Năm 2016 được xác định là năm cao điểm vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp, để tăng cường công tác quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN TIẾN THỊNH
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tuấn Sơn
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Thịnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc Thầy PGS.TS Nguyễn Tuấn Sơn đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, Khoa Kinh tế phát triển nông thôn- Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Thịnh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ, sơ đồ ix
Trích yếu luận văn x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp của luận văn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Các khái niệm 5
2.1.2 Đặc điểm quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp 8
2.1.3 Vai trò của quản lý VSATTP trong sản xuất nông nghiệp 9
2.1.4 Nguyên tắc quản lý VSATTP trong sản xuất nông nghiệp 12
2.1.5 Nội dung quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp 12
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 16
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp 16
2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp 23
Trang 52.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 28
2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 29
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 40
3.2 Phương pháp nghiên cứu 41
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 41
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 41
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 44
3.2.4 Phương pháp phân tích 44
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 45
Phần 4 Kết quả nghiên cứu 46
4.1 Tình hình quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế 46
4.1.1 Tổ chức quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp 46
4.1.2 Công tác xây dựng văn bản, các quy hoạch, kế hoạch 48
4.1.3 Công tác thông tin tuyên truyền về VS ATTP 50
4.1.4 Tập huấn nâng cao trình độ quản lý và sản xuất 58
4.1.5 Thực hiện quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp 62
4.1.6 Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm 64
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp 67
4.2.1 Các chủ trương, chính sách, quy định về VSATTP 67
4.2.2 Nguồn lực trong quản lý VSATTP 68
4.2.3 Ý thức của người sản xuất, người tiêu dùng 69
4.2.4 Sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý 70
4.3 Giải pháp tăng cường quản lý VSATTP trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế 71
4.3.1 Hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách 71
4.3.2 Tăng cường nguồn nhân lực cho công tác quản lý về VSATTP 72
Trang 64.3.3 Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra, kiểm tra 72
4.3.4 Nâng cấp cơ sở vật chất, nguồn vốn phục vụ quản lý về VSATTP 74
4.3.5 Tăng cường công tác giáo dục, truyền thông 74
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Kiến nghị 79
Tài liệu tham khảo 81
Phụ lục 84
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Yên Thế qua 3 năm 2014 – 2016 33
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Thế qua 3 năm (2014 -2016) 35
Bảng 3.3 Hiện trạng hệ thống giao thông huyện Yên Thế 36
Bảng 3.4 Kết quả giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Yên Thế qua 3 năm 2014 – 2016 39
Bảng 3.5 Nguồn thu thập thông tin thứ cấp 42
Bảng 3.6 Nguồn thu thập thông tin sơ cấp 43
Bảng 4.1 Ý kiến đánh giá về tổ chức bộ máy quản lý VSATTP trên địa bàn 48
Bảng 4.2 Hoạt động truyền thông về vệ sinh ATTP trong sản xuất nông nghiệp huyện Yên Thế (2014 – 2016) 51
Bảng 4.3 Thông tin được tuyền truyền đảm bảo ATTP trong sản xuất 52
Bảng 4.4 Đánh giá của người dân về nội dung tuyên truyền đảm bảo 52
Bảng 4.5 Tiếp cận phương tiện tuyên truyền đảm bảo ATTP trong 53
Bảng 4.6 Đánh giá của người dân về thời điểm tuyên truyền đảm bảo 54
Bảng 4.7 Thông tin được tuyền truyền đảm bảo ATTP trong chăn 55
Bảng 4.8 Đánh giá của người dân về nội dung tuyên truyền đảm bảo ATTP trong chăn nuôi 55
Bảng 4.9 Tiếp cận phương tiện tuyên truyền đảm bảo ATTP trong 56
Bảng 4.10 Đánh giá của người dân về thời điểm tuyên truyền đảm bảo 56
Bảng 4.11 Thông tin chung về nhóm hộ kinh doanh vật tư nông nghiệp 57
Bảng 4.12 Đánh giá của hộ kinh doanh vật tư nông nghiệp về công tác tuyên 58
Bảng 4.13 Tình hình chung về trình độ của cán bộ quản lý vệ sinh ATTP 59
Bảng 4.14 Đánh giá của cán bộ quản lý vệ sinh ATTP về tình hình tập huấn 59
Bảng 4.15 Tình hình chung về các hộ sản xuất nông nghiệp 60
Bảng 4.16 Đánh giá của người dân về tình hình tập huấn vệ sinh ATTP 61
Bảng 4.17 Hoạt động đào tạo, tập huấn về vệ sinh ATTP trong lĩnh vực Nông nghiệp (2014 – 2016) 62
Bảng 4.18 Nhận biết của người dân về các tiêu chuẩn trong sản xuất nông 62
Bảng 4.19 Kênh thông tin người dân tiếp cận với các tiêu chuẩn sản xuất 63
Bảng 4.20 Tình hình chấp hành quy định về vệ sinh ATTP trong sản xuất 63
Bảng 4.21 Tình hình chấp hành quy định về vệ sinh ATTP trong kinh doanh 64
Trang 9Bảng 4.22 Tình hình tổ chức đoàn thanh tra, kiểm tra vệ sinh an 65Bảng 4.23 Các nội dung vi phạm chủ yếu của các cơ sở kinh doanh vật tư
nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế trong các lần kiểm tra năm 2016 65Bảng 4.24 Đánh giá về hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 66Bảng 4.25 Đánh giá của cán bộ quản lý và người dân về cơ chế 67
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒBiểu đồ 4.1 Thực trạng hiểu biết về vệ sinh ATTP trên địa bàn huyện yên Thế 70
Sơ đồ 4.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý VSATTP trong sản xuất nông
nghiệp tỉnh Bắc Giang 47
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên tác giả: Nguyễn Tiến Thịnh
2 Tên luận văn: “Tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang”
3 Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.43.04.10
4 Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
5 Kết quả nghiên cứu chính
Bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh Năm 2016 được xác định
là năm cao điểm vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp, để tăng cường công tác quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp, ngày 05/4/2016, UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành Kế hoạch số 858/KHUB-NN về
“Kế hoạch hành động năm cao điểm vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp năm 2016 Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về quản lý vệ sinh toàn thực phẩm, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Câu hỏi đặt ra là: Nghiên cứu tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp dựa trên
cơ sở lý luận nào? Thực trạng quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang hiện nay như thế nào? Có những bất cập gì cần giải quyết? Yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang? Các giải pháp tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang là gì? Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang”
Để đạt được những nội dung chính đề tài có mục tiêu chính là Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thời gian qua đề xuất giải pháp tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thời gian tới Các lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài được hệ thống hóa như: quản lý; vệ sinh an toàn thực phẩm, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, Đặc điểm của quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích như:
Trang 12phương pháp thống kê mô tả , phương pháp so sánh, phương pháp phân tích thể chế, phương pháp chuyên gia
Qua thực trạng đánh giá công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp cho thấy: công tác quản lý VSATTP tại huyện Yên Thế chỉ ra: tỉnh Bắc Giang đã xây dựng hệ thống chính sách phục vụ QLNN về VSATTP, đầu tư CSVC cũng như nguồn vốn vào công tác quản lý, Công tác thanh tra kiểm tra đạt kết quả tốt; tiến hành giám sát nguy cơ ô nhiễm NĐTP thường xuyên; tích cực trong công tác tập huấn, tuyên truyền phổ biến kiến thức về VSATTP Tuy nhiên, còn tình trạng chồng chéo về chính sách và tổ chức thực hiện; công tác tuyên truyền, xử lý
vi phạm chưa có hiệu quả Kết quả điều tra cho thấy, đa số các cán bộ đều cho rằng tổ chức bộ máy quản lý VSATTP trong sản xuất nông nghiệp là hợp lý với 16 ý kiến, tương ứng 80% Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn 4 ý kiến cho rằng chưa hợp lý, đặc biệt
là cán bộ cấp tỉnh Các ý kiến cho rằng cơ cấu bộ máy quản lý sản xuất nông nghiệp cấp tỉnh còn rườm rà, nhiều lúc, nhiều nơi nhiệm vụ vẫn còn chồng chéo, không phân rõ trách nhiệm dẫn đến các đơn vị thực hiện không hiệu quả, hiện nay đối với các hộ sản xuất đại đa số cho rằng hiện nay hộ tiếp cận với thông tin tuyền truyền về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất là nhiều, với hộ trồng chè có 93,33% số hộ dân được điều tra cho rằng hộ có biết đến thông tin tuyền truyền về sử dụng thuốc bảo vệ trong trồng chè, hộ trồng vải có tới 100% số hộ được điều tra cho rằng hộ biết đến thông tin được tuyền truyền vè sử dụng thuôc bảo vệ thực vật Với 30% số hộ trồng vải đánh giá nội dung tuyên truyền sơ sài và ít thông tin, với hộ trồng chè có 23,33% số hộ được điều tra cho rằng nội dung tuyên truyền còn sơ sài, ít thông tin cần thiết Đối với những hộ chăn nuôi trong đó có nuôi gà qua điều tra cho thấy hiện nay các thông tin được tuyên truyền chủ yếu về phòng trừ bệnh cho vật nuôi có 100% số hộ được điều tra cho rằng hộ có nhận được thông tin tuyền truyền về nội dung này Tuyên truyền về sử dụng thuốc thú
y còn chưa được rộng rãi, có 43,33% số hộ được điều tra cho rằng họ biết về thông tin tuyên truyền với nội dung sử dụng thuốc thú y, còn lại những hộ khác không biết thông tin tuyên truyền này cho thấy hiện nay quản lý sử dụng thuốc thú y còn chưa được chặt chẽ Đội ngũ cán bộ quản lý vệ sinh ATTP đại đa số có trình độ chuyên môn cao đẳng với 60% số cán bộ quản lý được khảo sát, 15% có trình độ đại học Với trình độ lý luận chính trị cho thấy đại đa số với 80% số cán bộ được điều tra có trình độ chính trị sơ cấp chỉ có 5% có trình độ lý luận chính trị cao cấp Có 100% số cán bộ được khảo sát có tham gia các lớp tập huấn nâng cao năng lực trong quản lý vệ sinh ATTP Có 75% cán
bộ đánh giá năng lực giảng viên tốt, có 5% đánh giá năng lực thấp Có 85% số cán bộ được nghiên cứu cho biết thời gian tập huấn phù hợp, có 10% cho rằng quá dài
Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về VSATTP trên địa bàn tỉnh như cơ chế chính sách chồng chéo; nguồn lực con người và nguồn lực
Trang 13CSVC, tài chính có hạn; thiếu sự phối hợp của các cơ quan trong QL, thanh kiểm tra
