Để góp phần chăm sóc, bảo vệ môi trường và sức khỏe người lao động dệt may, phòng chống các bệnh liên quan đến yếu tố nghề nghiệp, cũng đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LUYỆN THỊ HÀ
THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG TỚI SỨC KHỎE CỦA CÔNG NHÂN MAY CÔNG TY TNHH SMART SHIRTS
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Tác giả luận văn
Luyện Thị Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Châu Thùy - Giảng viên bộ môn Công nghệ Môi trường, Khoa Môi trường, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Công nghệ môi trường, Khoa Môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Bs.CKII Đặng Thanh Minh - Giám đốc, Bs CKI Lâm Văn Tuấn - Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Giang, những người luôn dành cho tôi sự quan tâm và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lãnh đạo và phòng quản lý nhân sự Công ty TNHH SMARTS SHIRT Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và công tác
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Tác giả luận văn
Luyện Thị Hà
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ, hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abtract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Giả thuyết khoa học 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Phạm vi thời gian 3
1.4.2 Phạm vi không gian 3
1.5 Những đóng góp mới của đề tài 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tổng quan về ngành công nghiệp dệt may tại Việt Nam 4
2.1.1 Tình hình xuất, nhập khẩu ngành dệt may Việt Nam 4
2.1.2 Năng lực sản xuất của một số doanh nghiệp dệt may 6
2.1.3 Thực trạng áp dụng công nghệ trong ngành công nghiệp dệt may 7
2.2 Môi trường, điều kiện lao động ngành công nghiệp dệt may 9
2.3 Tổng quan các nghiên cứu về sức khỏe, bệnh tật của người lao động ngành dệt may 12
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 12
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 15
2.4 Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường lao động tới sức khỏe người lao động 17
Phần 3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 22
Trang 53.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Nội dung nghiên cứu 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin 22
3.3.2 Phương pháp chọn cỡ mẫu nghiên cứu điều tra 22
3.3.3 Phương pháp đo đạc môi trường lao động 25
3.3.4 Phương pháp khảo sát tình trạng sức khỏe, cơ cấu bệnh tật 27
3.3.5 Phương pháp phân tích số liệu và xử lý thông tin 27
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 28
4.1 Đặc điểm sản xuất và điều kiện nhà xưởng của công ty 28
4.1.1 Đặc điểm sản xuất: 28
4.1.2 Đặc điểm về điều kiện nhà xưởng và môi trường lao động 31
4.2 Thực trạng một số yếu tố môi trường lao động tại công ty TNHH Smart Shirts Bắc Giang 32
4.2.1 Thực trạng môi trường lao động tại chuyền may 32
4.2.2 Thực trạng môi trường lao động tại khu vực nhà lông 34
4.3.3 Thực trạng môi trường lao động tại khu vực chuyền thêu 37
4.3 Thực trạng sức khỏe người lao động của công ty TNHH Smart Shirts Bắc Giang từ năm 2015-2017 39
4.3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 39
4.3.2 Phân loại sức khỏe, bệnh tật qua khám 43
4.4 Ảnh hưởng một số yếu tố môi trường lao động tới sức khỏe của người lao động 52
4.4.1 Bệnh lý về chức năng hô hấp 52
4.4.2 Bệnh lý cơ xương khớp 54
4.4.3 Suy giảm thị lực 55
4.4.4 Triệu chứng đau đầu 57
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Kiến nghị 60
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVSCP Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TNLĐ Tai nạn lao động
WHO World Health Organization/Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng tóm tắt năng lực của một số công ty dệt may 6
Bảng 4.1 Môi trường lao động tại chuyền may 33
Bảng 4.2 Môi trường lao động tại nhà lông 36
Bảng 4.3 Môi trường lao động tại chuyền thêu 38
Bảng 4.4 Bệnh lý về CNHH tại 03 chuyền nghiên cứu 52
Bảng 4.5 Bệnh lý về CNHH tại nhà lông 53
Bảng 4.6 Bệnh lý về CNHH tại chuyền may 53
Bảng 4.7 Bệnh lý cơ xương khớp tại 03 khu vực nghiên cứu 54
Bảng 4.8 Bệnh lý cơ xương khớp tại chuyền thêu 54
Bảng 4.9 Bệnh lý cơ xương khớp tại chuyền may 55
Bảng 4.10 Suy giảm thị lực tại 03 khu vực nghiên cứu 55
Bảng 4.11 Suy giảm thị lực tại chuyền may 56
Bảng 4.12 Suy giảm thị lực tại chuyền thêu 56
Bảng 4.13 Triệu chứng đau đầu tại 03 khu vực nghiên cứu 57
Bảng 4.14 Triệu chứng đau đầu tại chuyền may 57
Bảng 4.15 Triệu chứng đau đầu tại chuyền thêu 58
Bảng 4.16 Triệu chứng đau đầu tại nhà lông 58
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 2.1 Giá trị xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam 5
Biểu đồ 2.2 Nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu dệt may 5
Biểu đồ 4.1 Thực trạng tỷ lệ lao động theo giới tính 39
Biểu đồ 4.2 Thực trạng phân loại sức khỏe ở lao động nữ 40
Biểu đồ 4.3 Thực trạng phân loại sức khỏe ở lao động nam 40
Biểu đồ 4.4 Thực trạng tỷ lệ lao động phân theo nhóm tuổi 41
Biểu đồ 4.5 Thực trạng phân loại sức khỏe ở nhóm tuổi dưới 30 42
Biểu đồ 4.6 Thực trạng phân loại sức khỏe ở nhóm tuổi trên 30 42
Biểu đồ 4.7 Phân loại sức khỏe của công nhân tại chuyền may 43
Biểu đồ 4.8 Phân loại sức khỏe của công nhân tại nhà lông 44
Biểu đồ 4.9 Phân loại sức khỏe của công nhân tại chuyền thêu 44
Biểu đồ 4.10 Thực trạng bệnh lý cơ xương khớp tại chuyền may 45
Biểu đồ 4.11 Thực trạng bệnh lý cơ xương khớp tại nhà lông 46
Biểu đồ 4.12 Thực trạng bệnh lý cơ xương khớp tại chuyền thêu 46
Biểu đồ 4.13 Thực trạng về triệu chứng chức năng hô hấp tại chuyền may 47
Biểu đồ 4.15 Thực trạng về thị lực tại chuyền may 49
Biểu đồ 4.16 Thực trạng về thị lực tại nhà lông 50
Biểu đồ 4.17 Thực trạng về thị lực tại chuyền thêu 50
Biểu đồ 4.18 Thực trạng về triệu chứng đau đầu tại chuyền may 51
Biểu đồ 4.19 Thực trạng về triệu chứng đau đầu tại nhà lông 51
Biểu đồ 4.20 Thực trạng về triệu chứng đau đầu tại chuyền thêu 51
Hình 3.1 Sơ đồ tuyển chọn công nhân trong nghiên cứu 24
Hình 4.3 Quy trình sản xuất của công ty 28
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Luyện Thị Hà
Tên luận văn: Thực trạng và ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường lao động tới sức khỏe của công nhân may công ty TNHH SMART SHIRTS Bắc Giang năm 2016
Ngành: Khoa học môi trường Mã số: 60 44 03 01
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra, thu thập thông tin
Phương pháp chọn cỡ mẫu nghiên cứu điều tra
Phương pháp đo đạc môi trường lao động
Phương pháp khảo sát tình trạng sức khỏe, cơ cấu bệnh tật
Phương pháp phân tích và xử lý thông tin
Kết quả chính và kết luận
Công ty TNHH Smart Shirts Bắc Giang là công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài với hơn 600 lao động với quy trình sản xuất gồm nhiều công đoạn khác nhau với quy mô lớn, sản lượng khoảng 30000 sản phẩm/tháng Do được xây mới hoàn toàn và sản phẩm chủ yếu xuất khẩu đi nước ngoài nên hệ thống nhà xưởng, thiết bị công nghệ hiện đại Kết quả khảo sát về yếu tố ánh sáng cho thấy khu vực chuyền may và nhà lông có 126/200 mẫu đo (5 lần đo trong 3 năm) thấp hơn TCVSCP từ 1-160 Lux; Cường độ tiếng
ồn chung ở khu vực chuyền may, nhà lông và chuyền thêu đều vượt TCVSCP từ 2.5-37 dBA; Nồng độ bụi toàn phần có 30/200 mẫu đo (đo trong 3 năm) không đạt TCVSCP, tập
Trang 10chung ở khu vực nhà lông và vào các mùa đông (sản xuất hàng đông xuân); Nồng độ hơi khí CO2 có 150/200 mẫu vượt TCVSCP
Kết quả nghiên cứu cho thấy số lao động thuộc nhóm lao động có độ tuổi dưới 30 tuổi tương đương với nhóm lao động có độ tuổi trên 30 tuổi Tuy nhiên cả 2 nhóm tuổi, đối tượng thuộc sức khỏe loại I&II chiếm tỷ lệ cao trong khám đầu vào, giảm dần qua các năm Trong khi đó, tỷ lệ lao động có sức khỏe loại III, IV&V tăng dần qua các năm Cụ thể, nghiên cứu còn chỉ ra rằng, nhóm lao động có độ tuổi trên 30 tuổi cũng có xu hướng tương
tự, sau 3 năm lao động thì kết quả cho thấy: số lao động có sức khỏe loại I&II giảm từ 99% xuống 80,2%; số lao động loại III tăng từ 1% lên 15,8%; số lao động loại IV&V tăng từ 0% lên 4% Ngoài ra, kết quả nghiên cứu chúng tôi còn thấy, số lao động có sức khỏe loại I&II trong nhóm tuổi trên 30 giảm nhanh hơn so với số nhóm tuổi dưới 30; Trong số 200 đối tượng nghiên cứu có 175 lao động là nữ giới chiếm 87,5% và 15 lao động là nam giới và chiếm 12,5% Trong công nghiệp may mặc, công việc yêu cầu tính tỉ mỉ, khéo tay, chăm chỉ, cần cù nên việc này phù hợp với nữ giới hơn là nam giới
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ lệ công nhân mắc một số triệu chứng, bệnh lý khi làm việc trong tại chuyền may, chuyền thêu và nhà lông so với nhóm công nhân đối chứng (làm việc hành chính, văn phòng, bảo vệ) đều có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Cụ thể là triệu chứng đau đầu, suy giảm thị lực, bệnh lý về chức năng hô hấp và bệnh lý về
cơ xương khớp
Trang 11THESIS ABTRACT
Full name: Luyen Thi Ha
Thesis title: Situation and inpact of some elements of working environment to the health of sewing workers SMART SHIRTS LTD Bac Giang in 2016
Major: Environmental Science Code: 60 44 03 01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
Materials and Methods:
Method of investigation, information collection
Sample size survey sample selection
Measurement of labor environment
Methods of surveying health status, disease structure
Methods of analyzing and processing information
Main results and conclusions
Smart Shirts Limited Company Bac Giang is a 100% foreign invested company with more than 600 employees with production process of various stages with large scale, output about 30000 products / month Due to the completely new construction and the products are mainly exported to foreign countries, the system of workshops, equipment and modern technology
Survey results on light elements showed that the sewing and fur shop area had 126/200 samples (5 measurements in 3 years) lower than Standards enable from 1-160 Lux; General noise intensity in the sewing area, fur house and embroidery line exceeded Standards enable from 2.5-37 dBA; The total dust concentration was 30/200 samples
Trang 12(measured in 3 years) did not reach the Standards enable, concentrated in the fur house and in the winter (winter-spring production); CO CO2 emissions are 150/200 over Standards enable.
