Trên thực tế, việc thiêu thụ sản phẩm hồng không hạt huyện Chợ Đồn vẫn đang trong giai đoạn tự phát là chủ yếu, chưa có sự định hướng của địa phương để tìm đầu ra cho sản phẩm, chưa hình
Trang 1Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Tiệp
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Phan Thị Tuyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các tập thể và cá nhân Nhân dịp này tôi xin bày
tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến:
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Công Tiệp đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo sau đại học trường Học viện Nông nghiệp, Khoa Kế toán quản trị kinh doanh trường Học Viện nông nghiệp Hà Nội, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, UBND huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi Cục Thống kê, Trân trọng cảm ơn các cán bộ, nhân dân địa phương nơi tôi tiến hành điều tra, khảo sát, nghiên cứu đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn Chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ tôi thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Phan Thị Tuyên
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt và ký hiệu v
Danh mục các bảng vi
Danh mục hình, sơ đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Lý luận về sản xuất và phát triển sản xuất 4
2.1.2 Lý luận về tiêu thụ và phát triển tiêu thụ sản phẩm 7
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật trong sản xuất cây hồng không hạt 16
2.1.4 Khái niệm về phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt 23
2.2 Cơ sơ về thực tiễn 26
2.2.1 Tình hình phát triển cây hồng không hạt tại tỉnh Bắc Kạn trong những năm qua 26
2.2.2 Tình hình phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt trên địa bàn huyện Chợ Đồn 81
2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 32
Trang 5Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 34
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội 34
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
3.2 Phương pháp nghiên cứu 46
3.2.1 Các phương pháp tiếp cận 46
3.2.2 Khung phân tích 47
3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu 48
Phần 4 Thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt trên địa bàn huyện 54
4.1 Thực trạng phát triển sản xuất, tiêu thụ hồng không hạt trên địa bàn huyện Chợ Đồn 54
4.1.1 Thực trạng phát triển sản xuất hồng không hạt tại huyện Chợ Đồn 54
4.1.2 Thực trạng về phát triển tiêu thụ hồng không hạt trên địa bàn huyện 58
4.1.3 Thực trạng phát triển sản xuất hồng không hạt của hộ nông dân tại huyện Chợ Đồn 60
4.1.4 Thực trạng tiêu thụ hồng không hạt ở một số xã trên địa bàn huyện 70
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt 83
4.2.1 Các yếu tố ảnh hướng tới phát triển sản xuất hồng không hạt 84
4.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển tiêu thụ hồng không hạt trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 86
4.2.3 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức khi phát triển sản xuất, tiêu thụ hồng không hạt trên địa bàn huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 87
4.3 Giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 88
4.3.1 Định hướng và căn cứ 88
4.3.2 Giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt trên địa bàn huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 89
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 93
5.1 Kết luận 93
5.2 Kiến nghị 94
Tài liệu tham khảo 95
Phụ lục 96
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CN-TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên quốc GDP Tổng sản phẩm quốc nội
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn cây giống cho trồng mới quy định: 10TCN-2001 20
Bảng 2.2 Lượng phân vô cơ bón từ năm thứ 4 trở đi (kg/cây) 22
Bảng 2.3 Tình hình phát triển cây hồng không hạt tỉnh Bắc Kạn từ năm 2006 - 2015 29
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất huyện Chợ Đồn năm 2014-2016 37
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Chợ Đồn các năm 2014- 2016 45
Bảng 3.3 Số lượng các hộ nông dân được chọn điều tra 49
Bảng 3.4 Số lượng của các tác nhân trong chuỗi cung ứng hồng không hạt và người tiêu dùng 50
Bảng 4.1 Cơ cấu diện tích hồng không hạt qua giai đoạn 2014 – 2016 của huyện Chợ Đồn, Băc Kạn 55
Bảng 4.2 Tổng hợp Diện tích, năng suất, sản lượng, giá trị kinh tế cây hồng không hạt huyện Chợ Đồn qua các năm 56
Bảng 4.3 Giá bán hồng không hạt trên thị trường tỉnh Bắc Kạn 60
Bảng 4.4 Đặc điểm cơ bản của hộ trồng hồng tại 02 địa phương 60
Bảng 4.5 Đặc điểm cơ bản của hộ trồng hồng không hạt phân theo nhóm hộ 61
Bảng 4.6 Diện tích, năng suất, sản lượng hồng không hạt của các hộ điều tra tại 02 địa phương năm 2016 62
Bảng 4.7 Diện tích, năng suất, sản lượng hồng không hạt của các hộ điều tra theo nhóm hộ năm 2016 62
Bảng 4.8 Chi phí trồng mới 1 ha hồng không hạt thời kỳ KTCB 64
Bảng 4.9 Chi phí sản xuất bình 1 ha hồng không hạt trong thời kỳ SXKD năm 2016 65
Bảng 4.10 Kết quả và hiệu quả của hộ trồng hồng của 02 địa phương 66
Bảng 4.11 So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất hồng không hạt và trồng quýt 67
Bảng 4.12 Một số đặc điểm khác biệt của hai loại giao dịch 73
Bảng 4.13 Đặc điểm và quy mô hoạt động của người thu gom hồng không hạt 75
Bảng 4.14 Phân loại hồng không hạt 76
Bảng 4.15 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu với cơ hội và thách thức trong sản xuất hồng không hạt tại các hộ điều tra 87
Trang 8DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 3.1 Bản đồ Địa giới hành chính huyện Chợ Đồn - Tỉnh Bắc Kạn 34
Sơ đồ 3.1 Khung phân tích phát triển sản xuất - tiêu thụ hồng không hạt 48
Sơ đồ 4.1 Kênh tiêu thụ hồng không hạt 59
Sơ đồ 4.2 Quy trình thu hoạch hồng không hạt 71
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Phan Thị Tuyên
Tên Luận văn: Phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60.34.01.02
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1 Mục đích nghiên cứu
Chợ Đồn là huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn Với tổng diện tích
tự nhiên của huyện là 91.115 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 5.394,93 ha (chiếm 5,92% tổng diện tích tự nhiên) Trong những năm vừa qua, huyện Chợ Đồn đã thực hiện nhiều giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhiều mô hình đã được triển khai có hiệu quả, được nhân dân áp dụng vào sản xuất, song năng suất cây trồng còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao
Hồng không hạt đã được cấp giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý năm 2010 tại Quyết định số 1721/QĐ-SHTT ngày 08/9/2010 về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00021 cho sản phẩm hồng không hạt Bắc Kạn Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn là tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý "Bắc Kạn" cho sản phẩm hồng không hạt Chợ Đồn là một trong ba huyện của tỉnh Bắc Kạn có điều kiện phù hợp để trồng cây hồng không hạt và còn có những cây đầu dòng quý hiếm, được Sở Khoa học và Công nghệ chứng nhận Xác định đây là loại cây đặc hữu của địa phương, trong những năm qua huyện đang có những cơ chế khuyến khích người dân mở rộng diện tích cây hồng không hạt
Tuy nhiên, diện tích trồng hồng không hạt hiện nay trên địa bàn huyện chủ yếu là quy mô hộ gia đình, sản xuất nhỏ và manh mún, diện tích trồng phân tán; việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất chưa được quan tâm chú trọng áp dụng nên chất lượng, mẫu mã chưa đồng đều Trên thực tế, việc thiêu thụ sản phẩm hồng không hạt huyện Chợ Đồn vẫn đang trong giai đoạn tự phát là chủ yếu, chưa có sự định hướng của địa phương để tìm đầu ra cho sản phẩm, chưa hình thành được chuỗi liên kết phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; giá cả vẫn chưa ổn định, vẫn bị tư thương tự do ép giá; mặc
dù trong những năm gần đây, địa phương huyện đã có cơ chế chính sách để phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt, song hiện nay việc phát triển thương hiệu, đưa hồng không hạt của Chợ Đồn ra thị trường còn gặp nhiều khó khăn
Xuất phát từ điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và thực trạng phát triển sản xuất, tiêu thụ hồng không hạt tại địa phương trong thời gian qua, tôi lựa chọn đề tài: “Phát
Trang 10triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp của mình
2 Nội dung, phương pháp nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, luận giải, hệ thống, làm rõ cơ cở lý luận và thực tiễn phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hồng không hạt những năm qua trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn và huyện Chợ Đồn
+ Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất hồng không hạt trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tập trung vào 02 xã Quảng Bạch, Đồng Lạc Đồng thời, đánh giá thực trạng việc tiêu thụ hồng không hạt của người nông dân…
+ Phân tích những kết quả đạt được, cũng như chỉ ra những tồn tại, hạn chế, cơ hội
và thách thức, những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu giải quyết nhằm phát triển sản xuất
và tiêu thụ hồng không hạt trong thời gian tới
+ Đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt theo hướng bền vững
Để nghiên cứu đề tài tác giả dùng các phương pháp:
- Phương pháp tiếp cận
- Khung phân tích
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu
- Thu thập thông tin, dữ liệu thứ cấp
- Thu thập thông tin, dữ liệu sơ cấp
- Phương pháp tổng hợp số liệu
- Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả
3 Kết quả, kết luận
Phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt ở huyện Chợ Đồn có ý nghĩa cả
về lý luận và thực tiễn Hồng không hạt là một loại cây mang tính đặc sản của huyện Chợ Đồn và tỉnh Bắc Kạn, khác với các loại hồng khác, hồng không hạt không chỉ phục
vụ nhu cầu ăn thông thường mà còn có ý nghĩa làm quà biếu, tặng, thờ cúng vào dịp lễ, đặc biệt là Tết Trung thu hàng năm nên nhu cầu tiêu thụ luôn ở mức cao Trồng hồng không hạt mang lại thu nhập đáng kể cho người nông dân Hồng không hạt cũng là sản phẩm ưa thích của người tiêu dùng tại các thành phố như Hà Nội, Nam Định, Thái Nguyên… hiện nay nguồn cung không đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của khách
Trang 11hàng Vì vậy cần đẩy mạnh phát triển sản xuất hồng không hạt thành hàng hóa theo hướng bền vững Đồng thời, đẩy mạnh khâu liên kết trong tiêu thụ để tăng giá trị của sản phẩm hồng không hạt là hết sức cần thiết
2 Sản xuất hồng không hạt hiện còn manh mún, phân tán chủ yếu trồng ở quy
mô hộ gia đình, chưa hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa Hồng không hạt chưa có thương hiệu đăng ký bảo hộ tại Việt Nam Hộ trồng hồng không hạt gặp nhiều khó khăn như diện tích đất, sâu bệnh, sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu nên sản lượng không ổn định Tiêu thụ hồng không hạt hiện nay chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa (90-95%) Trong chuỗi giá trị tiêu thụ hồng không hạt cho thấy, người trồng hồng không hạt hiện vẫn có lợi nhất, các tác nhân trung gian trong tiêu thụ hồng không hạt phân phối lợi ích không đồng đều Quá trình tiêu thụ đã chỉ ra sự tham gia của bốn tác nhân chính là hộ trồng hồng, người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ Đặc điểm và kết quả hoạt động của các tác nhân này khác nhau, thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng hồng không hạt Các hình thức liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, trong quá trình tiêu thụ còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu
3 Để phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt huyện Chợ Đồn, cần tập trung thực hiện đồng bộ hệ thống giải pháp sau:
i) Giải pháp về quy hoạch
ii) Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
iii) Tổ chức sản xuất
iv) Áp dụng tiến bộ kỹ thuật
v) Tăng cường hoạt động khuyến nông
vi) Giải pháp về chính sách
Trang 12THESIS ABSTRACT Author: Phan Thi Tuyen
Thesis title: Development of production and consumption of seedless persimmon in Cho Don district, Bac Kan province
Major: Business Administration Code: 60 34 01 02
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
1 Research objectives
Cho Don is a mountainous district in the western part of Bac Kan province With
a total natural area of 91,155 hectares, including 5,394.93 hectares of agricultural land (5.92% of total natural area) In recent years, Cho Don district has implemented many solutions to change the structure of plants, many models have been deployed effectively and applied by the people in production, but productivity is low, economic efficiency is not high
Seedless persimmon has been granted a geographical indication certificate in
2010 in Decision No 1721 / QĐ-SHTT dated 08/09/2010 on granting the certificate of registration of geographical indications No 00021 for seedless persimmon Bac Kan Department of Science and Technology of Bac Kan province is the management organization of geographical indications "Bac Kan" for seedless persimmon Cho Don
is one of the three districts of Bac Kan province, which is well suited for growing seedless persimmon trees and also for rare seedlings certified by the Department of Science and Technology Determining that this is a local plant, the district has been encouraging people to expand the area of seedless roses in recent years
However, the area of seedless persimmon growing in the district is mainly small scale and fragmented, scattered plantation area; the appling technical tools in production has not been focused on so quality and design is not the same In fact, the consumption
of seedless persimmon in Cho Don district is still in a spontaneous stage, with no local orientation to find the output for the product, no connection between producing and comsumption; prices are still unstable and under pressure from the business; although in recent years, the district has a policy system to develop production and consumption of seedless persimmon , but now the development of the brand of the seedless persimmon
in Cho Don district to the market is encountering many difficulties
According to the socio-economic development and the current development of production and consumption of seedless persimmon in the local, the author chose the
Trang 13topic: "Development of production and consumption of seedless persimmons In Cho Don District, Bac Kan Province "as a research topic of her thesis
2 Contents and research method:
- Content: Thesis focused on researching, analyzing and systemazing, clarifying the theoretical basis and practical development of production and consumption of seedless persimmon in recent years in Bac Kan and district
+ Evaluate the situation of developing seedless persimmon seed production in Cho Don district, focusing on 02 communes of Quang Bach and Dong Lac At the same time, evaluating the situation of farmers' consumption of the seedless persimmons
+ Analyze the results, as well as point out the issues, drawbacks, opportunities and challenges that need to be addressed to develop production and consumption of seedless persimmon in next term
+ Proposed orientation and some solutions are useful to develop production and consumption of seedless persimmon in a sustainable way
To research the thesis the author used the following methods:
- Approach method
- Analytical framework
- Method of study spot selection
- Methods of collecting information, data
- Collect information, secondary data
- Collect primary information and data
- Method of data synthesis
- Method of data analysis
- Descriptive statistics method
3 Main results and conclusions
Development of production and consumption of seedless persimmon in Cho Don district has both theoretical and practical significance The seedless persimmon is a specialty of Cho Don district and Bac Kan province, unlike other persimmon, seedless persimmon are not only serving the needs of ordinary people, but also for giftt especially the Mid-Autumn Festival every year, so the demand is always high Seedless persimmon bring substantial income to the farmers Seedless persimmon is also the preferred product of consumers in big cities like Hanoi, Nam Dinh, Thai Nguyen now the supply does not meet the increasing requirement of the customers Therefore, it is
Trang 14necessary to improve the development of seedless persimmon into sustainable way At the same time, promoting connection in consumption to increase the value of seedless seedless persimmon is essential
2 Production of seedless persimmon is still small and dípersed mainly in the household level, not yet creating specialized areas for theproduction The seedless persimmon has no trademark registered for protection in Vietnam The seedless persimmon growers faced many difficulties such as soil, pestilent insects, production depends on weather and climate conditions, so the output is unstable The consumption
of seedless persimmon is now mainly served domestic consumption (90-95%) In the seedless persimmon value chain, seedless persimmon growers are still most profitable, and intermediate agents in seedless persimmon consumption received uneven benefits The consumption process has shown the involvement of four main actors: the seedless persimmon producer, the collector, the wholesalers, and the retailer The characteristics and performance of these factors are different, lacking close links between the elements involved in the supply chain The forms of link between production and consumption, in the consumption process is weak, not meet the requirements
