1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á

133 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cThực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Thăng Long ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á - Nhận diện rủi ro tín dụng Nhận diện rủi ro tín dụng được thực hiện thông qua

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ THỊ KIỀU NHUNG

QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH THĂNG LONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung và kết quả nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố, hay sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin sử dụng trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lê Thị Kiều Nhung

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin bày tỏ tình cảm chân thành và lòng biết ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trang bị cho hành trang kiến thức, cũng như tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Thị Phương Thụy đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ lãnh đạo chi nhánh Thăng Long, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại chi nhánh

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã động viên giúp đỡ tôi về cả vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành tốt luận văn này./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lê Thị Kiều Nhung

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục đồ thị vii

Trích yếu luận văn viii

Abstracts xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro tín dụng 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Tín dụng ngân hàng 3

2.1.2 Rủi ro tín dụng ngân hàng 7

2.1.3 Quản lý rủi ro 18

2.1.4 Quản lý rủi ro tín dụng 19

2.1.5 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của một số Ngân hàng Thương mại trong và ngoài nước 29

2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng 42

2.1.7 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 44

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 46

3.1 Đặc điểm địa bàn 46

3.1.1 Một vài nét về Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á 46

3.1.2 Sơ lược về Ngân hàng TMCP Bắc Á – Chi nhánh Thăng Long 46

3.2 Phương pháp nghiên cứu 49

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 49

3.2.2 Phương pháp xử lý tài liệu 50

3.2.3 Phương pháp phân tích 50

Trang 5

3.3 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng ngân hàng 51

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 53

4.1 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á 53

4.1.1 Thực trạng hoạt động huy động vốn tín dụng tại chi nhánh Thăng Long ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á 53

4.1.2 Tình hình sử dụng vốn tại chi nhánh Thăng Long ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á 55

4.1.3 Những kết quả đạt được trong hoạt động tín dụng tại chi nhánh Thăng Long ngân hàng Bắc Á 58

4.1.4 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Thăng Long ngân hàng thương mại Cổ phần Bắc Á 60

4.2 Đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tại chi nhánh thăng long ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á 69

4.2.1 Kết quả thực hiện chính sách tín dụng tại chi nhánh Thăng Long ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á 69

4.2.2 Thực trạng QLRR của chi nhánh Thăng Long ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á 70

4.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Thăng Long ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á 90

4.2.4 Đánh giá chung về tình hình quản trị rủi ro tại Chi nhánh Thăng Long 94

4.3 Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long những năm tới 97

4.3.1 Định hướng chung 97

4.3.2 Định hướng phát triển tín dụng 97

4.3.3 Giải pháp tăng cường quản lý RRTD tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á - Chi nhánh Thăng Long 98

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 106

5.1 Kết luận 106

5.2 Kiến nghị 107

Tài liệu tham khảo 110

Phụ lục 112

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BHTG Bảo hiểm tiền gửi

BQ Bình quân

CC Cơ cấu

CN Chi nhánh DNNN Doanh nghiệp Nhà nước L/C Thư tín dụng

NHTM CP Ngân hàng thương mại cổ phần NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTW Ngân hàng trung ương NHTM Ngân hàng thương mại NQH Nợ qúa hạn

GT Giá trị GTVT Giao thông vận tải TMCP Thương mại cổ phần TSCĐ Tài sản cố định TCKT Tổ chức kinh tế TCTD Tổ chức tín dụng TSĐB Tài sản đảm bảo RRTD Rủi ro tín dụng PGD Phòng giao dịch VND Việt Nam Đồng

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Số lượng mẫu điều tra 50

Bảng 4.1 Nguồn vốn huy động tại chi nhánh Thăng Long ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á 55

Bảng 4.2 Tình hình dư nợ tín dụng của Chi nhánh qua 3 năm 56

Bảng 4.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Thăng Long 58

Bảng 4.4 Tình hình nợ quá hạn trong cho vay tín dụng 60

Bảng 4.5 Nợ quá hạn tín dụng phân theo loại hình doanh nghiệp 61

Bảng 4.6 Nợ quá hạn tín dụng phân theo ngành nghề 62

Bảng 4.7 Tình hình nợ quá hạn theo nhóm 63

Bảng 4.8 Tình hình nợ quá hạn theo tính chất đảm bảo trong cho vay 65

Bảng 4.9 Tình hình NQH theo thành phần kinh tế của chi nhánh qua 3năm 67

Bảng 4.10 Tình hình NQH theo thời gian của chi nhánh qua 3 năm 68

Bảng 4.11 Rủi ro do tác động của môi trường bên ngoài 73

Bảng 4.12 Rủi ro do tư cách khách hàng vay vốn 75

Bảng 4.13 Rủi ro trong thẩm định hồ sơ tài chính của DN 77

Bảng 4.14 Những nguyên nhân rủi ro do ngân hàng 80

Bảng 4.15 Tình hình hồ sơ vay vốn tại chi nhánh Thăng Long 84

Bảng 4.16 Tổng hợp các nguyên nhân của các hồ sơ vay vốn bị loại 85

Bảng 4.17 Nguyên nhân do công tác kiểm tra, kiểm soát khoản vay 87

Trang 8

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 4.1 Tỷ trọng nợ quá hạn tín dụng theo loại hình doanh nghiệp 61

Đồ thị 4.2 Cơ cấu nợ quá hạn tín dụng phân theo ngành nghề 62

Đồ thị 4.3 Tỷ lệ nợ quá hạn theo nhóm 64

Đồ thị 4.4 Tỷ lệ nợ quá hạn theo tính chất đảm bảo trong cho vay 65

Đồ thị 4.5 Tỷ lệ nợ quá hạn theo thành phần kinh tế 67

Đồ thị 4.6 Tỷ lệ nợ quá hạn theo thời gian 68

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên luận văn: “Quản lý rủi ro tín dụng tại Chi Nhánh Thăng Long – Ngân

hàng thương mại cổ phần Bắc Á”

Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế

Tên tác giả: Lê Thị Kiều Nhung

Người hướng dẫn: TS Vũ Thị Phương Thụy

Thời gian bảo vệ: Tháng 6 năm 2016

Tính cấp thiết

Trong môi trường hoạt động nhiều thử thách, các ngân hàng phải gánh chịu rủi ro đáng kể để kiếm được lợi nhuận kỳ vọng Một trong những hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận và cũng như rủi ro lớn nhất đối với một ngân hàng đó là hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng là hai yếu tố song hành, không thế tách rời Ngân hàng không thể loại bỏ hoàn toàn được rủi ro tín dụng trong hoạt động của mình mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu thiệt hại tối đa mà rủi ro tín dụng có thể mang lại Đứng trên quan điểm quản trị toàn bộ hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng, một tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng phải luôn được xác định trong chiến lược hoạt động chung Khi ngân hàng kinh doanh với mức tổn thất thấp hơn hoặc bằng mức tỷ lệ tổn thất dự kiến thì đó là sự thành công trong lĩnh vực quản trị rủi ro

Ngân hàng TMCP Bắc Á là một trong những ngân hàng TMCP uy tín, tình hình kiểm soát tín dụng trong thời gian qua cũng được xem là khá tốt; công tác quản trị rủi ro tín dụng luôn luôn được coi trọng Ðặc biệt tại Ngân hàng TMCP Bắc Á – Chi nhánh Thăng Long công tác quản lý rủi ro tín dụng đã bắt đầu được quan tâm chặt chẽ cùng với sự phát triển cả quy mô tín dụng

Do vậy, tôi đã chọn “Quản lý rủi ro tín dụng tại Chi Nhánh Thăng Long –

Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á” để làm đề tài cho luận văn của mình

Mục tiêu của luận văn

Đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện thực trạng tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để hạn chế rủi ro và tăng cường công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Thăng Long ngân hàng thương mại Cổ phần Bắc Á

Phương pháp nghiên cứu:

- Điều tra, thu thập số liệu

- Các số liệu thu thập được chúng tôi đưa vào máy tính với phần mềm Excel để tổng hợp và hệ thống hoá lại những tiêu thức cần thiết, các số liệu điều tra sẽ được mã hoá trong quá trình xử lý

Trang 10

Nội dung nghiên cứu

Thực trạng QLRR của chi nhánh Thăng Long ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á

a) Bộ máy tổ chức quản lý rủi ro

Hiên tại, chưa có mô hình rõ nét quy trình quản lý rủi ro tại Chi nhánh một cách

có hệ thống, việc quản lý rủi ro được thực hiện thông qua chức năng nhiệm vụ của các phòng dưới sự chỉ đạo của Giám đốc Chi nhánh

b) Các văn bản chế độ hướng dẫn, liên quan đến quản lý rủi ro

- Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng;

- Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập

dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2014;

- Thông tư số 14/2014/TT-NHNN ngày 20 tháng 5 năm 2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại

nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của

tổ chức tín dụng;

- Quyết định số 22/VBHN-NHNN, ngày 04 tháng 06 năm 2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phong để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

c)Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Thăng Long ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á