về ATTP Xuất phát từ nghiên cứu thực tiễn VSATTP ở Bắc Ninh, cần thực hiện một
số giải pháp nhằm tăng cường quản lý VSATTP: Hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách; Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra, kiểm tra; Nâng cấp cơ
sở vật chất, hệ thống phòng kiểm nghiệm; Huy động nguồn lực từ bên ngoài tham gia quản lý chất lượng ATVSTP; Tăng cường thông tin giáo dục truyền thông
Trang 14THESIS ABSTRACT
1 Author: Nguyen Tien Thinh
2 Thesis title: “Improvement of the management of food hygiene and safety in agricultural production in Yen The district, Bac Giang province”
4 Institute: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
5 Main Result
Ensuring the quality of food hygiene and safety in agricultural production plays
an important role in the cause of protecting the people's health, contributes to reducing the incidence of diseases, maintains and develops the race, increases the ability ò labour and learning, promotes economic growth, social, culture and shows a civilised lifestyle There have been some studies on the management of food hygiene However, there is
no specific study on the management of food hygiene and safety in agriculture production in Bac Giang province The questions for the research are: What is the rationale for research on improvement of management of food safety in agriculture production? What is the status of the management of food hygiene and safety in agriculture in Yen The district, Bac Giang province? Are there any inadequacies to address? What are the factors which affect the management of food hygiene and safety
in agriculture production in Yen The district, Bac Giang province? What are the solutions to strengthen the management of food hygiene and safety in agriculture in Yen The district, Bac Giang province? Based on the above reasons, we conducted the research which title is "Improvement of the management of food hygiene and safety in agricultural production in Yen The district, Bac Giang province"
The main objective of the research is: Proposing measures to strengthen the management of food hygiene and safety in Agricultural production in Yen The district, Bac Giang province in the coming time base on the current status of food hygiene and safety management in agricultural production in Yen The district, Bac Giang province Theories and practices related to the subject are systematised as management, food hygiene and safety, food hygiene and safety management, characteristics of food hygiene and safety management in agricultural production Topics use analytical methods such as descriptive statistical method, comparative method, institutional analysis method, expert method
The assessment of the management of food hygiene and safety in agricultural production in Yen The district shows that Bac Giang province’s government has set up
Trang 15a policy system to serve the state management on food hygiene and safety and to invest
in material facilities as well as capital for management work The inspection and examination work well; Carry out frequent monitoring of food contamination risks; Active in the training, dissemination of knowledge about food hygiene and sanitation However, the overlap in policy and organisation of implementation still exists and the propaganda and handling of violations have not been effective The result of the survey shows that most staffs think that the organisation of the food hygiene and safety management in agriculture is reasonable Some opinions believe that the structure of agricultural production management at provincial level is cumbersome Sometimes, many places are still overlapped task, not clear responsibilities which lead to the unit performance is not effective The majority of households think that they have access to information on the use of pesticides in their production The propaganda of the use of veterinary drugs is not widespread This shows that the management of veterinary drug use is not tight Most of staff in food hygiene and safety management have college degree and above 100% of the staffs participated in training courses on capacity building in food hygiene and safety management There are 75% of staffs evaluate that the lecturers have a good ability, while 5% of them assess that the lecturers have low capacity 85% of the staff said that the training time was right, 10% of them said it was too long
The research shows that the factors affect the state management of food hygiene and safety in the province are overlapping policy mechanism and the limit of human resources and resources and the lack of coordination of agencies in food safety management and inspection The research proposes some solutions for Bac Giang province such as: Completing the legal framework, mechanisms and policies; To perfect the system of organisation of management, inspection and examination; Upgrading the facilities and laboratory system; Mobilising external resources to participate in the management of food safety and hygiene; Enhancing communication education information
Trang 16PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986, nông nghiệp đã được xác định là mặt trận kinh tế hàng đầu Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến phát triển nông nghiệp và nông thôn, coi đây là một lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhờ vậy, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ Sản xuất lương thực đã tăng gấp 2,5 lần so với năm 1985 Sản xuất thịt tăng gấp 5 lần, thủy sản tăng gấp 6 lần Nông nghiệp không chỉ đảm bảo đủ cung cấp lương thực thực phẩm cho người dân trong nước mà còn xuất khẩu số lượng lớn nông, lâm, thủy sản (Ánh Huyền, 2012) Cũng chính từ sự tăng trưởng mạnh mẽ đó, nền nông nghiệp Việt Nam như đang chạy theo số lượng mà bỏ qua vấn đề chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Thời gian gần đây, vấn đề này đang gây nhiều nhức nhối cho xã hội mà như vẫn chưa được giải quyết một cách triệt
để Trong năm 2015, toàn quốc ghi nhận 171 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.965 người mắc và 23 trường hợp tử vong (Ánh Huyền, 2012)
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Về quy hoạch kinh
tế trước đây Bắc Giang nằm trong vùng trung du và miền núi phía Bắc, từ năm
2012 là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội Bắc Giang có diện tích đất nông nghiệp 276 nghìn ha, chiếm 71,68% tổng diện tích đất tự nhiên, có điều kiện để phát triển đa dạng các giống cây trồng vật nuôi nhiệt đới, á nhiệt đới, gieo trồng nhiều vụ trong năm Đây là lợi thế có thể phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, tạo ra những sản phẩm nông nghiệp đặc thù hơn so với các tỉnh trung du miền núi và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Bước đầu đã hình thành một số sản phẩm nông nghiệp hàng hóa tập trung như: lúa chất lượng cao 26.000
ha, sản lượng 148 nghìn tấn, vải thiều 32.000 ha, sản lượng 160-200 nghìn tấn; cây rau đậu hàng năm đạt 24.000 ha, sản lượng đạt khoảng 380 nghìn tấn (trong đó: rau chế biến, rau an toàn 4.500 ha, sản lượng 85.000 tấn) Diện tích gieo trồng lạc 12.000 ha, sản lượng đạt 29.000 tấn; đàn lợn duy trì ổn định 1,2 triệu con, sản lượng thịt hơi đạt 164 nghìn tấn; đàn gà 14,6 triệu con, sản lượng 45,5 nghìn tấn… (Sở Công Thương Bắc Giang, 2016)
Trang 17Bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ
lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh Mặc dù cho đến nay đã có khá nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong công tác bảo đảm về vệ sinh an toàn thực phẩm, cũng như biện pháp về quản lý giáo dục
và thanh tra giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng tỷ lệ người mắc các bệnh
do chất lượng về vệ sinh thực phẩm chiếm tỷ lệ khá cao Năm 2016 được xác định là năm cao điểm vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp, để tăng cường công tác quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp, ngày 05/4/2016, UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành Kế hoạch số 858/KHUB-NN về “Kế hoạch hành động năm cao điểm vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp năm 2016”, với mục tiêu: “Đảm bảo chất lượng
an toàn thực phẩm sản phẩm nông, lâm, thủy sản nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, lợi ích người tiêu dùng, giữ vững uy tín về chất lượng sản phẩm của địa phương trên thị trường, góp phần phát triển kinh tế xã hội và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tiếp tục ngăn chặn, xử lý dứt điểm sử dụng chất cấm, lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; giảm thiểu rõ nét vi phạm về tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh, chất bảo quản, phụ gia trong các sản phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành nông nghiệp”
Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về quản lý vệ sinh toàn thực phẩm, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Câu hỏi đặt ra là: Nghiên cứu tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp dựa trên cơ sở lý luận nào? Thực trạng quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang hiện nay như thế nào? Có những bất cập gì cần giải quyết? Yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang? Các giải pháp tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang là gì? Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang”
Trang 181.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thời gian qua đề xuất giải pháp tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thời gian tới
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản
lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp
Đối tượng điều tra là các cán bộ làm công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp ở các tuyến từ huyện đến xã
Nhóm người sản xuất, kinh doanh các loại nông sản, kinh doanh vật tư nông nghiệp
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp, trong đó tập trung vào quá trình sản xuất ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi Phân tích các yếu tố ảnh hưởng từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp
Trang 19Thời gian thực hiện đề tài từ 5/2016 – 5/2017
Giải pháp đề xuất đến năm 2020
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp; Đánh giá thực trạng công tác quản lý vệ sinh an toàn thực và Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đến năm 2020
Trang 20PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về quản lý
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:
Theo F.W Taylor (1956) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học” tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.”