3 In order to develop the production and consumption of seedless roses in Cho Don district, it is necessary to concentrate on synchronously implementing the following solutions:
i) Planning solution
ii) Investment in the infrastructure construction
iii) Producing organization
iv) Apply technical tools
v) Strengthening agricultural extension activities
vi) Policy solutions
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới là chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm góp phần quan trọng để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân thì việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, địa phương để tăng năng suất, tăng thu nhập cho người dân nông thôn là yêu cầu cấp thiết và quan trọng
Chợ Đồn là huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn Với tổng diện tích tự nhiên của huyện là 91.115 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 5.394,93 ha (chiếm 5,92% tổng diện tích tự nhiên) Trong những năm vừa qua, huyện Chợ Đồn đã thực hiện nhiều giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhiều
mô hình đã được triển khai có hiệu quả, được nhân dân áp dụng vào sản xuất, song năng suất cây trồng còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao
Nhằm đưa sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, nâng cao cả về năng suất và chất lượng, đáp ứng các yêu cầu, mục tiêu đề ra và xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện, theo hướng hiện đại trong bối cảnh mới, từng bước khắc phục những hạn chế về điều kiện tự nhiên, góp phần khai thác hiệu quả và bền vững thì việc nghiên cứu các giải pháp để phát triển sản xuất một số cây trồng phù hợp với địa phương trở thành hàng hoá góp phần thu nhập cho người dân tại địa phương là cần thiết
Hồng không hạt là một trong những loại trái cây đặc sản của tỉnh Bắc Kạn,
có đặc điểm là quả không có hạt, vỏ quả màu vàng đỏ khi chín; tai quả to, quả không cứng và không chát, vị ngọt dịu đến ngọt đậm sau khi ngâm, quả nhiều cát đường và rất giòn Hồng không hạt chín vào thời điểm khoảng cuối tháng 7, 8 âm lịch, khi chín, màu quả chuyển từ xanh sang đỏ vàng sáng
Hồng không hạt đã được cấp giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý năm 2010 tại Quyết định số 1721/QĐ-SHTT ngày 08/9/2010 về việc cấp Giấy chứng nhận đăng
ký chỉ dẫn địa lý số 00021 cho sản phẩm hồng không hạt Bắc Kạn Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn là tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý "Bắc Kạn" cho sản phẩm hồng không hạt Năm 2013, quả hồng không hạt của Bắc Kạn được công nhận là sản phẩm nằm trong top 100 nhãn hiệu nổi tiếng nhất Việt Nam do Trung ương Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam cùng tạp chí sở hữu trí tuệ và sáng tạo bình chọn
Trang 16Chợ Đồn là một trong ba huyện của tỉnh Bắc Kạn có điều kiện phù hợp để trồng cây hồng không hạt và còn có những cây đầu dòng quý hiếm, được Sở Khoa học và Công nghệ chứng nhận Xác định đây là loại cây đặc hữu của địa phương, trong những năm qua huyện đang có những cơ chế khuyến khích người dân mở rộng diện tích cây hồng không hạt
Tuy nhiên, diện tích trồng hồng không hạt hiện nay trên địa bàn huyện chủ yếu là quy mô hộ gia đình, sản xuất nhỏ và manh mún, diện tích trồng phân tán; việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất chưa được quan tâm chú trọng áp dụng nên chất lượng, mẫu mã chưa đồng đều Trên thực tế, việc thiêu thụ sản phẩm hồng không hạt huyện Chợ Đồn vẫn đang trong giai đoạn tự phát là chủ yếu, chưa có sự định hướng của địa phương để tìm đầu ra cho sản phẩm, chưa hình thành được chuỗi liên kết phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; giá cả vẫn chưa ổn định, vẫn bị tư thương tự do ép giá; mặc dù trong những năm gần đây, địa phương huyện đã có cơ chế chính sách để phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt, song hiện nay việc phát triển thương hiệu, đưa hồng không hạt của Chợ Đồn ra thị trường còn gặp nhiều khó khăn
Xuất phát từ điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và thực trạng phát triển sản xuất, tiêu thụ hồng không hạt tại địa phương trong thời gian qua, tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp của mình
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 171.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt
- Các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, tiêu thụ hồng không hạt như: hộ nông dân, các hợp tác xã, doanh nghiệp, người thu gom, đại lý, siêu thị, cửa hàng, nhà hàng, khách sạn và người tiêu dùng
- Các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp liên quan đến việc hoạch định chính sách phát triển sản xuất, tiêu thụ hồng không hạt từ Trung ương đến các xã trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
- Các cơ quan viện nghiên cứu, trường đại học với các nghiên cứu có liên quan đến sản xuất, tiêu thụ hồng không hạt
- Các tổ chức kinh tế - xã hội khác có ảnh hưởng phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt như Khuyến nông, Hội Nông dân, hội Làm vườn… 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu vào các vấn đề liên quan đến hồng không hạt như:
+ Đặc điểm hệ thống cây trồng của huyện Chợ Đồn
+ Đặc điểm thị trường tiêu thụ hồng không hạt tại huyện Chợ Đồn
+ Đặc điểm tình hình sản xuất hồng không hạt tại huyện Chợ Đồn
+ Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển sản xuất và thị trường cho sản phẩm hồng không hạt tại huyện Chợ Đồn
+ Giải pháp phát triển sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm hồng không hạt tại huyện Chợ Đồn
- Phạm vi về không gian: Được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn 02 xã Quảng Bạch và Đồng Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, đây là 2 xã sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt nhiều
- Phạm vi về thời gian: Tiến hành từ 2014 - 2016
Định hướng phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt đến năm 2020
Trang 18PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN
XUẤT VÀ TIÊU THỤ HỒNG KHÔNG HẠT
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Lý luận về sản xuất và phát triển sản xuất
2.1.1.1 Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là một quá trình hoạt động có mục đích của con người để tạo ra những sản phẩm hữu ích (sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ) nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của dân cư và xã hội (tiêu dùng cho sản xuất, đời sống, tích lũy và xuất khẩu)
Như vậy, sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ Trong sản xuất con người đấu tranh với thiên nhiên làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của cải khác phục
vụ cuộc sống Sản xuất là điều kiện tồn tại của mỗi xã hội, việc khai thác và tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là chủ yếu (Lê Đình Thắng, 1993)
2.1.1.2 Khái niệm về phát triển sản xuất
Phát triển sản xuất có thể hiểu là một quá trình lớn lên về mọi mặt của quá trình sản xuất trong một thời kì nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng hay giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ và sự tiến bộ về mặt cơ cấu các mặt hàng Phát triển sản xuất bao gồm: Phát triển sản xuất theo chiều rộng và phát triển sản xuất theo chiều sâu
+ Phát triển sản xuất theo chiều rộng: Tức là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất như tăng diện tích, tăng thêm vốn, bổ sung thêm lao động và khoa học công nghệ mới, mở mang thêm nhiều ngành nghề, xây dựng thêm những xí nghiệp tạo ra những mặt hàng mới
+ Phát triển sản xuất theo chiều sâu: Nghĩa là xác định cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu loại hình hợp lý, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, cải tiến tổ chức sản xuất, phân công lại lao động, sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực
Phát triển sản xuất theo chiều rộng và chiều sâu là yêu cầu chung của bất
kì nền kinh tế hay một doanh nghiệp nào Nhưng, ở mỗi nước, mỗi doanh nghiệp,
Trang 19mỗi thời kì, sự kết hợp này có sự khác nhau Theo quy luật chung của các nước cũng như của các doanh nghiệp là thời kì đầu của sự phát triển thường tập trung để phát triển theo chiều rộng, sau đó tích luỹ thì chủ yếu phát triển theo chiều sâu
Do sự khan hiếm nguồn lực làm hạn chế sự phát triển theo chiều rộng Sự khan hiếm này ngày càng trở nên khốc liệt trong điều kiện cạnh tranh do nhu cầu của xã hội và thị trường; do sự cần thiết xây dựng, đổi mới và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất xã hội hoặc của doanh nghiệp Muốn vậy, phải phát triển kinh tế theo chiều sâu thì mới có thể tích luỹ vốn