- Nhận diện rủi ro tín dụng

Nhận diện rủi ro tín dụng được thực hiện thông qua quá trình thao tác các nghiệp vụ của các phòng chuyên môn, chưa có bộ phận chuyên trách để xem xét đánh giá và công bố, đưa ra nguyên nhân tiềm ẩn về rủi ro, cụ thể:

Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong quá khứ và hiện tại, đưa ra đánh giá về tiềm lực tài chính, xu thế, và những tiềm ẩn rủi ro về năng

lực tài chính khách hàng Việc thực hiện phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp chưa được thường xuyên, thực hiện trong quá trình thẩm định cho vay, quá trình giải ngân

và quản lý vốn vay, đã cung cấp thông tin cần thiết cho lãnh đạo Chi nhánh quyết định cho vay và quản lý rủi ro vốn vay

Trang 11

Giao tiếp với khách hàng và nội bộ Chi nhánh: thường xuyên có sự giao tiếp với khách hàng, theo dõi tình hình thực tế hoạt động của khách hàng để phát hiện những rủi ro tiềm ẩn của khách hàng, nhóm khách hàng và đưa ra biện pháp phòng ngừa kịp thời Nội bộ các phòng, ban lãnh đạo Chi nhánh đã có trao đổi, nắm bắt thông tin, xác định nguyên nhân rủi ro và các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động cho vay vốn tín dụng phục

vụ cho công tác điều hành quản lý rủi ro

Nghiên cứu tổn thất rủi ro quá khứ, số liệu thống kê về rủi ro không thường xuyên Quá trình QLRR Chi nhánh đã có xem xét đến những dữ liệu rủi ro của quá khứ, xác định nguyên nhân dẫn đến rủi ro khách hàng gặp phải; đồng thời có tính đến yếu tố xã hội, thời điểm, vị trí, vùng miền trong xem xét quyết định cho vay Tuy nhiên việc theo dõi không thành hệ thống, thông tin rời rạc, chưa có đủ tính khoa học, nhiều khi dự báo, dự đoán mang tính cảm nhận của người quản trị

- Thẩm định hồ sơ cho vay vốn tín dụng

Sau khi thẩm định hồ sơ vay vốn chi nhánh xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:

+ Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật

+ Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

+ Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ đúng thời hạn cam kết

+ Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật

+Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính Phủ, của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hướng dẫn của NHNT

- Đánh giá kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn vay

Công tác kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn sau khi cho vay, đôn đốc thu hồi nợ đến hạn, quá hạn của các bộ phận liên quan còn chưa thường xuyên và thiếu tính quyết liệt, các khoản cho vay có vấn đề chưa được theo dõi chặt chẽ, chưa quan tâm nhiều đến công tác dự báo Đánh giá phần nhiều là định tính, khả năng định lượng những tác động của các yếu tố khác đến phương án vay còn hạn chế Cán bộ cho vay không kiểm tra sử dụng vốn vay chiếm tỷ lệ trên 50%/tổng dư nợ quá hạn, số ít kiểm tra nhưng sơ sài không làm biên bản kiểm tra để lưu hồ sơ, có một số trường hợp có kiểm tra sử dụng vốn vay nhằm đối phó với kiểm tra của các đoàn kiểm tra của Ngân hàng thương mại Việt Nam và thanh tra ngân hàng nhà nước Thành phố Hà Nội như tự làm lấy và

ký thay cho khách hàng hoặc gửi cho khách hàng ký Ngoài ra có trường hợp cán bộ

Trang 12

cho vay sau khi cho vay ký luôn biên bản kiểm tra nhằm hợp thức hóa hồ sơ và tránh

áp lực trong công việc thể hiện như không ghi ngày tháng năm kiểm tra hoặc ngày kiểm tra rơi vào những ngày nghỉ Trước và sau khi gia hạn hoặc điều chỉnh kỹ hạn nợ nhưng cán bộ cho vay không thực hiện đúng quyết định về quy trình cho vay của ngân hàng thương mại Nguyên nhân quan trọng nhất trong quá trình kiểm tra giám sát vốn vay là khách hàng chậm trả lãi, trả gốc theo cam kết và không có đề nghị gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạn trả nợ nhưng bộ phận phụ trách kế toán (phòng quản lý nợ) và cán

bộ tín dụng không chuyển nợ quá hạn và đôn đốc khách hàng trả nợ

d) Thu hồi nợ đọng

Nợ đọng luôn là bóng đen đè nặng lên vai các ngân hàng Nếu ngân hàng không

có những khoản nợ đọng thì đó không phải là hoạt động kinh doanh Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và nợ đọng là một thực tế hiển nhiên ở bất kỳ một ngân hàng nào bởi vì rủi

ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người

Kết luận và kiến nghị

a) Kết luận

Hoạt động ngân hàng đã có từ lâu đời với chức năng huy động vốn trong nền kinh tế để cho vay, nên nó là công cụ tích tụ và tập trung vốn để hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện việc tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và chiều sâu, thực hiện tốt việc luân chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao Ngân hàng cũng góp phần thu hút và đẩy tiền ra lưu thông, chống lạm phát, ổn định tiền tệ giá cả, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp

Hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng Tuy nhiên, tín dụng cũng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất trong các hoạt động của ngân hàng Vì vậy, việc nghiên cứu cơ chế phát sinh rủi ro và tìm hiểu các

biện pháp nhằm hạn chế rủi ro là rất cần thiết Từ thực trạng đó, đề tài " Quản lý rủi ro

tín dụng tại Chi Nhánh Thăng Long – Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á” đã ít

nhiều giải quyết được các vấn đề sau:

Luận văn trình bày bản chất đặc điểm của rủi ro tín dụng và thiệt hại mà rủi ro tín dụng gây ra đối với ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế Phân tích các nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng và các giải pháp mà các NHTM có thể áp dụng

để phân tán và hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay

b) Kiến nghị

Trong hoạch định chính sách, không những cân đối giữa các mục tiêu phát triển kinh tế và ổn định tiền tệ mà còn phải quan tâm đến sự phát triển bền vững của các ngân hàng, tránh tình trạng thắt chặt hoặc nới lỏng quá mức, thay đổi định hướng đột ngột sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của các ngân hàng

Trang 13

THESIS ABSTRACTS

Thesis title: “Credit risk management of North Asia Commercial Joint Stock

Bank - Thang Long Branch”

Specialty: Economic Management

Author’s name: Le Thi Kieu Nhung

Supervisor: Dr Vu Thi Phuong Thuy

Thesis defense time: June - 2016

1 The necessity of the thesis topic

Risk and profits are always in parallel in business In the challenging business environment nowadays, the banks have to take risk to achieve expected profits Credit is one of banking activities that is risky and brings significant benefit for the banks The banks cannot eliminate the credit risk; the bank just can prevent or minimize the damage from the risk by applying some measures

In point of view about the banking management in general and credit activity management in particular, an expected loss rate in credit activities must be always determined when establish overall strategy of a bank A bank achieving the business report with lower losses than or equal to the expected loss rate can be considered to be successful in risk management activity

North Asia Commercial Joint Stock Bank (NASB) is one of the prestigious banks in Vietnam With the growth in credit scale, North Asia Commercial Joint Stock

Bank in general and Thang Long Branch in particular has always paid attention to Credit risk management, so has achieved a remarkable results in this field

Therefore, I choose to study the topic: “Credit risk management of North

Asia Commercial Joint Stock Bank - Thang Long Branch” in my thesis

- Investigate and collect data

- Encrypt and import data by Excel software, then export needed information

Trang 14

4 Content

a) Credit risk management apparatus

Currently, risk management model has not been established clearly and systematically at branch However, Risk management activity has been performed by functions and responsibilities of each department, under the direction of Branch Director

b) Legal document related to credit risk management

- Decision No 18/2007/QD-NHNN of April 25, 2007 by the Governor of the State Bank of Vietnam on amending and supplementing a number of articles of the regulations on debt classification, provisioning and use of provisions against credit risks

in the banking activity of credit institutions;

- Circular No 02/2013/TT-NHNN of January 21, 2013 by Governor of the State Bank of Vietnam providing on classification of assets, levels and methods of setting up

of risk provisions, and use of provisions against credit risks in the banking activity of credit institutions, foreign banks’ branches, takes effect since June 01, 2014;

- Circular No 14/2014/TT-NHNN of May 20, 2014 by the Governor of the State Bank of Vietnam on amending and supplementing a number of articles of the regulations on debt classification, provisioning and use of provisions against credit risks

in the banking activity of credit institutions;

- Decision No 22/VBHN-NHNN of June 04, 2014 by the State Bank of Vietnam providing on debt classification, provisioning and use of provisions against credit risks in the banking activity of credit institutions

c) Current situation of credit risk management at the North Asia Commercial Joint Stock Bank - Thang Long branch

(1) Risks Iidentifications

There has not been a Credit risk management department established at NASB,

as well as at Thang Long branch Although, risk identification is implemented in each specialized departments by a process above:

- Analysis financial reports of the customer (in the past and present)