Theo Henry Fayol (1916) là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình
và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận – hiện đại tới nay, quan niệm rằng: “Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của
cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra”
Từ những cách tiếp cận khác nhau, ta có thể hiểu quản lý như sau:
Quản lý là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm đưa ra các quyết định Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những cộng sự trong cùng một tổ chức
Quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được những mục đích của tổ chức
2.1.1.2 Khái niệm thực phẩm
Thực phẩm hay còn được gọi là thức ăn là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm chủ yếu các chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein), hoặc nước, mà con người hay động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích cơ bản là thu nạp các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích Quan trọng nhất khái niệm thực phẩm lại tùy thuộc vào mỗi vùng miền mỗi con người Có những thứ nơi này được coi là thực phẩm nhưng nơi khác thì không Ví dụ: ở phương Tây họ không xem lục phủ ngũ tạng là thực phẩm nhưng
Trang 21người phương Đông lại xem đó là nguồn thực phẩm tuyệt vời Các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật, động vật, vi sinh vật hay các sản phẩm chế biến từ phương pháp lên men như rượu, bia Mặc dù trong lịch sử thì nhiều nền văn minh
đã tìm kiếm thực phẩm thông qua việc săn bắn và hái lượm, nhưng ngày nay chủ yếu là thông qua gieo trồng, chăn nuôi, đánh bắt và các phương pháp khác Phần lớn các nền văn hóa đều có nghệ thuật ẩm thực Văn hóa ẩm thực là một tập hợp
cụ thể của các truyền thống, thói quen, sở thích, cách thức chọn lựa thực phẩm và tập quán trong nấu ăn Việc nghiên cứu các khía cạnh của ẩm thực gọi là khoa học về nghệ thuật ẩm thực Nhiều nền văn hóa đã đa dạng hóa các chủng loại thực phẩm của mình bằng các phương pháp chế biến, nấu nướng và sản xuất Bên cạnh đó, việc buôn bán các loại lương thực, thực phẩm cũng tạo điều kiện để các nền văn hóa đa dạng hóa hơn nữa các chủng loại thực phẩm của mình Trong khi con người, về bản chất là động vật ăn tạp, thì tôn giáo và các định kiến xã hội, chẳng hạn như các tiêu chuẩn luân lý, thường có ảnh hưởng tới các chủng loại thực phẩm mà xã hội đó tiêu thụ (Trần Đáng, 2007)
Thực phẩm: Là những sản phẩm dùng cho việc ăn, uống của con người ở dạng nguyên liệu tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc
lá và các chất sử dụng như dược phẩm (Trần Đáng, 2007)
2.1.1.3 Khái niệm vệ sinh thực phẩm
Vệ sinh thực phẩm là một khái niệm khoa học để nói thực phẩm không chứa vi sinh vật gây bệnh và không chứa độc tố Ngoài ra vệ sinh thực phẩm còn bao gồm cả nội dung như tổ chức vệ sinh trong vận chuyển chế biến và bảo quản thực phẩm
Là mọi điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn và phù hợp của thực phẩm ở mọi khâu thuộc chu trình thực phẩm (Trần Đáng, 2007)
2.1.1.4 Khái niệm an toàn thực phẩm
An toàn thực phẩm hiểu theo nghĩa hẹp và một môn khoa học dùng để mô
tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra Hiểu theo nghĩa rộng,
an toàn thực phẩm là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người tiêu dùng Đây là một vấn đề và nguy cơ rất lớn mà các nước đang phát triển đã và đang phải đối mặt
Trang 22Là sự bảo đảm thực phẩm không gây hại cho người tiêu dùng khi nó được chuẩn bị hoặc ăn theo mục đích sử dụng (Trần Đáng, 2007)
2.1.1.5 Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm
Là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển, cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khoẻ người tiêu dùng
Theo các chuyên gia của Tổ chức Lương Nông (FAO) và tổ chức y tế thế giới (WHO, 2000) thì: “Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng Quan niệm này rất đầy đủ, lột tả được bản chất của vấn đề nhưng để ngắn gọn và dễ hiểu mà vẫn bao hàm được ý nghĩa trong quản lý nhà nước, khái niệm được chấp nhận hơn cả là: “Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người, không chứa các tác nhân sinh học, hóa học, lý học quá giới hạn cho phép” (Trần Thị Khúc, 2014)
2.1.1.6 Khái niệm quản lý nhà nước
Khái niệm quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội và công dân
Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực hiện quyền lực nhà nước, là tổng thể và thể chế về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhà nước (lập pháp, hiến pháp, tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp (công quyền) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đó giao quyền trong việc tổ chức và điều khiển các quan hệ xã hội và hành vi của con người (Mai Hữu Khuê, 2003) Quản lý nhà nước tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu nhất định
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt dộng của con
Trang 23người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội (Mai Hữu Khuê, 2003)
2.1.1.7 Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động về vệ sinh an toàn thực phẩm
Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là quản lý theo ngành
do nhiều cơ quan thực hiện Đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, cơ chế và chính sách phát triển lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội (Trần Thị Khúc, 2014)
Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh và người tiêu dùng trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về VSATTP
Quản lý nhà nước về VSATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, chiến lược, kế hoạch có liên quan đến vấn đề VSATTP và công tác tổ chức tuyên truyền, giáo dục, công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý và nghiên cứu khoa học (Trần Thị Khúc, 2014)
2.1.2 Đặc điểm quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp là quản lý Nhà nước Chính vì vậy, nó mang các đặc điểm của quản lý nhà nước về vệ sinh
an toàn thực phẩm
Quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động về vệ sinh an toàn thực phẩm (Trần Thị Khúc, 2014)
Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là quản lý theo ngành do nhiều cơ quan thực hiện Đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, cơ chế và chính sách phát triển lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội (Đỗ Mai Thành, 2010)
Trang 24Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của Nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh và người tiêu dùng trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thểnày thực hiện tốt các vấn đề về VSATTP (Trần Đáng, 2008)
Quản lý nhà nước về VSATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, chiến lược, kế hoạch
có liên quan đến vấn đề VSATTP và công tác tổ chức tuyên truyền, giáo dục, công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý và nghiên cứu khoa học (Tuấn Dũng, 2010)
2.1.3 Vai trò của quản lý VSATTP trong sản xuất nông nghiệp
Trong những năm gần đây vấn đề VSATTP đang diễn ra ngày càng trầm trọng, nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xẩy ra liên tiếp, gây thiệt hại nhiều đến tính mạng con người và tiền của Trước những diễn biến đó thì vai trò của nhà nước đặc biệt quan trọng Trước hết nhà nước thông qua việc hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến VSATTP để hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm có định hướng để sản xuất thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Ngoài ra, thông qua các văn bản chính sách, nhà nước cũng quy định rõ nhiệm vụ quản lý của từng Bộ, ngành và các cấp chính quyền quản lý chặt chẽ vấn đề VSATTP (Trần Thị Khúc, 2014)
Thông qua việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch có liên quan đến VSATTP, nhà nước sẽ trực tiếp quản