Như vậy, bất kì một doanh nghiệp, một Quốc gia nào muốn phát triển thì đòi hỏi phải phát triển toàn diện cả chiều sâu và chiều rộng nhưng chú trọng phát triển theo chiều sâu là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn
Chú ý phát triển sản xuất phải đảm bảo tính bền vững, tức là sản xuất tìm nguồn đầu vào, đầu ra sao cho bền vững nhất và không ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên
2.1.1.3 Nội dung và các chỉ tiêu thể hiện phát triển, phát triển sản xuất
Các chỉ tiêu đo lường sự phát triển bao gồm 3 nhóm: Nhóm chỉ tiêu thể hiện
về phát triển kinh tế (phát triển sản xuất); nhóm chỉ tiêu thể hiện phát triển xã hội và nhóm chỉ tiêu thể hiện bảo vệ môi trường Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu phát triển sản xuất, nên các chỉ tiêu đo lường sự phát triển kinh tế như sau:
* Các chỉ tiêu đo sự tăng trưởng kinh tế
- Sản lượng sản phẩm: Khối lượng sản phẩm vật chất và dịch vụ mà các cơ
sở sản xuất tạo ra trong một thời kỳ, thường tính là 1 năm
- Giá trị sản xuất (GO - Gross Output): Là giá trị các sản phẩm vật chất
và dịch vụ của tất cả các ngành sản xuất mà cơ sở sản xuất tạo ra trong một thời
kỳ, thường tính là 1 năm
Trong phạm vi toàn nền kinh tế các chỉ tiêu đo giá trị sản phẩm và dịch vụ
là tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Domestic Product) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP- Gross National Product)
- Tốc độ tăng trưởng: Sự tăng thêm về sản lượng hay hay giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
- Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý: Gắn với cơ cấu kinh tế
Trang 20của một nền kinh tế hay một cơ sở sản xuất, tùy thuộc phạm vi đo lường mà thường thể hiện bằng tỷ trọng giá trị GDP hay GNP hoặc GO của từng ngành kinh tế trong tổng giá trị GDP hay GNP hoặc GO của toàn nền kinh tế Hơn nữa,
có thể tính cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế (nhà nước, hợp tác xã, tư nhân, liên doanh, hỗn hợp…), hoặc theo loại hình sản xuất (doanh nghiệp, hợp tác xã,
hộ gia đình…)
- Sự tiến bộ về mặt xã hội: Phát triển kinh tế sẽ có đóng góp tích cực cho phát triển xã hội, do đó các chỉ tiêu như tỷ lệ tích lũy, tiêu dùng và tiết kiệm trong tổng GDP của nền kinh tế trong giá trị sản xuất hay tổng thu của một cơ sở sản xuất, hay số việc làm được tăng lên, số hộ nghèo giảm đi… không chỉ nói lên phát triển kinh tế mà còn thể hiện sự tiến bộ xã hội
- Các chỉ tiêu thể hiện kết quả đóng góp cải thiện môi trường sinh thái như
đa dạng sinh học, tỷ lệ phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tỷ lệ đất bạc màu hay sói mòn giảm đi… cũng thể hiện sự phát triển sản xuất
2.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất
Phát triển sản xuất chịu ảnh hưởng của các nhóm nhân tố sau:
- Vốn sản xuất: Là những tư liệu sản xuất như máy móc, nhà xưởng, thiết
bị, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu… được sử dụng vào sản xuất
- Lực lượng lao động: Là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất Mọi hoạt động sản xuất đều do con người quyết định Lực lượng lao động
có trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất sẽ có vai trò quyết định nâng cao năng suất lao động Do đó, chất lượng sức lao động quyết định đến kết quả và hiệu quả sản xuất
- Tài nguyên thiên nhiên: Là các tài nguyên đất đai, nguồn nước, khoáng sản…, trong đó tài nguyên đất là quan trọng nhất Với bất kì nền sản xuất nào thì đất đai là yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu được, nó là nền tảng, tài sản đặc biệt tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất Vì vậy, đất đai quyết định sản xuất có diễn ra hay không
- Trình độ khoa học công nghệ và các chủ trương chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng khá lớn đến quá trình sản xuất Đây chính là kết quả của việc ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ về tiến bộ kỹ thuật, quản lý kinh tế,
xã hội và môi trường
Trang 212.1.2 Lý luận về tiêu thụ và phát triển tiêu thụ sản phẩm
2.1.2.1 Khái niệm về tiêu thụ
* Sản phẩm: Theo quan niệm truyền thống, sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý học, hóa học, sinh học…có thể quan sát được, dùng để thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của sản xuất hoặc đời sống
Theo quan điểm marketing sản phẩm là thứ có khả năng thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút, chú ý mua sắm và tiêu dùng Theo
đó, một sản phẩm được cấu thành và hình thành từ hai yếu tố cơ bản
- Yếu tố vật chất: Những đặc tính vật lý, hóa học, hình học, kể cả những đặc tính đó có tính chất bao gói với chức năng bảo quản hàng hóa
- Yếu tố phi vật chất: Tên gọi, nhãn hiệu, biểu trưng, cách sử dụng, cách thức nhận biết, dịch vụ, những thông tin về tập quán, thị hiếu, thói quen tiêu dùng của khách hàng mà các nỗ lực Marketing phải hướng tới thỏa mãn Theo quan điểm này, sản phẩm vừa là cái “đã có”, vừa là cái “đang và tiếp tục phát sinh” trong trạng thái biến đổi không ngừng của nhu cầu Ngày nay, người tiêu dùng hiện đại khi mua một sản phẩm không những chú ý đến khía cạnh vật chất mà còn quan tâm đến nhiều khía cạnh phi vật chất, khía cạnh hữu hình và cả yếu tố
vô hình của sản phẩm (Đỗ Kim Chung, 2009)
* Tiêu thụ sản phẩm: Theo nghĩa hẹp, tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị của sản phẩm khi khách hàng chấp nhận thanh toán, là quá trình thực hiện giá trị cũng như giá trị sử dụng của hàng hóa Theo quan điểm này, quá trình tiêu thụ bắt đầu khi đưa vào lưu thông
và kết thúc khi bán hàng xong
Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm, là một quá trình bao gồm nhiều khâu
từ việc tổ chức nghiên cứu thị trường, định hướng sản xuất, tổ chức bán hàng và thực hiện các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng Như vậy, theo quan niệm này tiêu thụ sản phẩm là một quá trình xuất hiện từ trước khi tổ chức các hoạt động sản xuất và chỉ kết thúc khi đã bán được sản phẩm
Nếu xét hoạt động tiêu thụ như một khâu của quá trình sản xuất kinh doanh thì tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất và kinh doanh Lúc này, sản phẩm được đưa từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực tiêu dùng Tức là, người sản xuất bán sản phẩm trên thị trường và người tiêu dùng mua về để sử dụng, nó được biểu hiện theo sơ đồ sau:
Trang 22Các yếu
tố sản
Sơ đồ 2.1 Quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm Tiêu thụ sản phẩm thực hiện mục đích là tiêu thụ của sản xuất và tiêu dùng, đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất, phân phối và một bên là tiêu dùng
Nếu xét hoạt động tiêu thụ là một quá trình thì hoạt động tiêu thụ sản phẩm là một quá trình bao gồm từ việc nghiên cứu nhu cầu thị trường, biến nhu cầu đó thành nhu cầu mua thực sự của người tiêu dùng, tổ chức sản xuất, chuẩn
bị sản phẩm, tổ chức bán và các hoạt động dịch vụ khách hàng sau khi bán Theo Hiệp Hội Kế toán quốc tế, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho khách hàng là việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng, đồng thời thu được tiền từ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đó
Như vậy, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là tổng thể các biện pháp về mặt tổ chức, kinh tế và kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu thị trường, tổ chức tiếp nhận sản phẩm hàng hoá và xuất bán theo nhu cầu của khách hàng với chi phí thấp nhất
2.1.2.2 Khái niệm về phát triển tiêu thụ sản phẩm
* Thị trường: Thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán, đây
là khái niệm phổ biến nhất
Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, trao đổi Như vậy ở đâu diễn ra các hoạt động trên thì ở đó xuất hiện thị trường Theo học thuyết của Mác thì cần hiểu rằng thị trường là nơi diễn ra các mối quan hệ kinh tế, là nơi chứa đựng tổng số cung, cầu, là nơi tập hợp nhu cầu của một loại hàng hoá nào đó
Từ các khái niệm nêu trên cho thấy: Thị trường chứa đựng tổng số cung
và tổng số cầu về một loại hàng hoá, hay nhóm hàng hoá nào đó Thị trường bao gồm các yếu tố thời gian và yếu tố không gian, trên thị trường luôn diễn ra hoạt động mua bán và các mối quan hệ tiền tệ
Các quy luật kinh tế thường xuất hiện trên thị trường là:
+ Quy luật giá trị: Là quy luật cơ bản của nền sản xuất hàng hoá, quy luật này yêu cầu trao đổi hàng hoá phải dựa trên chí phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó
Trang 23+ Quy luật cạnh tranh: Đây chính là cơ chế vận động của thị trường cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển mặt khác nó cũng đào thải những hàng hoá không được thị trường chấp nhận
+ Quy luật cung cầu: Quy luật cầu phán ánh mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá cả và lượng cầu về hàng hoá và dịch vụ, quy luật cung phản ánh mối quan hệ
tỷ lệ thuận giữa giá cả và lượng cung về hàng hoá dịch vụ