This step aims to assess the financial resources, growth trends, and the potential risks in financial capability customers It provides information necessary for the branch managers in making decision on loan as well as managing loan risks However, this work has not been regularly carried out in the loan appraisal process, the process of disbursement and management of loans at the Branch

Trang 15

- Communication with customers and internal communication of the Branch:

Communicating with customers will provide bank officials the information about the actual business situation of the customers, support to detect potential risks of each customers and each customer groups, and from which, prepare proper measures for preventing risks Exchange information in internal branch helps to identify the causes of risk and the potential risks in the credit activity.These activities has been well done at Thang Long bracnch

- Study the past losses and occasional risk statistics of customers

In Risk Management Process, Branch officials usually review the data of risks in the past of customers, determine the cause of risks, take into account social factors, timing, location, region in before making lending decisions However, information has not been systematic and scientific enough, so sometimes evaluation is subjective

(2) Loan documents Appraisal

Branch accepts the customer that adapts enough all of the following requirements:

+ The customer must have civil legal capacity, the civil act capacity and bear civil liability according to law

+ Purpose of loan(s) is legal

+ The customer must have financial ability to guarantee for repayment commitments

+ The investment projects or business plans of customer must be feasible and legal + The customer must implement the loan security as stipulated by the the regulations of Government, the State Bank of Vietnam, and NASB

(3) Use of loans Supervision

The supervision process has not been well implemented, in particular:

- Risky loans have not been closely supervised;

- The Branch has not been paid enough attention to forecasting and quantitative assessments, due to which, officials can not measure the effects of other factors to feasibility of projects or business plan of customers

- The morality of officials in work also affects to quality of supervision process 50% of officials did not keep track on loan using process of customers, some of others carried out this irresponsibly

Trang 16

(4) Debt Collection

Debt is inevitable in lending process of banks Not being handled, debt will become a big problem for banks There are still some inadequacies in process of debt collection at Thang Long branch due to the lack of responsibilities of branch officials

- Credit officers fail to comply with decisions on the lending process of commercial banks about debt-maturity adjustment, debt-extension and overdue debt conversion

- Credit officers didn’t urge consumers who delayed payment of interest, principal payment without request for debt-maturity adjustment or debt-extension

Conclusions and proposals from research findings

a) Conclusions

Banking activities are long-standing with function of raising capital to lend to the economy, so it is a tool accumulating and concentrating capital to support the business and production, drive the flow of capital from the low profit margin sector to the higher profit margin The banks also take a important role in increasing money in circulation, preventing inflation, stabilizing general price level, and support to create a favorable business environment for enterprises

Credit activity is one of the most profitable and also most risky activities in the bank Therefore, the study of causes of risk and explore measures to limit credit risks is essential

This thesis: “Credit risk management of North Asia Commercial Joint Stock

Bank- Thang Long Branch” has solved following problems: the nature and

characteristics of credit risks, as well as its damages for the banks, enterprises and economy; measures that banks can applied to prevent and minimize credit risks

b) Proposals

In making policies process, government should facilitate for banks, avoid too tight or too loosen grips on this fields because a slight change in policies can create significant influences in benefit of banks

Trang 17

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trong môi trường hoạt động nhiều thử thách, các ngân hàng phải gánh chịu rủi

ro đáng kể để kiếm được lợi nhuận kỳ vọng Một trong những hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận và cũng như rủi ro lớn nhất đối với một ngân hàng đó là hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng là hai yếu tố song hành, không thế tách rời Ngân hàng không thể loại bỏ hoàn toàn được rủi ro tín dụng trong hoạt động của mình mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu thiệt hại tối đa mà rủi ro tín dụng có thể mang lại Đứng trên quan điểm quản trị toàn bộ hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng, một tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng phải luôn được xác định trong chiến lược hoạt động chung Khi ngân hàng kinh doanh với mức tổn thất thấp hơn hoặc bằng mức tỷ lệ tổn thất dự kiến thì đó là sự thành công trong lĩnh vực quản trị rủi ro

Việc nâng cao chất lượng quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng là vấn đề mà các NHTM, các cơ quan quản lý luôn quan tâm và chú trọng để xây dựng các biện pháp phù hợp Xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng hoàn thiện mang tính chất then chốt trong sự tồn tại của một ngân hàng thương mại

Ngân hàng TMCP Bắc Á là một trong những ngân hàng TMCP uy tín, tình hình kiểm soát tín dụng trong thời gian qua cũng được xem là khá tốt; công tác quản trị rủi ro tín dụng luôn luôn được coi trọng Ðặc biệt tại Ngân hàng TMCP Bắc Á – Chi nhánh Thăng Long công tác quản lý rủi ro tín dụng đã bắt đầu được quan tâm chặt chẽ cùng với sự phát triển cả quy mô tín dụng Tuy nhiên, công tác quản lý rủi

ro tín dụng tại chi nhánh vẫn chưa hoàn toàn đạt được những thành công mong muốn Cho nên việc nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh và phù hợp với điều kiện Việt Nam là một việc làm cấp bách hơn bao giờ hết Chính vì thế, Ngân hàng TMCP Bắc Á – Chi nhánh Thăng Long phải tự mình hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro tín dụng nhằm duy trì hoạt động một cách hiệu quả và bền vững, vượt qua những thử thách mà nền kinh tế hội nhập đã đang

và sẽ đem lại

Do vậy, tôi đã chọn “Quản lý rủi ro tín dụng tại Chi Nhánh Thăng Long –

Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á” để làm đề tài cho luận văn của mình

Trang 18

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện thực trạng tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để hạn chế rủi ro và tăng cường công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Thăng Long ngân hàng thương mại Cổ phần Bắc Á

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng

- Đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín dụng và nguyên nhân dẫn đến rủi ro

tín dụng tại Chi nhánh Thăng Long – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á

- Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Thăng Long – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu công tác quản lý rủi ro tín dụng và giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Thăng Long – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề rủi ro và quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Thăng Long – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu:

Nghiên cứu hoạt động tín dụng của ngân hàng, xác định rủi ro và đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Thăng Long – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á

- Phạm vi thời gian: Luận văn được tiến hành nghiên cứu từ tháng 5 năm

2015 đến tháng 5 năm 2016

- Phạm vi không gian: Luận văn được tiến hành nghiên cứu tại Chi nhánh Thăng Long – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á

Trang 19

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của thống đốc NHNN) thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng (KH) sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”

Căn cứ theo Điều 20 của Luật các TCTD số 07/1997/QHX đẫ được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 1998 thì “Hoạt động tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng”

Căn cứ theo Điều 49 của Luật này về “Cấp tín dụng” thì TCTD được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tái chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN

* Bản chất của tín dụng

Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và các đặc trưng sau:

- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gôm hai hình thức

là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản)

Trang 20

- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản lý tín dụng

- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài và gốc

- Trong quan hệ tín dụng NH, tiền vay được cấp trên của Bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho Bên vay đến khi thanh toán

* Phân loại hoạt động tín dụng

Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định (Ngô Thị Minh Châu, 2009) Việc phân loại cho vay trên

cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả QLRR TD Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ sau đây:

Dựa vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:

+ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh

+ Cho vay tiêu dùng cá nhân

+ Cho vay mua bất động sản

+ Cho vay mua ô tô trả góp

+ Cho vay xây dựng nhà cửa ở, dự án chung cư

Dựa vào thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:

+ Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn đến 12 tháng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân

+ Tín dụng trung hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm (có thể khác nhau ở mỗi nước) Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng

để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới các thiết bị, công nghệ,

mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh

+ Tín dụng dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 5 năm, có thể kéo dài đến 20 -30 năm hoặc thậm chí lâu hơn Tín dụng dài hạn được cung cấp để

Trang 21

đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải

có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp lớn

- Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, hoạt động có thể phân chia thành các loại sau:

+ Cho vay không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm

cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay

+ Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác

- Dựa vào phương thức cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:

+ Cho vay theo món: là loại vay mà mỗi lần vay vốn, TCTD và khách hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại vay mà TCTD và khách hàng thỏa thuận hạn mức tín dụng duy trì trong môt khoảng thời gian nhất định

+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: là loại vay mà TCTD thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng

- Dựa vào xuất xứ tín dụng, hoạt động tín dụng có thể vẫn chia thành các loại sau:

+ Cho vay trực tiếp: NH cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho NH

+ Cho vay gián tiếp: Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như là: chiết khấu thương mại, bao thanh toán

2.1.1.2 Tín dụng ngân hàng

* Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng (bên cho vay) với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân (bên đi vay), dưới hình thức ngân hàng (bên cho vay) đứng ra huy động vốn bằng tiền và cấp tín dụng (cho vay) cho bên đi vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo thoả

Trang 22

thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện số vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

Tín dụng ngân hàng là hình thức chủ yếu, chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế

Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của

hệ thống ngân hàng, khác với tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chuyên nghiệp hoạt động của nó hết sức đa dạng và phong phú

