Thành phần vi khuẩn có trong dịch tử cung bình thường và bị viêm của lợn nái sau đẻ .... Số lượng các vi khuẩn phân lập được trong dịch tử cung bình thường và bị viêm ở lợn nái sau đẻ..
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI THỊ LƠ
THỰC TRẠNG BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI TRUNG TÂM GIỐNG GIA SÚC, GIA CẦM TỈNH NAM ĐỊNH VÀ THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ
Người hướng dan khoa học: PGS.TS Chu Đức Thắng
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả trình bày luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017 Tác giả luận văn
Bùi Thị Lơ
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn giám đốc trung tâm gia súc gia cầm tỉnh Nam Định, cùng các anh, chị, em công nhân công tác tại trung tâm đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và thực hiện đề tài
Nhân dịp này, xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và người thân, cùng bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần, giúp tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đề tài
Một lần nữa xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017 Tác giả luận văn
Bùi Thị Lơ
Trang 4MỤC LỤC
Lơi cam đoan i
Lơi cam ơn ii
Mục lục iii
Danh muc chữ viết tắt vi
Danh muc bảng vii
Danh muc hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Cấu tạo cơ quan sinh sản của lợn cái 4
2.1.1 Buồng trứng (Ovarium) 4
2.1.2 Ống dẫn trứng (Oviductus) 5
2.1.3 Tử cung (Uterus) 6
2.1.4 Âm đạo (Vagina) 7
2.1.5 Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitelis) 7
2.1.6 Âm vật (Clitoris) 7
2.1.7 Âm môn (Vulva) 8
2.2 Đặc điểm sinh lý của gia súc cái 8
2.2.1 Sự thành thục về tính 8
2.2.2 Sinh lý quá trình thụ tinh 9
2.2.3 Sinh lý quá trình mang thai 9
2.2.4 Sinh lý quá trình đẻ 10
2.3 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái (Mestritis) 12
2.3.1 Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung 12
2.3.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung 13
Trang 52.3.3 Các thể viêm tử cung 14
2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ 19
2.3.5 Biện pháp phòng bệnh viêm tử cung ở lợn nái 20
2.4 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên thế giới và tại việt nam 21
2.4.1 Trên thế giới 21
2.4.2 Tại Việt Nam 23
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cưu 25
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 25
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 25
3.2 Nội dung nghiên cứu 25
3.3 Phương pháp nghiên cứu 26
3.3.1 Xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại 26
3.3.2 Phương pháp kiểm tra các chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái khỏe và bị viêm tử cung 26
3.3.3 Xác định thành phần vi khuẩn trong dịch tử cung, âm đạo 26
3.3.4 Phương pháp thử kháng sinh đồ 26
3.3.5 Phương pháp thử nghiệm phác đồ điều trị 26
3.4 Phương pháp xư ly số liệu 27
Phần 4 Kết quả và thảo luận 28
4.1 Ty lê măc bênh viêm tư cung ơ đan lơn nai ngoai nuôi tai trung tâm giông gia suc gia câm tỉnh nam định 28
4.1.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trung tâm giống gia súc gia cầm qua các năm 2013-2017 28
4.1.2 Tình hình lợn nái mắc bệnh viêm tử cung ở các lứa đẻ khác nhau 29
4.2 Một số chỉ tiêu và biểu hiện lâm sàng của lợn bình thường và lợn bị viêm tử cung 35
4.3 Xác định thành phần các loại vi khuẩn có trong dịch viêm tử cung lợn nái ngoại 36
4.4 Xác định số lượng vi khuẩn có trong dịch viêm tử cung ở lợn nái ngoại 39
Trang 64.5 Xác định tính mẫn cảm của các loại vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm
tử cung của lợn nái với thuốc kháng sinh 40
4.6 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với kháng sinh thông qua thử kháng sinh đồ và đo đường kính vòng tròn vô khuẩn của các loại vi khuẩn có trong dịch viêm tử cung 43
4.7 Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung ơ đàn lợn nái ngoại 43
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Kiến nghị 47
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại Trung tâm giống
gia súc gia cầm tỉnh Nam Định qua các năm từ 2013-2017 27 Bảng 4.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại theo từng lứa đẻ 29 Bảng 4.3 Tỷ lệ mắc bệnh Viêm tử cung theo mùa qua các năm ở đàn lợn nái ngoại
nuôi tại trung tâm 33 Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn bình thường và lợn viêm tử cung 35 Bảng 4.5 Thành phần vi khuẩn có trong dịch tử cung bình thường và bị viêm của lợn
nái sau đẻ 37 Bảng 4.6 Số lượng các vi khuẩn phân lập được trong dịch tử cung bình thường và bị
viêm ở lợn nái sau đẻ 40 Bảng 4.7 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các loại vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm
tử cung lợn với các loại kháng sinh……… ………42 Bảng 4.8 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong dịch
viêm đường sinh dục của lợn nái với một số thuốc kháng sinh thông dụng……… 44 Bảng 4.9 Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung và một số chỉ
tiêu sinh sản của lợn nái ngoại khỏi bệnh 44
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn nái qua các năm 28 Hình 4.2 Tỷ lệ mắc viêm tử cung qua các lứa đẻ 30 Hình 4.3 Tỷ lệ mắc viêm tử cung theo mùa ở lợn nái ngoại 34 Hình 4.4 Tỷ lệ thành phần vi khuẩn có trong dịch âm đạo, tử cung lợn nái bình
