Cơ sở lý luận và thực tiễn
Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập
Theo Điều 9 Luật Viên chức (Quốc hội, 2010), đơn vị sự nghiệp công lập được định nghĩa là tổ chức do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị hoặc tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định pháp luật Những đơn vị này có tư cách pháp nhân và có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công nhằm phục vụ cho công tác quản lý nhà nước.
Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL) là tổ chức do cơ quan Nhà nước thành lập, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận và có con dấu, tài khoản riêng cùng bộ máy kế toán theo quy định SNCL phục vụ xã hội trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao và kinh tế, cung cấp sản phẩm, dịch vụ mang lại giá trị tri thức, văn hóa, sức khỏe và đạo đức Các sản phẩm của SNCL không chỉ phục vụ trong một ngành mà còn có tác dụng lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng.
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức chính trị xã hội có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công và chịu sự quản lý của nhà nước.
Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, đơn vị sự nghiệp công được phân loại dựa trên khả năng tự đảm bảo chi phí hoạt động Có ba loại đơn vị: Thứ nhất, đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, không cần ngân sách Nhà nước hỗ trợ Thứ hai, đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí, vẫn cần ngân sách Nhà nước cấp một phần kinh phí Cuối cùng, đơn vị có nguồn thu thấp hoặc không có nguồn thu, hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước để bảo đảm chi phí hoạt động.
2.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập
Theo Luật Ngân sách Nhà nước (Quốc hội, 2015), kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tương ứng với từng cấp ngân sách để đảm bảo sự phù hợp trong công tác chấp hành ngân sách Dựa vào cấp ngân sách, các đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại rõ ràng.
Đơn vị dự toán cấp I là tổ chức nhận kinh phí ngân sách nhà nước hàng năm từ cơ quan tài chính, có trách nhiệm phân bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán cấp dưới.
Đơn vị dự toán cấp II là một bộ phận thuộc đơn vị dự toán cấp I, có chức năng quản lý kinh phí ở mức trung gian Đơn vị này đóng vai trò cầu nối giữa đơn vị dự toán cấp I và cấp III trong hệ thống quản lý tài chính.
Đơn vị dự toán cấp III là tổ chức sử dụng trực tiếp vốn ngân sách để thực hiện nhiệm vụ được giao Đơn vị này nhận kinh phí ngân sách từ đơn vị cấp II hoặc cấp I nếu không có đơn vị cấp II.
Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III nhận kinh phí để thực hiện các công việc cụ thể Khi tiến hành chi tiêu, đơn vị này phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên, tương tự như quy định giữa các cấp dự toán từ cấp III đến cấp II và từ cấp II đến cấp I.
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các đơn vị SNCL có thể phân loại thành:
- Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
- Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực y tế
- Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực văn hóa thông tin
- Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực thể dục thể thao
- Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực khoa học công nghệ, môi trường
- Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực kinh tế
- Đơn vị sự nghiệp khác
Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, các đơn vị SNCL bao gồm:
Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động là những tổ chức có khả năng tự tạo ra nguồn thu để trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên của mình.
Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động là những tổ chức có khả năng tự tạo ra nguồn thu để chi trả một phần cho các hoạt động thường xuyên của mình.
Các đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có nguồn thu sẽ được ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng và nhiệm vụ Đây là những đơn vị mà ngân sách nhà nước hoàn toàn chi trả chi phí hoạt động của họ.
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp sẽ được duy trì trong 3 năm, sau đó sẽ tiến hành xem xét để phân loại lại cho phù hợp (Hồ Thị Minh Thư, 2014) Cách xác định phân loại đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL) cần được thực hiện một cách rõ ràng và có tiêu chí cụ thể.
Mức tự đảm bảo chi phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp hoạt động thường xuyên = × 100 của đơn vị sự nghiệp (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên
Theo Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012(Chính phủ,
Theo nghiên cứu năm 2012 về cơ chế hoạt động và tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, giá dịch vụ khám bệnh và chữa bệnh tại các cơ sở này được phân loại thành 4 nhóm chính.
-Nhóm 1: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển
-Nhóm2: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên
-Nhóm 3: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên;
Nhóm 4 bao gồm các đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu Kinh phí hoạt động thường xuyên của nhóm này hoàn toàn được bảo đảm bởi ngân sách nhà nước theo chức năng và nhiệm vụ được giao.
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Các văn bản liên quan
- Luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 26/5/2015
- Luật Kế toán số 88/2015/QH 13 ngày 26/11/2015
- Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều cuat Luật Kế toán
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, ban hành ngày 25/4/2006, của Chính phủ quy định về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và quản lý tài chính Nghị định này nhằm tăng cường tính tự chủ cho các đơn vị, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ công.
Nghị định số 85/2012/NĐ-CP, ban hành ngày 15/10/2012, quy định cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời xác định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập.
- Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập
- Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp
Quyết định số 67/2004/QĐ-BTC, ban hành ngày 13/8/2004 bởi Bộ Tài chính, quy định về Quy chế tự kiểm tra tài chính và kế toán tại các cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước Quy chế này nhằm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính, đồng thời đảm bảo việc sử dụng ngân sách Nhà nước đúng mục đích và hiệu quả.
2.2.2 Kinh nghiệm tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện công lập
Kể từ năm 2007, khi Nghị định số 43/2006/NĐ-CP được ban hành, các bệnh viện công lập đã trải qua sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ chế tài chính Việc thực hiện chủ trương “xã hội hóa” và giao quyền tự chủ về tài chính đã mang lại những kết quả đáng khích lệ, giúp các đơn vị sự nghiệp công lập nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện chất lượng dịch vụ y tế.