* Giá cả: Theo quan niệm của các nhà kinh tế học cổ điển và các nhà kinh
tế của chủ nghĩa Mác thì: Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Hàng hoá có 2 giá trị là: giá trị sử dụng và giá trị hàng hoá Thước đo giá trị của hàng hoá là lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá đó
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, giá cả còn thể hiện sự cạnh tranh, tranh dành về lợi ích kinh tế đồng thời phản ánh giá trị hàng hoá, phán ánh cung cầu Sự hình thành giá cả phán ánh mối quan hệ cung cầu về hàng hoá
và dịch vụ trên thị trường Trên thị trường người sản xuất và người tiêu dùng tuy đối lập nhau trong việc thực hiện các chức năng riêng biệt của mình, nhưng trong quan hệ trao đổi mua bán họ lại vừa có quan hệ hợp tác, vừa đấu tranh với nhau
về giá để rồi cuối cùng hai bên đều đi đến chấp nhận hình thành nên một mức giá nào đó gọi là giá thị trường hay giá cân bằng Giá cân bằng là mức giá tại đó lượng cung bằng lượng cầu, nghĩa là lượng hàng cung ứng ra thị trường vừa đủ
để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
* Kênh tiêu thụ sản phẩm: Kênh tiêu thụ sản phẩm là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập hay phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình tạo dòng vận chuyển hàng hoá dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng
Tham gia trong kênh tiêu thụ sản phẩm bao gồm các thành viên trung gian thương mại từ nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lý và môi giới
Tuỳ thuộc số lượng các trung gian thương mại tham gia trong kênh tiêu thụ sản phẩm mà có các loại kênh tiêu thụ khác nhau, như kênh tiêu thụ trực tiếp, kênh tiêu thụ cấp 1, kênh tiêu thụ cấp 2
Chức năng chủ yếu của kênh tiêu thụ sản phẩm là:
- Làm cho các dòng chảy của kênh thông suốt, các dòng chảy của kênh tiêu thụ sản phẩm gồm dòng vận chuyển, sản phẩm dịch vụ từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng, dòng chuyển quyền sở hữu hàng hoá, dòng thanh toán, dòng thông tin 2 chiều, dòng xúc tiến hỗ trợ
Trang 24- Thực hiện một số chức năng cụ thể của hoạt động tiêu thụ như thu thập thông tin thị trường, quảng bá sản phẩm, xúc tiến thương mại, đàm phán hợp đồng kinh tế, phân phối sản phẩm, hoàn thiện hàng hoá, tài trợ và chia sẻ rủi ro
* Phát triển tiêu thụ sản phẩm: Từ khái niệm tiêu thụ sản phẩm theo nghĩa rộng, phát triển tiêu thụ được coi là một quá trình, trong đó sản phẩm được tiêu thụ ngày càng tăng cả về số lượng, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ được hoàn thiện dần theo hướng có lợi cho nhà sản xuất và người tiêu dùng Như vậy các doanh nghiệp phải có chiến lược tiêu thụ sản phẩm, phải có phương thức bán hàng phù hợp nhất, có chính sách yểm trợ cho tiêu thụ sản phẩm, xác định thương hiệu sản phẩm và phương thức thanh toán phù hợp Đặc biệt chú ý đến việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, chú ý thị trường mục tiêu, thị trường tiềm năng
Trong phát triển tiêu thụ phải chú ý đến giá cả các loại sản phẩm Giá cả khác nhau có tác dụng khuyền khích hoặc hạn chế sự phát triển sản xuất Mặt khác, giá cả các loại sản phẩm phân phối trên thị trường theo các kênh cũng khác nhau Trong đó phân phối trực tiếp cho người tiêu dùng thì nhà sản xuất có lợi hơn cả, nhưng chỉ tiêu thụ được khối lượng nhỏ, do đó phân phối sản phẩm theo
hệ thống kênh gián tiếp Cần chú trọng chất lượng sản phẩm và thị hiếu khách hàng trong quá trình phát triển tiêu thụ sản phẩm
2.1.2.3 Vai trò, mục tiêu và nội dung tiêu thụ và phát triển tiêu thụ sản phẩm
Trong cơ chế thị trường, hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá có vai trò
vô cùng quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
Đối với người sản xuất, hộ nông dân: Tổ chức tốt và có hiệu quả việc tiêu thụ sản phẩm sẽ có tác dụng lớn đến quá trình sản xuất của các hộ sản xuất, các
Trang 25trang trại, HTX nông nghiệp và cơ sở kinh doanh Khi sản phẩm được tiêu thụ hết và kịp thời thì đây là tín hiệu tốt cho người nông dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh Việc tiêu thụ nhanh chóng và kịp thời sản phẩm nông nghiệp sẽ tránh tình trạng sản phẩm bị ứ đọng, gây hỏng, làm giảm lợi nhuận của người sản xuất Như vậy, tiêu thụ sản phẩm là cơ sở thông tin về thị trường cho các hộ sản xuất, các trang trại, HTX nông nghiệp và cơ sở kinh doanh sản phẩm Ngược lại, khi sản phẩm không tiêu thụ được, các hộ nông dân, các cơ sở kinh doanh cần tìm nguyên nhân vì sao mà sản phẩm của mình lại không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ chậm Có nhiều nguyên nhân làm cho sản phẩm nông nghiệp không tiêu thụ được, nhưng chủ yếu vẫn là ở khâu lưu thông và khâu sản xuất Khi các hộ nông dân, cơ sở kinh doanh tìm ra được nguyên nhân khiến sản phẩm không tiêu thụ được thì cần đề ra những biện pháp thích hợp, kịp thời để giải quyết vấn đề Khi đó, sản phẩm sẽ được tiêu thụ hết, các hộ nông dân, các
cơ sở kinh doanh sẽ không phải chịu thua lỗ nhiều
Đối với người tiêu dùng: Việc tiêu thụ tốt sản phẩm nông nghiệp sẽ đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng vì nhu cầu của họ luôn thay đổi Ngoài
ra, tiêu thụ tốt sản phẩm nông nghiệp còn có tác dụng điều chỉnh và hướng dẫn tiêu dùng mới, đặc biệt là đối với những loại sản phẩm nông nghiệp có tính đặc thù Trong nền kinh tế thị trường, các hộ nông dân, các cơ sở kinh doanh khi sản xuất phải hướng tới tiêu dùng và lấy tiêu dùng làm mục tiêu để hoạt động sản xuất kinh doanh
- Thông qua việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp mà các cơ sở kinh doanh nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng về số lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm nông nghiệp Vì thị hiếu của người tiêu dùng rất đa dạng và luôn thay đổi nên các hộ nông dân, các cơ sở kinh doanh phải chú ý đến điều này Từ đó, các
hộ nông dân, các cơ sở kinh doanh đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng và tiêu thụ được lượng sản phẩm nông nghiệp nhiều hơn
- Việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp kịp thời và nhanh chóng là tiền đề quan trọng thực hiện phân phối sản phẩm và kết thúc quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp
- Các hộ nông dân, cơ sở kinh doanh cần nắm bắt tâm lý, tập quán tiêu dùng của người tiêu dùng trong quá trình tiêu thụ sản phẩm Mỗi nơi người dân tại đó lại có sở thích về một loại sản phẩm nông nghiệp khác nhau nên mỗi mặt
Trang 26hàng lại có lượng tiêu thụ khác nhau Cơ sở kinh doanh phải tìm hiểu xem ở đó người dân ưa tiêu dùng loại sản phẩm nông nghiệp nào để từ đó tổ chức bán loại sản phẩm nông nghiệp mà họ ưa thích Nếu làm tốt việc này thì sản phẩm sản xuất ra sẽ đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của người tiêu dùng Do đó, lượng sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra sẽ được tiêu thụ hết, các cơ sở kinh doanh sẽ thu được doanh thu tối đa
Từ những vấn đề trên, việc tổ chức tốt hoạt động tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các hộ nông dân, cơ sở kinh doanh nông nghiệp Việc tổ chức tốt tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp giúp cho các cơ sở kinh doanh tiêu thụ hết lượng sản phẩm nông nghiệp hiện có, giúp cho họ có được định hướng về lượng sản phẩm nông nghiệp tiêu thụ trong tương lai Nhờ đó, các cơ sở kinh doanh không chỉ thu được lợi nhuận tối đa mà còn giảm được chi phí bảo quản sản phẩm nông nghiệp và những sản phẩm bị hỏng do bảo quản kém hay để lâu ngày
* Mục tiêu của tiêu thụ sản phẩm
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm của bất kỳ một cơ sở sản xuất nào cũng phải đáp ứng các mục tiêu sau:
- Tăng thị phần của doanh nghiệp, phạm vi và qui mô thị trường, hàng hóa của doanh nghiệp không ngừng mở rộng
- Tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, đây là mục tiêu kinh tế biểu hiện kết quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm;
- Tăng cường tài sản vô hình của doanh nghiệp, đó là tăng uy tín và vị thế của doanh nghiệp nhờ tăng niềm tin đích thực của người tiêu dùng vào sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra;
- Phục vụ khách hàng, góp phần vào việc làm thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Mục tiêu này thể hiện một chức năng xã hội của doanh nghiệp và khẳng định vị trí của doanh nghiệp như một tế bào trong nền kinh tế
* Nội dung tổ chức tiêu thụ sản phẩm
Tổ chức tiêu thụ sản phẩm bao gồm nhiều nội dung, song có thể tổng hợp lại ở 4 mảng chính là:
- Nghiên cứu thị trường: Để đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì
Trang 27công tác nghiên cứu thị trường cần tiến hành đầu tiên và phải trả lời các câu hỏi: Thị trường cần hàng hóa gì? ở đâu? Bao nhiêu? Ở mức giá nào? Bao giờ cần? Các câu hỏi này giúp cho doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng và cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp với mặt hàng để sản xuất Việc nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường về hàng hóa cần làm thường xuyên và liên tục Nội dung nghiên cứu thị trường bao gồm: Xác định và đánh giá từng loại khách hàng; Tìm hiểu các hoạt động cung trên thị trường; Xác định thị trường mục tiêu Nghiên cứu thị trường
là nắm vững sức mua của thị trường tức là phải nắm được nhu cầu tiêu dùng của hàng hoá và khả năng thanh toán của khách hàng, mức độ thu nhập và triển vọng
mở rộng thị trường tiêu thụ
Để đạt được những mong muốn hay đưa ra được quyết định đúng đắn trong sản xuất đòi hỏi người sản xuất phải thu thập, xử lý các thông tin về thị trường một cách khách quan, chính xác và phù hợp với thực tiễn
- Xây dựng chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường: Chiến lược sản phẩm là tìm hiểu xem sản phẩm mình sản xuất ra có được người tiêu dùng và thị trường chấp nhận không? chủng loại và chất lượng sản phẩm, mẫu mã kiểu dáng như thế nào? Nếu không thì phải tiến hành đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng, giảm chi phí Nội dung xây dựng chiến lược sản phẩm bao gồm: Xác định
vị trí của sản phẩm; Đổi mới sản phẩm; Phát triển sản phẩm mới
Chiến lược thị trường là phải xác định được đặc điểm chủ yếu của thị trường tiêu thụ, xác định được những thuận lợi và khó khăn, giá cả chủng loại sản phẩm và những chi phí có liên quan đến thị trường
- Xây dựng chiến lược giá của doanh nghiệp: Nội dung chủ yếu của chiến lược giá là đưa ra các phương pháp định giá bán sản phẩm của doanh nghiệp Việc đưa ra các chính sách giá linh hoạt, phù hợp với cung cầu trên thị trường giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh của mình Các phương pháp định giá trong doanh nghiệp thường dùng là: Định giá theo chi phí sản xuất của doanh nghiệp; Định giá theo quan hệ cung cầu trên thị trường; Định giá theo giá trên thị trường; Định giá theo hệ số; Định giá theo vùng giá chấp nhận được; Định giá nhằm đạt được mức lợi nhuận mục tiêu đặt trước; Định giá có phân biệt
- Tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Nội dung tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bao gồm:
Trang 28tổ chức mạng lưới tiêu thụ; Tổ chức các hình thức bán hàng; Tổ chức các dịch vụ trong bán hàng và sau bán hàng
+ Tổ chức mạng lưới tiêu thụ là xác định hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm Việc xác định này phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đặc điểm của sản phẩm hàng hoá mà doanh nghiệp muốn tiêu thụ Thực chất khi xác định hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp đã xác định các điểm bán hàng của mình và phải dựa trên các kết quả nghiên cứu
về thị trường
Xây dựng trang thiết bị cho nơi bán hàng: Không những nhằm mục đích bán hàng thuận lợi mà còn phải nhằm mục đích thu hút khách hàng
+ Tổ chức các hình thức bán hàng: Các hình thức bán hàng phổ biến là: bán hàng theo hợp đồng; Bán hàng tại các cửa hàng & siêu thị; Bán hàng trực tiếp; Bán hàng qua điện thoại, qua mạng internet
+ Các dịch vụ trong bán hàng gồm: quảng cáo, tham gia hội trợ triển lãm, tiếp thị chào hàng, hoạt động chiêu khách và chiêu hàng
+ Các dịch vụ sau bán hàng gồm: Hướng dẫn sử dụng và bảo hành; Cung cấp phụ tùng và dịch vụ sửa chữa
2.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới tiêu thụ và phát triển tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như người sản xuất Do đó, hoạt động tiêu thụ sản phẩm được cấu thành bởi ba
bộ phận:
- Chủ thể kinh tế tham gia là người bán và người mua
- Đối tượng là sản phẩm hàng hóa, tiền tệ
- Thị trường là nơi gặp gỡ giữa người bán và người mua
Từ các bộ phận này, kết quả tiêu thụ tốt hay xấu phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu sau:
* Thị trường: Thị trường tiêu thụ sản phẩm thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu sản xuất và tiêu thụ Nếu thị trường tiêu thụ chấp nhận sản phẩm thì quy mô sản xuất sẽ được duy trì phát triển và mở rộng, ngược lại thì ngành sản xuất đó sẽ dẫn đến phá sản
* Hành vi của người tiêu dùng: Mục tiêu của người tiêu dùng là tối đa hóa
Trang 29độ thỏa dụng Vì thế trên thị trường người mua lựa chọn sản phẩm hàng hóa xuất phát từ sở thích, quy luật cầu và nhiều yếu tố khác Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm thì hành vi của người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn
* Chất lượng sản phẩm: Đó là những đặc tính nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được và có thể so sánh được Để giữ vững và nâng cao uy tín của sản phẩm, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh liên tục thì bắt buộc các doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm
* Giá bán sản phẩm: Đây là yếu tố chính quyết định tới việc mở rộng quy
mô hay thu hẹp sản xuất của các đơn vị sản xuất Việc thay đổi giá cả trên thị trường dẫn tới các đơn vị đơn vị sản xuất có nên đầu tư mở rộng quy mô sản xuất hay không
* Sự cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào số lượng doanh nghiệp tham gia vào sản xuất kinh doanh các mặt hàng
đó Do đó từng doanh nghiệp phải có đối sách phù hợp trong cạnh tranh để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình
* Cơ chế chính sách: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh chịu sự chi phối bởi các quy luật thị trường cung cầu, giá cả Song sự tác động của nhà nước tới thị trường có ý nghĩa to lớn và giúp cho các hoạt động kinh doanh của họ có hiệu quả Chính sách là những công cụ, biện pháp cụ thể để nhà nước điều chỉnh và định hướng các hoạt động tiêu thụ tuân theo pháp luật
* Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý ảnh hưởng không nhỏ tới việc giao hàng, chi phí vận chuyển và giao dịch
2.1.2.5 Đặc điểm tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Sản phẩm nông nghiệp và thị trường nông sản mang nặng tính chất vùng
và khu vực Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm sản xuất nông nghiệp mang nặng tính chất vùng Lợi thế so sánh của các vùng là yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn hướng sản xuất và tổ chức hợp lý quá trình tiêu thụ
Tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp có tác động mạnh mẽ đến cung, cầu của thị trường và giá cả nông sản Sự khan hiếm nông sản dẫn đến giá
cả cao vào đầu vụ, cuối vụ và sự dư thừa khi chính vụ làm cho giá cả giảm là một đặc điểm của tính chất mùa vụ Việc chế biến, bảo quản và dự trữ sản phẩm để
Trang 30đảm bảo cung cầu ổn định qua các thời kỳ là một yêu cầu cần được chú ý trong quá trình tiêu thụ sản phẩm (Đỗ Kim Chung, 2009) [12]
Sản phẩm nông nghiệp rất đa dạng, phong phú trở thành nhu cầu tối thiểu của mỗi người, với thị trường rất rộng lớn, nên việc tổ chức tiêu thụ phải linh hoạt Sản phẩm cồng kềnh, tươi sống, khó bảo quản, tỷ lệ hao hụt cao trong khi bảo quản và vận chuyển Vì vậy, cần tổ chức tốt tiêu thụ sản phẩm, nhanh chóng đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng là rất cần thiết trong điều kiện công nghiệp chế biến ở nước ta hiện nay chưa phát triển (Đỗ Kim Chung, 2009) [12] Trong quá trình tiêu thụ, người nông dân và các tác nhân tham gia tiêu thụ phải nắm rõ đặc điểm của sản phẩm, để có quyết định tiêu thụ hợp lý, mang lại hiệu quả
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật trong sản xuất cây hồng không hạt
Hồng không hạt là một trong những cây ăn quả á nhiệt đới chịu rét tốt, được trồng khá phổ biến ở Miền Bắc Việt Nam Quả hồng là một trong những loại quả có giá trị dinh dưỡng khá cao trong ngành nông nghiệp, chứa tới 12 - 16% đường, trong đó chủ yếu là đường glucose và frutoze Quả hồng khi chín có phẩm vị thơm ngon có thể sử dụng để ăn tươi, sấy khô, làm mứt, làm bánh nướng…hoặc sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp mỹ phẩm để sản xuất kem dưỡng da Ngoài ra, hồng còn được dùng làm thuốc, quả hồng ngâm rượu là một vị thuốc chống suy nhược, tai quả hồng sấy làm thuốc chữa ho, đầy bụng, nước hồng ép phơi khô gọi là “Thị tất” dùng chữa bệnh cao huyết áp Cây hồng được mệnh danh là “Thất tuyệt” vì có bảy ưu điểm và các cây trồng khác không
có như: dễ trồng, chịu khô hạn, chịu đất xấu, ít thâm canh, ít sâu bệnh, cây bền, lá
to và tán rộng cho nhiều bóng mát Hồng có năng suất ổn định và phẩm vị ngon nên trồng hồng cho thu nhập cao hơn nhiều so với các cây ăn quả khác Nhiều nghiên cứu trên quan điểm phát triển nông lâm – môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học cho thấy phát triển sản xuất hồng không hạt đạt được cả ba mục tiêu: kinh tế - xã hội - môi trường