* Tính tất yếu khách quan của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường Tính tất yếu khách quan của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất: Do mâu thuẫn của quá trình tuần hoàn vốn tín dụng trong xã hội Vốn đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, tuy nhiên không phải các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế lúc nào cũng đủ vốn để thực hiện các kế hoạch kinh doanh của mình, trong khi đó lại có những chủ thể có những nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi Như vậy, trong nền kinh tế có những nơi tạm thời thừa vốn và những nơi tạm thời thiếu vốn, điều này xuất phát từ sự không ăn khớp và bằng phẳng giữa thu nhập và chi tiêu về thời gian cũng như khối lượng Sự

ra đời của tín dụng ngân hàng là nhằm giải quyết mâu thuẫn trên

Thứ hai: Do yêu cầu của chế độ hạch toán kinh tế

Nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tiến hành sản xuất kinh doanh Đó chính là điều kiện tốt để họ thực hiện chế độ hạch toán kinh tế

Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng là cả vốn gốc và lãi phải được hoàn trả sau một thời gian nhất định Điều đó là động cơ cho các chủ thể trong nền kinh tế sử dụng vốn tiết kiệm, hiệu quả, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao mức lợi nhuận của mình để thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng Việc ngân hàng kiểm soát hoạt động kinh tế của các chủ thể vay vốn tín dụng ngân hàng đã thúc đẩy các chủ thể này quan tâm đến việc sử dụng vốn đúng mục đích và hiệu quả

Thứ ba: Do cơ chế tự chủ về tài chính

Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải tự chủ về tài chính Cơ chế này buộc các chủ thể phải chủ động trong

Trang 23

việc cân đối các nguồn vốn để thực hiện các kế hoạch kinh doanh Với vai trò quan trọng bậc nhất là trung gian cung và cầu vốn, tín dụng ngân hàng là cầu nối điều hoà vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế

2.1.2 Rủi ro tín dụng ngân hàng

2.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng

Theo uỷ ban Basel (thuộc Ngân hàng Thanh toán quốc tế) thì: “rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nợ và lãi”

Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì: “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Rủi ro tín dụng ngân hàng là một yếu tố gắn liền với hoạt động của ngân hàng

và buộc ngân hàng phải nghĩ đến việc trích lập một khoản dự phòng để bù đắp khi có rủi ro xẩy ra Thường rủi ro tín dụng ngân hàng được diễn tả bằng số nợ quá hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng: nợ quá hạn/ tổng dư nợ

Trong đó nợ quá hạn bao gồm:

- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi là những khoản nợ mà khách hàng vẫn có khả năng và ý muốn trả nợ nhưng không có khả năng trả nợ đúng hẹn do gặp những khó khăn tạm thời về tài chính Đây là loại rủi ro sai hẹn và chỉ ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng

- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi là những khoản nợ mà khách hàng không có khả năng trả nợ do kinh doanh thua lỗ, phá sản, thiên tai, hoả hoạn … thậm chí

do hành vi tham ô, lừa đảo của khách hàng Đây là loại rủi ro mất vốn tín dụng hay rủi ro phá sản Nếu rủi ro này xẩy ra càng nhiều thì ngân hàng có thể bị phá sản

2.1.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng ngân hàng

* Rủi ro tín dụng ngân hàng mang tính chất gián tiếp

Trang 24

Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại, thất thoát về vốn xẩy ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng Biểu hiện rõ ràng của đặc điểm này là trong thực tế, ngân hàng thường

là biết sau cũng như không đầy đủ và chính xác những khó khăn, thất bại trong hoạt động kinh doanh của của khách hàng có thể gây ra rủi ro tín dụng

Xuất phát từ đặc điểm này, biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng muốn hiệu quả cần tập trung nghiên cứu các thông tin về khách hàng, thiết lập hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, xây dựng và đảm bảo mối quan hệ minh bạch giữa cán bộ tín dụng và khách hàng vay vốn (Nguyễn Thị Thùy Dung, 2009)

* Rủi ro tín dụng ngân hàng có tính chất đa dạng và phức tạp

Đây là đặc điểm tất yếu của rủi ro tín dụng do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối liên hệ gián tiếp với rủi ro tín dụng khiến sự đa dạng và phức tạp của rủi

ro tín dụng ngân hàng càng thể hiện rõ hơn

Nhận thức và vận dụng quan điểm này, khi thực hiện phòng ngừa rủi ro cần

áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào để đưa ra biện pháp cho phù hợp (Nguyễn Thị Thùy Dung, 2009)

* Rủi ro tín dụng ngân hàng có tính tất yếu vì nó luôn luôn gắn liền với sự vận động của nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất kinh doanh không thể biết trước được thị trường sẽ tiêu thụ sản phẩm của họ với số lượng là bao nhiêu và giá cả như thế nào, vì vậy chỉ khi họ sản xuất xong và đưa sản phẩm vào thị trường tiêu thụ họ mới biết họ thành công hay thất bại Nếu thành công họ sẽ trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, nếu thất bại việc trả nợ sẽ khó khăn và gây rủi ro cho ngân hàng cho vay

Do đó ngân hàng cần chủ động có các biện pháp tích hợp xử lý vấn đề thông tin không cân xứng để đối phó với rủi ro (Nguyễn Thị Thùy Dung, 2009)

2.1.2.3 Tác động và hậu quả của rủi ro tín dụng ngân hàng

* Tác động và hậu quả của rủi ro tín dụng ngân hàng đối với ngân hàng Khi gặp rủi ro tín dụng tức là ngân hàng không thu được nợ lãi, một phần hoặc toàn bộ nợ gốc tiền vay, nhưng về phía ngân hàng phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ gốc và lãi cho số tiền huy động từ các tầng lớp dân cư và các doanh nghiệp

Trang 25

khác, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối thu chi Khi không thu được tiền nợ vay dẫn đến vòng quay vốn tín dụng giảm, mất cơ hội kinh doanh, chi phí tăng cao ngoài dự kiến, làm giảm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, nếu rủi ro lớn sẽ mất khả năng thanh khoản làm mất lòng tin của người gửi tiền cũng như người vay và suy giảm tín nhiệm của ngân hàng trên thị trường tiền tệ quốc tế, gây khó khăn trong quan hệ vay vốn nước ngoài, thiết lập quan hệ đại lý với nước đó, hạn chế năng lực cạnh tranh Hiệu quả kinh doanh thấp, ngân hàng không có tiền chi trả lương cho nhân viên, những người có năng lực tốt sẽ rời khỏi ngân hàng làm cho ngân hàng càng khó khăn thêm (Nguyễn Thị Thùy Dung, 2009)

* Tác động và hậu quả của rủi ro tín dụng ngân hàng đối với toàn bộ nền kinh tế

Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, đến tất cả các ngành, các thành phần kinh tế Trong hoạt động của ngân hàng nguồn thu nhập chủ yếu là từ tín dụng trong đó rủi

ro lớn nhất là rủi ro tín dụng Vì vậy, khi rủi ro tín dụng xẩy ra và trường hợp dẫn đến phá sản thì gây lên tâm lý hoang mang và mọi người sẽ ồ ạt đến rút tiền gửi tại các ngân hàng khác, sẽ gây nên tình trạng khó khăn cho hệ thống các ngân hàng thương mại do mất khả năng thanh toán Ngân hàng phá sản ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp nhiều khó khăn Hơn nữa sự khủng hoảng của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh

tế, nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng,

xã hội mất ổn định Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới, vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc ngày càng nhiều vào nền kinh tế khu vực và thế giới Mặt khác, mối liên hệ tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên rủi ro tín dụng tại một nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các nền kinh tế có liên quan

Nói tóm lại, rủi ro tín dụng ngân hàng xẩy ra ở các mức độ khác nhau, nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được nợ cho vay Nặng hơn

là ngân hàng không thu hồi được nợ gốc, hoặc nợ gốc và lãi dẫn đến ngân hàng bị lỗ

và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài và không khắc phục được ngân hàng sẽ bị phá sản, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp hiệu quả nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng (Nguyễn Thị Thùy Dung, 2009)

Trang 26

2.1.2.4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng ngân hàng

Rủi ro tín dụng ngân hàng xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có một

số nguyên nhân chủ yếu sau:

* Nguyên nhân từ phía khách hàng

Các nguyên nhân dẫn đến khách hàng vay vốn không trả được nợ cho ngân hàng có thể chia làm hai nhóm nguyên nhân:

+ Nguyên nhân khách quan: là những tác động ngoài ý chí của khách hàng như: do thiên tai, hoả hoạn, do sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch ngành, vùng, do sự thay đổi trong hành lang pháp lý, do sự biến động của thị trường trong và ngoài nước, do quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi + Nguyên nhân chủ quan: là nguyên nhân xuất phát từ nội tại khách hàng Khách hàng có thể đem lại rủi ro cho ngân hàng khi:

Vốn tự có tham gia vào sản xuất kinh doanh thấp hơn so với nhu cầu về vốn kinh doanh Trong tình huống này, buộc khách hàng phải đi huy động vốn Nếu ngân hàng đáp ứng được phần vốn còn thiếu hụt này của khách hàng thì nguy cơ tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng sẽ tăng cao Lý do là các khách hàng có xu hướng lao vào các hoạt động kinh doanh mạo hiểm hy vọng tìm kiếm lợi nhuận cao, bởi hầu hết vốn kinh doanh không phải là của họ, và điều này đồng nghĩa với việc hầu hết mọi gánh nặng rủi ro trong canh bạc mạo hiểm này được dồn hết vào vai các ngân hàng

