MỞ ĐẦU Mặc dù các hệ thống thông tin di động thế hệ 2.5 G hay 3G vẫn đang phát triển không ngừng nhưng các nhà khai thác viễn thông lớn trên thế giới đã bắt đầu tiến hành triển khai thử
Trang 1HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
-
Phạm Phú Kiên
NGHIÊN CỨU, KHUYẾN NGHỊ
ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ LTE CHO CÁC CÔNG TY
VIỄN THÔNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử
Mã số: 60.52.70
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2011
Trang 2Luận văn được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hữu Hậu
Phản biện 1: PGS.TS.Hoàng Thọ Tu Phản biện 2: PGS.TS Trần Hồng Quân
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Vào lúc: 08 giờ 30 ngày 11 tháng 02 năm 2012
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Trang 3MỞ ĐẦU
Mặc dù các hệ thống thông tin di động thế hệ 2.5 G hay 3G vẫn đang phát triển
không ngừng nhưng các nhà khai thác viễn thông lớn trên thế giới đã bắt đầu tiến
hành triển khai thử nghiệm một chuẩn di động thế hệ mới có rất nhiều tiềm năng và
có thể sẽ trở thành chuẩn di động 4G trong tương lai Đó là công nghệ LTE (Long
Term Evolution) Các cuộc thử nghiệm và trình diễn này đã chứng tỏ năng lực tuyệt
vời của công nghệ LTE và khả năng thương mại hóa của công nghệ LTE đang đến
rất gần
Trong tương lai không xa, với LTE người sử dụng có thể truy cập tất cả các
dịch vụ mọi lúc, mọi nơi: Xem phim chất lượng cao HDTV, điện thoại thấy hình,
chơi game, nghe nhạc trực tuyến, tải cơ sở dữ liệu…với một tốc độ ‘‘siêu tốc’’ Đó
chính là sự khác biệt giữa mạng di động thế hệ thứ ba (3G) và thế hệ thứ tư (4G) Tuy còn khá mới mẻ nhưng mạng di động băng rộng 4G được kỳ vọng sẽ tạo ra
nhiều thay đổi khác biệt so với những mạng di động hiện nay
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tình hình phát triển mạng 3G/B3G của các công ty Viễn thông
Việt Nam
Chương này tìm hiểu hiện trạng mạng 3G/B3G của các Công ty Viễn thông Việt
Nam Các công nghệ mới sẽ được sử dụng trong mạng
Chương 2: Tổng quát về công nghệ LTE
Chương này giới thiệu về công nghệ LTE, chỉ rõ tính ưu việt của công nghệ
Trong chương này học viên cũng trình bày so sánh công nghệ LTE với các công
nghệ băng rộng
Chương 3: Khuyến nghị áp dụng công nghệ LTE cho các công ty Viễn thông
Việt Nam
Chương này, học viên sẽ trình bày lộ trình phát triển lên công nghệ LTE, vấn đề
chuyển đổi giữa các công nghệ, vấn đề phổ tần số vô tuyến điện…
Trang 4Chương 1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN MẠNG 3G/B3G CỦA CÁC CÔNG TY VIỄN THÔNG VIỆT NAM
Phiên bản thứ 2 của tầm nhìn IMT-2000 là các tiêu chuẩn do nhóm 3GPP2 soạn thảo, gọi là hệ thống CDMA2000 Các hệ thống này được phát triển từ hệ thống IS-
95 thế hệ 2; nó đã được triển khai ở Mỹ, Hàn Quốc, Nga, Nhật bản, Trung Quốc, Belarus, Romania Bảng 1.1 là các tiêu chuẩn cho các họ thông tin di động hiện có
Bảng 1.1 Các tiêu chuẩn cho các họ thông tin di động
0G (Radio telephony) Tương tự MTS, MTA, MTB, MTC, IMTS,
MTD, AMT, OLT
Khác NMT, Hicap, Mobitex, DataTAC