lý vấn đề VSATTP nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện về sản xuất, chế biến cũng như tiêu dùng của tất cả các mặt hàng thực phẩm Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật cũng như đội ngũ thanh tra các cấp để quản lý vấn đề VSATTP Các bộ phận này có trách nhiệm riêng biệt để thanh tra, kiểm tra lập lại trật tự sản xuất, kinh doanh theo đúng yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà nước Các Bộ, ngành có liên quan phối hợp với Bộ Y tế để cùng quản lý các vấn đề liên quan đến ATVSTP (Trần Thị Khúc, 2014)
Nhà nước tổ chức tuyên truyền, giáo dục về VSATTP cho nhân dân để nâng cao ý thức và hiểu biết vấn đề này Chỉ đạo tổ chức tháng hành động vì
Trang 25chất lượng VSATTP, đẩy mạnh công tác phòng chống, công tác tuyên truyền, giáo dục đạt hiệu quả Như vậy, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định trong mọi lĩnh vực có liên quan đến thực phẩm từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng
Mặt khác, Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm định hướng phát triển, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế
xã hội trong từng thời kỳ Công tác quản lý chất lượng thực phẩm ra đời và phát triển cùng với các hoạt động của đời sống kinh tế và xã hội, công tác quản lý VSATTP có vai trò quan trọng, tác động nhiều mặt và sâu sắc đến hầu khắp các lĩnh vực, từ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cho đến việc bảo vệ môi trường, an toàn sức khoẻ con người, đảm bảo công bằng và lợi ích quốc gia Trong nền kinh tế phát triển sôi động như hiện nay thì vai trò quản lý của nhà nước ngày càng trở lên quan trọng Vai trò của quản lý nhà nước về VSATTP trước hết phải là vai trò định hướng và đảm bảo cho hoạt động có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế mang tính dẫn dắt và chỉ hướng Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu, mà muốn đẩy mạnh xuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Như vậy, định hướng cơ bản về công tác VSATTP hiện nay là đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Làm tốt công tác này sẽ giúp hàng hoá của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế Cơ quan nhà nước là nơi tập hợp, đề xuất và ban hành các tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp (Trần Thị Khúc, 2014)
Vai trò không thể thiếu của quản lý nhà nước về VSATTP là việc đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc Thông qua việc quy định và kiểm soát về vệ sinh, an toàn, môi trường, Nhà nước đảm bảo sản phẩm, hàng hóa, nguyên vật liệu…nhập khẩu vào Việt Nam phải bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho môi trường tự nhiên và xã hội Bằng các hoạt động kiểm tra giám sát thường xuyên ở các khu vực cửa khẩu các khu vực buôn bán để kịp thời phát hiện và xử lý những vi phạm
Nhờ có vai trò quản lý của nhà nước về VSATTP đã tạo niềm tin đối với người tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng cảm thấy yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ trên thị trường
Trang 26Mặt khác, vai trò của nhà nước còn thể hiện ở chỗ đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Định hướng cho công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo đúng chủ trương chính sách đã đề ra Hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm (Trần Đáng, 2008)
Thông qua việc hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến VSATTP để hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm có định hướng để sản xuất thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Thông qua việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch có liên quan đến VSATTP, việc quản lý VSATTP có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện về sản xuất, chế biến cũng như tiêu dùng của tất cả các mặt hàng thực phẩm từ lĩnh vực nông nghiệp
Quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm định hướng phát triển, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời
kỳ Công tác quản lý chất lượng thực phẩm ra đời và phát triển cùng với các hoạt động của đời sống kinh tế và xã hội, công tác quản lý VSATTP có vai trò quan trọng, tác động nhiều mặt và sâu sắc đến hầu khắp các lĩnh vực, từ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cho đến việc bảo vệ môi trường,
an toàn sức khoẻ con người, đảm bảo công bằng và lợi ích quốc gia
Trong nền kinh tế phát triển sôi động như hiện nay thì vai trò quản lý về VSATTP trong lĩnh vực nông nghiệp trước hết phải là vai trò định hướng và đảm bảo cho hoạt động có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế mang tính dẫn dắt và chỉ hướng Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, mà muốn đẩy mạnh xuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Như vậy, định hướng cơ bản về công tác VSATTP trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay là đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Làm tốt công tác này sẽ giúp hàng hoá nông sản của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế (Trần Đáng, 2008)
Vai trò không thể thiếu của quản lý về VSATTP trong lĩnh vực nông nghiệp
Trang 27là việc đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc Thông qua việc quy định và kiểm soát
về vệ sinh, an toàn, môi trường Từ đó đảm bảo sản phẩm, hàng hóa, nguyên vật liệu…nhập khẩu vào Việt Nam phải bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho môi trường tự nhiên và xã hội Bằng các hoạt động kiểm tra giám sát thường xuyên ở các khu vực cửa khẩu các khu vực buôn bán để kịp thời phát hiện và xử lý những vi phạm
Quản lý về VSATTP trong lĩnh vực nông nghiệp đã tạo niềm tin đối với người tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng cảm thấy yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ trên thị trường
2.1.4 Nguyên tắc quản lý VSATTP trong sản xuất nông nghiệp
Theo quy định của Luật an toàn thực phẩm năm 2010, nguyên tắc quản lý
an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp tuân theo nguyên tắc chung của quản lý VSATTP, được quy định như sau:
Đảm bảo an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân
sản xuất, kinh doanh thực phẩm
Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm
do mình sản xuất, kinh doanh
Quản lý an toàn thực phầm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do
tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng
Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành
Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội 2.1.5 Nội dung quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp 2.1.5.1 Công tác ban hành các văn bản quản lý
An toàn thực phẩm có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Một trong những nguyên nhân gây mất an toàn thực phẩm đó là thuốc BVTV, thành phần thuốc BVTV có chứa những hoạt chất độc gây ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe con người và môi trường sinh thái nên cần có những quy định về các loại thuốc được sử dụng Do đặc điểm của ngành nông nghiệp, sản phẩm được tiêu
Trang 28dùng và hấp thụ chất dinh dưỡng vào cơ thể con người Các chính sách của Nhà nước về quản lý An toàn thực phẩm đã được đưa vào thực tiễn và triển khai, và nó không chỉ tập trung vào một ngành riêng biệt mà cần có sự phối hợp liên ngành, các cơ quan liên quan Việc thực thi chính sách đã từng bước đồng bộ và hợp lý
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch về vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm, các quy định và tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Ban hành các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính về vệ sinh an toàn thực phẩm và các quy định về chứng nhận y tế trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm (Trần Thị Khúc, 2014)