thường và bệnh lý……… 46 Hình 4.5a Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung lợn nái
ngoại của 3 phác đồ 47 Hình 4.5b Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung lợn nái
ngoại của 3 phác đồ 47
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Bùi Thị Lơ
Tên luận văn: “Thực trạng bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trung tâm giống gia súc, gia cầm tỉnh Nam Định và thử nghiệm điều trị”
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Xác định tỷ lệ lợn nái bị viêm tử cung bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi kết hợp với việc theo dõi, thăm khám trực tiếp; xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái mắc bệnh viêm tử cung bằng phương pháp thường quy đếm nhiều lần hoặc quan sát vào một thời điểm quy định và lấy số bình quân; phương pháp phân lập xác định vi khuẩn hiếu khí; phương pháp kháng sinh đồ; phương pháp phân lô so sánh; phương pháp xử lý
số liệu
Kết quả chính và kết luận
- Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trung tâm giống gia súc gia cầm tỉnh Nam Định theo quy mô đàn qua các năm (2013-2017) là ở mức cao, biến động từ 14,82% tới 35,59%
- Tỷ lệ mắc viêm tử cung ở lứa đẻ 1 cao nhất (27,78%) sau đó giảm dần ở lứa 2,
3, đến lứa đẻ thứ 4 giảm ở mức 6,17% và có xu hướng tăng mạnh ở lứa thứ 6 (31,15%)
- Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh VTC ở mùa hè chiếm tỷ lệ cao nhất (31,24%), sau đó đến mùa xuân 28,74%; mùa đông 22,63% và thấp nhất ở mùa thu (chỉ chiếm 18,7%)
- Có sự khác biệt rố ràng về một số chỉ tiêu lâm sàng giữa lợn khỏe và lợn bị viêm tử cung Lợn nái bị viêm tử cung có thân nhiệt tăng lên l,98°C so với lợn nái bình thường, tần số hô hấp của lợn bị viêm tử cung tăng 28,52 lần so với lợn nái bình thường Dựa vào sự khác biệt chỉ tiêu lâm sàng và màu sắc dịch viêm có thể kết luận lợn nái
Trang 11ngoại viêm tử cung ở thể nào
- Khi tử cung, âm đạo bị viêm, 100% các mẫu bệnh phẩm đều xuất hiện các vi khuẩn E.coli, Staphylococcus aureus, Streptococcus và Salmonella Đặc biệt trong dịch viêm xuất hiện thêm loại vi khuẩn Pseudomonas với tỷ lệ 16,67%
- Các kháng sinh Gentamycin, Amoxycillin, Ceftiofur mẫn cảm cao với tập đoàn
vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm tử cung, số ca khỏi bệnh đạt tỷ lệ cao 100%
- Khi lợn nái bị viêm tử cung, dùng Lutalyze tiêm dưới da 2ml (25mg), tiêm 1 lần; Ceftiofur:1ml/10kg thể trọng, tiêm bắp, Rivanol thụt rửa với liều 2000ml/con/ngày, kết hợp với B.complex cho số ngày điều trị ngắn nhất 3,46 ± 0,12 (ngày), thời gian động dục trở lại sau khi lành bệnh sớm nhất 5,38 ± 0,17 (ngày) và tỷ lệ có thai lần phối đầu cao nhất đạt tỷ lệ 86,67%
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Bui Thi Lo
Thesis title: The reality of the Mestritis on imported sows at the cattle, poultry breeding center in Nam Dinh province and experimental some treatment measures”
Major: Veterinary Medicine Code: 60 64 01 01
Educational organization: Viet Nam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
To determine the real situation imported sows get Mestritis and several factors
to the rate imported sows get Mestritis
To determine some clinical indicators of the Mestritis to contribute to the rapid diagnosis
To determine composition, number of bacteria and antibiotic test, from there, there are effective treatments for the Mestritis on imported sows
Materials and Methods
Topics used research methods: Determine the rate of sows get Mestritis by investigating and interviewing farmers directly in combination with direct monitoring; Determine the transformation of some clinical indicators and bacteriology when sows get Mestritis by counting, multiple many times at a certain time then take the average with direct observation method; The isolation method to determine aerobic bacteria; Method of antibiotic test; Comparative plot method; Method of processing data
Main findings and conclusions
The rate of imported sows get Mestritis at the cattle, poultry breeding center in Nam Dinh province according to the herd scale over the years (2013-2017) is quite high, ranges from 17,05% to 33,00%
The rate of imported sows get Mestritis at parity 1 is the highest, then decrease in parity 2, 3, to parity 4 decreases at 6.17% and tended to increase sharply
Trang 13Based on differences in clinical indicators and color inflamed, can conclusions about the kind of Mestritis
When Uterus, Vagina of sows are inflamed, 100% of the specimens produce bacteria E.coli, Staphylococcus aureus, Streptococcus and Salmonella Particularly in the epidemic, there is Pseudomonas bacterium at the rate of 16.67%
Antibiotics Gentamycin, Amoxycillin, Ceftiofur has high sensitivity with the bacterias coporation which are isolated from the inflammation uterus fluids of the sow get Mestritis, the rate of cure is high at 100%
When sows get Mestritis, using Lutalyze ijnect subcutaneous 2ml (25mg) one time, using Cephachlor 1 ml/10kg weight , Rivanol douching with 2000ml/sow/day, combining body treatment with B complex bring shortest treatment days 3.46 ± 0.12 (day), time of estrus returned after earliest healing 5.38 ± 0.17 (day) and the highest rate