The results show that the number of laborers under 30 years of age is equivalent to that of workers over 30 years of age However, in both age groups, subjects in the health category I & II accounted for high rates in the examination of the input, decreasing over the years At the same time, the proportion of healthy people in grades III, IV & V has increased over the years In particular, the study also found that over 30-year-olds had the same tendency After three years of employment, the number of healthy people in the I &
II decreased by 99% 80.2%; Number of workers increased from 1% to 15.8%; The number of IV & V workers increased from 0% to 4% In addition, the results of our study also found that the number of health workers in the age group of 30 and over in the age group over 30 decreased faster than the number of under 30 years; Of the 200 respondents, 175 were female, 87.5% female and 15 male and 12.5% male In the apparel industry, the work required meticulous, skillful, diligent, hardworking so this is more suitable for women than men
Research results show that the proportion of workers experiencing some symptoms, working conditions in the sewing line, embroidery and fur house compared to the control group (administrative, office, security protection) were statistically significant (p <0.05) Specific symptoms include headache, visual impairment, respiratory disease and musculoskeletal disorders
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Dệt may được hình thành và phát triển từ thời thượng cổ Tuy nhiên, đến thời hiện đại, điều kiện lao động của công nhân ngành công nghiệp này tại nhiều nước vẫn tồn tại nhiều yếu tố nguy cơ bất lợi đối với sức khỏe
Ở nước ta ngành công nghiệp dệt may đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, song vẫn còn nhiều vấn đề
về môi trường và sức khỏe chưa được giải quyết thỏa đáng Cũng như nhiều nước đang phát triển, do đặc điểm ngành nghề, công việc, đặc thù của ngành may
ở nước ta là lao động nữ, chiếm khoảng 80-90% lực lượng sản xuất, thời gian làm việc trung bình thường trên 8 giờ/ngày, nhiều khi công nhân phải làm việc tăng ca tới 10-12 giờ/ngày Môi trường lao động của ngành may ở nước ta thường bị ô nhiễm do bụi kết hợp với vi khí hậu bất lợi Tất cả các yếu tố trên đều có thể ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động Nếu phơi nhiễm lâu ngày, người lao động dễ mắc các rối loạn bệnh lý nghề nghiệp, đặc biệt là các bệnh hô hấp nghề nghiệp (Đỗ Hàm, 2007)
Để góp phần chăm sóc, bảo vệ môi trường và sức khỏe người lao động dệt may, phòng chống các bệnh liên quan đến yếu tố nghề nghiệp, cũng đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước được tiến hành từ nhiều năm nay Các nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố nguy cơ, ảnh hưởng đến sức khỏe, làm gia tăng nhiều bệnh nghề nghiệp, đặc biệt là gia tăng các bệnh đường hô hấp (Hoàng Minh Hiền và
cs, 2010) Tuy nhiên, còn ít các nghiên đầy đủ mang tính hệ thống, đặc biệt là thiếu các nghiên cứu can thiệp chăm sóc sức khỏe người lao động
Bắc Giang là một tỉnh có nhiều nhà máy, xí nghiệp và được coi là tỉnh công nghiệp phát triển cả về quy mô sản xuất cũng như y tế lao động từ những năm 90 của thế kỷ XX và phát triển mạnh trong những năm gần đây Hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng trên 20 Công ty, xí nghiệp may mặc lớn với khoảng 2 vạn lao động Công ty TNHH SMART SHIRTS Bắc Giang có địa chỉ tại KCN Vân Trung
- Việt Yên - Bắc Giang là một trong những công ty may lớn, với số lượng hơn 600
Trang 14công nhân Tuy nhiên, công tác y tế lao động của ngành công nghiệp dệt may nói chung và của công ty TNHH SMART SHIRTS Bắc Giang nói riêng lại đang tồn tại nhiều bất cập cả về môi trường lao động và các vấn đề về sức khỏe của người lao động lại chưa được qua tâm nhiều Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu đầy
đủ nào về môi trường, sức khỏe, bệnh tật cũng như các yếu tố ảnh hưởng đối với sức khỏe người lao động được tiến hành trên địa bàn Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài:"Thực trạng và ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường lao động tới sức khỏe của công nhân may công ty TNHH SMART SHIRTS Bắc Giang năm 2016"
1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Chúng ta hãy xem xét phương trình sau:
Lao động <=> Sức khỏe (work) (health) Lao động có thể ảnh hưởng đến sức khỏe Ví dụ bụi có thể gây tổn thương đến phổi của công nhân Mặt khác, sức khỏe có thể ảnh hưởng tới lao động: Rõ ràng rằng một công nhân ốm đau không thể lao động như bình thường được Như vậy, mối quan hệ giữa sức khỏe và lao động là hai vế của phương trình, đó là hai mặt của vấn đề Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi giả thiết rằng, môi trường lao động ở một số phân xưởng của công ty may có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động Để chứng minh giả thiết trên có đúng hay không, đúng
ở mức độ nào, nghiên cứu của chúng tôi sẽ đưa ra thực trạng môi trường lao động và sức khỏe người lao động tại một số phân xưởng của công ty Từ đó, tìm ra mối tương quan giữa một số yếu tố môi trường và sức khỏe người lao động
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu thực trạng một số yếu tố môi trường lao động của công ty TNHH SMART SHIRTS Bắc Giang
- Tìm hiểu thực trạng sức khỏe của công nhân may công ty TNHH SMART SHIRTS Bắc Giang
- Đánh giá mối liên quan giữa một số yếu tố môi trường lao động và sức khỏe người lao động của công nhân may công ty TNHH SMART SHIRTS Bắc Giang
Trang 15Tiến hành nghiên cứu tại các chuyền may, nhà lông và chuyền thêu của Công
ty TNHH SMART SHIRTS Bắc Giang Địa chỉ: Lô CN03 - KCN Vân Trung - Việt Yên - Bắc Giang
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học về hiện trạng môi trường lao động và sức khỏe của người lao động trong ngành may mặc Những kết quả điều tra của đề tài có tính đại diện nên có độ tin cậy để hỗ trợ quá trình đưa ra những giải pháp nâng cao việc bảo vệ sức khỏe người lao động ngành may mặc tại một số doanh nghiệp Ngoài ra, những số liệu phân tích cũng giúp cảnh báo về mức độ an toàn cũng như tác động của môi trường lao động đến sức khỏe người lao động, giúp giảm thiểu được các rủi ro xấu, bệnh tật liên quan đến nghề nghiệp có thể xảy ra
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của đề tài các nhà sử dụng lao động, các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà khoa học có thể tham khảo để áp dụng vào các nhiệm vụ mà mình triển khai
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY TẠI VIỆT NAM 2.1.1 Tình hình xuất, nhập khẩu ngành dệt may Việt Nam
Cùng với điện thoại và linh kiện, dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm qua Năm 2013, sản phẩm dệt may Việt Nam xuất khẩu đến hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu đạt 17,9 tỷ USD; chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam và 10,5% GDP cả nước Tốc độ tăng trưởng dệt may trong giai đoạn 2008-2013 đạt 14,5%/năm đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may nhanh nhất thế giới
Hiện cả nước có khoảng 6.000 doanh nghiệp dệt may; thu hút hơn 2,5 triệu lao động; chiếm khoảng 25% lao động của khu vực kinh tế công nghiệp Việt Nam Theo
số liệu của VITAS, mỗi 1 tỷ USD xuất khẩu hàng dệt may có thể tạo ra việc làm cho
150 - 200 nghìn lao động, trong đó có 100 nghìn lao động trong doanh nghiệp dệt may và 50 - 100 nghìn lao động tại các doanh nghiệp hỗ trợ khác Phần lớn các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân (84%); tập trung ở Đông Nam Bộ (60%) và đồng bằng sông Hồng Các doanh nghiệp may chiếm khoảng 70% tổng số doanh nghiệp trong ngành với hình thức xuất khẩu chủ yếu là CMT (85%)
Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam tăng đều qua các năm và hiện trở thành mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn thứ 2 của nước ta Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt 17,9 tỷ USD; tăng 18,5% so với cùng kỳ; chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam Nếu tính cả giá trị xuất khẩu xơ, sợi với 2,15 tỷ đồng; tổng giá trị xuất khẩu dệt may và xơ, sợi năm 2013 đạt 20,1 tỷ đồng; thấp hơn 1,15 tỷ đồng so với nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là điện thoại các loại và linh kiện (Hiệp hội Dệt may Việt Nam, 2014)
Xuất khẩu hàng dệt may của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt kim ngạch cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước Năm 2005, xuất khẩu dệt may của doanh nghiệp FDI chỉ đạt 2,14 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 44% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả nước Xuất khẩu nhóm hàng này của doanh nghiệp FDI liên tục tăng và chính thức vượt doanh nghiệp trong nước kể từ năm
Trang 172007 Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 10,7 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 59,4% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may Giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước đạt 7,3 tỷ USD, thấp hơn 3,4 tỷ USD
so với doanh nghiệp FDI
Trang 18Giá trị nhập khẩu ngành dệt may liên tục tăng qua các năm với CAGR trong giai đoạn 2009-2013 là 20,5%/năm (CAGR giá trị xuất khẩu dệt may trong cùng giai đoạn là 18,4%/năm) Năm 2013, giá trị nhập khẩu dệt may đạt 13.547 triệu USD; tăng 19,2% so với cùng kỳ; chiếm 10,25% tổng kim ngạch nhập khẩu Việt Nam năm 2013 Giá trị nhập khẩu sử dụng cho xuất khẩu năm 2013 đạt 10.432 triệu USD; theo đó tỷ lệ giá trị gia tăng đạt 48,1% Trong cơ cấu nhập khẩu, vải chiếm tỷ trọng chủ yếu Năm 2013, giá trị nhập khẩu vải đạt 8,397 triệu USD; chiếm 62% tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may Việt Nam (FPTS Securities, 2014)
2.1.2 Năng lực sản xuất của một số doanh nghiệp dệt may
Bảng 2.1 Bảng tóm tắt năng lực của một số công ty dệt may
Nguồn: http://investvietnam.gov.vn
Bảng 2.1 là bảng tóm tắt năng lực của một số doanh nghiệp dệt may 6 tháng đầu năm 2014 cho thấy các doanh nghiệp may lớn như EVE, KMR, TNG,…chủ yếu
Trang 19sản xuất ở phương thức xuất khẩu FBO (Free On Board) Sản xuất theo Theo phương thức FOB, các doanh nghiệp chủ động tham gia vào quá trình sản xuất, từ việc mua nguyên liệu đến cho ra sản phẩm cuối cùng; thị trường chủ yếu là nước ngoài và công suất khá cao
2.1.3 Thực trạng áp dụng công nghệ trong ngành công nghiệp dệt may
Trong ngành công nghiệp dệt may ở Việt Nam, hiện tồn tại nhiều loại hình sản xuất khác nhau Đối với mỗi loại hình sản xuất lại có các khía cạnh gây ô nhiễm môi trường khác nhau
Ô nhiễm nước: Đối với các công ty dệt may có các công đoạn sản xuất dệt và nhuộm thường gây ô nhiễm nguồn nước Quá trình dệt, nhuộm cần sử dụng một lượng lớn hoá chất, thuốc nhuộm mà chỉ có một phần thuốc nhuộm được lưu lại trên vải, sợi, phần còn lại cuốn theo nước thải Trên 80 % các chất trợ cũng thải vào môi trường Đặc trưng quan trọng nhất của nước thải từ các cơ sở dệt nhuộm là sự dao động lớn cả về lưu lượng và thải lượng các chất ô nhiễm Nó thay đổi theo mặt hàng sản xuất và theo yêu cầu chất lượng của sản phẩm
Ô nhiễm không khí: Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu gồm khi thải lò hơi, nhiệt, và bụi bông từ các công đoạn chuẩn bị và dệt vải phát sinh trong các công đoạn sản xuất Nhìn chung vấn đề ô nhiễm môi trường không khí tại các nhà máy dệt may cũng mới chỉ ở mức ô nhiễm cục bộ
Chất thải rắn thông thường bao gồm: Bụi và xỉ than lò hơi; bụi bông xơ trong công đoạn kéo sợi, dệt may; vải vụn ở các doanh nghiệp may; hóa chất và thuốc nhuộm kém phẩm chất, hết thời gian sử dụng; các loại bao bì, phế liệu của ngành cơ khí
Ô nhiễm tiếng ồn: Do việc vận hành các thiết bị máy móc như máy may, máy dệt, các thiết bị thông gió, làm mát…
Các công ty dệt may hiện nay cũng đã thực hiện nhiều giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải, bụi, tiếng ồn cũng như chất thải rắn Bước đầu tiên một công ty dệt may muốn đi vào sản xuất phải tiến hành đánh giá tác động môi trường và sau khi báo cáo được duyệt thì mới được đi vào sản xuất Trong quá trình sản xuất các công
ty dệt may cũng đã thực hiện các biện pháp giảm ô nhiễm:
Trang 20 Đối với nhiễm nước: Để xử lý nước thải ô nhiễm, các công ty dệt may đã áp dụng nhiều phương pháp xử lý như Phương pháp cơ học: sàng, lọc, lắng để tách các tạp chất thô như cặn bẩn, xơ sợi, rác, ; Hóa lý như trung hòa các dòng thải có tính kiềm, axit cao, đông keo tụ để khử màu, các tạp chất lơ lửng và các chất khó phân hủy sinh học, phương pháp oxy hóa, hấp phụ, điện hóa để khử màu thuốc nhuộm, ; Sinh học để xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học như một
số loại thuốc nhuộm, một phần hồ tinh bột hay các tạp chất tách từ sợi
Đối với ô nhiễm bụi: sử dụng thiết bị lọc bụi dạng ướt kết hợp với thiết bị hấp thụ hơi khí độc dùng dung dịch hấp thụ là nước, vệ sinh công nghiệp, trồng cây xanh, …
Đối với chất thải rắn thông thường: các công ty dệt may thường thuê các công ty môi trường đến thu gom và vận chuyển để xử lý
Đối với ô nhiễm do tiếng ồn: thường xuyên kiểm tra độ mòn của các thiết bị
và bôi trơn thường xuyên, đặt thiết bị có độ ồn cao ở xa khu vực làm việc, dùng nút bịt tai chống ồn…
Ngoài ra, các công ty dệt may còn có các thiết bị, hệ thống bảo vệ phòng những rủi ro như cháy nổ, an toàn thiết bị, an toàn khu thử nghiệm và hệ thống chống sét
Tuy các công ty dệt may đã có những biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nhưng không phải toàn bộ các công ty dệt may đều có những biện pháp giảm thiểu hữu hiệu Các công ty dệt may ở Việt Nam hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do:
- Thiết bị và công nghệ sản xuất còn lạc hậu: Đây là nguyên nhân làm phát sinh chất thải nhiều hơn gây ra ô nhiễm môi trường Để đổi mới thiết bị cần phải có vốn đầu tư lớn, đây là một khó khăn rất lớn, không dễ dàng vượt qua đối với một số công ty dệt may có quy mô vừa và nhỏ của nước ta
- Nhà cửa, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của ngành dệt may đã bị xuống cấp, không
đủ điều kiện đảm bảo vệ sinh môi trường, đặc biệt là đối với môi trường vi khí hậu, đối với phân xưởng phát sinh nhiệt nóng (phân xưởng lò hơi, phân xưởng hấp là, phân xưởng nhuộm .) thì tổ chức thông gió tự nhiên chưa tốt Đối với các phân xưởng dệt may có sử dụng hệ thống thiết bị điều hòa không khí thì kết cấu bao che
Trang 21chưa phù hợp với yêu cầu kết hợp hài hòa thông gió tự nhiên và thông gió nhân tạo, chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo, nhằm tiết kiệm năng lượng
- Trình độ, kỹ năng quản lý môi trường còn yếu và chưa đồng bộ Việc tiếp cận
và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường hiện hành ở Việt Nam tại một số doanh nghiệp vẫn đang là vấn đề khá khó khăn, quá trình thu phí nước thải cũng đã gây ra nhiều áp lực đối với doanh nghiệp
- Nhận thức về bảo vệ môi trường và sự tham gia bảo vệ môi trường của những người lao động trong các công ty dệt may chưa cao
2.2 MÔI TRƯỜNG, ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY
Ngành công nghiệp dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nhiều nước trên thế giới Công nghệ dệt may đang có xu hướng chuyển dịch sang các nước đang phát triển, các nước chậm phát triển vì lợi thế về nguồn nhân lực Sự chuyển dịch của công nghệ dệt may sang các nước nghèo, đầu tư cơ sở hạ tầng, máy lạc hậu sẽ là nguy cơ ô nhiễm môi trường, điều kiện lao động không đảm bảo tại các nước nghèo gia tăng Ngay tại nước Mỹ, một nước công nghiệp tiến bộ vào loại bậc nhất thế giới, ô nhiễm bụi môi trường lao động và các điều kiện khác của môi trường lao động cũng vẫn tồn tại nhiều vấn đề (Bianna D el al., 2014) Khi nghiên cứu về môi trường lao động của công nhân dệt may tại các nước châu Á, nhiều tác giả cho rằng vấn đề ô nhiễm bụi hỗn hợp hữu cơ, vô cơ và vi khí hậu bất lợi đang là vấn đề có nguy cơ cao đối với sức khỏe Cũng từ những nghiên cứu này
đã ghi nhận môi trường vi khí hậu bất lợi đang là rất phổ biến góp phần gây hậu quả xấu cho sức khỏe người lao động Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng điều kiện lao động không tốt, tư thế gò bó gặp trên 60% người lao động phải chịu đựng trong công nghệ may mặc đang là nguy cơ cao đối với nhiều bệnh ở hệ thống cơ, xương, khớp của công nhân
Ngành dệt may Việt Nam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất có tiềm lực phát triển khá mạnh Hàng dệt may của chúng ta đã chiếm lĩnh nhiều thị trường may mặc trên thế giới do nhiều ưu thế về nhân lực, có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau và kỹ thuật phù hợp Cũng như trên thế giới, công nghệ dệt may Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời Dệt may là mặt hàng mũi nhọn của Việt
Trang 22Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Ngành may tuy liên tục đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị và dây chuyền nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng và xuất khẩu ngày càng tăng Xuất khẩu hàng dệt may tuy đạt kim ngạch cao, nhưng chủ yếu là làm gia công
Trong quá trình hội nhập, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, cũng như nhiều ngành công nghiệp khác, công nghệ dệt may phát triển đi đôi với số người phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ của nghề này tăng lên Chính vì vậy, người lao động dệt may cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề bức xúc về môi trường và điều kiện lao động Theo nhiều tác giả, các nguy cơ không đảm bảo an toàn, nguy cơ tai nạn và bệnh nghề nghiệp trong ngành công nghiệp dệt may nước ta còn khá phổ biến (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Thực trạng điều kiện lao động và sức khỏe công nhân may, 2012; Khúc Xuyền, 2005) Nguyên nhân của các vấn đề về sức khỏe là do nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng các công nghệ sản xuất lạc hậu dẫn đến ô nhiễm môi trường và điều kiện làm việc của người lao động không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép Nhiều nghiên cứu cho thấy, ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng tới sức khỏe, xuất hiện nhiều bệnh lạ và nguy hiểm đối với người lao động (Nguyễn Bạch Ngọc, 1998; Nguyễn Đình Dũng, 2008)
Mặc dù lao động may mặc không quá nặng nhọc nhưng môi trường lao động ở đây đang là những yếu tố cơ bản, thường xuyên ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, dẫn đến mắc các bệnh nghề nghiệp, bệnh liên quan đến nghề nghiệp Môi trường lao động không đạt TCVSCP tất yếu sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, làm giảm khả năng và năng suất lao động Các yếu tố môi trường độc hại do công nghệ dệt may có thể tác động cơ thể do tiếp xúc qua nhiều con đường, đặc biệt là đường hô hấp Tùy thuộc vào đặc thù của dây chuyền sản xuất mà các yếu tố độc hại có trong môi trường lao động dệt may có khác nhau Theo báo cáo của Cục Y tế dự phòng và môi trường, do môi trường ô nhiễm bụi nên các bệnh phổ biến ở người lao động dệt may là các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp
Kết quả điều tra của Lê Văn Thành và cs (2000) cho thấy ở những cơ sở sản xuất, nhà máy, công ty may như TNG Thái Nguyên và Phú Lâm (Bắc Ninh) là nơi
có nguồn chất thải độc hại khá nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ cộng
Trang 23đồng (chất tẩy, chất nhuộm) Trong nước thải thường chứa các loại hoá chất như: xút, thuốc tẩy, phèn kép, nhựa thông, phẩm màu Nước thải không qua xử lý mà chảy thẳng vào nguồn nước làm cho toàn bộ khu vực này bị ô nhiễm trầm trọng Trước đây ở nước ta công nghệ kéo sợi còn rất lạc hậu vì vậy điều kiện lao động rất xấu, tình trạng bụi vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) lên tới hàng chục, hàng trăm lần, càng ở đầu dây chuyền nồng độ bụi càng cao, nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp càng lớn
Hiện nay do chính sách mở cửa của nhà nước nên dây chuyền công nghệ đã được cải thiện và đầu tư nhiều nhưng vẫn chưa thỏa mãn, đáp ứng được các yêu cầu
vệ sinh cho phép Các khảo sát vào những năm 80; 90 của thế kỷ trước cho thấy kết quả nồng độ bụi giảm rất nhiều Nồng độ bụi trọng lượng tại các vị trí đều thấp hơn TCVSCP Nghiên cứu của Bùi Thị Tuyết Mai (1983), cho thấy hàm lượng bụi tổng
cho thấy hàm lượng bụi môi trường lao động thường là dao dộng từ 2,2 đến 56
viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp luôn hiện hữu
Nguyễn Duy Bảo - Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường (2008), cho thấy tình hình ô nhiễm bụi bông luôn là điều đáng lo ngại cho công nhân và khu vực xung quanh Để giải quyết vấn đề này, cần có các giải pháp chống bụi (trang bị phòng hộ cá nhân) để làm giảm thấp nồng độ bụi trong môi trường sản xuất xuống dưới nồng độ tối đa cho phép, nhằm bảo vệ tốt nhất sức khỏe công nhân và đề phòng mắc bệnh bụi phổi bông (Tạ Tuyết Bình, 2003)
Nghiên cứu của Khúc Xuyền và CS (2005), trong các nhà máy dệt sợi tốc độ lưu chuyển không khí trong nhà ở mức thấp, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép,
do điều kiện sản xuất trong nhà kín Việc kém lưu thông khí sẽ tăng nguy cơ tiếp xúc của công nhân với bụi bông và các loại bụi khác, điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người công nhân Về nồng độ bụi, hơi khí độc trong không khí làm việc, nghiên cứu cho thấy trong các nhà máy dệt sợi, nồng độ bụi rất cao, có nơi cao gấp 33 lần Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép kèm theo một số hơi khí độc (Nguyễn Thị Bích Liên và Trịnh Đình Dũng, 2003)
Trang 24Theo Phạm Văn Dịu năm 2006 “Tìm hiểu môi trường lao động và sức khỏe công nhân ở 2 doanh nghiệp may tại Thành phố Thái Bình”, cho thấy tốc độ gió <1,5
Khảo sát của Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Bảo hộ Lao động năm 2003 cho thấy: điều kiện chiếu sáng tại một số xưởng sản xuất của các cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc các công ty May Hữu Nghị, May Việt Tiến, May Sài Gòn, Nhà
Bè, Bình Minh, Minh Phụng: ánh sáng đều có độ rọi thấp, chỉ đạt 200 đến 280 lux Nguyễn Thị Bích Liên (2003), khi nghiên cứu về môi trường lao động và sức khỏe của công nhân Công Ty Dệt 8/3, đã cho kết quả: Tại một số khu như khu máy cung bông, khu máy kéo sợi thụ nhiệt độ cao hơn bên ngoài từ 2-5 độ, trong những ngày nóng, nhiệt độ trong những nơi này có thể lên tới 37- 40 độ Tốc độ gió tại hầu hết các điểm sản xuất được nghiên cứu đều thấp hơn Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, những yếu tố này đều có ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân
Theo Dự án “Điều tra đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe con người trong một số ngành nghề tập trung nhiều lao động và đề xuất các giải pháp hạn chế nhằm bảo vệ nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập” của Viện Nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động, Trung tâm Khoa học Môi trường và Phát triển bền vững (KHMT&PTBV) đã tổ chức điều tra, đánh giá về hiện trạng môi trường và điều kiện làm việc trong một số ngành sản xuất hàng tiêu dùng như dệt may, da giày, sản xuất xà phòng và chất tẩy rửa ở một số tỉnh phía Bắc Các kết quả điều tra trong năm 2005-2007 tại một số nhà máy dệt may, như: Công ty Dệt may Hà Nội, Công ty May Việt Vương, Công ty cổ phần Dệt Hòa Khánh (Đà Nẵng) cho thấy môi trường lao động tại các nhà máy, xí nghiệp này bị ô nhiễm về nhiệt ẩm, tiếng ồn, bụi
và hơi khí độc
2.3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ SỨC KHỎE, BỆNH TẬT CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG NGÀNH DỆT MAY
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy công nhân dệt may thường bị nhiều các chứng bệnh đặc thù so với các ngành, nghề khác Khi nghiên cứu về các bệnh nghề nghiệp liên quan đến công việc đều cho rằng công nhân may
Trang 25mặc dễ mắc nhiều chứng bệnh trong đó có các bệnh đường hô hấp (Barry S Levy et al., 2011) Nghiên cứu của Raymond D Park V (1965-1980) cho thấy công nhân dệt may dễ bị các rối loạn sinh lý cấp và mạn tính (18-35%) Tác giả giải thích là nguyên nhân do tiếng ồn và lao động gò bó thường xuyên tạo ra các stress nghề nghiệp Raymond D ParkV cũng nhận thấy có một tỷ lệ cao của người lao động may mặc ở các nước Đông Âu có hiện tượng suy giảm chức năng hô hấp kiểu tắc nghẽn (15-20% trong tổng số những công nhân có từ 10 năm trở lên) Ông cho rằng ngoài các tiền triệu của bệnh Bysinoses thì hiện tượng viêm nhiễm khí, phế quản cũng làm suy giảm chức năng hô hấp Nghiên cứu Artamonova, Satalop (Nga) vào những năm 1960-1990, cho thấy 12% công nhân may ở Liên hiệp dệt may Kanilin grad bị bệnh Bysinose, 38% bị viêm phế quản cấp và mãn tính Các tác giả giải thích hiện tượng kích thích tăng tiết và gây mất nước, rối loạn chuyển ho, bề mặt tế bào niêm mạc đường hô hấp cùng với sự hiện diện thường xuyên của các vi sinh vật gây bệnh ở mũi họng và phế quản là nguyên nhân gây nên các rối loạn bệnh lý đã được phát hiện Nghiên cứu của De Jong FM, De Snoo GR, LooriJ TP (2001), cho thấy có tới 10-20% người lao động dệt may ở Phần Lan bị stress nghề nghiệp ngay từ khi mới lao động ở ngành này trong những năm đầu (dưới 5 năm)
Khi nghiên cứu về các bệnh phổi mạn tính thường gặp, theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đến năm 1997, trên thế giới có khoảng 300 triệu người mắc bệnh viêm nhiễm phế quản trong đó viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp thường chiếm khoảng hơn 1/3 Bệnh Bụi phổi bông cũng có một tỷ lệ đáng lưu ý trong số này
Thông thường người lao động trong ngành dệt may có thể bị một số rối loạn bệnh lý nghề nghiệp đặc thù hoặc gia tăng một số bệnh thông thường so với các cộng đồng khác Theo Artamonova (1975-1995), công nhân may thường bị các bệnh mũi họng và hô hấp nhiều hơn 2 đến 3 lần so với các đối tượng khác đặc biệt là các bệnh dị ứng ở mũi họng Kết quả kiểm tra sức khỏe định kỳ của công nhân dệt may thuộc liên hiệp dệt may Sinpeterbug các năm 1980-1990 cho thấy tỷ lệ bệnh mũi họng ở đối tượng này thường xung quanh 75-85% trong khi các ngành khác thường chỉ từ 30-50% Người công nhân dệt may có thể bị bệnh viêm phế quản với tỷ lệ cao hơn bình thường từ 1,2 -1,5 lần Theo Megg (2004) tỷ lệ viêm phế quản trong công
Trang 26nhân may ở Israel trong những năm 90 của thế kỷ 20 là 28 đến 40% Thông thường
có tỷ lệ xung quanh 10% những người tiếp xúc với bụi bông mắc bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp (Occupational Bysinosis) Bysinosis là một bệnh nghề nghiệp thường gặp với các biểu hiện chính là khó thở, suy giảm chức năng hô hấp Bysinosis được Leondrobert, Artamonova, Letavet, Raymond D ParkV nghiên cứu trong những năm 1970 đến 2000, mô tả là bệnh có cơn khó thở đầu tuần
Các nghiên cứu, quan sát của các nhà khoa học cho thấy những người dễ cảm nhiễm với bụi bông và mắc bệnh này thường có chức năng hô hấp tương đối bình thường trong 2 ngày nghỉ (Tạ Tuyết Bình, 2003; Trịnh Hồng Lân, 2003) Ngày thứ 2 (đầu tuần), người lao động mới đi làm, mới tiếp xúc với bụi sợi, bông sẽ xuất hiện hiện tượng co thắt khí phế quản, khó thở Ngày thứ ba và những ngày tiếp theo các biểu hiện khó thở có xu hướng giảm dần cho đến ngày cuối của tuần làm việc (05 ngày) Hai ngày nghỉ các dấu hiệu bệnh lý gần như không còn Ngày đi làm đầu tuần tiếp theo hiện tượng khó thở lại lặp lại Cứ như vậy bệnh lý dần dần chuyển thành mạn tính, gây nên hiện tượng khó thở liên tục không theo quy luật như trước Ở Việt Nam và một số nước đang phát triển Bysinosis thường không điển hình Các dấu hiệu bệnh lý của Bysinosis thường giống như hen liên tục và nặng dần do họ phải lao động liên tục và không có ngày nghỉ (Nguyễn Đình Dũng, 2008)
Một số tác giả cho rằng trong bụi bông, đay, lanh có chứa các chất có khả năng giải phóng Histamin, làm co thắt cơ trơn phế quản và phù nề niêm mạc phế quản và làm cho bệnh rất mệt mỏi (Nguyễn Đình Dũng, 2005) Như vậy là quan điểm về các yếu tố căn nguyên có mang tính kháng nguyên đã được quan tâm nghiên cứu Trên
cơ sở này các tác giả cũng đã nghiên cứu kháng thể chống lại những kháng nguyên
có trong bụi bông Tuy nhiên hiệu giá kháng thể này cao ở công nhân tiếp xúc với bụi bông so với người bình thường, nhưng không đủ khả năng dự phòng hoặc điều trị Cũng nhờ các nghiên cứu theo hướng này mà các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy một tỷ lệ cao các phản ứng kháng nguyên (trong bụi bông) và kháng thể xảy ra
ở thành các tiểu phế quản đã gây ra tình trạng giải phóng Histamin và gây ra co thắt
và dẫn tới khó thở Trong quá trình của 1 tuần lao động, kháng thể có thể giảm đi do phản ứng kháng nguyên - kháng thể, do vậy những ngày tiếp theo sau ngày đầu tuần,
sự co thắt phế quản giảm dần và khó thở cũng giảm đi Sau 1-2 ngày nghỉ cuối tuần,
sự tích luỹ nồng độ kháng thể tăng lên, do đó ở ngày làm việc đầu tuần sự tiếp xúc
Trang 27trở lại với kháng nguyên có trong bụi bông làm cho phản ứng kháng nguyên - kháng thể mạnh lên và bệnh nhân thường biểu hiện khó thở ở ngày đầu của tuần làm việc Nhiều nghiên cứu về lâm sàng bệnh hô hấp mạn tính gặp trong công nhân phơi nhiễm với bụi thực vật của các tác giả đều cho thấy là khó có thể phân biệt được các bệnh với nhau: viêm phế quản mạn tính, giãn phế nang, bụi phổi bông Thậm trí là khó phân biệt với cả các bệnh không có nguyên nhân nghề nghiệp, trừ khi khai thác tiền sử thấy có triệu chứng tức ngực xuất hiện một cách đặc trưng vào ngày lao động đầu tiên của bụi bông Thông thường trong những trường hợp này, bệnh nhân đã quên những triệu chứng sớm của mình Như vậy, thầy thuốc sẽ không có căn cứ và thường chẩn đoán là bệnh mạn tính đường hố hấp không phải nguyên nhân nghề nghiệp 2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Huy Đản, Bùi Thị Tuyết Mai năm
1983 là 15,9% số công nhân có nguy cơ dị ứng với bụi bông trong số người tiếp xúc Kết quả nghiên cứu của Tạ Tuyết Bình, Nguyễn Năng An năm 2003, tại Công ty Dệt 8/3, tỷ lệ bệnh hô hấp mạn tính là 32,8% Nghiên cứu của Nguyễn Đình Dũng và cs (1999), số công nhân mắc các bệnh mạn tính là 34% Theo tác giả Nguyễn Đình Dũng thì bệnh đường hô hấp trong công nhân may mặc luôn chiếm tỷ lệ cao và rõ rệt nhất Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả ở Tập đoàn dệt may do Nguyễn Đình Dũng chủ trì về các bệnh phế quản tại các doanh nghiệp dệt may ở Hà Nội năm