Năng lực điều hành của bộ máy lãnh đạo doanh nghiệp còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường, và thông tin về các đối tác làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh Một khi điều này xẩy ra sẽ khiến các ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao khi cho các khách hàng này vay

Công nghệ sản xuất kinh doanh lạc hậu, sản phẩm sản xuất ra không có tính cạnh tranh cao, điều này khiến hoạt động kinh doanh của khách hàng gặp nhiều khó khăn Điều đó sẽ khiến ngân hàng phải đối mặt với rủi ro trong cho vay

Đặc biệt khách hàng thiếu thiện chí trả nợ vay ngân hàng, khiến cho ngân hàng gặp khó khăn trong thu hồi nợ vay Đây chính là loại rủi ro xuất phát từ đạo đức của người đi vay

Các nguyên nhân này ngân hàng có thể xác định được thông qua quá trình thẩm định, tìm hiểu, nắm vững tình hình sản xuất kinh doanh cả trước, trong và sau, tìm hiểu mục đích tiền vay và hiệu quả của phương án cho vay của các đối tượng vay (Nguyễn Kim Anh, 2008)

Trang 27

* Nguyên nhân từ phía ngân hàng

+ Nguyên nhân chủ quan: Ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và điều kiện cho vay, chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện cho vay và khả năng trả nợ khách hàng vay Đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và cá nhân, việc cho vay chủ yếu dựa vào kinh nghiệm mà chưa áp dụng các công cụ chấm điểm tín dụng

Kỹ thuật cấp tín dụng còn hạn chế, chưa đa dạng, việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp, chủ yếu là tín dụng trực tiếp, sản phẩm tín dụng chưa đa dạng

Thiếu thông tin về khách hàng vay, thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời chính xác để xem xét phân tích tín dụng trước khi cấp tín dụng

Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng chưa đủ tầm và vấn đề quản lý sử dụng đội ngũ cán bộ ngân hàng chưa thoả đáng

Hơn nữa chính sự đầu tư phát triển không đồng bộ giữa các khâu, các bộ phận trong bản thân ngân hàng cũng là nguyên nhân rủi ro tiềm ẩn rất lớn Sự phát triển khập khiễng, không đồng bộ giữa hoạt động tín dụng và các sản phẩm dịch vụ

đi kèm, chính điều này làm cho ngân hàng không nắm được tình hình hoạt động cũng như luồng tiền của khách hàng vay, không kịp thời phát hiện rủi ro, cũng như không đưa ra các giải pháp kịp thời để xử lý khi rủi ro xẩy ra

+ Nguyên nhân khách quan: do các quy định của pháp luật về quản trị tín dụng về khía cạnh: việc minh bạch thông tin, việc công bố thông tin tài chính, vấn

đề kiểm toán, cũng như vấn đề quản lý thu nhập của người dân là một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng Ngoài các nguyên nhân nói trên còn có những nguyên nhân khách quan khác từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc giám sát cũng như tạo ra sự minh bạch trong thị trường tài chính, nhất là sự cung cấp kip thời các thông tin kinh tế xã hội, cũng như do điều kiện lịch sử của đất nước, điều kiện kinh tế, trình độ kỹ thuật và mức độ đầu tư trong lĩnh vực khoa học công nghệ đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng cũng như làm gia tăng mức độ rủi ro trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng (Nguyễn Kim Anh, 2008)

Trang 28

* Nguyên nhân từ phía môi trường kinh doanh

Môi trường kinh tế tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Khi nền kinh tế đang tăng trưởng ổn định thì các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và sẽ có nhiều khả năng trả nợ cho ngân hàng Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, mất ổn định khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động, sản xuất bị đình trệ, sức mua bị giảm sút, hàng hoá bị ứ đọng Điều này tất yếu ảnh hưởng đến khả năng trả nợ các khoản vay của ngân hàng

Trong các lý thuyết kinh tế, để giải quyết một vấn đề nào đó thì trong các mô hình kinh tế người ta thường giả định là thông tin hoàn hảo Tuy nhiên, trong thực

tế thì thông tin hoàn hảo là hầu như không tồn tại, mà thường là thông tin bất cân xứng Thông tin bất cân xứng xẩy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin còn bên khác thì không biết đích thực về thông tin ở một mức độ nào đó Thông tin bất cân xứng cũng là một nguyên nhân không nhỏ trong rủi ro tín dụng ngân hàng hoạt động tín dụng của ngân hàng là chuyển vốn từ người gửi tiền sang người vay tiền, toàn bộ các giao dịch này được suôn sẻ nếu các bên tham gia có những thông tin và hiểu biết đầy đủ về nhau Song thực tế một bên thường không biết hết những thông tin cần thiết của phía bên kia Việc thiếu thông tin trong các giao dịch sẽ đưa đến sự lựa chon đối nghịch và rủi ro đạo đức Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính khiến ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao

Hệ quả của tình trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng

Ngân hàng đơn thuần chỉ là một tổ chức kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chính của các ngân hàng

Có thể hiểu cấp tín dụng một cách đơn giản là việc ngân hàng cho khách hàng vay một khoản tiền hoặc uy tín của mình trong một thời gian nhất định Sau đó khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả khoản vay nêu trên cho ngân hàng cộng với lãi kèm theo

Việc vay mượn giữa ngân hàng và khách hàng được lập thành hợp đồng tín dụng Cũng giống như các hợp đồng tài chính khác, hợp đồng tín dụng là một dạng hợp đồng không hoàn chỉnh Để một hợp đồng được thực hiện đầy đủ thì các bên liên quan trong hợp đồng phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, không giống như các hợp đồng hoàn chỉnh, việc thực hiện các hợp đồng không hoàn chỉnh gặp nhiều khó khăn vì có rất nhiều tình huống có thể xẩy ra trong quá trình thực thi

Trang 29

hợp đồng mà các bên không lường trước được Cũng do chính vần đề này mà trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu một bên có nhiều thông tin hơn có thể có những hành vi gây tổn hại đến bên ít thông tin hơn Đây chính là vấn đề bất cân xứng thông tin trong các hoạt động của ngân hàng

Trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thì tình trạng thông tin bất cân xứng xẩy ra cả trước và sau giao dịch

Thứ nhất: là tình trạng thông tin bị che đậy và lựa chọn bất lợi, điều này xẩy

ra trước giao dịch

Thông tin bị che đậy là trục trặc của yếu tố cơ hội chủ nghĩa trước hợp đồng,

nó nẩy sinh vì thông tin riêng mà người thực hiện giao dịch có trước khi họ ký kết hợp đồng, trong lúc đang tính toán xem việc thực hiện giao dịch có lợi hay không Đối với hoạt động tín dụng ngân hàng, thông tin bị che đậy xuất hiện khi nguồn vốn khan hiếm, lãi suất cho vay bị đẩy lên cao Theo nguyên tắc “rủi ro càng cao – lợi nhuận càng cao” và nguyên tắc loại trừ, khi nguồn tín dụng dồi dào, lãi suất cho vay thấp, thì các dự án có suất sinh lời thấp, rủi ro thấp, đảm bảo khả năng trả nợ một cách chắc chắn và dự án có suất sinh lời cao – rủi ro cao với khả năng trả nợ ít chắc chắn hơn đều được cấp tín dụng để thực hiện Tuy nhiên, vấn đề nẩy sinh khi nguồn vốn khan hiếm, lãi suất cho vay bị đẩy lên cao, khi đó dự án an toàn không được cấp tín dụng mà chỉ có những dự án có độ rủi ro cao với suất sinh lời cao được vay vốn để thực hiện Đây là vấn đề lựa chọn bất lợi trong hoạt động tín dụng ngân hàng Khi mà các dự án có độ rủi ro cao được thực hiện thì nguy cơ rủi ro của ngân hàng là rất cao

Thứ hai: là tình trạng hành vi bị che đậy và tâm lý ỷ lại, điều này xẩy ra sau khi thực hiện giao dịch

Tâm lý ỷ lại là hình thức cơ hội chủ nghĩa sau hợp đồng, phát sinh do hành động có tác động đến hiệu quả nhưng không dễ dàng quan sát được, và vì thế những người thực hiện các hành động này có thể lựa chọn theo đuổi những lợi ích

cá nhân của mình trên cơ sở gây tổn hại cho lợi ích của người khác Để có sự tồn tại tâm lý ỷ lại, phải thoả mãn 3 điều kiện:

- Phải có sự khác biệt quyền lợi giữa các bên

- Phải có một cơ sở nào đó để tạo ra cơ sở có lợi, hay một hình thức phức tạp khác nhau giữa các cá nhân (tức là lý do để đồng ý giao dịch), từ đó làm lộ ra mâu thuẫn về quyền lợi giữa các bên

Trang 30

- Phải tồn tại những khó khăn trong việc xác định xem các điều kiện thoả thuận có đúng là được tuân thủ và thực hiện hay không

Tâm lý ỷ lại trong lĩnh vực tài chính xảy ra sau khi cấp tín dụng, những người được cấp tín dụng luôn có xu hướng muốn thực hiện các đầu tư có rủi ro hơn những người cho vay mong đợi Vì vậy, khách hàng vay có những khoản lợi nhuận rất lớn nếu kinh doanh thành công, trong khi đó ngân hàng nhận được những khoản lợi ích cố định Ngược lại, nếu việc kinh doanh của khách hàng bị thất bại thì phía ngân hàng sẽ mất một phần hoặc toàn bộ do không được hoàn trả đầy đủ

Từ đó một câu hỏi đặt ra làm thế nào để hạn chế tình trạng thông tin bất cân xứng?