Ở Việt Nam có nhiều giống hồng khác nhau được trồng ở một số vùng như ở Bảo Lâm, huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn; hồng Hạc Trì ở Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; hồng Thạch Thất, Hà Tây; hồng Thạch Hà, Hà Tĩnh; hồng Đà Lạt, Lâm Đồng…Trong đó, hồng Bắc Kạn là một trong những giống hồng ngon nổi tiếng ở Việt Nam vì có chất lượng rất tốt Cây hồng không hạt gắn với vùng đất Bắc Kạn
đã có lịch sử phát triển trên 100 năm Tại Bản Lác thuộc xã Quảng Bạch, xã
Trang 31Xuân Lạc, xã Tân Lập huyện Chợ Đồn hay tại các xã Quảng Khê, Đồng Phúc thuộc huyện Ba Bể và xã Nà Phặc thuộc huyện Ngân Sơn vẫn còn những cây hồng gần 100 năm tuổi cho năng suất và chất lượng quả tốt
Hồng không hạt Bắc Kạn thuộc họ thị Ebenaceae, loài hồng trơn, có tên khoa học là Diospyros kaki L Theo tiếng địa phương của dân tộc Tày, tên địa danh “Bắc Kạn” là cách nói chệch của chữ “Pác Cạm” có nghĩa là cửa ngõ hoặc
“Pác Cáp” có nghĩa là nơi hợp lưu của các dòng chảy Cách gọi Hồng “không hạt” là nói tới điểm đặc biệt của loại quả này là không có hạt do nhân của hạt bị thoái hóa, trong như thạch, vì vậy, không như các giống hồng khác, khi ăn, hồng không hạt Bắc Kạn có độ giòn Cũng theo tiếng của dân tộc Tày, Hồng không hạt còn được gọi là Mác hồng, còn chúng ta hay gọi là hồng ngâm do trước khi ăn, phải ngâm hồng qua nước để khử chát
Đặc điểm của loại quả này là quả không có hạt, vỏ quả màu vàng đỏ khi chín; tai quả to, quả không cứng và không chát, vị ngọt dịu đến ngọt đậm sau khi ngâm, quả nhiều cát đường và rất giòn Hồng không hạt chín vào thời điểm khoảng cuối tháng 7, 8 âm lịch, khi chín, màu quả chuyển từ xanh sang đỏ vàng sáng Theo kinh nghiệm của người dân nơi đây khi hái hồng đúng độ chín, đem
về ngâm xuống nước sạch, ngâm ngay sẽ cho chất lượng quả tốt và ngon nhất Hái hồng nên vào buổi sáng hoặc buổi chiều mát Quả hái về, xếp nhẹ nhàng vào các sọt có thể vận chuyển đi xa và bảo quản được lâu
Quả hồng chín màu vàng sáng rất đẹp, nhưng hái từ trên cây xuống vẫn không thể ăn được vì nó còn rất chát Phải ngâm hồng trong nước sạch, ngập khoảng 15-20cm, ngâm từ ba đến bốn ngày đêm, quả hồng sẽ hết nhựa chát và chuyển thành vị ngọt, khi đó vớt ra để ráo nước là có thể ăn
Hồng không hạt Bắc Kạn có những đặc điểm nổi trội, đó là thơm đặc trưng, vị ngọt đậm, giòn, giàu chất dinh dưỡng, sạch và là đặc sản của địa phương Vào mùa thu, đặc biệt vào ngày Tết trung thu truyền thống, quả hồng không hạt Bắc Kạn thường được dùng làm quà biếu cho bạn bè và người thân, được bày trên mâm ngũ quả trong mỗi gia đình người Việt Nét văn hóa đặc thù này đã làm cho giá trị và danh tiếng của hồng được lưu truyền qua hàng trăm năm cho đến ngày nay
Đến nay ở các huyện Chợ Đồn, Ba Bể và Ngân Sơn có khoảng 500 ha hồng không hạt phân tán ở các sườn đồi, trung bình mỗi vụ cho thu hoạch với
Trang 32tổng sản lượng khoảng trên 1.000 tấn quả, chỉ tính với giá bình quân là 20 nghìn đồng/kg thì người dân tộc thiểu số sẽ thu hàng chục tỷ đồng, trong khi đó vốn đầu tư không đáng kể Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hệ thống nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Tiến sĩ Đào Thế Anh đánh giá: “Hồng không hạt Bắc Kạn là cây bản địa, có nguồn gien quý hiếm, được trồng ở vùng đất đặc thù vệ địa lý, sinh thái, nhiệt độ ngày và đêm chênh lệch lớn, thổ nhưỡng phù hợp, cộng với kinh nghiệm canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số đã làm cho hồng không hạt có chất lượng ngon nhất Việt Nam”
Với giá trị kinh tế cao như vậy, nhưng theo Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn, Tiến sĩ Đỗ Tuấn Khiêm trăn trở: Chúng tôi vừa tiến hành một nghiên cứu mới đây thì có đến 98% số hộ trồng hồng không áp dụng đầy đủ các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cho cây, đặc biệt có đến 67% số hộ không hề tác động bất kỳ một biện pháp kỹ thuật nào mà chỉ thu hái quả khi đến vụ thu hoạch
Bên cạnh đó, theo dự án nghiên cứu của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chợ Đồn có đánh giá: Việc phát triển Cây Hồng không hạt tại Chợ Đồn còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh, thời tiết Việc mở rộng diện tích loại cây này cũng còn hạn chế do nhiều nguyên nhân như thiếu giống Hồng, kỹ thuật thâm canh Cây Hồng của người dân còn hạn chế nên năng suất, sản lượng quả Hồng còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao, người dân chưa
“mặn mà” với chuyện trồng Hồng
Để sinh trưởng, phát triển và tăng năng suất và phẩm chất cây trồng, việc nghiên cứu, áp dụng quy trình kỹ thuật trồng và thâm canh hồng không hạt là rất quan trọng Trên cơ sở các yêu cầu sinh thái của cây hồng và điều kiện tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn, TS Nguyễn Thế Huấn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã hoàn thiện nội dung quy trình kỹ thuật trồng và thâm canh cho giống hồng không hạt Bắc Kạn, cụ thể như sau:
* Yêu cầu điều kiện sinh thái
Cây hồng nói chung và cây hồng không hạt Bắc Kạn nói riêng thuộc loại cây ăn quả á nhiệt đới, trong chu kỳ sống hàng năm đòi hỏi phải có một giai đoạn ngủ nghỉ có nhiệt độ thấp để phân hoá mầm hoa, tạo quả Những vùng có tổng số giờ có nhiệt độ thấp 8-110C khoảng 800 giờ đều có thể trồng hồng tốt Để nảy mầm hồng cần nhiệt độ từ 13-170C sinh trưởng và phát triển cần nhiệt độ cao hơn
từ 26-300C, tốt nhất từ 22-260C, nở hoa từ 20-220C, giai đoạn phát triển quả
Trang 3326-270C, giai đoạn quả chín cần nhiệt độ thấp hơn từ 18-240C Biên độ ngày đêm lớn sẽ tạo phẩm chất tốt và mã quả đẹp
Trồng cây cải tạo đất: Thường trồng những cây họ đậu, trồng một hai vụ trước khi đào hố trồng cây Cây họ đậu ngoài việc cung cấp nguồn chất hữu cơ (thân, lá), trong hệ rễ còn có vi khuẩn cộng sinh có khả năng cố định nitơ tự nhiên cung cấp dinh dưỡng cho cây
Bón phân lót: Mỗi hố bón phân chuồng hoại mục 20-50kg; 0,5-1kg lân super lâm thao; 0,2-0,5kg KCl, nếu đất chua cần bón thêm 0,5-1kg vôi bột/hố Phân lân và vôi bột trộn đều với đất, cho phân chuồng xuống Đối với vùng đối
có lớp đất nông, bên dưới là đá nên bón lót bằng phân vi sinh hoặc phân chuồng hoại mục nhiều hơn, hạn chế bớt phân vô cơ Trộn đều các loại phân trên với lớp
Trang 34đất mặt cho xuống hố trước và lấy lớp đất đáy lấp lên trên, lấp đầy hoặc cao hơn mặt hố
* Kỹ thuật trồng
- Tiêu chuẩn cây giống:
Chuẩn bị cây giống tốt cần đạt các tiêu chuẩn:
+ Cây phải đúng giống, có nguồn gốc rõ ràng
+ Cây sinh trưởng tốt, đã được tạo hình cơ bản trong vườn ươm
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn cây giống cho trồng mới quy định: 10TCN-2001
1 Chiều cao cây tính từ mặt bầu (cm) >60 40-60
2 Đường kính gốc ghép đo các mặt bầu 10cm 1-1,2 0,8-1,0
Cách trồng:
+ Hố trồng hồng phải được chuẩn bị ít nhất 1 tháng trước khi trồng Dùng cuốc bới giữa tâm hố, cắt bỏ túi bầu, đặt cây vào giữa hố, lấp đất bằng mặt bầu cây giống, nhận chặt đều quanh gốc, dùng cọc đóng chéo, buộc cố định thân cây
để tránh gió lay đổ cây, tủ gốc bằng cỏ, rác, hoặc các tồn du thực vật, tưới khoảng 10 lít nước/ gốc
+ Những cây cao hoặc có nhiều lộc non phải cắt bỏ để tạo tán và chống mất nước cho cây
Trang 35Khi cây đã phục hồi sẽ tưới thưa hơn, tuy nhiên phải luôn tưới nước đủ ẩm cho cây, làm sạch cỏ gốc, đồng thời tủ cỏ khô xung quanh gốc để giữ ẩm
Đốn tỉa tạo hình:
- Năm thứ nhất chỉ chọn để 3 cành khoẻ mọc ra 3 hướng làm khung, cắt các cành khung cấp 1 chỉ để 2-3 cành khung cấp 2 vào vị trí thích hợp
- Cuối năm thứ 2 cắt các cành khung thứ 2, để cành khung cấp 3
- Cuối năm thứ 3 cắt các cành cấp 3 Hết năm thứ 3 bộ khung tán hồng đã tạo song
+ Lần 3 bón vào tháng 10-11: bón nốt số phân còn lại: 30% kali, 40% đạm
- Cách bón: Đào sâu 15-20cm quanh tán cây, cách gốc 30-40cm, rải đều phân, lấp đất kỹ, tưới đủ ẩm và tủ bằng cỏ khô
- Ngoài các lần bón thúc đại trà như trên thường xuyên theo dõi và cho bón điều chỉnh theo những đặc điểm để nhận biết của cây ở bảng 5 báo cáo tổng kết
Trồng xen cải tạo đất:
- Nếu có điều kiện nhân lực, tốt nhất trồng cây họ đậu, cây phân xanh trên toàn bộ diện tích vườn để lấy nguồn hữu cơ phủ đất, vùi vào đất để hạn chế xói mòn, giảm bốc hơi nước, giảm thiểu sự phát triển của cỏ dại, tăng dinh dưỡng cho đất
* Chăm sóc cây thời kỳ cho quả:
- Làm cỏ, giữ ẩm, tưới nước
+ Hàng tháng kiểm tra làm sạch cỏ quanh gốc, 3 tháng làm sạch cỏ giữa các hàng cây Dùng cỏ tủ quanh gốc giữ ẩm cho cây
+ Thường xuyên tưới đủ ẩm cho cây Nếu không mưa thì tưới 2 lần/tháng
và nếu có mưa thì không cần tưới
- Bón phân:
Trang 36Lượng phân bón
+ Phân chuồng: bón một lần phân đã ủ kỹ, lượng từ 30-50kg/cây
Bảng 2.2 Lượng phân vô cơ bón từ năm thứ 4 trở đi (kg/cây)
Lần 2: Bón 20% lân; 20% đạm; 25% kali bón vào tháng 5-6
Lần 3: Bón nốt số phân còn lại của cả năm: 20% đạm; 25% kali
* Đốn tạo quả:
Do cành mẹ chỉ sinh ra cành quả ở búp thứ nhất đến búp thứ ba tính từ ngọn xuống Vì vậy khi đốn tỉa quả mà yếu cũng phải cắt bỏ từ chân những cành
