triển kinh tế, quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, mà còn là xây dựng và củng cố HTCT, phát triển văn hóa, xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, v.v Chính sách xây dựng NTM, nhất là chính sách quy hoạch NTM là những nhiệm vụ công tác mới mẻ Do vậy, trong quá trình triển khai thực hiện còn nhiều khó khăn, lúng túng Thực hiện chính sách xây dựng NTM là chủ trương và chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, không chỉ
là vấn đề trước mắt mà còn là vấn đề lâu dài, đòi hỏi tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý của các cấp chính quyền, sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân
Để thực hiện chính sách NTM có hiệu quả, phải cần nhiều lực lượng, nhiều nguồn lực, đòi hỏi phải có sự tham gia của cả hệ thống chính trị, của các cấp ủy, chính quyền từ trung ương đến địa phương cũng như của mỗi người dân Thực hiện chính sách xây dựng NTM không chỉ là nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền, không chỉ là sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội mà là sự vào cuộc của tất cả người dân và của cả hệ thống chính trị
Thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 và Quyết định
số 695/QĐ-TTG ngày 8/6/2012 của Chính phủ về sửa đổi Quyết định số 800/QĐ-TTg; Nghị quyết số 196/2009/NQ-HĐND ngày 16/12/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ về Quy hoạch phát triển nông thôn mới tỉnh Phú
Trang 16Thọ đến năm 2020; Nghị Quyết số 07-NQ/TU ngày 12/4/2016 của Tỉnh ủy Phú Thọ tại Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh khóa XVII về xây dựng nông thôn mới tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2016 - 2020; các văn bản hướng dẫn của Trung ương, của tỉnh; sau 8 năm triển khai thực hiện với sự quyết tâm của các cấp uỷ đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị cùng với sự vào cuộc thực sự của nhân dân Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng và nhận thức của người dân trong phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, hệ thống hạ tầng nông thôn phát triển mạnh mẽ, vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở được phát huy, dân chủ ở nông thôn được nâng lên, các điều kiện về giáo dục, y tế, văn hoá tiếp tục được cải thiện, diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới, tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; lòng tin của dân với Đảng và Nhà nước được củng cố
và tăng cường
Tuy nhiên, qua 8 năm thực hiện chương trình, kết quả chưa đạt được so với mục tiêu đã đề ra, chất lượng quy hoạch nông thôn mới còn thấp; việc đầu tư phát triển sản xuất gắn với bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ
lẻ manh mún chưa gắn được sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu; công tác
xã hội hóa về huy động nguồn lực còn gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng so với nhu cầu; nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, môi trường còn thấp so với nhu cầu thực tế; công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu, thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao; hoạt động của Ban chỉ đạo, ban quản lý ở một số địa phương còn thiếu quyết liệt, sát sao, sự phối hợp trong triển khai thực hiện chưa chặt chẽ, thường xuyên
Do đó việc triển khai thực hiện các tiêu chí về xây dựng NTM gặp nhiều khó khăn (Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Sơn, 2010-2015, 2016, 2017) Chính vì vậy câu hỏi đặt ra là: Nghiên cứu huy động nguồn lực cho xây dựng NTM được dựa trên cơ sở lý luận nào? Thực trạng huy động nguồn lực trong xây dựng NTM tại huyện Thanh Sơn thời gian qua như thế nào? Những thuận lợi, khó khăn trong huy động nguồn lực xây dựng NTM? Yếu tố nào ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực cho xây dựng NTM? Giải pháp nào cần đề xuất nhằm tăng cường huy động nguồn lực
Trang 17trong xây dựng NTM tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Xuất phát từ thực tiễn
trên, luận văn nghiên cứu đề tài: ‘‘Tăng cường huy động nguồn lực cho xây
dựng nông thôn mới tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động nguồn lực cho xây dựng NTM, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường huy động nguồn lực cho xây dựng NTM tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến huy động nguồn lực trong xây dựng NTM;
Đối tượng khảo sát: Cán bộ, người dân một số xã xây dựng NTM và các hoạt động liên quan đến việc huy động nguồn lực trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đánh giá thực trạng huy động nguồn lực trong xây dựng NTM, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động nguồn lực trong xây dựng NTM và giải pháp tăng cường huy động nguồn lực trong xây dựng NTM tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trong phạm vi huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Về thời gian: Số liệu được thu thập từ năm 2015 đến 2018 Đề tài được thực hiện từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019
Trang 181.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới
Luận văn đã tổng hợp, phân tích và đánh giá thực trạng công tác huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Các nguồn lực chủ yếu cho xây dựng nông thôn mới chủ yếu là: Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước, nguồn vốn doanh nghiệp, vốn tín dụng và đóng góp của cộng đồng dân cư Trong đó chỉ ra rằng, vốn đóng góp của cộng đồng dân cư đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định đến kết quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Luận văn đã xác định những yếu tố ảnh hưởng đến công tác huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, bao gồm: Năng lực của Ban chỉ đạo và Ban quản lý xây dựng nông thôn mới; sự tham gia của cộng đồng trong huy động các nguồn lực; thu nhập và nghề nghiệp; cơ chế, chính sách trong huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới;
Luận văn đã đưa ra các giải pháp huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ giai đoạn tới
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.1.1 Khái niệm, vai trò, đối tượng và nguyên tắc huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
2.1.1.1 Một số khái niệm
a.Khái niệm nông thôn