Trong lý thuyết thông tin bất cân xứng tác giả đã chỉ ra được cơ chế phát tín hiệu: bên có nhiều thông tin có thể phát tín hiệu đến những bên ít thông tin một cách trung thực và tin cậy

Thêm nữa bản thân những người có ít thông tin hơn cũng có thể tự cải thiện tình trạng của mình thông qua cơ chế sàng lọc: bên có ít thông tin hơn có thể thu thập thông tin từ bên kia bằng cách đưa ra các điều kiện giao dịch hợp đồng khác nhau

Trải qua hơn hai thập kỷ, lý thuyết về thị trường thông tin bất cân xứng

đã trở nên vô cùng quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại Thông tin bất cân xứng càng trở nên phổ biến và trầm trọng khi tính minh bạch của thông tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin còn yếu kém (Nguyễn Thị Thùy Dung, 2009)

2.1.2.5 Các loại rủi ro tín dụng ngân hàng

Rủi ro tín dụng của ngân hàng khá đa dạng và phức tạp, có thể nhận diện chúng qua các tiêu chí khác nhau

* Nếu căn cứ vào hoạt động nghiệp vụ và quản trị điều hành của ngân hàng

có thể chia rủi ro tín dụng thành hai loại sau:

Trang 31

của ngân hàng, báo hiệu các rủi ro đối với ngân hàng và khách hàng Khi phát sinh các khoản nợ quá hạn sẽ khiến cho ngân hàng phải đối mặt với các rủi ro không thu hồi được khoản đã cho vay điều này đe doạ sự phát triển ổn định của ngân hàng cũng như đối với toàn hệ thống các TCTD và của môi trường kinh tế vĩ mô

+ Rủi ro ứ đọng vốn và thiếu vốn

Trong kinh tế thị trường, với tư cách là một trung gian tài chính, hoạt động chủ yếu của ngân hàng là đi vay để cho vay, nếu hai khâu trong chu trình hoạt động này không tạo ra được sự phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ thì rủi ro sẽ phát sinh Cụ thể:

- Rủi ro đọng vốn: là hiện tượng vốn huy động của ngân hàng lớn hơn so với vốn cho vay Việc đọng vốn này khiến cho ngân hàng tăng chi phí, giảm thu nhập, thậm chí có thể dẫn đến thua lỗ

- Rủi ro thiếu vốn: nếu nhu cầu vốn vay của khách hàng gia tăng nhưng nguồn vốn huy động lại không đáp ứng được đầy đủ và kịp thời, hoặc nguồn vốn không đáp ứng được chi trả các khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu và các khoản chi phí khác, khi ấy các ngân hàng phải đối mặt với rủi ro

* Căn cứ vào tính chất của rủi ro chia rủi ro tín dụng thành 2 loại:

+ Rủi ro khả kháng

Rủi ro khả kháng là loại rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể dự đoán được chủ thể gây ra rủi ro đó, ước tính được mức độ ảnh hưởng và thời gian phát sinh của chúng để có thể có biện pháp hợp lý phòng ngừa hạn chế ở mức độ thấp nhất có thể Những loại rủi ro này thường do nguyên nhân chủ quan gây ra, thường xuất phát từ bản thân ngân hàng

Trang 32

+ Rủi ro giao dịch: là hình thức rủi ro mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quá trình đánh giá, phân tích tín dụng và xét duyệt khi ngân hàng lựa chọn những phương án cho vay, rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo, và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo

+ Rủi ro danh mục: là hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là

do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được chia thành hai loại rủi ro là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung

- Rủi ro nội tại (còn gọi là rủi ro bản chất): xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi khách hàng vay hoặc ngành hoặc lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn

- Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao

Khi thiếu sự đa dạng hoá, ngân hàng phải gánh chịu rủi ro tập trung và rủi ro nội tại Điều này cũng gợi ý một trong những cách kiểm soát rủi ro danh mục là đa dạng hoá, đặt những giới hạn tập trung, đưa ra những giới hạn về tỷ lệ dư nợ vay tối

đa đối với ngành hoặc doanh nghiệp có độ rủi ro cao

Dù với cách phân loại nào đi nữa thì mọi loại rủi ro tín dụng đều phải được quan tâm đặc biệt để từ đó đưa ra các biện pháp quản lý hiệu quả nhất nhằm hạn chế đến mức thấp nhất có thể những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu (Nguyễn Thu Phương, 2015)

2.1.2.6 Các biểu hiện rủi ro tín dụng ngân hàng

* Nhóm dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng

- Nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng Có thể phát hiện dấu hiệu rủi ro thông qua các hành vi ứng xử của khách hàng như: trì hoãn hoặc gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục; không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong quá trình tín dụng; chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết

Trang 33

phuc; không có báo cáo hay dự toán về lưu chuyển tiền tệ; mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến; tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút so với định giá khi cho vay; khách hàng trông chờ vào nguồn thu nhập bất thường để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán; tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của ngân hàng; sử dụng nhiều nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài hạn; chấp nhận sử dụng các nguồn vay vốn cao với mọi điều kiện; đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục; sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng, xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong tốc độ

và tổng mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán của ngân hàng; chậm thanh toán các khoản lãi đến hạn, thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn; xuất hiện

nợ quá hạn, nợ xấu do khách hàng không có khả năng hoàn trả, hoặc khách hàng không muốn trả nợ; gia tăng bất thường hàng tồn kho, các khoản bán chịu và các khoản nợ, giảm bất thường giá bán hàng hoá, thu hồi công nợ chậm hơn dự tính

- Nhóm dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng Nhóm dấu hiệu này nó liên quan trực tiếp đến chất lượng các khoản tín dụng, nhưng tốc độ chậm hơn Các dấu hiệu này xuất phát từ chính hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng và không dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặt chẽ, sâu sát của ngân hàng Các dấu hiệu cụ thể là: có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng; những thay đổi bất thường trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức độ hoạt động của khách hàng, xuất hiện ngày càng nhiều các chi phí bất hợp lý như gia tăng đột biến chi phí quảng cáo, tiếp khách…; thay đổi thường xuyên ban điều hành, xuất hiện bất đồng, mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trong quá trình quản lý; những thay đổi từ chính sách nhà nước, đặc biệt là tác động của chính sách thuế, thêm đối thủ cạnh tranh tác động bất lợi đến chiến lược và kế hoạch sản xuất kinh doanh của khách hàng; kết quả kinh doanh bị lỗ; khách hàng gặp rủi ro khách quan như bão lụt, hoả hoạn, bạn hàng của khách hàng bị phá sản hay gặp rủi ro, ….; tỷ lệ nợ/vốn chủ sử hữu tăng

* Nhóm dấu hiệu xuất phát từ phía ngân hàng

Có thể nhìn nhận những dấu hiệu rủi ro từ chính ngân hàng cụ thể: sự đánh giá và phận loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng; cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo; tốc độ tăng trưởng tín

Trang 34

dụng quá nhanh, vượt quá khă năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng; cho vay dựa trên sự kiện bất thường có thể xẩy ra, chẳng hạn như sáp nhập, thay đổi địa vị pháp lý từ chi nhánh lên công ty con hạch toán độc lập; chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc quá lỏng lẻo để kẽ hở cho khách hàng lợi dụng; soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp động tín dụng, hợp đồng thế chấp mập

mờ không rõ ràng; cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không thuộc phân đoạn thị trường tối ưu của ngân hàng, tỷ lệ tín dụng cao cho một ít khách hàng, khách hàng có trụ sở ngoài lãnh địa hoạt động của ngân hàng; hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy đủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng; có xu hướng cạnh tranh thái quá cụ thể giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ hay thực hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không quan hệ với các TCTD khác mặc dù biết rõ các khoản tín dụng sẽ tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao; chưa nhậy cảm với sự thay đổi các điều kiện môi trường kinh tế; cho vay hỗ trợ mục đích đầu cơ; thiếu kế hoạch rõ ràng để thanh lý từng khoản tín dụng (Nguyễn Thu Phương, 2015)