UMTS (UTRAN), FDD,WCDMA-TDD, UTRA-TDD, LCL (TD-SCDMA)
Trang 5WCDMA-3GPP2 CDMA2000x1EV-DO (IS-856) 3G Traditional
(3.5G, 3,75G, 3.9G)
3GPP HSPDA, HSUPA, HSPA+LTE
(E-UTRAN) 3GPP2 EV-DO Rev.A, EV-DO Rev.B
- Khái niệm GERAN được sử dụng
- Tách MSC vào trong máy chủ của MSC và cổng Media cho dịch vụ tải tin độc lập với miền CS
- Sử dụng khái niệm Streaming media
- Bản tin Multimedia
3GPP-R5 II/2002
- Sử dụng IMS; IPv6 trong miền PS
- Truyền tải IP trong UTRAN
Trang 6- Cải thiện QoS và ứng dụng thời gian thực
- HSPDA+ (Evolution) EDGE Evolution 3GPP-R8 I/2009
- Áp dụng cho LTE
- Áp dụng cấu trúc mạng UMTS (ALL IP)
1.1.1.2 CDMA 2000
CDMA2000 là công nghệ phát triển lên 3G từ họ CDMAOne (IS-95) bởi 3GPP2
Đây là công nghệ cạnh tranh trực tiếp với công nghệ WCDMA trên thị trường thông tin di động
Bảng 1.3 Quá trính phát triển các phiên bản 3GPP2
Trang 7khá phức tạp Xét theo kiến trúc dịch vụ, UMTS và CDMA2000 có những giới hạn
về khả năng lập trình Những giới hạn khác nhau cho UMTS, CDMA2000 và MWIF được tóm tắt trong Bảng 1.4
Bảng 1.4 Những hạn chế của 3 loại cấu trúc mạng 3G
Khả năng tích
hợp và tương
tác với Internet
Phức tạp, do có sự phân tách các miền,Nhóm giao thức và các vấn đề khác
Phức tạp, do có sự phân tách cácmiền Nhóm giao thức và các vấn đề khác
Đơn giản Tuy nhiên các đặc tính chưa đầy đủ và hệ thống chưa được triển khai
Sự Phân tách
giữa PS/CS
Tách biệt niền CS/PS/IMS
Tương tự như UMTS
Đồng nhất điều khiển cho mọi lưu lượng
Nhóm các
giao thức
Phức tạp, do IP qua ATM, chuyển nối tiếp bằng cách dùng GTP
Đơn giản hơn cho
dự liệu gói,
Sử dụng IP di động để quản lý di động
Đơn giản nhất, toàn dùng các giao thức
IP quen thuộc
Giá thành thiết
bị định tuyến
Sử dụng vận tải ATM có thể làm tăng giá thành so với
IP quen dung
Giá thành có thể thấp so với UMTS nếu sử dụng IP quen thuộc
Có thể là thấp nhất,
do tính kinh tế của các giải pháp IP chuẩn
Các dịch vụ dữ
liệu gói thời
gian thực
Vấn đề có tính hệ thống, do sử dụng SIP cải biên và các tiền ẩn khác
Chưa rõ ràng
Chưa rõ ràng, ví các giải pháp IP thông dụng không đảm bảo QoS
Tương tự UMTS
Không có địa chỉ
rõ ràng hoặc chi tiết
Tính thương
mại
Triển khai diện rộng tại vài nơi Triển khai rộng rãi Chưa triển khai
Trang 81.1.3 Hiện trạng mạng 3G/B3G của các Công ty Viễn thông Việt Nam
Hiện nay, tại Việt Nam băng tần I (2110 - 2170) Mhz đã được chia thành bốn khe và được cấp phát cho bốn nhà khai thác: VIETTEL, VMS, GPC, EVN
Ba nhà khai thác VMS, GPC, Viettel sử dụng công nghệ GSM Họ GSM bao gồm cả công nghệ 2,5G với dịch vụ vô tuyến gói chung GPRS (General Packet Radio Service) và công nghệ 2,75G EDGE (Enhanced Data Rates for GSM Evolution) với việc nâng cao tốc độ truyền dữ liệu cho GSM đã giải quyết được phần nào nhược điểm trong việc truyền dữ liệu tốc độ thấp của GSM ban đầu Với GSM, sự ra đời của công nghệ CDMA băng rộng 3G (WCDMA-UMTS)
và truy nhập gói tốc độ cao HSPA (High Speed Packet Access) là các giải pháp cho việc nâng cao hiệu năng của mạng Với công nghệ HSPA, các nhà mạng trên