2.1.5.2 Xây dựng bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP đến nay đã được xây dựng hoàn chỉnh từ Trung ương đến địa phương Bố trí nguồn lực cho bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP đảm bảo hoạt động có hiệu quả (Quốc Hội, 2010)
2.1.5.3 Công tác tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm
Có nhiều kênh thông tin được truyền tải tới người sản xuất, các kênh thông tin tuyên truyền hiện nay được áp dụng phổ biến thường qua phát thanh địa phương và truyền hình Những thông tin được truyền tải đến người dân đa dạng và phong phú về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng chưa đi vào thực tiễn người dân đang sản xuất Cần có những kênh thông tin lưu động hơn, thực tiễn hơn với nhu cầu về thông tin vệ sinh an toàn thực phẩm của người dân (Trần Thị Khúc, 2014)
2.1.5.4 Công tác tập huấn, nâng cao trình độ sản xuất và quản lý
Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về vệ sinh an toàn thực phẩm cho đội ngũ cán bộ làm công tác ATVSTP theo các hình thức sau:
+ Đào tạo chứng chỉ;
+ Đào tạo thường xuyên;
+ Đào tạo nâng cao chuyên môn nghiệp vụ;
+ Đào tạo sau đại học về an toàn vệ sinh thực phẩm
Đào tạo bồi dưỡng kiến thức sản xuất nông nghiệp sạch cho các hộ nông dân đảm bảo cho an toàn vệ sinh thực phẩm từ đầu vào cho sản xuất (Trần Thị Khúc, 2014)
Trang 292.1.5.5 Thực hiện quản lý vệ sinh ATTP trong sản xuất nông nghiệp
Trong quá trình quản lý, sự phối kết hợp giữa các cơ quan trong bộ máy quản lý, các ban ngành, đoàn thể để có sự phối hợp tốt nhất, tránh sự chồng chéo trong quản lý, sự đun đẩy trách nhiệm trong quá trình hoạt động Nhà nước cần quy định chức năng, vai trò, nhiệm vụ cho từng bộ phận cụ thể trong quản lý nói chung và trong quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng Trong quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm các cơ quan chủ yếu là Bộ NN&PTNT, Cục BVTV, cơ quan Quản lý thị trường, Sở Tài nguyên và môi trường, cảnh sát Môi trường từ Trung ương đến địa phương đặc biệt là chính quyền cơ sở Đồng thời việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện có tính hệ thống, logic sẽ giúp việc quản lý chủ động hơn
Việc quản lý đòi hỏi nhiều cơ quan khác nhau, có chức năng nhiệm vụ khác nhau nhưng hoạt động theo một mục tiêu nhất định Sự phối hợp, điều hành chặt chẽ giữa cơ quan các cấp tạo điều kiện cho việc truyền tải và tiếp nhận thông tin giữa các cơ quan quản lý một cách hiệu quả Chính quyền địa phương là cơ quan gần gũi và tiếp xúc thường xuyên, trực tiếp với người kinh doanh cũng như người sản xuất, giám sát người buôn bán, sử dụng trong quá trình thực hiện quy định của Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm (Trần Thị Khúc, 2014)
Phối hợp cơ quan quản lý với chính quyền địa phương: chính quyền địa phương là nơi đầu tiên tiếp nhận được thông tin về tình hình kinh doanh, sử dụng thuốc hàng ngày của các cửa hàng kinh doanh và người nông dân Thông tin này
sẽ được chính quyền địa phương báo cáo lên các cơ quan chuyên môn để có biện pháp xử lý Đây cũng là cầu nối, cung cấp thông tin thường xuyên giữa cơ quan chuyên môn đến người kinh doanh vật tư nông nghiệp, người sản xuất, trực tiếp giám sát quá trình thực hiện các quy định của cơ quan quản lý trên địa phương mình Khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý cấp trên và chính quyền địa phương thông tin sẽ được cập nhật nhanh hơn, công tác quản lý, giám sát của
cơ quan cấp trên sẽ nhanh chóng và thuận lợi hơn Phối hợp giữa cơ quan quản lý với cơ quan chuyên môn: cơ quan chuyên môn ở đây chủ yếu là Chi cục BVTV, Chi cục Khuyến nông Sự phối kết hợp giữa các cơ quan này giúp việc kiểm soát thực hiện một cách liên tục (Trần Thị Khúc, 2014)
2.1.5.6 Kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm
Quản lý kinh doanh vật tư nông nghiệp: bao gồm việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận sản xuất, kinh doanh; quản lý về loại thuốc, loại phân bón, loại chế phẩm, nhãn mác, đảm bảo môi trường….của Chi cục BVTV cho cá nhân, tổ chức
Trang 30tham gia sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói thuốc BVTV; việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm đối với doanh nghiệp vi phạm… (Quốc Hội, 2010) Quản lý sản xuất nông nghiệp: bao gồm kiểm tra, giám sát, xử lý việc sản xuất nông nghiệp của nông dân theo các nguyên tắc sản xuất Quản lý việc sử dụng bảo hộ lao động trong khi sử dụng thuốc, vệ sinh dụng cụ, xử lý bao bì thuốc thừa, thời gian ngưng thuốc tới khi thu hoạch, tồn dư thuốc BVTV (Quốc Hội, 2010)
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp
2.1.6.1 Các chủ trương, chính sách, quy định
Chính sách, pháp luật là những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành hệ thống từ trung ương đến địa phương Lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm là lĩnh vực rộng, trong quá trình hoạt động có nhiều sự việc phải giải quyết Với hệ thống chính sách, pháp luật chặt chẽ, đầy đủ, thì việc giải quyết
sự việc, tình huống sẽ triệt để và nhanh chóng kịp thời
2.1.6.2 Huy động nguồn lực quản lý
Cán bộ quản lý và cán bộ làm công tác an toàn vệ sinh thực phẩm làm trong các cơ quan từ Trung ương đến địa phương bao gồm: Cục An toàn thực phẩm, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm các tỉnh/thành phố, cán bộ chuyên trách, CTV ATVSTP
Cán bộ làm công tác Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm là toàn bộ những người được phân công làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm và trực tiếp theo dõi, chịu trách nhiệm đối với các hoạt động liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm
Trình độ của cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm được thể hiện thông qua bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn mà họ được đào tạo Việc phân công nhiệm vụ phù hợp hay không phù hợp với chuyên môn được đào tạo cũng ảnh hưởng đến kết quả công việc được giao Ngoài ra ý thức trách nhiệm đối với công việc của người làm công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm đóng vai trò quan trọng Ngoài việc có chuyên môn thì ý thức trách nhiệm quyết định chính trong việc hoàn thành nhiệm vụ hay không và hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ nào Một số chỉ tiêu thể hiện trình độ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về
an toàn vệ sinh thực phẩm :
Trang 31- Số lượng cán bộ;
- Trình độ chuyên môn được đào tạo;
- Kết quả công tác của mỗi cán bộ
Nguồn nhân lực là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc quản lý nhà nước
về an toàn vệ sinh thực phẩm Bởi lẽ yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định trong sự thành công của mọi vấn đề Khi đã sử dụng yếu tố con người hợp lý với năng lực, sở trường với chuyên môn của họ thì mới đạt được mục đích và nâng cao kết quả trong công việc nói chung và trong quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm nói riêng
2.1.6.3 Sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý
Liên kết, phối kết hợp là cùng nhau làm việc theo một kế hoạch chung để đạt mục đích chung Đó là một trong những kỹ năng quan trọng của nhà quản
lý Bởi lẽ mỗi người, mỗi đơn vị chỉ có thời gian, năng lực để làm một lĩnh vực nào đó, không thể bao quát tất cả các lĩnh vực Cơ quan y tế trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm là cơ quan thường trực, đầu mối của Ban chỉ đạo liên ngành về VSATTP Vì vậy giữa cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm với các cơ quan liên quan cần có sự phối hợp với nhau để việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đạt được kết quả tốt, thông qua các cuộc thanh tra liên ngành được tổ chức thường xuyên, liên tục vào các dịp cao điểm trong năm như: Tết Nguyên đán, tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tết Trung thu hay thanh tra theo chuyên đề Phối kết hợp trong các hoạt động thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền, đào tạo, nghiên cứu khoa học hay trong hoạt động kiểm nghiệm…Thường xuyên duy trì phối hợp với các cơ quan thông tin như: Đài, báo, truyền hình…đưa tin các hoạt động của cơ quan quản
lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, qua đó tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Sau khi gia nhập WTO, nhất là từ năm 2002, Thái Lan đã tích cực nâng cao chất lượng và tiêu chuẩn đối với các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và tăng cường vai trò của các cơ quan quản lý thực phẩm; triển khai các chương trình tuyên truyền, quảng bá về độ an toàn của thực
Trang 32phẩm Thái Lan; xây dựng hệ thống cơ quan kiểm soát an toàn thực phẩm hiệu quả đểm kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về về sinh an toàn thực phẩm (Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, 2015)
Xây dựng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm
Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan đã thúc đẩy việc xây dựng các tiêu chuẩn đối với hàng nông sản được áp dụng cho ba nhóm bao gồm thực vật, động vật nuôi và cá, được xây dựng trên cơ sở bộ tiêu chuẩn và hướng dẫn quốc
tế của nhóm các tổ chức Chương trình tiêu chuẩn thực phẩm của FAO/WHO (FAO/WHO Food Standards Programme (Codex)), Công ước quốc tế về bảo vệ thực vật (International Plant Protection Convention (IPPC)) và Văn phòng quốc
tế về bệnh dịch động vật (Office International des Epizootic (OIE)) Ngoài ra, nội dung của Bộ tiêu chuẩn cũng tương thích với các thông số khoa học, các tiêu chuẩn và quy định của các quốc gia tiên tiến (Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, 2015)
Tiêu chuẩn đối với hàng nông sản thuộc sự quản lý của Cục tiêu chuẩn thực phẩm và hàng nông sản (ACFS) Các tiêu chuẩn này bao trùm mọi yếu tố về an toàn và vệ sinh dịch tễ đối với sức khỏe của con người, động vật và thực vật 8 bước xây dựng quy trình, tiêu chuẩn của ACFS bao gồm: (i) Xác định thứ tự ưu tiên của đối tượng cần xây dựng tiêu chuẩn; (ii) Thành lập một ủy ban kỹ thuật
để soạn thảo; (iii) Soạn thảo dự thảo tiêu chuẩn; (iv) Thành lập ủy ban đánh giá; (v) Lấy ý kiến của tất cả các bên có liên quan; (vi) Trình ủy ban kiểm soát và Hội đồng ACFS; (vii) Thông báo với WTO và các nước thành viên (đối với những tiêu chuẩn bắt buộc phải thông báo); (viii) Đăng công báo (Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, 2015)
Thái Lan áp dụng quy trình Good Agriculture Practices (GAP) trong sản xuất hàng nông sản nên được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng Đa
số nông dân được chính phủ hướng dẫn và hỗ trợ cặn kẽ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn GAP từ khâu chọn cây giống cho đến bón phân, thu hoạch, chế biến
và bảo quản sau thu hoạch Trong khâu tiêu thụ có sự kết hợp giữa các nhà bán lẻ với hệ thống siêu thị rồi từ đó chia nhỏ ra thành những đại lý ở nhiều nơi để thu mua hàng hóa tại nơi sản xuất Một số nơi có thể cử nhân viên đến giám sát và thẩm tra thường xuyên quá trình sản xuất, ghi chép vào sổ sách và xem xét độ an toàn và phù với tiêu chuẩn đề ra của quy trình sản xuất (Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, 2015)
Trang 33Bên cạnh đó, Thái Lan cũng đã xây dựng hệ thống kiểm soát nhập khẩu nhằm quản lý chất lượng các loại thực phẩm, hóa chất cũng như kiểm soát dịch bệnh xâm nhập
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát động các chiến dịch về an toàn thực phẩm
Hàng năm, Thái Lan sản xuất một lượng lớn nông sản và thực phẩm và đặc biệt quan tâm tới việc tuyên truyền về về sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, chính phủ Thái Lan phát động là “năm an toàn thực phẩm” để tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân và các cơ sở sản xuất và chế biến thực phẩm quan tâm tới sức khỏe con người Đặc biệt, Thái Lan thường xuyên tổ chức chương trình “Bếp ăn của thế giới” để tuyên truyền, quảng bá về thực phẩm Thái Lan trên toàn thế giới Nhờ đó, người tiêu dùng kể cả Thái Lan và quốc tế đều thể hiện sự tin tưởng đối với chất lượng thực phẩm của nước này
Chính phủ Thái Lan cũng đã kêu gọi các nhân tố tham gia vào các khâu nuôi trồng và chế biến thực phẩm đều phải đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm; đồng thời tăng cường thúc đẩy các kế hoạch kiểm soát
an toàn thực phẩm để ngăn chặn và giảm thiểu nguy cơ ngộ độc thực phẩm và các bệnh từ thực phẩm không an toàn trong toàn bộ quy trình sản xuất và chế biến (thường được gọi là các chiến lược “từ trang trại tới bàn ăn”, “từ trang trại tới dĩa ăn”) (Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, 2015)
Xây dựng hệ thống cơ quan kiểm soát an toàn thực phẩm
Thái Lan đã ban hành chương trình an toàn thực phẩm quốc gia (National Food Safety Program) và đã xây dựng hệ thống kiểm soát thực phẩm để nâng cao trách nhiệm của các bộ, ngành, lĩnh vực Thái Lan đảm bảo an toàn và dinh dưỡng cho thực phẩm nước này Trong đó:
Bộ Y tế kiểm soát thực hiện các quy định bởi đạo luật Thực phẩm B.E
2522 (1979) và đạo luật dược phẩm B.E 2510 (1967) quy định về thuốc thú y
và tiền chất Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã kiểm soát thực hiện quy định bởi đạo luật Thủy sản B.E 2490 (1947), đạo luật bảo vệ đa dạng thực vật B.E 2542 (1999), đạo luật về nhập khẩu và tạm nhập tái xuất động vật B.E 2535 (1992), đạo luật kiểm soát chất lượng thức ăn B.E 2542 (1999) Bộ Công nghiệp kiểm soat các quy định của đạo luật chất lượng hàng hóa công nghiệp B.E 2511 (1968) Bộ Thương mại kiểm soát thực hiện các quy định của đạo luật kiểm
Trang 34soát chất lượng hàng hóa xuất nhập khẩu B.E 2522 (1979) (Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, 2015)
Các cơ quan tổ chức tham gia vào hệ thống đảm bảo an toàn thực phẩm tại Thái Lan:
- Bộ Y tế: Cục quản lý chất lượng thực phẩm và dược phẩm (FDA); Cục khoa học dược phẩm (DMSc); Cục y tế (DOH); Văn phòng bí thư thường trực; Trung tâm an toàn thực phẩm;
- Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã: Cơ quan quốc gia về tiêu chuẩn thực phẩm và hàng nông sản (ACFS); Cục Thủy sản; Cục Nông nghiệp; Cục Phát triển vật nuôi
Chế tài đối với các vi phạm liên quan an toàn thực phẩm
Theo đạo luật thực phẩm Food Act B.E 2522 (1979) các vi phạm về an toàn thực phẩm có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù tùy theo mức độ vi phạm các điều khoản của đạo luật Mức hình phạt tối đa lên tới 100 nghìn Bạt và hình phạt tù tối
đa 10 năm Theo đạo luật này, việc áp đặt hình phạt do Tổng thư ký của Cục Thực phẩm và dược phẩm (FDA) Bộ Y tế quy định hoặc người do Tổng thư ký FDA chỉ định Các vi phạm nghiêm trọng, gây ra hậu quả xấu sẽ được điều tra và chuyển tới cơ quan cảnh sát hoàng gia Thái Lan xử lý hình phạt tù nếu cần thiết (Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan, 2015)
Các chính sách trên của Thái Lan đã huy động được sự phối hợp của các bên liên quan như các cơ quan chính phủ, ngành công nghiệp thực phẩm, nông dân, truyền thông, các viện, trường, và đông đảo công chúng tham gia và đã tạo được hiệu ứng tốt giúp Thái Lan có nhiều thành tựu trong việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm và được ghi nhận, đánh giá cao Thái Lan đã được chọn là quốc gia chủ nhà để tổ chức diễn đàn toàn cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm lần thứ hai (FAO/WHO Global Forum of Food Safety Regulators - GF2) để phố biến kinh nghiệm và trao đổi thông tin nhằm bảo vệ sức khỏe con người trên toàn cầu Thái Lan cũng được chỉ định làm trung tâm mạng lưới an toàn thực phẩm ASEAN