Hiện nay, các bệnh viện công lập đang cải tiến mô hình tổ chức quản lý để phù hợp với sự phát triển, bao gồm việc thành lập nhiều phòng quản lý nghiệp vụ và hoàn thiện các khoa lâm sàng cũng như cận lâm sàng Đồng thời, các hội đồng tư vấn được thành lập nhằm hỗ trợ ban giám đốc và bộ máy quản lý trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Thực tế cho thấy, công tác kế toán tại các bệnh viện công lập đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Các đơn vị đã dựa vào quy định chung về hệ thống chứng từ theo Luật kế toán và chế độ kế toán hiện hành để áp dụng vào việc tổ chức hệ thống chứng từ kế toán Họ thực hiện ghi chép ban đầu các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, đảm bảo phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng đơn vị.
Các đơn vị đã chủ động nghiên cứu và áp dụng hệ thống tài khoản kế toán một cách hợp lý, tuân thủ chế độ kế toán hiện hành Hệ thống tài khoản này không chỉ đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý và kiểm soát chi quỹ ngân sách nhà nước, vốn và quỹ công, mà còn hỗ trợ hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng kinh phí.
Tất cả các đơn vị trong ngành đều áp dụng hệ thống sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ để đáp ứng yêu cầu quản lý Hệ thống này giúp hệ thống hóa thông tin kế toán từ các chứng từ, đồng thời đảm bảo việc mở đầy đủ các sổ sách cần thiết cho việc lập báo cáo tài chính.
Thứ tư, Các báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán được đơn vị lập đầy đủ và đúng theo mẫu quy định tại Thông tư 107/2017
Công tác tự kiểm tra kế toán được thực hiện định kỳ hàng quý và hàng năm, giúp các đơn vị tối ưu hóa nguồn thu từ sự nghiệp và tăng doanh thu từ các hoạt động dịch vụ Nhờ vào việc tiết kiệm chi phí, các đơn vị đã tạo ra chênh lệch thu chi, từ đó có khả năng tăng thu nhập cho người lao động.
Vào thứ sáu, Bộ máy kế toán tại các đơn vị được tổ chức theo mô hình kết hợp giữa phân tán và tập trung, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện chức năng của đơn vị Mô hình này đảm bảo sự phân công công việc rõ ràng, xác định nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể cho từng cán bộ, nhân viên kế toán, đồng thời tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa các bộ phận kế toán trong quá trình tổ chức và thực hiện công tác.
Vào thứ bảy, các đơn vị đã áp dụng công nghệ thông tin và phần mềm khám chữa bệnh, cùng với phần mềm kế toán để tổ chức công tác kế toán Hầu hết các chứng từ và sổ sách kế toán hiện nay đã được thực hiện trên hệ thống máy tính, giúp hỗ trợ hiệu quả cho nhân viên kế toán tại các đơn vị.
2.2.3 Kinh nghiệm tổ chức công tác kế toán tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh
Trong những năm gần đây, sự đổi mới về cơ chế tài chính và các chính sách kinh tế xã hội đã dẫn đến nhiều thay đổi trong chế độ kế toán của các đơn vị sự nghiệp công lập Định hướng phát triển ngành Y tế Bắc Ninh năm 2020 cho thấy Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh sẽ tự chủ trong hoạt động chi thường xuyên Điều này đã thúc đẩy công tác tổ chức kế toán có những cải tiến tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và kế toán.
Bệnh viện đa khoa tỉnh hiện có 75 viên chức kế toán, bao gồm 01 trưởng phòng, 03 phó phòng (trong đó 01 phó phòng kiêm kế toán trưởng) và 71 kế toán viên Bộ máy kế toán hoạt động theo mô hình vừa tập trung, với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao và phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng phần việc như kế toán công nợ, ngân hàng, thanh toán tiền mặt, thuốc, vật tư hóa chất, tài sản, công cụ dụng cụ, thu – chi viện phí, và thanh toán lương cùng phụ cấp Việc phân chia các phần hành kế toán riêng biệt giúp giảm chồng chéo công việc, cho phép kế toán viên tự chủ và chịu trách nhiệm về phần hành được giao Khi cần thông tin để báo cáo hoặc phục vụ thanh tra, kiểm tra, việc cung cấp số liệu sẽ nhanh chóng và thuận tiện, đáp ứng nhu cầu quản lý hiệu quả.
Bệnh viện đã thực hiện tổ chức hoạt động thu – chi theo đúng quy định của nhà nước, với công tác lập và quản lý tài chính tập trung tại Phòng Tài chính – kế toán Nhờ quyền tự chủ về tài chính, bệnh viện đã chủ động hơn trong việc phân bổ ngân sách nhà nước và các khoản thu sự nghiệp Đơn vị cũng đã ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ để quản lý và sử dụng nguồn thu – chi đúng mục đích, phù hợp với khả năng và tình hình thực tế Quy trình chi mua sắm được thực hiện bài bản từ lập kế hoạch, duyệt kế hoạch đến mua sắm, đấu thầu, giúp giảm thiểu chi phí không hợp lý và ngăn chặn thất thoát tài chính cho đơn vị.
Tổ chức hệ thống chứng từ được thực hiện hiệu quả, từ việc lập chứng từ, luân chuyển, ghi sổ cho đến lưu trữ đều tuân thủ đúng quy định Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu và tìm kiếm thông tin.