đã và đang triển khai rộng khắp tại các thành phố lớn: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh,
Đà Nẵng, Hải Phòng, Nha Trang…
Các mạng EVN Telecom, Sfone sử dụng công nghệ CDMA Thế hệ thứ 2G
sử dụng công nghệ CDMA2000 (IS-95); Thế hệ 3G/B3G dùng công nghệ CDMA2000x1EV-DO (IS-856)/ EV-DO Rev.A/ EV-DO Rev.B
1.2 Các công nghệ mới sẽ được sử dụng trong mạng
Mạng 3G còn có một số hạn chế về tốc độ dữ liệu, khả năng cung cấp dịch vụ băng rộng qua Internet và đảm bảo mức QoS và độ trễ Để khắc phục các vấn đề này trong các mạng thế hệ kế tiếp ta cần áp dụng một số kỹ thuật - công nghệ mới
1.2.1 Kỹ thuật truy nhập điều chế OFDM và sau OFDM
1.2.2 Cấu trúc mạng truy nhập phi thông lệ (không truyền thống)
1.2.3 Kỹ thuật đa anten
1.2.4 Điều chế và mã hoá thích nghi (AMC)
1.2.5 Vô tuyến xác định theo phần mềm (SDR)
1.2.6 Vô tuyến trí tuệ (Cognitive radio)
1.2.7 Anten trí tuệ IA (Intelligent Antenna):
1.2.8 E-UTRAN
Trang 91.3 Kết luận chương
Chương 1 trình bày tổng quát về công nghệ 3G/B3G Tìm hiểu về hiện trạng mạng 3G/B3G của các công ty Viễn thông Việt Nam Chương này cũng chỉ rõ hạn chế của mạng 3G, đồng thới giới thiệu các công nghệ nổi trội sẽ được áp dụng cho mạng 3G/B3G
Trang 10Chương 2
TỔNG QUÁT VỀ CÔNG NGHỆ LTE
2.1 Giới thiệu về công nghệ LTE
LTE là thế hệ thứ tư tương lai của chuẩn UMTS do 3GPP phát triển Các đặc điểm của LTE bao gồm mạng truy nhập vô tuyến mặt đất UMTS phát triển (E-UTRAN), giao diện vô tuyến mặt đất UMTS phát triển (E-UTRA), gọi chung là 3GPP LTE E-UTRAN là mạng truy nhập không dây của 3GPP LTE được nâng cấp cho mạng di động Thuật ngữ eUTRAN (elvoved UMTS Terrestrial Radio Access Network) hay E-UTRA (Evolved Universal Terrestrial Radio Access) đều liên quan đến LTE Đó là chuẩn giao diện vô tuyến được phát triển từ các công nghệ UMTS, HSDPA và HSUPA trong 3GPP-R5 và các phiên bản kế tiếp Khác hẳn với HSPA, LTE’s E-UTRA là một hệ thống giao diện không gian hoàn toàn mới, không
có mối liên quan và không tương thích với W-CDMA Giao diện E-UTRA cung cấp tốc độ truy nhập dữ liệu cao, động trễ thấp và được tối ưu cho truyền dữ liệu gói Lần đầu tiên E-UTRA được thử nghiệm (2008) với kỹ thuật truy nhập vô tuyến OFDMA cho tuyến xuống và CS-FDMA cho tuyến lên
2.1.1 Các đặc điểm chính của E-UTRAN
E-UTRAN được phát triển trong các phiên bản 8/2008 (cho LTE), 9/2009 (cho MIMO) và 10 (cho tuyến lên SU-MIMO) Các phiên bản này đều tương thích ngược với mạng trước đó
Mạng truy nhập E-UTRAN có một số đặc điểm chung sau:
- Tốc độ đỉnh: Tải dữ liệu xuống là 292 Mbit/s, tải lên là 71 Mbit/s, cho băng thông 20 MHz, tốc độ này phụ thuộc vào loại thiết bị đối tượng sử dụng UE (User Equipment)
- Trễ truyền dữ liệu thấp (5 ms cho các gói IP nhỏ), trễ chuyển giao và
xác lập kết nối thấp hơn so với các loại công nghệ truy nhập trước đó
- Hỗ trợ các thiết bị đầu cuối có tốc độ di chuyển 350/500 km/h, tùy
thuộc băng tần sử dụng
Trang 11Hỗ trợ các phương thức ghép đường FDD và TDD, FDD bán song công, với cùng loại công nghệ áp dụng