Tóm lại, Thái Lan là một trong những quốc gia quan tâm sớm tới việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đã ban hành các chính sách hợp lý, trong đó huy động được đông đảo các lực lượng từ chính phủ, các tổ chức xã hội tới người dân nâng cao trách nhiệm trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm
Trang 35bảo sức khỏe cho người dân cũng như phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm phục vụ xuất khẩu Những kinh nghiệm trên có giá trị tham khảo cho Việt Nam trong việc thực hiện kế hoạch đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo
vệ người tiêu dùng trong cả nước, thúc đẩy việc đạt các tiêu chuẩn quốc tế để thực phẩm Việt Nam có thể xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới, nhất là trong bối cảnh ta đang có điều kiện thuận lợi khi vừa kết thúc đàm phán một loạt các khu vực thương mại tự do với các khu vực và quốc gia trên thế giới
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Canada
Theo nghiên cứu thuộc dự án hợp tác VECO – IPSARD (2012), Canada là một trong số những quốc gia thực hiện rất tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong những năm gần đây
Đối với trang trại chăn nuôi gia cầm, Cơ quan quản lý an toàn thực phẩm Canada (CFIA) phối hợp với Hiệp hội ngành hàng thịt gà áp dụng chương trình
“On farm Food Safety Program” (chương trình Quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm trong trang trại) Đây là chương trình áp dụng tự nguyện Chương trình được xây dựng bởi các Hiệp hội phối hợp với các trang trại Việc xây dựng, áp dụng và công nhận chương trình gồm 03 bước Cơ quan CFIA chịu trách nhiệm đánh giá kỹ thuật ban đầu và công nhận chương trình (Viện chính sách và chiến lược PTNT, 2012)
Việc kiểm soát ATVSTP trong khâu giết mổ tại Canada rất chặt chẽ Cơ quan CFIA chịu trách nhiệm thanh tra các cơ sở giết mổ đăng ký cấp Liên bang
Bộ Nông nghiệp Thủy sản và thực phẩm các tỉnh chịu trách nhiệm thanh tra các
cơ sở giết mổ cấp tỉnh Sự khác nhau giữa các cơ sở đăng ký cấp Liên bang và cấp tỉnh ở chỗ chỉ các cơ sở đăng ký cấp Liên bang mới được phép xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài hoặc ra ngoài tỉnh khác trong nước Canada (Viện chính sách
và chiến lược PTNT, 2012)
Mặc dù khác nhau về cấp quản lý, cơ quan thanh tra kiểm soát, nhưng đối với bất kỳ cơ sở giết mổ nào cũng phải kiểm soát ATVSTP theo quì trình nghiêm ngặt và chặt chẽ dựa trên nguyên tắc cơ bản Chương trình này được CFIA áp dụng bắt buộc đối với cơ sở giết mổ gia cầm
Ngoài ra, hiệp hội thiết lập và quản lý các kế hoạch chung tổng thể, đặc biệt là hỗ trợ kế hoạch marketing tập trung(collective marketing) trong việc xúc tiến thương mại, quảng bá cho các sản phẩm của đơn vị sản xuất Nhiều lợi ích
Trang 36của các nhà sản xuất cũng được thấy rõ Liên Hiệp hội xây dựng kế hoạch sản xuất, giết mổ sản lượng thịt gia cầm trong toàn Liên bang, cho từng tỉnh và cấp Quota hàng năm cho từng lò giết mổ Ngoài ra, với Thỏa thuận marketing mà Hiệp hội đưa ra đã thiết lập một mối liên hệ trực tiếp giữa nhà sản xuất và nhà chế biến, tạo ra một mối quan hệ tốt hơn giữa người mua và các nhà sản xuất được giao Các nhà sản xuất được đảm bảo bán đúng sản lượng sản xuất ra dựa trên công suất của nhà máy giết mổ Ngược lại, nhà sản xuất cũng phải đồng ý đảm bảo cung cấp hàng hóa cho các nhà máy chế biến Hằng năm với một khoản lệ phí nhất định, các nhà sản xuất đóng góp cho Quỹ của Liên hiệp để Liên hiệp có thể tiến hành các công tác nghiên cứu và quảng bá (Viện chính sách và chiến lược PTNT, 2012)
2.2.1.3 Kinh nghiệm của Mỹ
Kinh nghiệm của Hoa Kỳ trong việc đẩy mạnh công tác an toàn thực phẩm tại thị trường rộng lớn, đa dạng và phức tạp này là liên tục xem xét, bổ sung các qui định mới về an toàn thực phẩm và xây dựng một hệ thống thực hiện có tính đồng bộ, nguyên tắc cao Mới đây nhất, các quy định mới của Luật Hiện đại hóa
an toàn thực phẩm (FSMA) được Cơ quan quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm Mỹ (FDA) đưa vào áp dụng từ nay (năm 2012) đến đầu năm 2016 (Viện chính sách
và chiến lược PTNT, 2012)
Các quy định mới được thực hiện theo bốn nguyên tắc gồm ngăn ngừa, tăng cường kiểm tra, đảm bảo tính an toàn cho thực phẩm và tăng cường quan hệ đối tác Các quy định mới trong Luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm cho hàng hóa đòi hỏi chi tiết hơn, hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ trên mỗi sản phẩm phải tuân thủ đầy đủ kể từ cách thức ghi nhãn (Viện chính sách và chiến lược PTNT, 2012) Ngoài một số yêu cầu chung phải đáp ứng đầy đủ như tên loại sản phẩm, trọng lượng, thành phần nguyên liệu, tùy theo từng mặt hàng mà Luật Hiện đại
an toàn thực phẩm còn có quy định riêng Cụ thể, ngôn ngữ ghi trên nhãn sản phẩm phải dùng song ngữ, trong đó tiếng Anh là bắt buộc và phải chú ý khâu dịch thuật cần chuẩn xác Trước kia, tùy theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, ngoài tiêu chuẩn chung của thị trường, doanh nghiệp sẽ được yêu cầu hàng hóa đảm bảo đạt chuẩn theo các tiêu chuẩn chứng nhận khác do bên thứ ba cấp Việc đáp ứng tốt sẽ giúp doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm so với hàng hóa cùng loại của nhà cung cấp khác (Viện chính sách và chiến lược PTNT, 2012)
Trang 37Luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm không yêu cầu FDA thanh tra các cơ
sở nhưng sẽ làm gia tăng việc thanh tra và yêu cầu các cơ sở phải đồng ý với việc thanh tra đó theo yêu cầu của FDA Một công ty có thể phải trả chi phí cho bất
kỳ việc thanh tra lại nào Cơ sở thực phẩm xuất khẩu sang Mỹ được FDA yêu cầu phải lên kế hoạch bằng văn bản cho việc phân tích mối nguy, kiểm soát phòng ngừa và các biện pháp khắc phục để cập nhật theo mỗi thay đổi trong hoạt động ba năm một lần Những hồ sơ này phải luôn sẵn sàng cho việc thanh tra của FDA Các doanh nghiệp nhỏ có thể được miễn hoặc ít nghiêm ngặt hơn trong việc thực hiện các yêu cầu này Mỗi doanh nghiệp nhỏ được định nghĩa là doanh nghiệp có doanh thu ít hơn 500.000 USD/năm Để hàng hóa thực phẩm, dược phẩm và đồ uống của Việt Nam có đủ tiêu chuẩn được nhập khẩu vào Mỹ, các nhà nhập khẩu được yêu cầu thiết lập các chương trình để xác nhận sự an toàn của tất cả các chuyến hàng nhập vào Mỹ bằng các chứng nhận an toàn cho mỗi chuyến hàng Quy định chỉ định những yêu cầu này đã chính thức được thi hành vào ngày 4/10/2012 FDA có thể thiết lập một chương trình các nhà nhập khẩu
đủ tiêu chuẩn, giảm bớt yêu cầu đối với một số nhà nhập khẩu vào ngày 04/7/2012 (Viện chính sách và chiến lược PTNT, 2012)
Bắt đầu từ năm 2012, mỗi cơ sở thực phẩm phải đăng ký lại với FDA hai năm một lần Việc đăng ký lại sẽ được yêu cầu phải thực hiện trong quý IV hàng năm và vào năm chẵn Cơ sở đặt bên ngoài Mỹ sẽ tiếp tục được yêu cầu phải chỉ định một đại diện tại Mỹ để FDA liên lạc theo Luật Chống khủng bố năm 2002 Luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm cho phép FDA có quyền nghi ngờ một
cơ sở sản xuất thực phẩm đã đăng ký nếu FDA cho rằng cơ sở sản xuất, chế biến đóng gói nhận hoặc lưu giữ hàng bởi cơ sở đó có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc gây tử vong cho con người hoặc động vật Luật cũng cho phép FDA có quyền hạn ra lệnh chứ không chỉ đơn thuần là yêu cầu các công ty thu hồi thực phẩm nhiễm khuẩn
Đối với tiêu chuẩn HACCP (phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn), FDA không yêu cầu bắt buộc nhưng từ tháng 7/2012, các sản phẩm hàng hóa xuất vào Mỹ sẽ phải đáp ứng quy trình sản xuất đạt chuẩn HACCP Hiện tại, Mỹ
đã áp dụng tiêu chuẩn này trên hai sản phẩm là hải sản và đồ uống Đến đầu năm
2013, Mỹ sẽ đưa vào áp dụng thêm quy định tiêu chuẩn an toàn sản xuất bắt buộc (CGMP) Tới đây, FDA sẽ tiến tới công nhận kết quả của các đơn vị chứng nhận bên thứ ba (Viện chính sách và chiến lược PTNT, 2012)