Hiện nay trên thế giới, có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn và người ta thường so sánh các chỉ tiêu của nông thôn so với thành thị Cho đến nay, gần như chưa có định nghĩa nào về nông thôn được chấp nhận rộng rãi
Có nhiều ý kiến cho rằng nông thôn là địa bàn mà ở đó dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp Tuy nhiên, chưa đầy đủ vì có nhiều vùng dân cư sống chủ yếu bằng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu nhập từ nông nghiệp trở thành thứ yếu, chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập của dân cư
Một số nhà khoa học đưa ra khái niệm về nông thôn như sau: "Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống
và làm việc, có mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình
độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn"(Đặng Kim Sơn và Đặng Thu Hòa, 2002) Đây là khái niệm dùng nhiều chỉ tiêu để đánh giá giữa nông thôn và thành thị vì vậy nó mang tính toàn diện hơn và được nhiều người chấp nhận hơn
Với khái niệm về nông thôn như trên, chúng ta có thể phân tích những đặc trưng chủ yếu của vùng nông thôn và so sánh với thành thị
Thứ nhất, nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ
yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, các hoạt động kinh tế chủ yếu nhằm phục vụ cho nông nghiệp và cộng đồng cư dân nông thôn Đây là đặc trưng rất cơ bản của vùng nông thôn Với mọi vùng nông thôn thì nông nghiệp luôn là ngành có vai trò quan trọng (trong đó có cả lâm và ngư nghiệp)
Kể cả những vùng mà tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển rất mạnh thì nông nghiệp vẫn có vai trò quan trọng Bên cạnh đó, nông nghiệp còn thu hút nhiều ngành phát triển phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Trang 20Thứ hai, nông thôn là vùng có cơ sở hạ tầng kém hơn thành thị, có trình độ
tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá kém hơn Đối với mọi quốc gia thì chỉ tiêu này là khá rõ ràng Vùng nông thôn có địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, trình độ phát triển KT-XH thấp hơn nên hệ thống cơ sở hạ tầng và trình độ phát triển sản xuất hàng hoá cũng thấp hơn
Thứ ba, nông thôn là vùng có thu nhập và đời sống thấp hơn, trình độ văn
hoá, khoa học và công nghệ thấp hơn thành thị vì thành thị thường là trung tâm văn hoá và kinh tế của một vùng, do vậy cơ cấu kinh tế phát triển hơn, mức độ đầu tư cao hơn Hơn nữa do điều kiện thuận lợi về kinh tế, văn hoá- khoa học và
kỹ thuật mà thành thị tạo nên sức hút rất lớn đối với nguồn lao động tinh tuý, có trình độ cao ở nông thôn ra lập nghiệp, điều đó cũng góp phần hình thành trung tâm văn hoá, khoa học và công nghệ ở thành thị
Thứ tư, nông thôn mang tính đa dạng về tự nhiên, kinh tế và xã hội, đa dạng
về quy mô và trình độ phát triển… giữa các vùng khác nhau thì tính đa dạng cũng khác nhau
Thứ năm, một đặc trưng khác của vùng nông thôn mà cũng có ý nghĩa quan
trọng trong việc phân biệt giữa thành thị và nông thôn đó là tính cộng đồng làng-
xã - thôn - bản rất chặt chẽ Phần lớn các vùng nông thôn có lịch sử phát triển lâu đời hơn thành thị, do đó tính cộng đồng làng xã rất vững chắc Mỗi làng, mỗi thôn bản hay mỗi vùng nông thôn đều có phong tục tập quán và bản sắc văn hoá riêng Điều đó giống như luật bất thành văn mà mọi cư dân phải tuân theo Dân
cư thành thị chủ yếu là từ nhiều nơi đến lập nghiệp nên phong tục tập quán và bản sắc văn hoá phong phú đa dạng, không đồng nhất, còn nông thôn, những bản sắc văn hoá của mỗi làng bản được duy trì vững chắc hơn Điều đó tạo nên truyền thống văn hoá của mỗi vùng, mỗi làng quê ở nông thôn, nó in đậm trong đời sống tâm hồn của mỗi con người sinh ra và lớn lên ở đó
b Khái niệm nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
NTM trước tiên phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay; nếu so sánh giữa NTM
và nông thôn truyền thống, thì NTM phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới Tại Hội nghị lần thứ Bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (tháng 8/2008), Đảng đã ban hành Nghị quyết số 26- NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó khẳng định: Xây dựng NTM có kết cấu hạ
Trang 21tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” Như vậy, NTM gồm các nội dung cơ bản sau:
- Nông thôn là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại;
- Sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa;
- Đời sống về vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao;
- Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển;
- Xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
NTM gồm các chức năng sau:
- Chức năng vốn có của nông thôn là sản xuất nông nghiệp: NTM phải là nơi sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp có năng suất, chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa, không phải là tự cung, tự cấp, phát huy được đặc sắc của địa phương (đặc sản) Đồng thời, với việc này là phát triển sản xuất ngành nghề, trước hết là ngành nghề truyền thống của địa phương Sản phẩm ngành nghề vừa chứa đựng yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể của từng làng quê Việt Nam, vừa tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn Xây dựng NTM không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành thị
- Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc: Bản sắc văn hóa làng quê cũng đồng nghĩa với bản sắc từng dân tộc, giữ gìn nó là giữ gìn văn hóa truyền thống đa dạng của các dân tộc, của từng quốc gia
- Chức năng bảo đảm môi trường sinh thái: Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn Nếu như nền văn minh công nghiệp phá vỡ mối quan hệ hài hòa vốn có giữa con người và thiên nhiên, thì sản xuất nông nghiệp lại mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái Do vậy, phải xây dựng NTM với những đóng góp tích cực cho sinh thái và
có thể coi chức năng sinh thái chính là thước đo một khu xã có thể coi là NTM hay không Đồng thời, phải phân biệt rõ không được lẫn lộn ranh giới giữa nông thôn với thành thị
Trang 22Tóm lại, NTM là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất- tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững
Hiện nay, quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta đang bước vào giai đoạn mới Sản xuất phát triển theo chiều sâu lấy chất lượng hiệu quả làm mục tiêu, đời sống nhân dân được nâng cao, đảm bảo công bằng
Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng NTM, chính là áp dụng lý luận phát triển nông thôn bền vững vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Theo đó, nâng cao chất lượng sống cả về vật chất và tinh thần của nông dân và dân cư nông thôn nói chung vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp phát triển nông thôn
Nội dung của phát triển nông thôn bao gồm 4 quá trình: (I) CNH, HĐH; (II)
đô thị hóa; (III) kiểm soát dân số; (IV) bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn, theo những tiêu chuẩn của nền văn minh nhân loại và truyền thống văn hóa Việt Nam Thực hiện 4 quá trình này, tỉ lệ dân số và sức lao động nông nghiệp trong tổng dân số và lực lượng lao động xã hội phải giảm tương ứng với tỉ
lệ GDP nông nghiệp trong GDP của nền kinh tế Do đó, phát triển nông thôn bền vững đã bao hàm việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân
Xây dựng NTM là vấn đề thời sự trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Văn kiện đã khẳng định: “Xây dựng NTM, để giai cấp nông dân thực sự là chủ thể trong quá trình hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Xây dựng NTM góp phần xây dựng đất nước, để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, 2011) Như vậy xây dựng NTM là quá trình xây dựng, phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng hiện đại, trong đó những người nông dân thực
sự làm chủ, ly nông bất ly hương, họ vừa là chủ thể, vừa là đối tượng để hướng tới xây dựng nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
c Khái niệm và phân loại nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
Các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ:
Người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn
và có cách ứng xử với chúng thích hợp Với cách nhận thức như thế và trên quan điểm thiết thực, việc phân chia các nguồn lực được tiến hành theo hai cách chủ yếu:
Trang 23Cách thứ nhất, người ta chia ra thành nhóm nguồn lực vật chất và nguồn
lực con người
Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thuỷ điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, vị trí địa kinh tế ) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình công cộng, đường sá, hải cảng, sân bay, hệ thống sản xuất và truyền tải điện, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống viễn thông và truyền thông )
Nhóm nguồn lực con người (gắn với tài nguyên trí thức) và tài nguyên thông tin Trí tuệ của con người có giá trị đặc biệt và không thể tự có được mà con người phải mất công, mất sức mới có Muốn có trí tuệ, con người phải có thể lực và trí lực cùng hoàn cảnh thuận lợi Đối với vấn đề xây dựng trí tuệ, việc giáo dục quan trọng như thế nào thì việc cải tạo nòi giống cũng quan trọng không kém Trong lĩnh vực xây dựng nguồn lực con người, không thể xem nhẹ việc bồi dưỡng sức dân và thực hiện nhân đạo hiện đại đối với vấn đề sinh sản Để có được nguồn thông tin chất lượng cao nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ cho người dân, Nhà nước phải tiến hành xây dựng hệ thống thông tin thống nhất từ trung ương tới các địa phương Có như thế mới khắc phục được tình trạng thiếu thông tin trầm trọng như hiện nay ở nước ta
Cách thứ hai, căn cứ vào nguồn gốc của các nguồn lực để phân loại Người
ta chia chúng ra thành hai nhóm lớn: nguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước Nguồn lực trong nước bao giờ cũng giữ vai trò quyết định Bằng cơ chế, chính sách, người ta tạo ra môi trường hấp dẫn để thu hút các nguồn lực bên ngoài, nhất là thu hút nhân tài Thông qua cơ chế, chính sách, nhà nước và các doanh nghiệp có thể biến ngoại lực thành nội lực Phần lớn các nguồn lực đều hữu hạn Vì thế, việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực và dự trữ các nguồn lực trong điều kiện có thể là một trong những quốc sách quan trọng (Thư viện học liệu mở Việt Nam, 2015)
d Khái niệm về huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
* Huy động
“Huy động” lần đầu tiên được sử dụng trong một bối cảnh quân sự, để mô
tả việc chuẩn bị của quân đội Nga trong những năm 1850 và năm 1860 Lý thuyết và kỹ thuật huy động đã liên tục thay đổi kể từ đó
Trang 24Huy động là "quá trình hình thành đám đông, nhóm, assiciations, và tổ chức cho việc theo đuổi các mục tiêu tập thể" (Minion, 1987) Như vậy, “huy động” là điều nhân lực, của cải cho một công việc lớn; huy động nguồn lực, kinh phí cho công trình
Phương thức huy động: Bằng tiền, hiện vật hoặc ngày công lao động
Nguyên tắc huy động: Huy động được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ bàn bạc, công khai minh bạch và quyết định theo đa số
* Huy động nguồn lực
Huy động nguồn lực là một chính lý thuyết xã hội học trong việc nghiên cứu các phong trào xã hội mà nổi lên trong những năm 1970 Nó nhấn mạnh đến khả năng của các thành viên của phong trào để có được nguồn tài nguyên và huy động người dân đối với việc hoàn thành các mục tiêu của phong trào
Huy động nguồn lực là hướng dẫn huy động các nguồn lực, chủ yếu là nội lực, để tăng cường năng lực tổ chức và mang lại lợi ích cho cộng đồng
Mục đích của huy động nguồn lực là làm thế nào để một tổ chức có thể gây quỹ cần thiết để thực hiện sứ mệnh của mình? Các nguồn lực cần có đang ở đâu? Làm thế nào để bạn có thể duy trì tổ chức và công việc của mình? Đó là những câu hỏi chính mà các tổ chức phải đối mặt khi họ phải xem xét làm thế nào để duy trì công việc của họ và tăng cường tính bền vững của tổ chức
Việc xây dựng một kế hoạch hoặc một chiến lược huy động nguồn lực có thể dẫn đến các nỗ lực sáng tạo trong việc sử dụng các tài sản của chính bạn để đạt được sự ủng hộ cho tổ chức của bạn Các nguồn tài trợ khác nhau có thể làm tăng tính độc lập và linh hoạt để thực hiện các chương trình và giảm thiểu sự phụ thuộc vào các nguồn quỹ bên ngoài (Đào Thị Tươi, 2016)
2.1.1.2 Vai trò của huy động nguồn lực trong xây dựng Nông thôn mới
Huy động xây dựng nông thôn mới là một cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của
cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế- chính trị tổng hợp Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân
Trang 25có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh (Phạm Tất Thắng, 2015)
2.1.1.3 Nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