- Hỗ trợ tất cả các băng tần phân bổ cho IMT (ITU-R)
- Độ rộng băng thông linh hoạt: Các băng thông1,4; 3; 5; 15; 20 MHz
đều đã được chuẩn hóa
- Hỗ trợ các kích cỡ cell khác nhau, từ vài chục mét (femtocell, picocell) đến
100 km cho macrocell
- Cấu trúc đã được đơn giản hóa: Phía mạng của E-UTRAN được kết hợp chỉ bởi một loại nút enodeBs
- Hỗ trợ khai thác đồng thời với các hệ thống khác (GSM/EDGE,…)
- Giao diện vô tuyến loại chuyển mạch gói
2.1.1.9 Phối hợp hoạt động với 3GPP RAT
2.1.1.10 Cấu trúc mạng và sự chuyển đổi
2.1.1.11 Điều phối tài nguyên vô tuyến RR (Radio Resource)
2.1.1.12 Một số vấn đề phức tạp
2.1.2 Các vấn đề đang nghiên cứu
2.1.3 Lớp các giao thức cho giao diện E-UTRAN
Trang 122.1.3.1 Kiến trúc giao thức E-UTRAN
2.3 So sánh công nghệ LTE với công nghệ Wimax
IEEE 802.16m R2
Tính kế thừa GSM/GPRS/EDGE
/UMTS/HSPA
IEEE 802.16a đến d
IEEE 80216a đến
e Mạng lõi UTRAN tiến tới
mạng lõi E-UTRA
có IMS với cấu trúc SAE
Mạng WiMax forum hoàn toàn
IP
Mạng WiMax forum hoàn toàn
FDMA OFDMA
OFDMA OFDMA
Băng tần, MHz 800/900/1800/1900
800, 2620 MHz) 2,11GHz NLOS: 2,11GHz Băng thông, MHz 5; 3,5; 7; 8,75; 10 5; 10; 20; 40 Tốc độ, Mbit/s
Trang 132x2 1x2
2x2;2x4;4x2; 4x4 1x2; 1x4; 2x2; 2x4
> 50/user/sector FDD
> 25/user/sector TDD
> 100/user/sector FDD
> 50/user/sector TDD
So với 3G LTE, WiMax IEEE 802.16m hứa hẹn có nhiều điểm vượt trội Xét trên bình diện kỹ thuật truyền thông không dây thì LTE không có bất cứ một kỹ thuật cơ bản nào vượt trội WiMax di động Điểm khác biệt cơ bản của 3G LTE là
sử dụng kỹ thuật đa truy nhập SC-CDMA cho tuyến ngược, thay vì OFDMA như trong WiMax Song nhiều chuyên gia cho rằng sự khác biệt này lại là điểm yếu của 3G- LTE Thực tế SC-CDMA cho phép cải thiện PAPR (Peak-to-Average-Power Ratio) ở phía phát cỡ 2 dB, nhưng nó lại làm mất khoảng 2-3 dB về hiệu suất truyền thông trên kênh truyền có pha đinh ở phía thu Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy thực tế SC-CDMA cho một hiệu suất trên kênh thấp hơn so với OFDMA
Lợi thế của WiMax so với 3G LTE là WiMax đã sẵn sàng cho việc triển khai
dịch vụ rộng khắp: Thiết bị mạng đã hoàn thiện, thiết bị đầu cuối sẽ có mặt trong năm tới, trong khi đó 3G LTE phải đợi thêm vài năm nữa WiMax cung cấp cả giải pháp cố định lẫn di động băng rộng với chi phí triển khai thấp, so với chi phí triển khai mạng 3G LTE hoàn toàn mới Do vậy WiMax thực sự gây được sự chú ý ở các nước đang phát triển mà ở đó chưa có 3G, mạng Internet tốc độ cao bằng cáp đồng DSL chưa phát triển rộng khắp
So với WiMax, 3G LTE đã có một công nghệ đi trước là 2G, 3G với số lượng
thuê bao lớn đã có sẵn Đây là một lợi thế khi triển khai 3G LTE Đặc biệt là thiết bị
3G LTE tương thích ngược với các mạng di động 2G GSM/GPRS/EDGE và UMTS
Trang 14đang tồn tại Điều này cho phép các nhà cung cấp mạng 3G LTE có thể triển khai mạng dần dần, giống như họ nâng cấp 2G lên 3G, trong khi đó WiMax phải triển khai từ con số không
2.3.2.8 Phân tích thị trường