of pregnancy was 86.67%
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngành chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở Việt Nam
và con lợn luôn giữ vị trí hàng đầu về tỷ trọng và giá trị trong các loài vật nuôi
Với mục tiêu vừa là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, vừa là nguồn cung cấp phân bón, tạo điều kiện cho ngành trồng trọt phát triển, chăn nuôi lợn đã góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống của người nông dân
Đặc biệt do xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy chăn nuôi sản xuất hàng hóa phát triển Hiện nay, phong trào chăn nuôi lợn theo hướng nạc
đã và đang phát triển mạnh trên toàn quốc cả về số lượng và chất lượng lẫn quy mô đàn Ngành chăn nuôi lợn, đặc biệt là chăn nuôi lợn nái sinh sản đã có những bước tiến vượt bậc với sự xuất hiện của các mô hình trang trại chăn nuôi tập trung, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và an toàn sinh học với quy mô đàn lớn, hiệu quả kinh tế cao do việc nhập ngoại các giống lợn cao sản, đã giúp cho chăn nuôi lợn phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, nhiều hộ nông dân đã nuôi hàng chục con lợn, nhiều trang trại nuôi từ hàng trăm đến hàng nghìn lợn nái Thu nhập mỗi năm do chăn nuôi lợn đem lại từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng và là nguồn thu nhập chính của nhiều
hộ gia đình
Cùng với việc phát triển chăn nuôi lợn thịt, chăn nuôi lợn nái sinh sản cũng không ngừng tăng trưởng, đặc biệt nhiều trang trại đã nuôi hàng trăm lợn nái ngoại để sản xuất con giống, đây thực sự là một cuộc cách mạng về giống lợn
ở nước ta, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của chăn nuôi lợn trong những năm vừa qua
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ và sự chuyển đổi phương thức chăn nuôi, tình hình dịch bệnh trên đàn lợn cũng diễn biến hết sức phức tạp và không ngừng gia tăng, một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: Tụ huyết trùng,
Lở mồm long móng, Suyễn, Tai xanh Đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất, chất lượng và hiệu quả của chăn nuôi lợn
Đối với lợn nái, nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá phổ biến, do khả năng thích nghi
Trang 15của đàn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém Mặt khác, trong quá trình sinh đẻ, lợn nái dễ bị các loại vi khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E.coli xâm nhập và gây lên một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như: Viêm âm đạo,
âm môn, tiền đình Đặc biệt hay gặp là bệnh viêm tử cung Nếu không được điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn đến các bệnh kế phát như: Viêm vú, mất sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm phúc mạc dẫn đến nhiễm trùng huyết và chết Vì vậy, viêm tử cung ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn lợn giống nói riêng đồng thời ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế
Những vấn đề nêu trên cho thấy, để góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển ổn định, bền vững, chất lượng con giống đảm bảo Việc nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh và đưa ra được phác đồ điều trị có hiệu quả bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái là rất cần thiết Chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Thực trạng bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trung tâm giống gia súc, gia cầm tỉnh Nam Định và thử nghiệm điều trị”
Chúng tôi thực hiện đề tài nhằm mục đích:
- Xác định được thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và một số yếu tố ảnh hưởng
- Xác định được một số chỉ tiêu lâm sàng của bệnh viêm tử cung nhằm góp phần chẩn đoán nhanh bệnh
- Xác định được thành phần, số lượng vi khuẩn và thử kháng sinh đồ từ đó đưa ra các phác đồ điều trị hiệu quả bệnh viêm tử cung lợn
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài được nghiên cứu trên đối tượng là đàn lợn nái ngoại đang trong giai đoạn sinh sản, gồm các giống Landrace, Yorkshire và Duroc tuổi từ 8 - 36 tháng, được chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh theo quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt của trung tâm
Địa điểm thực hiện đề tài tại trung tâm giống gia súc, gia cầm tỉnh Nam Định và bộ môn Nội- Chẩn- Dược- Độc Chất, khoa Thú y, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017
Trang 161.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Bổ sung thêm những thông tin và bằng chứng xác thực về tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại trung tâm giống gia súc, gia cầm tỉnh Nam Định và thử nghiệm điều trị
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho việc đề ra biện pháp
kỹ thuật phòng và trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại, giảm thiểu tác hại do bệnh gây ra, góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại từ đó tăng hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CẤU TẠO CƠ QUAN SINH SẢN CỦA LỢN CÁI
Bộ phận sinh dục của lợn cái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: âm môn, âm vật, tiền đình
2.1.1 Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm trong xoang chậu Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lốm rụng trứng
Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hormone: Estrogen, Progesterone, Oxytocine, Relaxin và Inhibin Các hormone này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái Estrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú Progesterone do thể vàng tiết ra giúp duy trì sự mang thai do nó kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú Oxytoxin được tiết chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên nhưng cũng được tiết bởi thể vàng ở buồng trứng khi thú gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa Ở lợn, Relaxin
do thể vàng tiết ra để gây giãn nở xương chậu, làm giãn và mềm cổ tử cung, do
đó mở rộng đường sinh dục khi gần sinh Inhibin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển nang noãn theo chu
kỳ (Trần Thị Dân, 2004)
Ở bề mặt ngoài của buồng trứng có một lóp liên kết được bao bọc bởi lớp biểu mô hình lập phương Bên dưới lớp này là lớp vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng (thể vàng thoái hóa) Phần tủy của buồng trứng nằm ở giữa, gồm
có mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng (Khuất Văn Dũng, 2005)
Trang 18Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: Noãn nang nguyên thủy nhỏ nhất
và được bao bọc bởi lớp tế bào vảy Noãn nang nguyên thủy phát triển thành noãn nang bậc một, nó được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô hình lập phương (tế bào nang) Khi được sinh ra buồng trứng đã có sẵn hai loại noãn nang này Noãn nang bậc một có thể bị thoái hóa hoặc phát triển thành noãn nang bậc hai Noãn nang bậc hai có hai hoặc nhiều lớp tế bào nang nhưng không có xoang nang (là khoảng trống chứa dịch nang) Noãn nang có xoang được xem như noãn nang bậc ba, chứa dịch nang và có thể trở nên giữ dội hẳn để chuẩn bị xuất noãn (nang Graaf) Noãn nang có xoang bao gồm 3 lớp: Lớp bao ngoài, lớp bao trong và lớp tế bào hạt Lớp bao ngoài là mô liên kết lỏng lẻo Lớp bao trong sản xuất Androgen dưới tác dụng của LH Lớp tế bào hạt tách rời lớp bao trong bởi màng đáy mỏng
Tế bào hạt sản xuất nhiều chất sinh học và trên bề mặt tế bào có thụ thể (receptor) tiếp nhận kích thích tố LH Những chất quan trọng được sản xuất bởi tế bào hạt là Estrogen, Inhibin và dịch nang (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 2002)
Khi nang Graaf xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất huyết tại chỗ Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết xuất huyết được gọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều lần Sau đó tế bào bao trong và tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng để tạo nên thể vàng (Lê Xuân Cương, 1986)
2.1.2 Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo Phễu mở
ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong
có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo nối tiếp sừng tử cung,
nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn
Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung Nơi tiếp giáp giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di chuyển của tinh trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi vào tử cung Ở lợn, sự co thắt của nơi tiếp giáp eo - tử cung tạo thành rào cản đối với tinh trùng để không
có quá nhiều tinh trùng đi đến phần rộng, nhờ đó tránh được hiện tượng nhiều
Trang 19tinh trùng xâm nhập noãn
2.1.3 Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, 2 sừng tử cung ở phần trước xoang chậu Tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng
Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân
- Lớp nội mạc tử cung: Là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp
tế bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung Nhiều
tế bào biểu mô kéo dài thành lông rung, khi lông rung động thì gạt những chất nhày tiết ra về phía cổ tử cung Trên niêm mạc có các nếp gấp
Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp
Trang 20phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của Estrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của Progesterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ lên giống 2.1.4 Âm đạo (Vagina)
Theo tác giả Cù Xuân Dần và Lê Khắc Thận (1985): Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
2.1.5 Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitelis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ Tiền đình bao gồm:
- Màng trinh: Là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo, phía sau thông với âm hộ Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lá niêm mạc gấp lại thành một nếp
- Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh
- Hành tiền đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo, cấu tạo giống thể hổng ở bao dương vật của con đực
Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay
về âm vật
2.1.6 Âm vật (Clitoris)
Âm vật có cấu tạo như dương vật nhưng thu nhỏ lại Trên âm vật cso lớp
da tạo thành mũ âm vật, phía dưới bẻ quặp xuống là nơi tập trung nhiều mút dây thần kinh
Trang 212.1.7 Âm môn (Vulva)
Là cơ quan đầu tiên của bộ phận sinh dục cái, làm nhiệm vụ tiếp nhận sự thay đổi của môi trường, đặc biệt là xuất hiện phản xạ sinh dục Khi con cái động dục, niêm mạc của âm môn thay đổi màu sắc Đây là dấu hiệu để phát hiện động dục ở gia súc cái