Đóng góp của cộng đồng (bao gồm cả công sức, tiền của đóng góp và tài trợ của các tổ chức cá nhân);
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp;
Vốn tín dụng (bao gồm cả đầu tư phát triển và thương mại);
Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước;
Vốn tài trợ khác
Thực hiện xây dựng nông thôn mới cần có sự kế thừa, lồng ghép các chương trình, dự án đang và sẽ triển khai trên địa bàn Các công trình xây dựng phải trên cơ sở chỉnh trang, nâng cao là chính để giảm thiểu nguồn lực trong điều kiện kinh tế còn khó khăn
2.1.1.4 Nguyên tắc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới
Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC, ngày 13 tháng 4 năm 2011 (liên bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Kế hoạch và đầu
tư, Bộ Tài chính) về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 và Thông tư liên tịch số 51/2013/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC, ngày 02/12/2013 về sửa đổi một số điều của Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC, ngày 13/4/2011, tại Điều 2 của thông tư đã đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng nông thôn mới như sau:
800/QĐ-(1) Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 và Quyết định
số 342/QĐ-TTG ngày 20/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
(2) Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
Trang 26(3) Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình
hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
(4) Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền xây dựng
(5) Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự
án của Chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá
(6) Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn
xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch, và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới
2.1.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Một là: Quy hoạch xây dựng NTM, gồm: Quy hoạch chung (tổng thể) phát
triển nông thôn trên địa bàn xã, gồm 3 quy hoạch: quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch sản xuất; Quy hoạch chi tiết: Khu trung tâm, hệ thống giao thông, thủy lợi, các khu dân cư mới; Xây dựng chính sách quản lý,
thực hiện quy hoạch; Thiết kế các mẫu công trình về nhà ở dân cư
Hai là: Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, gồm:Hoàn thiện cơ bản hạ tầng
kinh tế- xã hội công cộng; xóa nhà tạm, cải tạo, phát triển nhà ở; xây dựng cơ chế
chính sách hỗ trợ
Ba là: Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, gồm:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp; tăng cường khuyến nông; nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau quy hoạch; bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống; đào tạo nghề cho LĐNT, đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc
làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu LĐNT
Bốn là: Giảm nghèo và an sinh xã hội, gồm: Thực hiện có hiệu quả Chương
trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao; tiếp tục
Trang 27triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo; thực hiện các chương
trình an sinh xã hội
Năm là: Đổi mới và phát triển các hình thức sản xuất có hiệu quả ở nông
thôn, gồm: Phát triển kinh tế hộ, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã; phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn; xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên
kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
Sáu là: Phát triển giáo dục đào tạo ở nông thôn: Tiếp tục thực hiện Chương
trình mục tiêu quốc gia về Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí
quốc gia về NTM
Bảy là: Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe dân cư nông thôn: Tiếp tục thực
hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về Y tế, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí
quốc gia về NTM
Tám là: Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn,
gồm: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đáp ứng yêu cầu của bộ tiêu chí quốc gia về NTM; thực hiện thông tin và truyền thông nông
thôn, đáp ứng yêu cầu của bộ tiêu chí quốc gia về NTM
Chín là: Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, gồm: Tiếp tục
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; xây dựng các công trình bảo vệ môi tường nông thôn trên địa bàn xã,
thôn theo quy hoạch
Mười là: Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị -
xã hội trên địa bàn nông thôn, gồm: Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn; Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn; bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị
Mười một: Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn, gồm: Ban hành nội
quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ nạn xã hội và các
hủ tục lạc hậu; điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ, đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng NTM
2.1.3 Nội dung huy động nguồn lực trong xây dựng Nông thôn mới
2.1.3.1 Thành lập tiểu ban huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
Căn cứ vào các văn bản của Trung ương, tỉnh về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 - 2020; các huyện, xã
Trang 28có nhiệm vụ thành lập các Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Ban có trách nhiệm huy động các nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
Thành phần tiểu ban huy động nguồn lực trong xây dựng NTM: Trưởng Ban: Bí thư Đảng ủy; các Phó trưởng Ban: Số lượng, thành phần do Bí thư Đảng
ủy quyết định, trong đó có Chủ tịch UBND là Phó Trưởng Ban thường trực và Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy là Phó Trưởng Ban;các thành viên khác của Ban Chỉ đạo: Các Phó Chủ tịch UBND, Chủ tịch UBMT tổ quốc Việt Nam, Trưởng các ban, ngành, hội, đoàn thể, Bí thư Chi bộ các khu dân cư
Sơ đồ 2.1 Tiểu ban huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
Nhiệm vụ của tiểu ban huy động nguồn lực trong xây dựng NTM:
- Chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (gọi tắt là Chương trình) trên địa bàn xã, theo nội dung Đề án xây dựng xã nông thôn mới được cấp có thẩm quyền phê duyệt và những nội dung chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng nông thôn mới của cấp trên Trong đó, cần chú trọng chỉ đạo tốt công tác vận động, tuyên truyền “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới”; tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng;