2005 được thống kê là 42,4%
Kết quả nghiên cứu về sức khỏe công nhân dệt may, của Nguyễn Thị Bích Liên cho thấy, có hơn 97% công nhân đạt sức khỏe từ trung bình trở lên, đủ sức khỏe để lao động, vẫn còn gần 3% công nhân chưa đủ sức khỏe để lao động Các nhóm bệnh tật mà công nhân dệt may hay mắc phải là hô hấp, phụ khoa, thần kinh (công nhân dệt may phần lớn là nữ) (Nguyễn Thị Bích Liên và Nguyễn Đình Dũng, 2003)
Theo tác giả Nguyễn Thị Bích Liên và Nguyễn Đình Dũng (2003), khi nghiên cứu về “Thực trạng gánh nặng lao động của công nhân là hơi Công ty may Đức Giang - Gia Lâm - Hà Nội” nhận thấy 97,5% công nhân có sức khỏe loại I và II, chỉ
có 2,5% công nhân có sức khỏe loại III, không có công nhân nào có sức khỏe loại
IV và V Điều này phản ánh sức khỏe của công nhân là hơi công ty may Đức Giang khá tốt
Trang 28Nghiên cứu của Khúc Xuyền và cs (2005) đã đưa ra số liệu về một số bệnh tật của công nhân các ngành sản xuất có tiếp xúc với bụi hữu cơ tại một số nhà máy, cụ thể: các bệnh tai mũi họng, mắt, bệnh xương khớp có tỷ lệ cao Tác giả cho rằng công tác chăm sóc sức khỏe công nhân cần được xã hội hóa Với nguy cơ tiếp xúc với bụi bông, sợi, tỷ lệ bị bệnh ngoài da cao hơn các nhóm nghề khác và cần lưu ý (23,23%) (Ngô Thị Kim Yến và Nguyễn Thị Minh Thi, 2012)
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Dũng (2008), trên 1139 công nhân của năm loại hình, công đoạn dệt may khác nhau cho thấy tỷ lệ giảm sức nghe là 35,5 ± 1,42% Tác giả cũng cho thấy biểu hiện thường gặp sớm do tác hại của tiếng ồn thường thấy ở hệ thần kinh và tim mạch Các dấu hiệu ban đầu ở cơ quan thính giác
là ù tai, sau đó sẽ xuất hiện các chứng bệnh kèm theo tại các cơ quan khác như đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, khả năng nhậy cảm về thần kinh giảm, ngủ không ngon giấc, có dấu hiệu hưng phấn cơ quan tiền đình Cũng theo tác giả này khi nghiên cứu trên 403 công nhân tiếp xúc với bụi bông cho thấy số lượng mẫu bụi vượt TCVSCP chiếm 7,1%, sức khoẻ công nhân tại dây chuyền sợi loại I, II, III chiếm 96,77% Tuổi đời công nhân rất trẻ, chủ yếu từ 30-39 (tỷ lệ 54,1%), tuổi nghề từ 11-20 năm (tỷ lệ 60,6%) Tỷ lệ bệnh bụi phổi bông giai đoạn I: 24,8% (tăng theo tuổi nghề), giai đoạn II: 13,6%, giai đoạn III: 5,4% (trong đó 3,23% có hồi phục, 2,23% không hồi phục)
Tỷ lệ bệnh viêm phế quản mạn tính ở công nhân phân theo các giai đoạn: giai đoạn I: 31,7%, giai đoạn II: 10,7%, tỷ lệ giảm từ đầu đến cuối dây chuyền công nghệ
Kết quả điều tra của Lê Văn Thành và cs (2000) cho thấy trong nước thải của sản xuất ngành dệt may thường chứa các loại hoá chất như: xút, thuốc tẩy, phèn kép, nhựa thông, phẩm màu Nước thải không qua xử lí chảy thẳng vào nguồn nước làm
ô nhiễm khu vực xung quanh, dấn đến tỷ lệ công nhân trong nhà máy và người dân
ở xung quanh đó bị mắc các bệnh đau mắt hột, nhiễm khuẩn cao hơn hẳn các nơi khác Lượng khí thải và bụi hữu cơ độc hại lơ lửng phát tán khắp khu vực dân cư, bám lên cây, trần nhà, mái ngói, hàng năm lớp bụi có thể dày lên tới 20cm Bệnh về đường hô hấp ở các khu vực sản xuất này chiếm 44.4%, bệnh da liễu 13,15% trong tổng số người được điều tra (năm 1999) Tình hình bệnh tật ở nhóm người lao động trực tiếp có tỷ lệ mắc cao hơn so với các nhóm khác Chủ yếu là dị ứng 20%, hô hấp 18,57% và các bệnh còn lại có tỷ lệ 1,5%-3,5%
Trang 29Qua nghiên cứu của Đan Thị Lan Hương (2002) chỉ ra rằng tỉ lệ người mắc bệnh/triệu chứng cấp tính là 35,2%, những bệnh hay gặp ở công nhân may này là các bệnh hô hấp và tai mũi họng 18,7%, tiêu hoá 6,9%, các bệnh phụ khoa 4,8%, bệnh mắt 4,5% Trong nghiên cứu của Vũ Minh Phượng (2003) 80,8% người lao động bị đau mỏi sau ngày làm việc, 16,8% mắc bệnh cấp tính, 28,7% mắc bệnh mãn tính và 42,2% tai nạn lao động
Nghiên cứu của Bùi Quốc Khánh và cs (giai đoạn 2000 - 2006) ở công nhân ngành Dệt sợi cho thấy sức khoẻ công nhân dây chuyền sợi có tỷ lệ, phân loại như sau: loại I, II, III chiếm 96,8% (theo bảng phân loại năm 1997) Cũng theo tác giả này thì sức khỏe của công nhân đã tốt hơn so với giai đoạn 1996 - 2000 Giai đoạn này tỷ lệ sức khoẻ loại I, II chiếm 50%, sức khoẻ loại V vẫn ở tỷ lệ cao (phân loại sức khoẻ năm 1995)
Theo kết quả nghiên cứu của Trương Việt Dũng, dẫn từ Natee Lumnok (2008)
tỷ lệ công nhân mắc bệnh bụi phổi bông là tương đối cao (27,6%), cao hơn của Tạ Tuyết Bình và cs là 19%, của Bùi Quốc Khánh, là 18,2% Đối tượng mắc bệnh có
tỷ lệ cao nhất là công nhân Bông chải, ghép thô Bệnh BPB giai đoạn II: 13,6% gặp nhiều ở đối tượng công nhân có tuổi nghề cao (trên 20 năm) Làm việc tại bộ phận đầu và giữa dây chuyền Bệnh BPB giai đoạn III: Chiếm 5,46% (trong đó 3,23% giai đoạn III còn hồi phục, 2,23% giai đoạn 3 không hồi phục)
2.4 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG TỚI SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG Ngay từ thế kỷ XVII, khi nền công nghiệp nhẹ bắt đầu phát triển mạnh ở Châu
Âu, các vấn đề sức khỏe của người lao động đã được quan tâm Trong các mối quan tâm đặc biệt thì cường độ và thời gian phơi nhiễm với các tác hại nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp của công nghệ dệt may ở nước Anh đã được nhiều người nghiên cứu Tuy nhiên, với sự phát triển của y học lao động còn chưa mạnh, trong khi công nghệ luôn thay đổi nên vấn đề chăm sóc sức khỏe người lao động cũng chưa theo kịp Vào thời điểm này các nhà y học mới chỉ biết chứng khó thở của công nhân dệt may có thể có liên quan đến điều kiện lao động
Khi công nghệ phát triển, đặc biệt là vào nửa sau của thế kỷ XX, nhiều yếu tố nguy cơ nghề nghiệp, nhiều vấn đề liên quan có thể tác động, ảnh hưởng lên sức
Trang 30khỏe người lao động đã được phát hiện Lúc này y học lao động cũng dần dần phát triển theo đà chung của y học thế giới Hàng trăm nghìn các hoá chất và dung môi độc hại được đưa vào sản xuất và phục vụ đời sống cũng như hàng trăm các yếu tố tác hại vật lý, sinh học tồn tại trong các môi trường sống và lao động, hàng ngày tác động đơn lẻ hoặc đa chiều lên sức khoẻ con người, có khả năng gây nên những rối loạn bệnh lý hoặc làm mất cân bằng các phản ứng sinh lý, sinh hoá của cơ thể trong thời kỳ mới tiếp xúc đã được nghiên cứu Các tác giả Ramazzini, Letavet, Izmerop, Aptamonova, Satalop, Zekin, Paracelus, Policard… là những người có nhiều nghiên cứu đóng góp về những vấn đề này từ giữa thế kỷ XX Tuy nhiên trên thực tế cũng còn nhiều điều về mặt khoa học và thực tiễn của y học lao động, người ta vẫn chưa giải thích được và cần phải tiếp tục nghiên cứu Trong thực tế do những bí mật về nghề nghiệp, kinh doanh hoặc người ta chưa đủ khả năng nghiên cứu nên còn nhiều tác hại nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp chưa được nghiên cứu và giải quyết một cách thỏa đáng (Trịnh Hồng Lân, 2003; Nguyễn Thị Bích Liên, 2003)
Vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, các tác giả trong và ngoài nước đã
có những nghiên cứu về tác động môi trường lao động, sinh lý, sinh hoá lao động, lâm sàng bệnh nghề nghiệp Các nghiên cứu theo nhiều lĩnh vực liên quan cũng phát triển, song chưa đồng bộ nên các biện pháp dự phòng, bảo vệ công nhân, nâng cao năng suất lao động và phòng chống các bệnh nghề nghiệp ở nhiều Quốc gia chưa có hiệu quả cao
Qua các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã cho thấy các yếu tố liên quan hàng đầu đối với sức khỏe chính là tác động tổng hợp của các tác hại nghề nghiệp Trong sản xuất dệt may, các tác hại nghề nghiệp thường gặp có thể nói là khá nhiều