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA GIA SÚC CÁI
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định cho từng giống vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: Ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, sử dụng,… Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái, người ta thường tập trung nghiên cứu các chỉ tiêu theo dõi sau
2.2.1 Sự thành thục về tính
Thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này cơ quan sinh dục như buồng trứng, tử cung, âm đạo,… của con cái đã phát triển tương đối hoàn chỉnh để bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Các đặc tính sinh dục phụ xuất hiện đầy đủ, trứng rụng lần đầu có khả năng thụ thai, lúc này con vật có phản xạ sinh dục hay xuất hiện động dục
Theo Cù Xuân Dần và cs (1996) một cá thể được coi là thành thục về thục về tính nếu như bộ máy sinh dục đã căn bản hoàn thiện dưới tác dụng của thần kinh thể dịch con vật đã có phản xạ sinh dục Đối với con cái thì buồng trứng đã có noãn bào chín, có trứng rụng và có khả năng thụ tinh, tử cung con cái cũng có biến đổi phù hợp cho việc mang thai và sinh đẻ Những dấu hiệu ấy đầu tiên xuất hiện ở tuổi như vậy gọi là tuổi thành thục tính Sự thành thục về tính của gia súc được đặc trưng bởi hàng loạt những thay đổi bên trong lẫn bên ngoài cơ thể, đặc biệt là sự thay đổi bên trong cơ quan sinh dục Cùng với sự biến đổi bên trong cơ quan sinh dục là sự biến đổi bên ngoài mang tính chất quy luật, nó đặc trưng cho từng loài gia súc Sự thành thục về tính có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình sinh sản, gia súc chỉ có thể bước vào giai đoạn sinh sản khi đã có sự thành thục về tính, tùy theo gia súc khác nhau mà có dự thành thục về tính khác nhau
Tùy thuộc vào từng loài gia súc khác nhau mà thời gian thành thục về tính khác nhau Thời gian thành thục về tính của lợn cái khoảng 6 tháng, giới hạn giao động 4-8 tháng Ngoài ra thành thục về tính còn phụ thuộc vào giống, thời tiết khí
Trang 22hậu, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, cá thể,… và chịu sự chi phối điều khiển của thần kinh, thể dịch
Mặt khác, tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi, không nên cho gia súc sinh sản quá sớm vì: Nếu phối giống sớm khi cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc sẽ
có ảnh hưởng xấu như trong thời gian có chửa có sự phân tán chất dinh dưỡng ưu tiên cho sự phát triển bào thai, ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cơ thể mẹ do
đó sự phát triển của bào thai cũng bị ảnh hưởng Kết quả mẹ yếu, con nhỏ Ngược lại cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng
2.2.2 Sinh lý quá trình thụ tinh
Khi gia súc đã thành thục về tính thì những biểu hiện về sinh dục của con đực và con cái ngày càng mạnh mẽ Quá trình thụ tinh xảy ra khi tế bào trứng gặp tinh trùng, tạo ra một sự kết hợp phức tạp giữa hai loại tế bào sinh dục đực
và tế bào sinh dục cái Có hai hình thức thụ tinh là thụ tinh trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2002) thụ tinh trực tiếp là quá trình giao phối giữa gia súc đực và gia súc cái, tinh dịch của con đực đi vào đường sinh dục con cái để tế bào trứng và tinh trùng kết hợp với nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng tạo ra một tế bào mới là hợp tử Thụ tinh nhân tạo là trường hợp dùng tinh dịch của con đực đã pha loãng bơm vào đường sinh dục của con cái để tinh trùng kết hợp với trứng tạo thành hợp tử
Trong chăn nuôi, phương pháp thụ tinh nhân tạo đã cải tạo được giống gia súc, giảm số đầu giống vật nuôi, nâng cao hiệu suất sử dụng đực giống, phòng các bệnh truyền lây qua tiếp xúc Đây là biện pháp kỹ thuật hữu hiệu để thúc đẩy nghành chăn nuôi phát triển Tuy nhiên, nếu công tác chăm sóc thú y kém nó sẽ
là con dao hai lưỡi
2.2.3 Sinh lý quá trình mang thai
Mang thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó được bắt đầu từ khi thụ tinh cho đến khi sinh đẻ xong
Sau khi thụ tinh, hợp tử làm tổ ở 2 sừng tử cung và phát triển thành thai Thời gian mang thai của lợn khoảng 110-118 ngày, trung bình là 114 ngày (Trần Tiến Dũng và cs., 2002) Cùng với quá trình phát triển của bào thai, nhau thai, thể
Trang 23vàng, cơ quan sinh dục nói riêng và toàn bộ cơ thể mẹ nói chung xuất hiện nhiều biến đổi sinh lý khác nhau Những biến đổi đó là điều kiện cần thiết để bào thai được hình thành, phát triển trong tử cung và quá trình sinh đẻ được bình thường
Khi gia súc có thai, kích tố của thể vàng và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động của một số tuyến nội tiết khác Trong quá trình bào thai phát triển, nhất là giai đoạn sau, nếu khẩu phần ăn của mẹ không đảm bảo đầy đủ đạm, khoáng, nguyên tố vi lượng, vitamin thì không những bào thai phát triển không bình thường mà sức khoẻ con mẹ nói chung cũng giảm sút nhiều (Trần Tiến Dũng và cs., 2002)
Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích, Dây chằng tử cung được dài ra nên đầu mút sừng tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới Hệ tuần hoàn ở cơ quan sinh dục được tăng cường, lượng máu đến cung cấp cho niêm mạc tử cung rất nhiều nên niêm mạc được phát triển và dày lên Niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ Khối lượng tử cung khi có thai tăng gấp 5-20 lần so với khi không có thai, kích thước và thể tích tăng gấp hàng trăm lần Mỗi một tế bào được phát triển dài thêm 7-11 lần và dày hơn 3-5 lần so với khi không có thai Ở lợn mức độ phát triển và tăng sinh của tử cung phụ thuộc vào số lượng của bào thai và thường là phát triển ở cả hai sừng (Trần Tiến Dũng và cs., 2002)