Chú thích: Quan hệ chỉ đạo Quan hệ phối hợp
Các Phó chủ tịch UBND, Chủ tịch UBMTTQ xã, Trưởng các ban,
ngành, hội, đoàn thể, Bí thư Chi bộ các khu dân cư
Trang 29nâng cao chất lượng và vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở; huy động các nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đáp ứng các tiêu chí nông thôn mới
- Xây dựng kế hoạch, chương trình công tác hàng năm, 5 năm; có quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ, địa bàn phụ trách cụ thể cho từng thành viên Ban Chỉ đạo xã để triển khai thực hiện tốt kế hoạch, nhiệm vụ đề ra
- Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các ban, ngành đoàn thể ở xã, các Ban nhân dân thôn thực hiện các nhiệm vụ cụ thể về xây dựng nông thôn mới Định kỳ tổ chức sơ kết, đánh giá rút kinh nghiệm trong công tác điều hành, chỉ đạo
2.1.3.2 Tổ chức tuyên truyền về huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
Việc nhận thức đúng và đủ về nội dung của chương trình sẽ làm cho quá trình xây dựng được thực hiện bài bản, chủ động trong quá trình thực hiện các nội dung đặc biệt là công tác huy động và sử dụng nguồn lực phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương Công tác tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc tổ chức thực hiện chương trình, là nhiệm vụ của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở Chất lượng của công tác tuyên truyền quyết định đến nhận thức của người dân về chương trình và mức
độ sẵn lòng tham gia đóng góp Khi người dân hiểu về vai trò của Chương trình xây dựng nông thôn mới, hiểu rõ nội dung, phương pháp, cách làm, nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc xây dựng NTM người dân sẽ chủ động trong việc tham gia thực hiện chương trình, từng bước xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước trong quá trình thực hiện
2.1.3.3 Xây dựng cơ chế huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
Các loại vốn cho phát triển:
- Vốn con người: lao động, tri thức;
- Vốn vật chất: cơ sở hạ tầng và các vật chất khác;
- Vốn tài chính: tiền, của cải có thể hoán đổi;
- Vốn tự nhiên: đất đai, tài nguyên, khoáng sản;
- Vốn xã hội: giá trị gắn kết con người lại với nhau quan hệ gia đình như văn hóa, tập quán
Các nguồn vốn xây dựng nông thôn mới:
Trang 30- Vốn ngân sách:
+ Ngân sách trung ương: nguồn vốn cấp bổ sung cho xây dựng nông thôn mới các nguồn vốn chương trình hiện có (các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình hỗ trợ các mục tiêu, cân đối ngân sách hàng năm);
+ Ngân sách địa phương: từ thu ngân sách hàng năm/cân đối
- Vốn trái phiếu chính phủ: tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ và công trái xây dựng tổ quốc;
- Vốn tín dụng: Vốn vay ưu đãi phân bổ theo Nghị định số
106/2008/NĐ-CP ngày 19/9/2008 của Chính phủ;
- Vốn tài trợ: các nguồn ODA, tài trợ của doanh nghiệp trong nước và quốc tế;
- Vốn cộng đồng, người dân đóng góp tự nguyện;
- Các nguồn vốn hợp pháp khác: cho tặng, biếu, hiến
Cơ chế hỗ trợ đối với các nội dung xây dựng nông thôn mới như sau:
- Hỗ trợ 100% từ ngân sách Trung ương đối với:
+ Công tác quy hoạch (tổng thể, chi tiết): Định mức chi vận dụng theo thông tư số 24/2008/TT-BTC ngày 14/3/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí sự nghiệp kinh tế thực hiện các nhiệm vụ, dự án quy hoạch
- Công trình công cộng cấp xã như trường học, nhà văn hóa, trạm y tế, trụ
sở, công sở, đường đến trung tâm xã Định mức chi vận dụng theo: Thực hiện theo thông tư số 75/2008/TT-BTC ngày 28/8/2008 của Bộ Tài chính Riêng đối với gói thầu người dân trong xã tự làm thì mức tạm ứng tối đa là 80% giá trị hợp đồng, trong đó quy định:
+ Các đối tượng mà ngân sách nhà nước hỗ trợ >= 50% vốn: thực hiện theo quy định tại Thông tư này
+ Các đối tượng mà ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn <50% vốn: Do Ban chỉ đạo xã và nhà tài trợ tự quy định
+ Kinh phí từ ngân sách không quá 70%
- Đào tạo cán bộ thực thi công tác nông thôn mới của xã, thôn bản Định mức chi vận dụng theo các quy định về chi tiêu Khuyến nông
- Hỗ trợ một phần từ ngân sách Trung ương cấp đối với:
Trang 31+ Cấp nước sinh hoạt;
+ Xây dựng hệ thống thải nước;
+ Đường giao thông nông thôn;
+ Kênh mương nội đồng;
+ Hỗ trợ phát triển sản xuất;
+ Công trình công cộng cấp thôn bản như nhà văn hóa
Một số lưu ý khi sử dụng vốn ngân sách Trung ương
- Vốn sự nghiệp: ưu tiên hỗ trợ thực hiện công tác quy hoạch
- Vốn đầu tư phát triển: huy động, lồng ghép từ các nguồn vốn của các chương trình MTQG, chương trình hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn để tập trung thực hiện các công trình
- Hàng hóa của dân phải phù hợp với mặt bằng giá cả tại địa phương, chứng
từ thanh toán được UBND xã xác nhận
- Kinh phí hoạt động của cơ quan chỉ đạo chương trình các cấp tỉnh, huyện, xã
được chi cho: kiểm tra, giá sát, tổng kết, công tác phí, tập huấn, thiết bị văn phòng
- Chi bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương được cấp có thẩm quyền giao cho địa phương thuộc phạm vi
Quản lý, thanh toán, quyết toán vốn
- Dự án do UBND xã làm chủ đầu tư: Thông tư số 75/2008/TT-BTC ngày 28/8/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách xã, phường, thị trấn
Trang 32- Dự án của Ban Quản lý chương trình xây dựng NTM xã: Thông tư số 72/2010/TT-BTC ngày 11/5/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế đặc thù
về quản lý, sử dụng chi phí quản lý dự án đầu tư tại 11 xã thực hiện Đề án
“Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
- Đối với các dự án khác thực hiện theo các văn bản hướng dẫn hiện hành của Bộ Tài chính
- Phải đảm bảo không làm thay đổi mục tiêu, tổng mức vốn
- UBND xã có trách nhiệm huy động các nguồn lực trên địa bàn
- UBND xã phải thông báo công khai mức đầu tư cho từng công trình, dự
án, nhiệm vụ và mức hạch toán cho từng đối tượng theo từng chính sách, nhiệm
vụ chi
- Phải tuân thủ các quy định về mục tiêu, nhiệm vụ của từng chương trình,
dự án, chế độ, chính sách và nhiệm vụ chi; đảm bảo đúng đối tượng và địa bàn
2.1.3.4 Tổ chức huy động và tiếp nhận nguồn lực huy động
Nguyên tắc cơ bản trong huy động vốn
- Huy động tối đa nguồn lực tại địa phương;