và thường kết hợp với nhau: lao động nặng nhọc, bụi các loại, ồn, hóa chất độc và vi khí hậu bất lợi (Nguyễn Duy Bảo, 2008)
Lao động của ngành dệt may nhìn chung là loại lao động có nhiều yếu tố bất lợi cho sức khỏe Công nghệ sợi đòi hỏi người lao động phải tiêu tốn sức lực rất nhiều trong thu hoạch và sơ chế nguyên liệu Các loại sợi bông, sợi đay thường được thu hoạch theo mùa Người lao động thường phải gấp rút thu hái các loại quả bông
và các nguyên liệu khác nhằm tránh những ảnh hưởng bất lợi thời tiết làm hỏng hoặc làm giảm những giá trị của nguyên liệu Ở các nước nghèo các nước đang phát
Trang 31triển đa số thu hoạch nguyên liệu là lao động thủ công, lao động ngoài trời, các yếu
tố khí hậu và thời tiết như nóng, mưa ẩm, gió bụi thường gây tác động xấu nên sức khỏe của họ Thông thường trong sản xuất các nguyên liệu người ta thường phải sử dụng nhiều loại hóa chất như phân bón, hóa chất trừ sâu, hóa chất làm trắng nên cũng có thể bị hóa chất độc hóa học này gây tác động xấu đến sức khỏe Nghiên cứu sức khỏe người trồng bông ở Keenya (Parkmyad.V-2002) cho thấy có tới 19,3% số người lao động trồng bông bị giảm hoạt tính của men Cholinesterase, 24,6% người nông dân bị các rối loạn do thời tiết ở mũi họng Công nghệ sản xuất sợi từ các nguyên liệu thô phục vụ cho dây chuyền dệt may, cũng là một công đoạn có nhiều yếu tố độc hại Theo kết quả nghiên cứu của Satalop, Artamonova, Izmerop (1985-1995) cho thấy có tới 23,8% công nhân ngành sợi có sự gia tăng các bệnh thường gặp ở hô hấp và mũi họng so với cộng đồng, 6,3 -8,4% người lao động bị các ảnh hưởng của hóa chất mạn hoặc cấp tính Người lao động ngành dệt thường phải tiếp xúc với môi trường vi khí hậu xấu đặc biệt là nhiệt độ cao và độ ẩm cao Thông thường ở các nước Châu Âu về mùa đông độ ẩm thường dưới 50%, trong khi ở các phân xưởng dệt, nhuộm độ ẩm luôn luôn ở mức trên 90% Do vậy sự gia tăng độ ẩm trong môi trường lao động sẽ là tác hại rất lớn đối với các tế bào niêm mạc ở mũi họng và hô hấp thậm chí toàn bộ da của người lao động cũng dễ bị tổn thương Ở các nước khu vực nhiệt đới, sự kết hợp với độ ẩm cao cũng là trở ngại rất lớn cho quá trình điều nhiệt của cơ thể Độ ẩm cao sẽ làm khả năng thoát nhiệt khó khăn, gây nên tình trạng tích nhiệt dẫn đến rối loạn các quá trình điều hòa sinh lý, bài tiết của cơ thể Thông thường nhiệt độ trong các phân xưởng cao sẽ tác động lên quá trình điều hòa nhiệt độ, cụ thể là quá trình thải nhiệt Nếu nhiệt độ cao, độ ẩm cao trong điều kiện không thông thoáng thì sự trao đổi nhiệt sẽ bị cản trở rất nhiều Nghiên cứu của Galanina, Andreieva, Izmerop (1978- 1995) cho thấy có tới 19,34% người lao động trong các công đoạn có vi khí hậu nóng của môi trường tẩy nhuộm
có rối loạn điều hòa thân nhiệt ở mức độ có thể phát hiện thông qua các phản ứng sinh lý sinh hóa
Vì các yếu tố môi trường bất lợi và khó giải quyết lao động ở các công đoạn may mặc, nên công nghệ này đang có xu hướng chuyển dần sang các nước nghèo Công nghiệp dệt may ở Châu Âu phát triển từ thế kỷ 17, về sau công nghệ này dần được chuyển sang các nước nghèo, các nước đang phát triển khu vực Á, Phi vào thế
Trang 32kỷ 20 Người công nhân dệt may thường phải lao động theo dây chuyền đơn điệu với thời gian làm việc nhiều hơn 8 giờ/ngày và ít khi là 5 ngày trong tuần Sự đòi hỏi của yếu tố điều kiện người lao động sẽ ép buộc người công nhân thường xuyên chịu đựng ở tư thế gò bó và mệt mỏi trường diễn Thời gian lao động và nghỉ ngơi không hợp lý sẽ gây nên sự sáo trộn các hoạt động tâm, sinh lý của người lao động gây nên các rối loạn bệnh lý, stress nghề nghiệp Tiếng ồn là một đặc trưng của nghề may, tiếng ồn thường không cao (70-90 dbA) song tác động thường xuyên liên tục nên thường gây nên khá nhiều các rối loạn sinh lý cấp hoặc mạn tính đối với người tiếp xúc Nghiên cứu của Polycard, Raymond.D Park, Satalop (1960-1990) cho thấy
có tới 1/3 số công nhân phải chịu áp lực của tiếng ồn trong môi trường lao động dệt may và trong số đó có tới 50% bị các rối loạn sinh lý cấp và mạn tính từ nhẹ đến nặng
Ô nhiễm bụi, bao gồm các loại bụi có nguồn gốc hữu cơ hoặc vô cơ, là một đặc trưng nghề nghiệp khá quan trọng đối với công nghệ dệt may Hầu hết các công đoạn của dây chuyền trong công nghệ may, bụi đều vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) Mặc dù bụi hữu cơ có thể ngăn được bằng khẩu trang tới trên 80% song chỉ cần một lượng nhỏ hít phải ở những người dễ cảm nhiễm cũng có thể gây nên những rối loạn bệnh lý Trong giai đoạn phát triển kinh tế kỹ thuật hiện nay, các loại sợi nguyên liệu dùng trong ngành dệt may đã có sự pha trộn của nhiều tác nhân hóa học khác do vậy tính độc hại cũng có những thay đổi Theo nghiên cứu của các tác giả
Mỹ, người lao động ở Ấn độ, Pakistan có hiện tượng co thắt khí, phế quản với tỷ lệ cao hơn ở những công nhân tiếp xúc với bụi tổng hợp (Afrin S et al., 2012; Barry S Levy et al., 2011)
Nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành đảm bảo ATVSLĐ ảnh hưởng đến sức khỏe đã được tiến hành John Birchall và đồng sự khi nghiên cứu về hành vi đảm bảo ATVSLĐ ở công nhân dệt may Ấn độ cũng cho thấy vai trò này khá quan trọng trong dự phòng các bệnh nghề nghiệp ở công nhân dệt may Ở nước
ta, khi đất nước chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang phương thức thị trường hoá trên cơ sở các phương tiện và điều kiện sản xuất lạc hậu, không đồng bộ, đồng thời với nhịp độ sản xuất không ngừng tăng nhanh thì vấn đề ATVSLĐ càng trở nên quan trọng Có thể nói, cả người sử dụng lao động và người lao động đều chưa có
Trang 33hành vi đảm bảo an toàn vệ sinh lao động tốt, do vậy các rối loạn bệnh lý nghề nghiệp vẫn không ngừng tăng lên Hậu quả của nó là các bệnh lý thông thường bị thay đổi cơ cấu, mô hình, các rối loạn bệnh lý có liên quan đến môi trường, công việc, điều kiện lao động, các bệnh nghề nghiệp ngày càng gia tăng Người lao động dệt may ở nước ta có nguồn gốc xuất thân chủ yếu từ nông thôn nên việc thích nghi với dây chuyền công nghiệp chậm Vấn đề này cũng liên quan và có thể làm gia tăng
tỷ lệ các rối loạn bệnh lý nghề nghiệp Khi nghiên cứu vấn đề này các tác giả trong
và ngoài nước đều đã nhấn mạnh rất rõ, và thường coi đây là nguy cơ cao cần chú ý giải quyết (Bùi Hoài Nam và Nguyễn Đức Trọng, 2005; Nguyễn Bạch Ngọc, 1998; Nguyễn Thu Hà và cs., 1998; Nguyễn Thị Minh Hiền và cs., 2010)
Có rất nhiều yếu tố chủ quan, khách quan có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và bệnh tật ở người lao động dệt may Các yếu tố liên quan, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe công nhân cần được chú ý giải quyết đầy đủ trong công tác chăm sóc sức khỏe người lao động Tùy thuộc vào điều kiện lao động, dây chuyền sản xuất của mỗi nước mà các yếu tố ảnh hưởng nào có vai trò, mức độ khác nhau Ở nước ta, những vấn đề này đang tồn tại nhiều bất cập và chưa giải quyết, cải thiện được nhiều Có nhiều yếu tố liên quan, ảnh hưởng nên cần thiết phải có sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành Tất cả các nhà khoa học, các doanh nghiệp phải cùng nhau phối hợp nghiên cứu, giải quyết theo phương châm: tất cả vì mục tiêu sức khoẻ cho người lao động mới của đất nước
Trang 34PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Môi trường lao động tại công ty may
- Sức khỏe người lao động làm việc tại công ty may
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tiến hành nghiên cứu tại khu vực chuyền may, nhà lông
và chuyền thêu của Công ty TNHH SMART SHIRTS Bắc Giang Địa chỉ tại Lô CN-03, Khu công nghiệp Vân Trung, Việt Yên, Bắc Giang