Cổ tử cung có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bào thai phát triển bình thường Cổ tử cung được khép kín hoàn toàn, niêm mạc và các nếp nhăn phát triển dày lên Những tế bào thượng bì đơn tiết tăng cường tiết dịch đặc, có tác dụng đóng nút cổ tử cung Niêm dịch này lúc đầu có màu trắng trong, về sau chuyển thành màu vàng nâu, số lượng và độ dính cũng được tăng dần, có phản ứng toan yếu Ngoài ra, trong thời gian có thai, ống dẫn trứng hầu như không được phát triển to lên, nó có tính chất đặc biệt là thay đổi về mặt cấu tạo tổ chức học, các nếp nhăn niêm mạc được co nhỏ lại, niêm mạc xung huyết và lòng ống được mở rộng
2.2.4 Sinh lý quá trình đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2002), gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ
Trang 24Khi gần đẻ con cái sẽ có các triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi:
Âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết
Quá trình sinh đẻ của gia súc cái do co bóp của tử cung, cơ thành bụng, sức rặn toàn thân đẩy thai, màng nhau thai cùng với nước thai ra ngoài Quá trình sinh đẻ được chia ra 3 thời kỳ
Thời kỳ mở cổ tử cung: Thời kỳ này bắt đầu từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử cung mở ra hoàn toàn Ở lợn nái, thời kỳ mở cổ tử cung kéo dài từ 3-4 giờ, đối với lợn nái đẻ lứa đầu thì thời kỳ mở cổ tử cung ngắn hơn
Thời kỳ đẻ: Bắt đầu từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn và kết thúc khi thai lọt ra ngoài Thời gian đẻ của lợn phụ thuộc vào khoảng cách các thai ra và số lượng thai trong tử cung gia súc mẹ
Thời kỳ sổ nhau: Khi thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ Sau khi thai lọt ra khỏi đường sinh dục gia súc mẹ một thời gian, con mẹ trở nên yên tĩnh nhưng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn, mỗi lần co bóp từ 1,5 - 2,0 phút, thời gian giữa 2 lần co bóp là 2 phút, nhưng cường độ yếu hơn Sau khi sổ thai khoảng 2 -
3 giờ tử cung co nhỏ lại, thành tử cung dày, trên bề mặt có nhiều nếp nhăn Trong thời gian này tử cung tiếp tục co bóp và thu nhỏ dần về thể tích, nhưng màng niệu và màng nhung mao thì không co lại được nên tử cung đẩy ra ngoài Trong quá trình đẩy màng nhau thai ra, do đặc tính của tử cung co bóp từ mút sừng tử cung cho đến thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ được lộn trái, phần ở mút sừng tử cung ra trước sau đó bong dần xuống sừng tử cung, thân tử cung và
ra ngoài Sau khi thai ra hết toàn bộ khoảng 10-15 phút nhau thai mới ra Sau khi
đẻ một thời gian niêm mạc tử cung có hiện tượng tái sinh Trong vòng vài ngày đầu sau khi đẻ, sản dịch chảy ra có màu hồng rồi chuyển sang vàng nhạt sau cùng
là trong suốt, sản dịch hết sau khi đẻ 2-3 ngày Lúc đầu sản dịch chảy ra không
có vi khuẩn, về sau sản dịch chảy ra có vi khuẩn xâm nhập nhưng cơ thể mẹ không có biến đổi, nhưng nếu sản dịch chảy ra kéo dài thì tử cung sẽ bị bệnh
Sau khi đẻ thể tích tử cung nhỏ lại, thành tử cung dày lên, sự biến đổi này
là do các sợi cơ co lại, các tổ chức liên kết biến đổi Hai sừng tử cung buông
Trang 25thõng vào xoang bụng, độ cong của tử cung cũng không rõ như gia súc đẻ ít lần hoặc chưa đẻ lần nào Do đó những gia súc già yếu, đẻ nhiều lần thì tử cung co lại rất kém
Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ 2 -
6 giờ, nó được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng
ra ngoài
2.3 BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI (MESTRITIS)
2.3.1 Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002), Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2016) viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo các tác giả Đào Trọng Đạt và cs (2000); Phùng Thị Vân (2004), bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm (Nguyễn Văn Thanh và cs., 1999)
Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động đực
Trang 26(vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Lê Văn Năm và cs., 1997)
Theo Yao-Ac (1989); Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000), bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gầy nhiễm ngược lên
tử cung là rất dễ xảy ra
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung
2.3.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
Đánh giá được hậu quả của viêm tử cung nên đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh và đưa ra các nhận xét có ý nghĩa rất lớn cho quá trình chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) và Trần Thị Dân (2004) khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sẩy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2a (PGF2a), PGF2a gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sẩy thai (Trần Tiến Dũng, 2004)
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu
Trang 27Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2a giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) giữa bệnh viêm tử cung ở lợn nái và đàn lợn con nuôi theo mô hình trang trại có mối quan hệ tác động qua lại Đàn lợn con được sinh ra từ những con mẹ mắc bệnh viêm tử cung sẽ bị mắc hội chứng tiêu chảy với tỷ lệ khá cao, trung bình 68,01%