Trang 38Đối với hàng thực phẩm nhập khẩu vào Hoa Kỳ, các doanh nghiệp phải cung cấp thông tin trên nhãn mác về thành phần dinh dưỡng, nhà sản xuất phải ghi thêm hàm lượng axit béo chuyển hoá (TFA) ngay sau dòng về hàm lượng axít béo no (saturated) và chesterol Cục Quản lý Thực phẩm & Dược phẩm Mỹ (FDA) là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về nhập khẩu thực phẩm, với những quy định chặt chẽ Ngoài quy định của FDA, còn có các quy định riêng của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) và Cục Nghề cá Mỹ (NMFS) đối với một
số mặt hàng nông, thủy sản FDA cho biết, ở Mỹ chỉ quy định những kháng sinh được phép sử dụng, còn tất cả những kháng sinh khác ngoài danh mục đều bị cấm Cuối năm 2007, Tổng thống Mỹ đã ký một đạo luật quy định từ ngày 1/7/2012, tất cả các lô hàng nhập khẩu vào Mỹ từ bất kỳ quốc gia nào đều phải được soi chiếu tại cảng trước khi hàng hoá xuống tàu (Viện chính sách và chiến lược PTNT, 2012)
2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp
2.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Nam Định
An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) trong sản xuất nông nghiệp liên quan trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng, từ đó có ảnh hưởng đến sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, với người tiêu dùng chỉ có thể đánh giá vấn đề này ở khâu cuối khi sản phẩm đã được mang ra tiêu thụ hoặc đã
ở trên bàn ăn, còn việc bảo đảm ATVSTP trong suốt quá trình sản xuất thì nằm ngoài “tầm với” Trên thực tế trong quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản nhiều hộ nông dân vẫn lạm dụng các chất hóa học, từ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), phân bón, chất kích thích tăng trưởng, mặc dù đã được các cơ quan chức năng khuyến cáo nhắc nhở, thậm chí nghiêm cấm Việc sử dụng kháng sinh không đúng, chất cấm trong chăn nuôi sẽ để lại tồn dư trong sản phẩm thịt có thể gây ngộ độc và rối loạn hệ nội tiết ở người sử dụng Hoặc môi trường đất, nước nơi người nông dân chăn nuôi, canh tác bị ô nhiễm cũng khiến nông sản bị mất ATVS…(Ngọc Ánh, 2014)
Với mục tiêu nâng cao nhận thức về đảm bảo ATVSTP từ khâu sản xuất đến tiêu dùng, năm 2014, Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và thủy sản (QLCLNLTS) đã phối hợp chặt chẽ với một số đơn vị trong ngành NN và PTNT tăng cường thông tin, tuyên truyền về công tác quản lý chất lượng, đảm
Trang 39bảo ATVSTP cho các chủ thể tham gia chuỗi sản xuất như: nông dân, ngư dân, chủ trang trại, cơ sở chế biến, cán bộ quản lý… Xây dựng, in ấn và trực tiếp phát hàng nghìn tờ rơi, băng rôn, pa-nô, áp phích và tài liệu phổ biến về ATVSTP và công tác quản lý chất lượng ATTP Phối hợp với Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng (Sở KH và CN), Phòng Cảnh sát môi trường (Công an tỉnh), Chi cục ATVSTP (Sở Y tế), Hội Phụ nữ tỉnh tổ chức nhiều hoạt động truyền thông, vận động hữu ích như phát động hưởng ứng Tháng ATVSTP, tổ chức 18 lớp tập huấn cho trên 1.800 lượt người tham gia kiến thức
về đảm bảo ATVSTP trong sản xuất, kinh doanh nông, lâm, thủy sản Thực hiện các chương trình giám sát chất lượng ATVSTP nông sản, thực phẩm, Chi cục QLCLNLTS đã lấy một số mẫu rau, củ, quả để kiểm soát dư lượng thuốc BVTV, vi sinh, kim loại nặng, dư lượng nitrat; đồng thời thường xuyên tiến hành kiểm tra (test) nhanh tại các vùng trồng rau và các chợ Kết quả các mẫu được lấy để kiểm tra, phân tích trong năm 2014 các chỉ tiêu đều không vượt quá giới hạn cho phép Trong chương trình kiểm soát vùng thu hoạch nhuyễn thể 2 mảnh vỏ tại 2 vùng nuôi Giao Thủy và Nghĩa Hưng, Chi cục đã tiến hành lấy
46 mẫu ngao và 88 mẫu nước phân tích nhằm kiểm soát dịch bệnh vùng nuôi Năm 2014, vùng nuôi nhuyễn thể tại tỉnh tiếp tục được công nhận đạt loại B, được phép thu hoạch và xuất khẩu ngao vào thị trường EU Nhằm đảm bảo chất lượng ATVSTP cho các đối tượng nuôi thủy sản chủ lực, Chi cục đã lấy 64 mẫu gồm: 11 mẫu tôm sú, 41 mẫu tôm thẻ chân trắng, 12 mẫu cua ở các vùng nuôi của 3 huyện Nghĩa Hưng, Giao Thủy, Hải Hậu để kiểm soát dư lượng kim loại nặng, thuốc trừ sâu, độc tố nấm, chất kích thích tăng trưởng Đồng thời, thực hiện kiểm soát sau thu hoạch, Chi cục lấy 6 mẫu, trong đó có 2 mẫu cá biển, 2 mẫu cá mực, 1 mẫu ghẹ, 1 mẫu tôm biển và 1 mẫu nước đá tại các tàu cá và các đại lý thu mua sản phẩm khai thác Kết quả xét nghiệm các chỉ tiêu đều trong giới hạn cho phép, cho thấy các sản phẩm thủy sản nuôi và khai thác trên địa bàn tỉnh đều được kiểm soát, đảm bảo an toàn môi trường, an toàn dịch bệnh các vùng nuôi, đảm bảo ATVSTP, góp phần bảo vệ sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng; dần khẳng định được chất lượng và thương hiệu trên thị trường trong và ngoài tỉnh Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện một số mô hình liên kết sản xuất, kinh doanh theo chuỗi ATVSTP Trong tháng 11-2014, Chi cục đã hướng dẫn Cty TNHH một thành viên Thương mại Tuệ Hương xây dựng mô hình chuỗi liên kết sản xuất, kinh doanh rau an toàn với bà con nông
Trang 40dân tại xã Yên Dương (Ý Yên) Mô hình bước đầu có sự liên kết của “3 nhà”: quản lý - doanh nghiệp - nông dân Cty Tuệ Hương đã tiến hành khảo sát, phân tích các điều kiện, cơ sở, vùng sản xuất và tổ chức triển khai Thị trường ngao tiêu thụ nội địa tiếp tục được quan tâm khi Cty thủy sản Lenger Việt Nam (Lenger Seafood Vietnam) đã đầu tư dây chuyền hiện đại tự động hóa làm sạch
từ đầu vào đến đầu ra của sản phẩm ngao, tạo chuỗi sản xuất, kinh doanh sản phẩm thủy sản đảm bảo ATVSTP để tiêu thụ tại các siêu thị trong nước Cũng trong năm 2014, Chi cục QLCLNLTS đã xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu dùng đối với sản phẩm cá bống bớp theo tiêu chuẩn VietGAP; xây dựng thành công nhãn hiệu tập thể cho cá bống bớp Nghĩa Hưng Trước tình hình nông dân sử dụng tùy tiện thuốc xanh methylen để chữa bệnh đốm đỏ, bệnh lở loét và các bệnh ngoài da khác cho cá bống bớp gây mất ATVSTP, Chi cục đã yêu cầu các hộ nông dân không được sử dụng loại thuốc này và hướng dẫn sử dụng các loại thuốc có trong danh mục cho phép của Bộ NN và PTNT (Ngọc Ánh, 2014) Ông Trần Xuân Lại, Chi cục trưởng Chi cục QLCLNLTS tỉnh cho biết: Thực hiện tốt Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững là yếu tố tiên quyết đảm bảo ATVSTP trong sản xuất nông nghiệp Các ngành chức năng và các địa phương cần tiếp tục ưu tiên cho công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng và kiến thức ATVSTP cho người dân Hướng dẫn, vận động người sản xuất, kinh doanh tuân thủ các quy định về sử dụng thuốc BVTV cho cây trồng; thuốc thú y, thuốc kháng sinh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản; chất bảo quản, phụ gia trong bảo quản, chế biến nông sản, thực phẩm và đảm bảo điều kiện vệ sinh trong sản xuất, kinh doanh Phát triển các mô hình sản xuất áp dụng hệ thống quản lý chất lượng thực hành sản xuất tốt, liên kết sản xuất theo chuỗi ATVSTP Xây dựng những vùng sản xuất hàng hóa tập trung theo quy hoạch đã được phê duyệt, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản, thực phẩm và đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn (Ngọc Ánh, 2014)
2.2.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Cạn
Trong năm 2015, các ngành chức năng đã tổ chức kiểm tra được 144 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, sản xuất nước uống, bếp ăn tập thể của trường học
và 173 cơ sở kinh doanh thực phẩm chức năng Kiểm tra 223 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây trồng và vật tư nông nghiệp… Qua đó, các cơ quan quản lý đã
xử phạt 28 vụ vi phạm Mỗi lần kiểm tra, cán bộ đều phân tích, nhắc nhở nhằm