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành trong 30 tháng bắt đầu từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 6 năm 2017
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài, các nội dung nghiên cứu được
đề xuất bao gồm:
- Đặc điểm sản xuất và điều kiện nhà xưởng của công ty
- Thực trạng một số yếu tố môi trường lao động của công ty
- Thực trạng sức khỏe người lao động của công ty
- Ảnh hưởng của một số yếu tố MTLĐ tới sức khỏe người lao động tại công ty 3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin
Điều tra hiện trạng kết hợp với mô tả hiện trạng, đặc điểm sản xuất; thu thập số liệu kết quả đo môi trường lao động và kết quả khám sức khỏe định kỳ của công ty 3.3.2 Phương pháp chọn cỡ mẫu nghiên cứu điều tra
3.3.2.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu sức khỏe, bệnh tật
Được tính theo công thức:
Trang 35n=
Viện Y tế Công cộng (2013) Trong đó:
n: Số công nhân được chọn là đối tượng nghiên cứu
Z(1-α/2): Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95% với α=0,05; Z(1-α/2)= 1,96
Ấn định p = 0,3 (Tỷ lệ mắc các bệnh viêm mũi họng cấp tính trong công nhân may theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Dũng là 31,7 %.) (Nguyễn Đình Dũng, 2008)
từ các khu vực văn phòng, hành chính và công nhân không tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố độc hại
Tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu mô tả sức khỏe, bệnh tật: Được trình bày trong hình 3.1
Trang 36Hình 3.1 Sơ đồ tuyển chọn công nhân trong nghiên cứu
Để tuyển chọn công nhân tham gia nghiên cứu tại các khu vực nghiên cứu chúng tôi cũng lựa chọn công thỏa mãn điều kiện loại trừ trong hình 3.1 Kết quả lần lượt là:
Chuyền may: 160 công nhân Nhà lông: 20 công nhân Chuyền thêu: 20 công nhân 3.3.2.2 Cỡ mẫu đo đạc môi trường lao động trong nhà xưởng
Thực hiện theo các quy định:
+ Thường quy kỹ thuật cùa Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường, Bộ
Y tế - 2002
Trang 37+ Tiêu chuẩn Việt Nam 5508-1991 TCVN: Không khí vùng làm việc vi khí hậu giá trị cho phép, phương pháp đo và đánh giá nhanh
thể cỡ mẫu cho các yếu tố như sau:
+ 6 vị trí bàn may ở đầu xưởng tại 3 chuyền may 1,2,3 (mỗi chuyền đo tại 3 vị trí đầu, giữa, cuối chuyền)
+ 6 vị trí bàn may ở giữa xưởng tại 3 chuyền may 4, 5, 6 (mỗi chuyền đo tại 3
vị trí đầu, giữa, cuối chuyền)
+ 8 vị trí bàn may ở cuối xưởng tại 4 chuyền may 7, 8, 9 và 10 (mỗi chuyền đo tại 3 vị trí đầu, giữa, cuối chuyền)
sản xuất trực tiếp, địa điểm đo đạc, khảo sát môi trường lao động là những nơi tập trung nhiều công nhân thường xuyên làm việc trong nhà xưởng; nhà xưởng của công ty có dây chuyền may đồng nhất về thiết bị, công nghệ, nên việc lựa chọn vị trí
và cỡ mẫu phải đại diện cho 3 khu vực đầu - giữa - cuối chuyền Trên cơ sờ xác định
3 khu vực sẽ tiến hành lấy số mẫu theo thường quy Đồng thời việc đo đạc phải ở thời điềm giữa ca và toàn bộ các chuyền may, nhà lông và chuyền thêu trong nhà xưởng đều đang hoạt động sản xuất
3.3.3 Phương pháp đo đạc môi trường lao động
Kỹ thuật khảo sát đo đạc các yếu tố môi trường lao động được thực hiện bởi Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Giang
Trong phần này phương pháp thu thập thông tin là phương pháp đo đạc môi trường lao động Cụ thể, kỹ thuật thu thập thông tin được được thực hiện theo thường quy kỹ thuật đo đạc môi trường, chi tiết như sau:
Trang 38- Đo vi khí hậu: Mỗi vị trí bắt buộc phải đo 3 yếu tố đó là nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ lưu chuyển không khí (vận tốc gió), đo đồng thời 3 yếu tố trên tại các vị trí làm việc của công nhân Đo đúng vị trí người lao động khi làm việc, đo ngang ngực người lao động Đo cả ngoài trời tại thời điếm tương ứng để so sánh Thiết bị đo được kiểm chuẩn theo quy định
+ Nhiệt độ không khí: Được xác định bằng máy đo TK 110 - 112 của Nhật
lao động Đọc kết quả khi số hiện ổn định
+ Độ ẩm tương đối của không khí được xác định bằng máy GOCT 6353-52 46 của Mỹ (đơn vị %) Thiết bị đo đặt cách sàn làm việc 0,5 - l,5m tương ứng vị trí của người lao động Đọc két quả khi số hiện ổn định
+ Tốc độ lưu chuyển không khí được xác định bằng máy đo vận tốc gió TGL
7394 của Nga (đơn vị m/s) Đặt máy đo đúng với hướng gió Đọc kết quả khi số hiện ổn định
của Mỹ (đơn vị lux) Khi đo đặt ngửa tế bào quang điện trên mặt phẳng cần đo, tránh bóng che ngẫu nhiên Thiết bị đã được kiểm chuẩn Đọc kết quả khi số hiện
ổn định
tần số M&MPro NLSL-5816 của Mỹ (đơn vị dBA) Đo tại vị trí làm việc của công nhân Thiết bị đã được kiếm chuẩn Đọc két quá khi số hiện ổn định
đo ngang tầm hô hấp của công nhân, đọc kết quả khi số hiện ổn định Kết quá biểu
535 của Đức Đặt máy đo ngang tầm hô hấp của công nhân, đọc kết quá khi số hiện
ôn định
+ Tiêu chuẩn áp dụng: Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của
Bộ Y tế về việc ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động, 5 nguyên tắc và 7 thông số
vệ sinh lao động Và TCVN 5508:2009 áp dụng đối với không khí vùng làm việc
Trang 39+ Yếu tố vi khí hậu: Nhiệt độ không khí (≥200C; ≤34°C); Độ ẩm tương đối không khí (< 80%); Vận tốc gió (0,2-l,5 m/s)
+ Cường độ chiếu sáng (> 500 lux)
+ Cường độ tiếng ồn (< 85 dBA)
3.3.4 Phương pháp khảo sát tình trạng sức khỏe, cơ cấu bệnh tật
Thu thập, khảo sát số liệu về tình trạng sức khỏe người lao động bằng phương pháp khám sức khóe trực tiếp, được thực hiện bởi bác sỹ chuyên khoa thuộc Phòng khám Đa khoa - Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Giang Kỹ thuật thu thập thông tin bằng phiếu khám theo quy định sau:
+ Nội dung khám sức khỏe tổng quát theo quy định tại phụ lục số 3 của Thông
tư số 14/2013/TT-BYT ngày 06/05/2013 của Bộ Y tế về hướng dẫn khám sức khỏe + Phân loại sức khỏe theo Quyết định số 1613/ QĐ-BYT ngày 15 tháng 8 năm
1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Tiêu chuẩn phân loại sức khỏe để khám tuyển, khám định kỳ” cho người lao động
+ Các nội dung khám chuyên khoa: Khám chuyên khoa nội (tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, thận-tiết niệu, nội tiết, cơ xương khớp, thần kinh-tâm thần); Khám chuyên khoa ngoại; Khám chuyên khoa mắt (khám thị lực và bệnh về mắt); Khám chuyên khoa sản-phụ khoa; Khám chuyên khoa TMH (khám thính lực, các bệnh về TMH); Khám chuyên khoa RHM (khám 2 hàm và các bệnh về RHM); Khám da liễu; Khám thể lực (đo cân nặng, chiều cao, tim mạch, huyết áp)
3.3.5 Phương pháp phân tích số liệu và xử lý thông tin
đạt/chưa đạt TCVSLĐ trên phần mềm excel
thuật toán thống kê y sinh học; Tính tỉ lệ phần trăm (%) các triệu chứng, bệnh tật
Trang 40PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT VÀ ĐIỀU KIỆN NHÀ XƯỞNG CỦA CÔNG TY 4.1.1 Đặc điểm sản xuất
Công ty TNHH Smart Shirts là công ty 100% vốn đầu tư của nước ngoài với quy trình sản xuất gồm nhiều công đoạn khác nhau với quy mô lớn, sản lượng khoảng 30000 sản phẩm/tháng Hệ thống nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị, công nghệ được đầu tư hiện đại, nên các yếu tố môi trường lao động so với các công ty may trên địa bàn tỉnh là tương đối tốt Các công đoạn sản xuất chính của công ty được mô phỏng theo mô hình sau:
Hình 4.3 Quy trình sản xuất của công ty
theo kích thước tiêu chuẩn Nó được làm bằng phương pháp phác thảo mẫu và mục đích làm rập là may mẫu để kiểm tra trước
May mẫu: chuyển những bộ rập đầu tiên đến bộ phận may để ráp lại thành trang phục Sau khi may xong hàng mẫu, nhóm các nhà thiết kế, thợ làm rập và chuyên gia may sẽ đánh giá lại Nếu cần điều chỉnh họ sẽ làm lúc này