- Huy động và khai thác có hiệu quả vốn đầu tư của doanh nghiệp;
- Sử dụng nguồn vốn ngân sách trung ương từ các chương trình, dự án hiện
có thông qua cơ chế lồng ghép trên địa bàn;
- Dựa vào nội lực là chính, ngân sách chỉ hỗ trợ một phần;
- Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm xây dựng cơ chế
+ Huy động các nguồn vốn của cộng đồng, người dân, tổ chức, doanh nghiệp
+ Lồng ghép các chương trình
Cơ chế huy động vốn
Trang 33- Nguồn vốn ngân sách Trung ương từ các chương trình hiện có:
Các chương trình mục tiêu quốc gia: Chương trình giảm nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Các chương trình hỗ trợ có mục tiêu: Chương trình hỗ trợ đầu tư trụ sở xã,
hỗ trợ chia tách huyện, khám chữa bệnh cho người nghèo,
+ Huy động tiếp từ các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình hỗ trợ có mục tiêu
+ Vốn trực tiếp từ chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới + Nguồn lực địa phương (thu từ đấu giá quyền sử dụng đất, thuế, các nguồn thu khác)
Vốn tín dụng: Vốn vay thương mại (Nghị định số41/2010/NĐ- CP ngày 16/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn)
- Cơ chế huy động: Vốn của doanh nghiệp
+ Đầu tư xây dựng công trình công cộng có thu phí để hồi vốn như: chợ, công trình cấp nước sạch, điện, thu dọn và chôn lấp rác thải, cầu nhỏ, bến đò, bến phà + Đầu tư kinh doanh các cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, thực phẩm, cung cấp dịch vụ như: kho hàng, khu trồng rau- hoa công nghệ cao, trang trại chăn nuôi tập trung, xưởng sấy nông sản, nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi, trại cung cấp giống
+ Đầu tư nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, tổ chức đào tạo và hướng dẫn
bà con tiếp cận kỹ thuật tiên tiến và các tổ chức sản xuất những giống cây trồng, vật nuôi, dịch vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ khuyến nông, khuyến công
- Nguồn đóng góp của cộng đồng
+ Công sức tiền của đầu tư cải tạo nhà ở, xây mới và nâng cấp các công trình vệ sinh phù hợp theo chuẩn mới; cải tạo ao, vườn có cảnh quan đẹp và có thu nhập; cải tạo cổng ngõ, tường rào phong quang, đẹp đẽ
+ Đầu tư cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình để tăng thu nhập + Đóng góp xây dựng công trình công cộng của làng, xã bằng công lao động, tiền mặt, vật liệu, máy móc thiết bị, hiến đất (Nếu đóng góp bằng tiền thì cần được cộng đồng bàn bạc quyết định, hội đồng nhân dân thông qua)
Trang 34+ Đóng góp tự nguyện và tài trợ từ các doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước
Một số vấn đề tồn tại trong cơ chế huy động vốn:
- Một số cán bộ, người dân nông thôn chưa xác định rõ xây dựng nông thôn mới là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình chưa nhận thức đúng về quan điểm: “Nhà nước hỗ trợ, nhân dân làm là chính”, vai trò trách nhiệm của người hưởng lợi trong xây dựng nông thôn mới chưa được phát huy đầy đủ
- Chưa chủ động vận động, huy động vốn tự đóng góp của nhân dân và cộng đồng nên tỷ vốn đóng góp của người dân ở nhiều nơi là rất thấp hoặc không
có (ngân sách phải chi trả cả tiền đền bù mở rộng đường thôn, ), chưa mạnh dạn
sử dụng lao động tại chỗ trong xây dựng các công trình
- Chưa tích cực vận động các doanh nghiệp đầu tư liên kết
Các bước huy động vốn như sau:
Bước 1 Khi có nhu cầu đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp sửa chữa các công trình cơ sở hạ tầng của xã, Ủy ban nhân dân xã lập dự toán, thiết kế công trình và các hồ sơ có liên quan gửi Ủy ban nhân dân cấp huyện để thẩm định Hồ
sơ dự án công trình gồm:
Tổng nhu cầu vốn để xây dựng và hoàn thành công trình, phân bổ chi tiết theo từng hạng mục công trình (nếu có); thiết kế và báo cáo dự kiến tiến độ thực hiện công trình
Dự kiến và cân đối các nguồn vốn bố trí cho công trình, trong đó có phần huy động nhân dân đóng góp; mức đóng góp đối với từng hộ gia đình, mức huy động đối với các tổ chức, cá nhân
Bước 2 Ủy ban nhân dân xã tổ chức để nhân dân bàn, quyết định về dự toán công trình và mức huy động đóng góp của nhân dân Cách thức tổ chức để nhân dân bàn thực hiện theo quy định
Đối tượng huy động
- Huy động nguồn ngân sách nhà nước: từ ngân sách cấp trên (Trung ương, tỉnh), ngân sách địa phương (huyện, xã)
- Tài trợ, ủng hộ trực tiếp của các tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài cho đầu tư xây dựng công trình
Trang 35- Huy động đóng góp tự nguyện của nhân dân
Hình thức huy động
Căn cứ vào tính chất thi công và tình hình thực tế của mỗi công trình, có thể thực hiện việc đóng góp theo các hình thức huy động bằng tiền, bằng hiện vật và bằng ngày công lao động
Đối với các khoản đóng góp bằng hiện vật và ngày công lao động, các địa phương cần phải lập sổ kế toán để theo dõi riêng Trên cơ sở đó tính vào giá trị quyết toán xây dựng công trình
Mức huy động của các nguồn lực Nhu cầu vốn cần huy động, đóng góp tự nguyện của nhân dân trong xã được xác định bằng tổng nhu cầu vốn cho đầu tư xây dựng công trình, trong đó: Ngân sách nhà nước (hỗ trợ từ ngân sách cấp trên,
từ ngân sách địa phương); tài trợ, ủng hộ trực tiếp của các tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài cho đầu tư xây dựng công trình; huy động từ nhân dân và các nguồn vốn khác
Xác định mức đóng góp cho từng đối tượng; nhu cầu vốn cần huy động trong từng giai đoạn phù hợp với tiến độ thi công và tiến độ huy động cho đầu tư xây dựng công trình Việc xác định căn cứ vào dự toán thi công công trình và tình hình thực tế thi công Xác định mức đóng góp cụ thể của từng đối tượng phải được thực hiện công khai, dân chủ và đảm bảo tính công bằng, hợp lý (Đào Thị Tươi, 2016)
2.1.3.5 Thanh tra, kiểm tra việc sử dụng các nguồn lực huy động xây dựng nông thôn mới
Trong quá trình sử dụng nguồn vốn để thực hiện xây dựng NTM, ngoài việc lập kế hoạch và tiến hành sử dụng vốn một cách phù hợp thì công tác giám sát kiểm tra các hoạt động đó là một nội dung quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn Vì vậy, đối với các nguồn vốn từ NSNN cấp phải được kiểm soát chặt chẽ, nghiêm túc từ khi giao vốn đến rút vốn để sử dụng thông qua các cơ quan chuyên môn và các cơ quan được giao nhiệm vụ kiểm tra, giảm sát Đối với các nguồn huy động ngoài ngân sách cần được giám sát để đảm bảo không sử dụng lãng phí, sai mục đích sử dụng,… Vì vậy, cần có sự tham gia quản lý của các đối tượng đóng góp để đảm bảo nguồn vốn đó được