Theo Yao-Ac (1989), ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn viêm tử cung lúc sinh đẻ là: Chảy mủ ở âm
hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ ảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
Qua đó ta thấy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để tỷ lệ mắc bệnh giảm, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp để phòng và điều trị hiệu quả
2.3.3 Các thể viêm tử cung
Một gia súc cái được đánh giá là có khả năng sinh sản tốt trước hết phải
Trang 28kể đến sự nguyên vẹn và mọi hoạt động bình thường của cơ quan sinh đục Khi bất kỳ một bộ phận của cơ quan sinh dục bị bệnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc (Anberth Youssef, 1997) Gác tác giả A.Ban (1986), Trương Lăng (2000), Yao - Ac (1989) đều cho rằng: các quá trình bệnh xảy ra ở
cơ quan sinh dục là các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh sản
và giảm năng suất của gia súc cái
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) và Trần Tiến Dũng (2007) bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
2.3.3.1 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (1999); Black W.G (1983); Debois C.H
w (1989) viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh của viêm tử cung Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử cung bị tổn thương, tiếp đó các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E coli, Salmonella, C.pyogenes, Bruccella, roi trùng Trichomonas Foetus xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm (Arthur G.H, 1964)
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000), bệnh viêm nội mạc
tử cung có thể chia 2 loại:
- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở niêm mạc tử cung
- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử, tổn thương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử
* Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính cỏ mủ (Endomestritis Puerperalis) Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ
âm hộ chảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm xuống, dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vảy màu trắng xám.Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều, cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung
Trang 29Niêm mạc âm đạo bình thường
* Viêm nội mạc tử cung thể màng giả
Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương
đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử Lợn nái mắc bệnh này thường xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảm xuống Con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch, dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch (Nguyễn Văn Thanh, 2007)
2.3.3.2 Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperaiis)
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000), viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc
bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm
mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to
Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu
đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối. Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc (Nguyễn Văn Thanh, 2007)
Theo tác giả Trần Tiến Dũng (2007), thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc
vô sinh
2.3.3.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis Puerperali)
Theo Đặng Đình Tín (1985), viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu bị viêm nặng, nhất là viêm có
Trang 30mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung (thể Paramestritis), thành tử cung dày lên, có thể kế phát viêm phúc mạc
Lợn nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc
bỏ ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm
hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm Khi kích thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ âm hộ dịch chảy ra nhiều hơn Trường họp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêm mãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh Thể viêm này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ (Nguyễn Văn Thanh và cs., 2007)
2.3.3.4 Chẩn đoán viêm tử cung
Theo F.Madec and C.Neva (1995), xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây
là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng dịch viêm không ổn định, có thể từ vài ml đến vài trăm ml hoặc hơn nữa Tính chất của dịch viêm cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể
là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Trang 31Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy
ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có thể
bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ đó đưa
ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân như dịch viêm và thân nhiệt
Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung (Trích Trần Tiến Dũng, 2007)
Viêm tương mạc
yếu
Phản ứng co mất hẳn
Bỏ ăn hoàn toàn
* Đối với lợn nái sau khi đẻ có thể dựa trên cách tính điểm sau:
+ Số ngày chảy mủ, tính từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày =
Trang 32* Tổng số điểm được dùng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh như sau:
+ Tổng số điểm dưới 1 điểm: Không có vấn đề
+ Tổng số điểm từ 2 đến 5 điểm: Mắc bệnh nhẹ đến trung bình
+ Tổng số điểm trên 6: Bệnh nghiêm trọng
Tóm lại: chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thường xuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi viêm tử cung nhưng không sinh mủ
2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ
Ngược lại, thời tiết trong giai đoạn thu - đông thì nhiệt độ mát mẻ làm sức
đề kháng của con vật được nâng cao Mặt khác có những thời điểm nhiệt độ hạ thấp xuống rất thấp gây sự bất lợi cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển Vì thế
mà các bệnh xảy ra trên đàn lợn cũng ít và hiếm có ở mức độ cao Như vậy, chúng ta cũng thấy được là tỷ lệ bệnh viêm tử cung ở hai thời điểm khác nhau có
sự khác nhau rõ rệt
Vệ sinh thú y
Công tác vệ sinh thú y đối với lợn nái là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến bệnh viêm tử cung Vệ sinh thú y bao gồm vệ sinh môi trường và vệ sinh trong quá trình sinh sản Vệ sinh thú y tốt được đánh giá bởi các yếu tố:
- Vệ sinh môi trường bao gồm: Rửa máng ăn hằng ngày, hót phân liên tục, rửa chuồng 2 lần/ ngày, xịt gầm sạch sẽ, phun sát trùng định kỳ 1 tuần 1 lần
- Vệ sinh trong quá trình sinh sản bao gồm: vệ sinh con đực, con cái trong quá trình thụ tinh, vệ sinh khai thác tinh, nước pha và dụng cụ pha tinh, dụng cụ phối, vệ sinh trước và sau khi đẻ
Trang 33Lứa đẻ
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau Lợn cái ở lứa đẻ đầu thường có tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung cao hơn các lứa sau do lợn chưa thuần, xương chậu chưa thích nghi, hormone sinh sản chưa hoàn thiện nên phải can thiệp nhiều gây xây xát đường sinh dục
Từ lứa thứ 2 đến lứa thứ 5 lợn nái có sức đề kháng tốt hơn, quá trình sinh
đẻ dễ dàng hơn, quá trình phối giống cũng dễ dàng hơn, lợn đã thích nghi nên tỷ
lệ viêm tử cung ít hơn Từ lứa thứ 6 trở đi, lợn nái có sức đề kháng giảm, sức rặn yếu, sự co bóp tử cung cũng giảm, thời gian đóng kín cổ tử cung cũng chậm hơn
do đó tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập qua cổ tử cung gây viêm Mặt khác
do khai thác nhiều, sức đề kháng kém, các hoạt động sinh dục giảm vì vậy việc can thiệp vào quá trình sinh sản lại cần thiết dẫn đến viêm tử cung lại tăng lên Phương pháp phối giống
Phương pháp phối giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung Phương pháp phối giống có hai phương pháp là nhảy trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Nhảy trực tiếp là phương pháp tự nhiên tác động cơ học rất ít đến bộ phận sinh dục con cái còn thụ tinh nhân tạo dễ gây xây sát do đưa dụng cụ phối vào con cái, con cái dịch chuyển trong khi phối gây xây sát niêm mạc, dụng cụ phối không được vô trùng rất dễ gây viêm
Quá trình đẻ
Lợn đẻ bình thường sẽ làm khả năng nhiễm bệnh đường sinh dục thấp hơn khi lợn đẻ mà can thiệp Tuy nhiên thời gian đẻ kéo dài và có một số ca đẻ chưa
ra hết thai dẫn đến cần sự can thiệp của công nhân Công nhân dùng tay móc thai
ra gây sây xát niêm mạc và dễ gây nhiễm vi khuẩn vào gây viêm
2.3.5 Biện pháp phòng bệnh viêm tử cung ở lợn nái
Viêm tử cung gây ra nhiều thiệt hại, vì vậy cần có những biện pháp đề phòng bệnh xảy ra:
Chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, bổ sung đầy đủ và cân đối thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của lợn, đặc biệt trong giai đoạn lợn nái mang thai, tránh tình trạng lợn quá béo hoặc quá gầy, cung cấp đầy đủ nước sạch cho lợn
Thường xuyên dọn vệ sinh chuồng lợn nái, không để phân lưu lại trên nền chuồng quá lâu mà phải được thu dọn hàng ngày Lợn nái trước khi đẻ phải được tắm sạch sẽ, vệ sinh bầu vú, âm hộ bằng nước sạch pha cồn sát trùng Chuồng đẻ
Trang 34phải được vệ sinh, sau khi lợn đẻ có máu hoặc dịch trên nền chuồng cần phải lau sạch sẽ Khi lợn đẻ xong cần phải thu gom nhau thai, vệ sinh sàn chuồng Trường hợp phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ sản khi lợn đẻ khó phải tuân thủ các bước vệ sinh, sử dụng gel bôi trơn tránh làm xây sát niêm mạc tử cung
Khi phối giống cần đảm bảo đúng kỹ thuật và vô trùng
Khi lợn đẻ khó, thai chậm ra thì tiêm một mũi Oxytocin; sau khi đẻ xong tiêm cho lợn mẹ một mũi PgF2α; tiêm thêm các loại thuốc trợ sức trợ lực, tăng cường sức đề kháng như: Vitamin C, B-complex, Canxi, B12, Tiêm phòng đầy
đủ các loại vacxin phòng bệnh cho lợn nái theo quy định
2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN THẾ GIỚI
VÀ TẠI VIỆT NAM
2.4.1 Trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới ngành chăn nuôi đang rất phát triển, đặc biệt là chăn nuôi lợn, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Để cải tạo chất lượng đàn giống thì vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm tử cung Do đó, đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh viêm tử cung và đã đưa ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao Trong đó, có một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Theo Arthur G.H (1964), lợn nái đẻ được chia thành 4 nhóm gồm:
Nhóm 1: Không được điều trị
Nhóm 2: Điều trị bằng 25g hỗn họp theo tỷ lệ l,25g Furazolidone + 5g Sulphadimidine sodiumsulfat