2.1.3 Quản lý rủi ro

2.1.3.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro là một khái niệm mới đưa vào sử dụng trong những năm gần đây Trước hết, cần phần biệt khái niệm quản lý rủi ro (Risk management)

và khắc phục rủi ro (Coping with risk) Quản lý rủi ro đề cập đến việc điều chỉnh trong sản xuất và sử dụng nguồn lực trước khi xảy ra các biến cố về sản xuất, tức là trước khi rủi ro xảy ra Quản lý rủi ro không chỉ bao hàm ý chống rủi ro mà còn bao hàm cả ý về lập kế hoạch nhằm thích ứng với rủi ro (Chử Văn Lâm, 2001)

Chống rủi ro là những biện pháp, những ứng xử nhằm tránh rủi ro Ứng xử của nông dân với rủi ro biểu hiện ở 3 trạng thái:

- Chấp nhận rủi ro để có thể thu được thu nhập cao nhất, mặc dù họ biết rằng

cơ hội cho khả năng này chỉ có một xác suất nhất định

- Chống hoặc không chấp nhận rủi ro để bảo đảm an toàn các hoạt động của mình trong trường hợp khả năng xấu có thể xảy ra, mặc dù khả năng xảy ra cũng chỉ có một xác suất nhất định

- Thái độ trung hoà đối với rủi ro với mong muốn đạt được thu nhập trung bình giữa sự kiện có rủi ro và thuận lợi

Trang 35

Từ thái độ với rủi ro mà chia nông dân ra 3 loại người là sợ rủi ro, trung hoà rủi ro và chấp nhận rủi ro (Phạm Thị Mỹ Dung, 1996)

Trong khi đó, khắc phục rủi ro là các hành động hay phản ứng sau khi rủi ro đã xảy ra nhằm tối thiểu hoá tác hại Các loại phản ứng thuộc loại này dựa trên cơ sở lý thuyết phân chia rủi ro, được chia làm hai loại (Chử Văn Lâm, 2001):

- Ổn định chi tiêu tạm thời bằng nguồn tiết kiệm: vay, cho vay hay tích trữ hàng phục vụ cho tiêu dùng trong tương lai

- Ổn định chi tiêu thông qua việc phân chia rủi ro: thoả thuận chuyển nhượng giữa hàng xóm với nhau

Muốn quản lý rủi ro phải có những thể chế và thông tin cho nông dân Với mức rủi ro nhỏ thì cơ chế tương hỗ giữa hộ và cộng đồng sẽ là một công cụ đắc lực cho quản lý rủi ro bên cạnh thể chế và chính sách của Nhà nước

Vì vậy, quản lý rủi ro chính là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro (Hardaker, J.B., Huirne, R.B.M., Anderson, J.R,1997)

2.1.3.2 Các chiến lược quản lý rủi ro

Chiến lược quản lý rủi ro bao gồm: chiến lược đối phó với rủi ro và chiến lược thích ứng với rủi ro (Gertrud Buchenrieder, Frank Heihues, Pham Thi

My Dung, 2003)

Chiến lược đối phó với rủi ro là chiến lược tức thời, cấp bách không thật tích cực, nhiều khi vì nhu cầu trước mắt sẽ ảnh hưởng lợi ích lâu dài Ví dụ mất mùa thì vào rừng chặt cây để nuôi sống gia đình, từ đó gây mất rừng và lại mất mùa

Chiến lược thích ứng với rủi ro là chiến lược dự phòng lâu dài, uyển chuyển nhằm ổn định thu nhập vừa giải quyết được rủi ro vừa tạo cơ hội cho phát triển Ví dụ mua bảo hiểm thì sẽ được đền bù khi mùa màng thất bát nên không phải vay nợ lãi cao

2.1.4 Quản lý rủi ro tín dụng

2.1.4.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng

Hoạt động của ngân hàng chủ yếu là huy động tiền nhàn rỗi từ những chủ thể thừa vốn để cho những người thiếu vốn vay với mục đích thu hồi được tiền gốc và lãi cho vay vào một thời điểm nhất định trong tương lai Tuy nhiên, cùng với thời gian, hoạt động cho vay của ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro

Trang 36

khiến ngân hàng không thể thu hồi gốc và lãi đúng hạn

Bên cạnh đó, rủi ro và lợi nhuận là 2 mặt của một vấn đề, muốn có lợi nhuận phải chấp nhận rủi ro, nếu không chấp nhận rủi ro sẽ không bao giờ thu được lợi nhuận

Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn

2.1.4.2 Vai trò của quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro là hoạt động quan trọng nhất trong các ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng gồm 2 mặt là sinh lời và rủi ro Như đã đề cập trong phần trên, rủi ro tín dụng là không thể loại trừ, vì vậy để đảm bảo có được lợi nhuận, ngân hàng phải quản lí rủi ro tín dụng một cách cẩn thận để sao cho mức rủi ro có thể được hạn chế tối đa hoặc là thấp nhất

Như vậy, mục tiêu tổng quát và chung nhất cho các ngân hàng trong quản lí rủi ro tín dụng là tối đa hoá tỷ lệ thu nhập đã được điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng bằng việc duy trì mức độ rủi ro tín dụng trong phạm vi chấp nhận được

Các ngân hàng ngày càng cố gắng nhiều hơn để quản trị rủi ro bằng cách đánh giá, ước đoán không chỉ mức dự kiến trung bình mà còn cả mức tổn thất ngoài

dự kiến (hoặc trên trung bình nữa) Tuỳ từng thời kì, tuỳ theo tính chất và đặc điểm kinh doanh của từng ngân hàng mà các ngân hàng tự xây dựng cho mình một mục tiêu cụ thể riêng cho việc đánh giá công tác quản lí rủi ro tín dụng

2.1.4.3 Nội dung của quản lý rủi ro tín dụng

a) Nhận diện rủi ro tín dụng và đo lường rủi ro tín dụng

- Nhận diện rủi ro tín dụng là quá trình phân tích, đánh giá, xem xét một cách

có hệ thống môi trường hoạt động, cơ chế chính sách và nguyên nhân rủi ro trong hoạt động cho vay tín dụng, từ đó đưa ra những dự báo về nguy cơ tiềm ẩn rủi ro tín dụng để cảnh báo phòng ngừa Nhận diện rủi ro tín dụng được thực hiện trong dài hạn và kỳ ngắn hạn

- Phương pháp nhận diện rủi ro tín dụng: Nhà quản lý phải đưa ra được những rủi ro đã, đang và sẽ xuất hiện trong hoạt động tín dụng thông qua phương pháp thống kê nhận xét rủi ro đã xảy ra trong quá khứ, xem xét phân tích hồ sơ tín dụng đặc biệt lưu ý đối với những hồ sơ có vấn đề, đưa ra các câu hỏi khảo sát điều

Trang 37

tra về môi trường hoạt động cũng như phân tích dấu hiệu rủi ro có thể xảy ra Từ đó đưa ra cảnh báo sớm đối với khoản tài trợ tín dụng

- Đo lường rủi ro tín dụng là việc sử dụng những mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng, từ đó xác định được phần bù rủi ro, hạn mức tín dụng đối với dự án hoặc khách hàng vay vốn, trích lập quỹ dự phòng rủi ro

- Phương pháp đo rủi ro: sử dụng theo các mô hình để đo lường, thông thường tổ chức cho vay sử dụng mô hình định tính (hay còn gọi là mô hình 6c), mô hình định lượng với sự hỗ trợ của công cụ toán học

+ Mô hình định tính 6C: theo mô hình này, nhà tài trợ nghiên cứu xem xét người vay có khả năng thanh toán được khoản nợ dúng hạn theo hợp đồng khi đến hạn hay không, căn cứ vào 6 yếu tố:

Thứ nhất là tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin

từ nhiều nguồn khác như Trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ ngân hàng khác, hoặc các

cơ quan thông tin đại chúng,…

Thứ hai năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào quy định luật pháp của từng quốc gia Người vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự

Thứ ba thu nhập của người vay (Cash): Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán…Sau đó cần phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các tỷ số tài chính

Thứ tư bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng

Thứ năm các điều kiện vay vốn (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng theo từng thời kỳ

Thứ sáu kiểm soát tiền vay (Control): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động đến khả năng khách hàng đáp ứng các yêu cầu của ngân hàng

Mô hình 6C tương đối đơn giản, tuy nhiên lại phụ thuộc quá nhiều vào mức

độ chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng khách hàng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng

Trang 38

+ Mô hình định lượng: Hiện nay có nhiều mô hình thiết lập để lượng hóa rủi

ro tín dụng: mô hình điểm số Z, mô hình chấm điểm, xếp loại tín dụng khách hàng doanh nghiệp, mô hình điểm số xếp hạng tiêu dùng và mô hình theo phương pháp IRB Trong phạm vi bài viết này, đi sâu phân tích mô hình chấm điểm, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp và phương pháp IRB