sử dụng hiệu quả, minh bạch
Trang 362.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới
2.1.4.1 Năng lực của Ban chỉ đạo và Ban quản lý xây dựng nông thôn mới
Năng lực của Ban chỉ đạo/Ban quản lý xây dựng nông thôn mới là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động nguồn lực Năng lực của Ban chỉ đạo ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch huy động, xây dựng phương pháp huy động và chỉ rõ các nguồn lực cần phải huy động cho xây dựng nông thôn mới trên cơ sở đó xác định mức độ có khả năng huy động và định mức từng hạng mục đầu tư sử dụng nguồn lực huy động Năng lực của Ban chỉ đạo ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện triển khai việc huy động nguồn lực, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
2.1.4.2 Sự tham gia của cộng đồng trong huy động các nguồn lực
Ý thức cộng đồng tại các địa phương được thể hiện bằng việc tự nguyện tham gia vào các hoạt động tập thể của cộng đồng Khái niệm ý thức cộng đồng
có tính lý thuyết hơn, dựa vào quyền lợi của những thành viên và các nhà nghiên cứu trong tương quan giữa ý thức cộng đồng với mức độ tham gia của người dân địa phương trong quản lý phát triển
Cộng đồng cũng thể hiện những kinh nghiệm được chia sẻ kết nối cuộc sống của người dân trong cùng một không gian Điều này dẫn tới tình cảm và sự gắn kết về tinh thần Ý thức của từng cá thể cộng đồng ảnh hưởng tới việc tự nguyện tham gia vào các hoạt động để trợ giúp và hoàn thiện cộng đồng Ý thức cộng đồng được hình thành qua lịch sử Nó bao gồm sự tự nguyện ở lại cộng đồng, thăm hỏi lẫn nhau, có cùng cảm xúc với các thành viên cộng đồng, tranh thủ hoặc trao đổi tình cảm với nhau
2.1.4.3 Ảnh hưởng yếu tố thu nhập và nghề nghiệp
Trong nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy yếu tố thu nhập và nghề nghiệp ảnh hưởng đến sự huy động các nguồn lực của người dân trong các họat động phát triển nói chung và việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới nói riêng Trong khuôn khổ nghiên cứu về sự tham gia đã liệt kê các đặc trưng hộ gia đình ảnh hưởng tới sự tham gia Đó là: độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, điều kiệnkinh
tế, quan hệ xã hội và lịch sử di dân và định cư của hộ gia đình cũng ảnh hưởng tới sự tham gia đóng góp của cộng đồng vào các hoạt động trong xây dựng NTM
Trang 372.1.4.4 Cơ chế, chính sách trong huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
Việc huy động các nguồn lực cho xây dựng NTM chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó không thể tính đến các yếu tố về chính sách và cơ chế hoạt động của chương trình xây dựng NTM để tạo điều kiện cho việc huy động các nguồn lực cho xây dựng NTM Bên cạnh đó, trong các hoạt động ở từng lĩnh vực cần có những cơ chế phù hợp để làm thế nào thu hút được sự tham gia đóng góp của cộng đồng và khi đã thu hút được cộng đồng tham gia đóng góp rồi thì ý kiến của họ phải được tôn trọng và các kế hoạch hay quyết định trước khi đưa vào triển khai cần phải được họ đồng ý
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số tỉnh trong nước
2.2.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
Sau 8 năm triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới với sự nỗ lực của các cấp, ngành, đoàn thể cùng sự chung tay của người dân,
bộ mặt nông thôn của các địa phương có sự đổi mới theo hướng văn minh, hiện đại; đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu đến năm 2020 toàn tỉnh có 50 xã đạt chuẩn NTM cần tiếp tục huy động mọi
nguồn lực của cả cộng đồng (Nguyễn Tuấn, 2014)
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền sau 8 năm triển khai, chương trình xây dựng NTM thực sự trở thành một phong trào lan tỏa rộng khắp, mỗi người đều nhận thức đầy đủ, chính xác về vai trò của mình trong xây dựng NTM, từ đó tự nguyện đóng góp thời gian, công sức, vật chất để thực hiện các tiêu chí NTM Điểm sáng trong triển khai chương trình xây dựng NTM là việc các địa phương thực sự quan tâm đến công tác quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch khu trung tâm xã, quy hoạch sản xuất và lập đề án xây dựng NTM cấp xã Đến nay, 100% số xã hoàn thành lập quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã và quy hoạch sử dụng đất, đồng thời đang tích cực hoàn thiện quy hoạch sản xuất và đề án xây dựng NTM cấp xã trong năm 2020 Các địa phương chú trọng chỉ đạo người dân phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập Toàn tỉnh hiện có 48 xã xây dựng 63 mô hình trồng trọt, 20 xã xây dựng mô hình phát triển chăn nuôi, 15 xã xây dựng mô hình nuôi trồng thủy sản, 6 huyện xây dựng mô hình cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp Các hình thức tổ chức sản xuất
Trang 38tiếp tục được kiện toàn, củng cố và phát triển với 563 HTX dịch vụ nông nghiệp,
145 trang trại đạt mức thu nhập hàng tỉ đồng/trang trại/năm Toàn tỉnh đã đầu tư khoảng 700 công trình xây dựng hạ tầng nông thôn, góp phần làm thay đổi căn bản bộ mặt, cảnh quan, môi trường, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn (Nguyễn Tuấn, 2014)
Tuy nhiên công tác xây dựng NTM của tỉnh còn nhiều hạn chế do sự chỉ đạo, điều hành của một số cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở chưa tích cực, phong trào thi đua: “Toàn dân chung sức xây dựng NTM” ở nhiều xã còn trầm lắng, nguồn vốn cho chương trình xây dựng NTM của các xã gặp nhiều khó khăn Để hoàn thành mục tiêu về NTM, theo Ban chỉ đạo chương trình xây dựng NTM tỉnh, các cấp, ngành, địa phương cần tiếp tục tăng cường lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực Trong đó tập trung cao phát triển sản xuất theo hướng coi trọng giá trị gia tăng, phát triển bền vững; chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn; nâng cao chất lượng hoạt động các lĩnh vực văn hóa, xã hội, an ninh, trật tự xã hội Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các cơ chế, chính sách trong xây dựng NTM ở các cấp, đặc biệt việc thực thi dân chủ, giám sát cộng đồng, trao quyền cho người dân Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết và đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng nơi làm tốt và các tập thể, cá nhân có đóng góp tích cực vào phong trào Phát hiện kịp thời những cách làm hay, mô hình tốt để phổ biến ra diện rộng Phát động phong trào thi đua ở tất cả các cấp, các ngành, các đơn vị và đoàn thể nhân dân tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới
Tuyên truyền theo từng chủ đề chuyên sâu, đa dạng về hình thức đổi mới về nội dung, tập trung tuyên truyền, đối thoại về cơ chế, chính sách mới; nêu gương các mô hình tiêu biểu trong các lĩnh vực, các mô hình phát triển sản xuất hàng hóa có liên doanh, liên kết; phương pháp, cách làm hay, nhân rộng các mô hình điển hình khích lệ nhân dân góp công, góp của phát huy sức mạnh đoàn kết trong xây dựng NTM Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn Tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề
về xây dựng NTM để chia sẻ kinh nghiệm, nhằm tháo gỡ các khó khăn
2.2.1.2 Kinh nghiệm của huyện Đan Phượng, Hà Nội
Cũng như những địa phương khác ở Hà Nội, khi bắt tay vào thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, nhìn chung sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đan Phượng còn manh mún, lạc hậu, hạ tầng nông thôn xuống cấp,
Trang 39thiếu đồng bộ Người dân không mặn mà với sản xuất nông nghiệp, không mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất để giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập
Ô nhiễm môi trường, nhất là tại các làng nghề gây bức xúc trong người dân Vì thế, khi thực hiện xây dựng nông thôn mới, Đan Phượng xác định công tác tư tưởng, tuyên truyền để tạo sự đồng thuận trong nhân dân phải đi trước một bước Huyện đã tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền, như các buổi nói chuyện chuyên
đề, lồng ghép với các hoạt động văn hóa, văn nghệ; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu xây dựng nông thôn mới Cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc Từ bí thư chi bộ đến cán bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cụm dân cư đều trở thành tuyên truyền viên tích cực, giúp người dân hiểu rõ vai trò của mình trong xây dựng nông thôn mới Người dân được trực tiếp tham gia góp ý vào quá trình xây dựng nông thôn mới, từ xây dựng đồ án quy hoạch, lập phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế đến việc lựa chọn các tiêu chí, dự án cần làm trước, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, khả năng huy động vốn của địa phương để thực hiện, tạo động lực thực hiện các tiêu chí tiếp theo
Đan Phượng xác định xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là tiền đề phát triển kinh tế - xã hội Huyện đã phát huy dân chủ cơ sở, vận dụng sáng tạo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, người dân hưởng lợi, trong đó mạnh dạn đặt mục tiêu huy động nguồn lực từ cộng đồng là nhân tố quyết định để đầu tư xây dựng nông thôn mới Ngay từ trước khi thành phố có chính sách hỗ trợ các địa phương đầu tư cơ sở hạ tầng, Đan Phượng đã hỗ trợ gần một phần ba giá trị nguyên vật liệu xây dựng, còn người dân tự đứng ra đóng góp và làm đường làng, ngõ xóm Cách làm này đã mang lại hiệu quả rõ nét tại những xã có đời sống kinh tế khá, đông dân cư, hình thành nên nhiều tuyến đường khang trang, sạch đẹp Nhưng đối với những xã vùng bãi xa trung tâm, đời sống người dân còn khó khăn thì chưa thực hiện được Đến khi thành phố có chủ trương hỗ trợ các địa phương nguyên vật liệu để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, huyện đã nhanh chóng “chớp” thời cơ này Tuy nhiên, thay vì hỗ trợ sau đầu tư, khi công trình hoàn thành, Đan Phượng đã mạnh dạn đứng ra “mua chịu” nguyên vật liệu để cung cấp sớm cho người dân Chủ tịch UBND huyện Đan Phượng Nguyễn Hữu Hoàng cho biết, lãnh đạo huyện đã vận động các doanh nghiệp cung ứng nguyên vật liệu xây dựng cung cấp hàng theo hình thức trả chậm để ứng trước cho các xã làm đường giao thông Khi đã có nguyên vật liệu, Ban chỉ đạo huyện kiểm tra thực tế và duyệt thiết kế từng tuyến đường để bảo đảm các
Trang 40công trình bảo đảm chất lượng Các doanh nghiệp tư vấn miễn phí, còn các đơn
vị thi công ủng hộ một phần giá trị nhân công và máy móc Đáng chú ý, người dân đã tự nguyện đóng góp ngày công, nhiều hộ dân hiến đất mở rộng đường tại các khúc cua Cả huyện như một công trường xây dựng lớn Nhờ vậy, chỉ sau hai tháng thực hiện theo hình thức này đã có hàng chục ki-lô-mét đường trục, đường xóm ngõ hoàn thành Cách làm này không chỉ tiết kiệm ngân sách nhà nước, huy động nguồn lực của người dân mà còn tạo ra không khí đoàn kết, phấn khởi trong nhân dân Trong tổng số hơn 450 tỷ đồng đầu tư giao thông nông thôn, người dân đã tự nguyện đóng góp gần 130 tỷ đồng (Đắc Minh, 2015)
Thành công trong huy động nguồn lực xây dựng đường giao thông đã góp phần quan trọng giúp Đan Phượng thực hiện các chương trình, dự án phát triển nông nghiệp được thuận lợi, đời sống người dân ngày càng được nâng cao Trong thời gian tới, huyện sẽ phát huy những kết quả đạt được, tiếp tục huy động các nguồn lực đầu tư đưa hai xã Thọ Xuân và Hồng Hà đạt chuẩn nông thôn mới trong năm nay và nâng cao chất lượng các tiêu chí ở 13 xã đã đạt chuẩn (Đắc Minh, 2015)
2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số huyện tỉnh Phú Thọ
2.2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn huyện Lâm Thao có rất nhiều thuận lợi: Huyện được xác định là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của tỉnh, đồng thời là huyện nằm trong vùng trọng điểm về phát triển kinh tế của tỉnh Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh khu vực nông thôn được đầu tư xây dựng khá đồng bộ; nông dân có ý thức, năng động trong cách nghĩ, cách làm, dầy dạn kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp; chính trị xã hội ổn định; các cơ chế, chính sách của Nhà nước, của tỉnh được ban hành mới cụ thể và đồng bộ… Tuy nhiên, huyện còn có những khó khăn trước mắt về đời sống dân sinh ở một số nơi, số vùng thu nhập còn thấp; quy mô sản xuất ở mức vừa và nhỏ; diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp do nhu cầu phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ… cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn xuống cấp,
tỷ lệ bê tông hóa giao thông nội đồng mới chỉ đạt 50% Nhận thức và ý thức của một số cán bộ cơ sở của người dân còn phiến diện: Cho rằng đây là chương trình đầu tư, sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước là chính, từ đó xuất hiện tư tưởng