IEEE 802.16d và e đã được thử nghiệm và thương mại hóa trên toàn cầu EEE 802.16m và LTE đang trong giai đoạn thử nghiệm LTE phát triển từ mạng UMTS/HSPA còn WiMax cho ta các mô hình giá thành thấp
2.3.2.9 Kết luận
ITU đã xác định các yêu cầu cho 4G với tên gọi IMT Advanced, gồm 2 loại công nghệ: WiMax và LTE Cả hai công nghệ này đều giống nhau về kỹ thuật truy nhập, phương thức truy nhập vô tuyến, kích thước FFT, băng thông kênh, bán kính phủ sóng, cấu hình anten, mức QoS, hỗ trợ di động và mạng hoàn toàn IP Tuy nhiên, xét về mặt thị trường hai công nghệ có khác nhau về tính kế thừa, thời gian thương mại hóa WiMax đã được triển khai trên toàn cầu trong khi đó LTE đang giai đoạn hoàn thiện
Đối với các nhà mạng mới thì lựa chọn WiMax là hợp lý Các nhà mạng đang
sở hữu 3GPP UMTS/HSPA nên lựa chọn LTE là cách tốt nhất để phát triển lâu dài lên 4G Đối với các nhà mạng đang sử dụng GSM/EDGE hoặc cdma2000 thì có thể chọn WiMax hoặc LTE Việc lựa chọn công nghệ nào tùy thuộc vào lợi thế về thời gian của công nghệ và mạng kế thừa của nhà cung cấp dịch vụ
Trang 15Chương 3 KHUYẾN NGHỊ ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ LTE CHO CÁC CÔNG TY VIỄN THÔNG VIỆT NAM
3.1 Lộ trình phát triển
Con đường tiến tới di động băng rộng tương lai có một vài hướng đi và mỗi nhà khai thác di động sẽ có thời gian biểu và các lý do cho việc lựa chọn những con đường đi khác nhau Tuy nhiên có vẻ tất cả cùng thống nhất một kết quả cuối cùng - một mạng vô tuyến toàn IP hiệu quả có khả năng cung cấp các dịch vụ thoại, video
và dữ liệu Việc lựa chọn giao diện vô tuyến phù hợp nhất để tương thích với các dịch vụ dựa trên nền IP trong tương lai là chìa khóa quan trọng để đạt tới kết quả
đó Ngoài ra để phù hợp với các mạng lõi và truy nhập của chính họ thì các nhà khai thác mạng cũng phải lựa chọn chúng sao cho đồng bộ với sự phát triển của các thành phần vô tuyến khác như thiết bị, các ứng dụng và dịch vụ
Trong nhiều năm nay một chuẩn di động toàn cầu là một trong những mục tiêu của ngành viễn thông Các nhà khai thác theo công nghệ GSM chiếm ưu thế trong các công nghệ thứ 2 (2G), tuy nhiên vẫn có sự chia sẻ với các mạng phát triển theo công nghệ CDMA và TDMA (ví dụ như mạng số tổ hợp nâng cao iDEN – Integrated Digital Enhanced Network) Với việc chuyển đổi sang hệ thống thông tin
di động thế hệ thứ 3 (3G), thì hầu hết các nhà khai thác TDMA được chuyển đổi theo hướng công nghệ họ GSM Khi đó ngành thông tin di động chỉ còn phân chia theo 2 dòng công nghệ họ GSM và CDMA
Cùng với bước tiếp theo của sự tiến hóa công nghệ mà cơ hội đã xuất hiện cho một công nghệ chuẩn toàn cầu Nhiều nhà khai thác phủ sóng dựa trên công nghệ
mà họ tin tưởng sẽ đem lại cho họ và khách hàng của mình nhiều lợi ích nhất Công nghệ đó chính là LTE (Long Term Evolution - Tiến hóa lâu dài) Lần đầu tiên trên thế giới, một chuẩn công nghệ tương lai được mở rộng ở Mỹ, châu Âu, châu Á với những cam kết của các nhà khai thác hàng đầu trong kế hoạch triển khai LTE và một sự nhất trí toàn cầu rằng LTE sẽ trở thành một công nghệ chủ đạo cho thế hệ kế tiếp của di động băng rộng