mẹ, cành quả yếu Cành đã ra quả mà yếu cũng phải cắt tận chân Những cành khoẻ thì cắt phía trên nơi đã có quả, để lại 1-2 mầm làm cành mẹ cho năm sau, ở cành gốc chọn 1-2 cành mẹ khoẻ nhất Đốn tỉa cành, chọn cành mẹ hợp lý sẽ cho nhiều quả to với chất lượng tốt
* Phòng trừ sâu bệnh:
- Sâu ăn lá, cuốn lá có vào tháng 3-4; hồng dễ bị sâu cuốn lá gây hại làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây
- Sâu đục quả: bướm đẻ trứng ở cuống quả hoặc tai quả, sâu non mới nở
có thể đục vào tận quả làm quả bị rụng
+ Cách phòng trừ: vặt vài quả non bị sâu hại đem đốt; phun: PADAN 95SP của Nhật Bản nồng độ 0,1% hoặc SELERON 500ND nồng độ 0,1%, POLITRIN 440EC nồng độ 0,1% hoặc DIPTEREX 50EC nồng độ 0,05-0,1%
Trang 37- Bệnh giác ban hại hồng trên lá và trên tai quả hồng bằng những vết không đều, phía giữa màu nâu sáng, ở phía ngoài sẫm hơn Bệnh phát triển vào mùa mưa tháng 7,8,9
+ Cách phòng trừ: đốt lá bệnh, phun AETTETTE 80WP nồng độ 0,3-0,4% hoặc BOOCDO 1% phun đẫm toàn bộ tán cây bị bệnh
* Thu hoạch
- Hồng ngâm Bắc Kạn chín vào rằng tháng 7 - tháng 8 âm lịch Quả chín thì màu quả chuyển từ xanh sang đỏ vàng Hái đúng độ chín chất lượng quả tốt hơn Nên hái vào buổi sáng hoặc buổi chiều mát
- Hồng chín đang ở trạng thái cứng, cắt quả, xếp quả nhẹ nhàng vào các sọt có thể vận chuyển đi xa và bảo quản lâu
- Quả hồng không hạt Bắc Kạn sau khi hái xuống vẫn cứng và ăn rất chát phải ngâm trong nước sạch ngập khoảng 15-20cm, ngâm trong 3 ngày 3 đêm (1,5 ngày phải thay nước và không được ngâm bằng nước mưa) Sau khi ngâm vớt hồng ra rửa sạch rồi hong cho ráo nước là có thể ăn được
2.1.4 Khái niệm về phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt
2.1.4.1 Khái niệm về phát triển sản xuất hồng không hạt
Phát triển sản xuất hồng không hạt là quá trình gia tăng về diện tích, về năng suất, sản lượng hồng trong một thời kỳ nhất định, là sự nâng cao chất lượng sản phẩm hồng không hạt đáp ứng nhu cầu của thị trường, là sự hoàn thiện về cơ cấu cây trồng theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trồng hồng không hạt, đảm bảo phát triển sản xuất hồng không hạt theo hướng bền vững
Đó là sự nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người trồng hồng không hạt, làm cho cuộc sống của họ trở nên khá hơn
2.1.4.2 Khái niệm về phát triển tiêu thụ hồng không hạt
Phát triển tiêu thụ hồng không hạt là một quá trình, trong đó sản phẩm hồng không hạt được tiêu thụ ngày càng gia tăng cả về sản lượng, cơ cấu sản phẩm hồng không hạt tiêu thụ được hoàn thiện dần theo hướng có lợi cho người sản xuất và người tiêu dùng
Trong phát triển tiêu thụ hồng không hạt phải chú ý đến yếu tố giá tại các thời điểm khác nhau, trên các kênh phân phối sản phẩm, chú ý hoàn thiện các kênh phân phối để người sản xuất hồng không hạt không bị thiệt trên kênh phân
Trang 38phối ấy Trên mỗi kênh phân phối hồng không hạt có sự tham gia của nhiều tác nhân khác nhau như người thu gom, người bán buôn, đại lý, người bán lẻ, cửa hàng, đại lý, siêu thị và mỗi tác nhân này có phương thức hoạt động khác nhau,
có giá trị gia tăng trên chuỗi cung ứng hồng không hạt khác nhau
2.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt
Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt bao gồm các nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường, tổ chức sản xuất, canh tác, thể chế chính sách cụ thể như sau:
* Điều kiện sản xuất
- Khí hậu: Có ảnh hưởng trực tiếp đến cây hồng không hạt Việc phát triển cây hồng không hạt trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải dựa vào điều kiện khí hậu mới có thể tránh những điều kiện bất thuận trong sản xuất và tăng năng suất, sản lượng, hiệu quả kinh tế
- Địa hình đất đai: Địa hình cao hay thấp, chất đất tốt hay xấu, thành phần
cơ giới, tính chất vật lí, hoá học của đất khác nhau sẽ cho chúng ta lựa chọn mật
độ trồng, mức độ đầu tư, thâm canh, xen canh khác nhau để trồng hồng Cây trồng thường lấy đi chất dinh dưỡng của đất mà ít khi hoàn lại nên đất dễ bị nghèo kiệt, thoái hoá nếu không được cải tạo, bón bổ sung các chất hữu cơ cho đất Do vậy, việc bố trí đầu tư thâm canh, xen canh như thế nào để vừa có năng suất cao lại vừa bảo vệ được đất là vấn đề được đặc biệt quan tâm hiện nay
- Cơ sở hạ tầng phục vụ vùng sản xuất gồm hệ thống đường giao thông, thủy lợi, đường điện, nhà bảo quản
- Trình độ nguồn nhân lực như kinh nghiệm, tập quán và khả năng tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến của người sản xuất
- Khả năng chi trả để có nguồn cung vật tư đầu vào, chất lượng của vật tư đầu vào phục vụ phát triển sản xuất hồng không hạt
* Khoa học công nghệ
Sản xuất hồng không hạt phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, có tính mùa vụ nên việc ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất là hết sức cần thiết nhằm hạn chế sâu bệnh, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó, từng bước kéo dài thời gian thu hái, tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường
Trang 39* Giống:
Là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái nông nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và hiệu quả thu được Nếu giống hồng không hạt tốt là cây được ghép bằng mắt từ những cây đầu dòng chất lượng tốt, trồng trên đất màu mỡ, với điều kiện tự nhiên, khí hậu, kỹ thuật và qui trình canh tác thích hợp thì sẽ cho kết quả thu hoạch tốt Ngược lại, nếu giống cây không tốt sẽ không thể có kết quả thu hoạch, chất lượng quả không cao
* Thời vụ gieo trồng: Thời vụ là yếu tố vừa có tính định lượng, vừa có cả định tính để trồng hồng Yếu tố thời vụ luôn gắn liền với thời tiết, khí hậu nhằm
bố trí trồng hồng để cây sinh trưởng, phát triển tốt trong những điều kiện tối ưu
để có năng suất, hiệu quả kinh tế cao và ổn định
- Tổ chức liên kết để tiêu thụ sản phẩm hồng không hạt
* Thị trường tiêu thụ sản phẩm hồng không hạt
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng nhưng lại là khâu rất quan trọng đối với sản xuất, quyết định sự sống còn của sản xuất Tiêu thụ được sản phẩm sẽ kích thích sản xuất phát triển, kích thích việc mở rộng quy mô và ngược lại, nếu không có tiêu thụ được sản phẩm thì sẽ không kích thích được sản xuất phát triển, ảnh hưởng đến sự tồn tại của quá trình sản xuất hồng không hạt
Yếu tố thị trường được chú ý ở các điểm sau:
- Lợi ích và chi phí và người sản xuất và kinh doanh hồng không hạt Nếu giá bán hồng không hạt không đủ bù đắp chi phí thì sẽ tác động tiêu cực đến tâm
lý người sản xuất Đối với những nhà kinh doanh hồng không hạt, nếu số lượng
và chất lượng chưa được cung ứng một cách đầy đủ, đều đặn, kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của họ, làm cho chuỗi cung ứng hồng không hạt bị giãn đoạn, tác động trực tiếp đến thị trường
Trang 40- Mối liên kết giữa người sản xuất và các nhà thu gom, phân phối, bán buôn, bán lẻ, siêu thị, đại lý, cửa hàng là yếu tố quyết định để sản phẩm hồng không hạt đến tay người tiêu dùng rộng rãi
* Thể chế, chính sách
- Có hệ thống chính trị ổn định, bảo đảm sự tham gia có hiệu quả của người sản xuất, kinh doanh hồng không hạt vào việc ra quyết định trong quản lý
và sử dụng tài nguyên nông nghiệp
- Mức độ ổn định trong quy hoạch, sử dụng đất tác động trực tiếp đến mức
độ ổn định của các vùng sản xuất và mức độ đầu tư của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, phân phối hồng không hạt
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt là cơ sở pháp lý đảm bảo cho hồng không hạt phát triển theo hướng bền vững Song song với đó là việc triển khai các chính sách hỗ trợ người sản xuất, thu mua sản phẩm như hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng như hệ thống tưới tiêu, nhà bảo quản, hệ thống giao thông, phương tiện vận chuyển, hệ thống chợ, cửa hàng bán lẻ,
- Sự kiên quyết trong chỉ đạo phát triển triển sản phẩm hồng không hạt của chính quyền các địa phương
2.2 CƠ SƠ VỀ THỰC TIỄN
2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất và tiêu thụ hồng không hạt trên Thế giới 2.2.1.1.Tại Nhật Bản:
Thông qua các Hợp tác xã, Chính phủ Nhật Bản giáo dục, hướng dẫn nông dân trồng những giống cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao cũng như giúp họ kỹ năng quản lý hoạt động sản xuất: lập chương trình sản xuất cho nông dân, thống nhất trong nông dân sử dụng nông cụ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến
Mục tiêu là giúp nông dân tiêu thụ hàng hóa có lợi nhất Mục tiêu của chính sách không phải vì lợi nhuận cho Chính phủ mà đặt mục tiêu hàng đầu là trợ giúp nông dân Nông dân có thể ký gửi hàng hóa cho cơ quan quản lý Nhà nước với một mức phí nhỏ hoặc có thể bán cho nhà nước theo giá thực tế
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, Chính phủ đề nghị nông dân sản xuất theo kế hoạch với chất lượng và tiêu chuẩn thống nhất với nhau và ưu tiên bán cho Nhà nước