++ Mô hình chấm điểm và xếp hạng tín dụng Doanh nghiệp: Mô hình này được xây dựng trên cơ sở chấm điểm đối với khách hàng vay vốn, các tiêu chí chấm điểm tùy thuộc vào từng ngân hàng nhưng đều có điểm chung là căn cứ vào uy tín trong quan hệ tín dụng, khả năng tài chính, năng lực lãnh đạo, của khách hàng Cho điểm theo các thang điểm từ cao đến thấp, căn cứ tổng điểm chấm cho khách hàng để đánh giá xếp loại tốt hay xấu đối với một khách hàng vay vốn

++ Phương pháp IRB (Internal Ratings Based): đây là phương pháp ước tính tổn thất tín dụng dựa trên đánh giá phân tích những dữ liệu nội bộ đã có của tổ chức tín dụng Phương pháp này áp dụng theo Hiệp định mới về tiêu chuẩn vốn quốc tế của Basel II Theo phương pháp này việc ước lượng tổn thất phụ thuộc vào ba yếu tố: Xác suất không trả nợ của khách hàng (PD), tỷ trọng tổn thất ước lượng (LGD) và tổng dư

nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ (EAD); từ ba yếu tố này, tổn thất từ rủi ro tín dụng (EL) được ước tính: EL = PD x LGD x EAD

b) Thẩm định hồ sơ cho vay vốn

Việc thẩm định hồ sơ cho vay vốn tín dụng nhằm mục tiêu phòng chống và kiểm soát các rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động ngân hàng, đảm bảo toàn bộ các bộ phận và cá nhân trong ngân hàng tuân thủ các quy định của pháp luật, thực hiện các chiến lược, chính sách đảm bảo mục tiêu an toàn và hiệu quả trong hoạt động ngân hàng

Thẩm định hồ sơ trước khi cho vay vốn tín dụng gồm các nội dung sau: Thẩm định tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ vay vốn; thẩm định năng lực, kinh nghiệm và khả năng trả nợ của tổ chức hay cá nhân vay vốn; thẩm định tài sản đảm bảo cho vay Các ngân hàng phải thực hiện đúng, đủ quy trình và thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước về thẩm định hồ sơ vay vốn tín dụng

c) Đánh giá kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn vay

- Đánh giá việc sử dụng vốn vay: thông qua hiệu quả của hoạt động cho vay tín dụng, khả năng thu hồi nợ vay từ hoạt động tín dụng theo thời hạn và số lượng vốn hoàn trả theo hợp đồng; rủi ro tín dụng thường được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:

Trang 39

+ Tỷ lệ nợ xấu: là tỷ lệ (%) của nợ xấu trên tổng dư nợ vay Tỷ lệ này càng cao phản ánh mức độ rủi ro tín dụng và khả năng tổn thất gây ra cho ngân hàng càng lớn, tỷ lệ này thấp hơn 5% đảm bảo mức an toàn của hoạt động tín dụng + Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi trên tổng dư nợ: là tỷ lệ (%) giữa nợ quá hạn khó đòi (có khả năng mất vốn) so với tổng dư nợ Tỷ lệ này phản ánh mức độ nợ khó đòi hoặc nợ có khả năng mất không thu hồi được trên tổng số nợ, tỷ lệ này càng thấp càng tốt Căn cứ vào tỷ lệ này có thể đánh giá được mức độ rủi ro tín dụng phải

bù đắp của nhà tài trợ là cao hay thấp

+ Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ: là tỷ lệ (%) giữa số trích

dự phòng rủi ro trên tổng nợ vay của ngân hàng Tỷ lệ này phản ánh mức độ trích

dự phòng rủi ro trên dư nợ hiện có tại thời điểm, tỷ lệ này cao cho thấy khả năng tổn thất vật chất tiềm ẩn của ngân hàng là lớn, và tỷ lệ này cho thấy mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng cao hay thấp, tỷ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng càng lớn Tuy nhiên đối với công tác cho vay vốn tín dụng hiện nay do các ngân hàng thương mại thực hiện, việc trích lập dự phòng rủi ro không tuân thủ theo quy định của NHNN, việc trích lập dự phòng rủi ro do Chính phủ quy định, mức trích hiện nay rất thấp (tính % trên số lãi phải thu) do vậy tỷ lệ này không đánh giá đúng mức độ rủi ro tín dụng

- Kiểm việc sử dụng vốn vay là việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật, cơ chế chính sách, công cụ, chế tài nhằm giảm thiểu rủi ro và thiệt hại về lợi ích của đơn vị tài trợ vốn vay Trên cơ sở định lượng rủi ro đã được tính toán xác định, các hệ số

an toàn tài chính, cũng như khả năng chấp nhận rủi ro từ đó người cho vay đưa ra những quyết định phòng chống ngăn ngừa khác nhau nhằm giảm mức độ thiệt hại Các biện pháp thường áp dụng như ngăn ngừa rủi ro (khống chế hạn mức cho vay với khách hàng, đưa ra các điều kiện vay vốn, tăng tài sản thế chấp, ), phân tán rủi

ro (chuyển đổi chủ đầu tư, đồng tài trợ cho vay, ), xử lý rủi ro (gia hạn nợ, khoanh

nợ, xử lý tài sản, bán nợ, xóa nợ), trích lập dự phòng bù đắp rủi ro tín dụng

- Giám sát việc sử dụng vốn vay là việc theo dõi tính hiệu quả của quá trình quản lý rủi ro Đây là việc xem xét đánh giá lại toàn bộ các bước của quy trình quản

lý rủi ro, từ đó rút ra hiệu quả của quá trình xử lý rủi ro trên cơ sở tính toán chi phí

bù đắp và tổn thất chấp nhận của nhà tài trợ cho vay và từ thực tiễn giám sát bổ sung hỗ trợ cho công tác nhận định, đo lường và kiểm soát rủi ro được tốt hơn Giám sát rủi ro còn có ý nghĩa ngăn chặn sai phạm trong quá trình quản lý rủi ro của nội bộ ngân hàng

Trang 40

d) Thu hồi nợ đọng

Rà soát, áp dụng triệt để các biện pháp thu hồi nợ đọng, đồng thời đi sâu phân tích vào những khoản nợ khó đòi để đưa ra những biện pháp cụ thể đối với từng khoản nợ

Khi một khoản vay bị xếp xuống nhóm nợ xấu thì ngân hàng sẽ chuyển sang

bộ phận xử lý nợ xấu giải quyết Bộ phận này sẽ thực hiện rà soát khoản vay, lập phương án gặp gỡ khách hàng để tìm hướng khắc phục thông qua các hình thức như: gia hạn nợ, chứng khoán hoá các khoản nợ Nếu khách hàng chấp thuận thực thi phương án khắc phục thì khoản nợ đó sẽ được chuyển sang hình thức theo dõi

nợ bình thường, còn không sẽ chuyển sang bộ phận xử lý nợ xấu Hiện nay, đang tồn tại hai loại hình xử lý nợ: Một là, hình thức xử lý khai thác: bao gồm cho vay thêm, bổ sung tài sản bảo đảm, chuyển nợ quá hạn, thực hiện khoanh nợ xoá nợ, chỉ định đại diện tham gia quản lý doanh nghiệp Hai là, hình thức xử lý thanh lý: bao gồm xử lý nợ tồn đọng (bao gồm nợ tồn đọng có tài sản đảm bảo, và không tài sản đảm bảo), thanh lý doanh nghiệp, khởi kiện, bán nợ, sử dụng dự phòng rủi ro và sự trợ giúp của Chính phủ

2.1.4.4 Đánh giá rủi ro tín dụng

Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá RRTD là:

a) Tỷ lệ nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn = (Dư nợ quá hạn/ Tổng dư nợ cho vay) x 100%

Khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi

đã quá hạn (Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của NHNN Việt Nam ngày 21/01/2013)

Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng ngân hàng càng kém

và ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp càng chứng minh được chất lượng tín dụng ngân hàng được tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ dưới mức cho phép của NHNN thì hoạt động tín dụng của TCTD đó không đáng lo ngại, chất lượng tín dụng vẫn đảm bảo, còn TCTD nào có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ càng cao thì khả năng thu hồi lãi

và gốc của các khoản nợ xấu sẽ là rất khó, làm cho nguy cơ mất vốn càng cao a) Hệ số rủi ro tín dụng

Ngày đăng: 05/04/2022, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tô Kim Ngọc (2012). Giáo trình tiền tệ và ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
2. Đào Minh Phúc, Lê Văn Hinh (2012). Hệ thống kiểm soát nội bộ gắn với quản lý rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Ngân hàng Khác
3. Peters. Rose (2004). Quản trị Ngân hàng Thương mại, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Khác
4. Nguyễn Văn Tiến (2013). Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Văn Tiến (2012). Giáo trình tiền tệ - ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Văn Tiến (2003). Đánh giá và phòng ngừa rủi ro kinh doanh Ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Khác
7. Nguyễn Đức Tú (2011). Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam, Hiệp hội ngân hàng Việt Nam Khác
8. Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng – Ngân hàng Thanh toán quốc tế (10/2010). Các nguyên tắc tăng cường quản trị công ty đồi với các tổ chức ngân hàng Khác
9. Nguyễn Đức Trung (2007). Phương pháp ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ - IBR và những ứng dụng trong quản trị rủi ro, Tạp chí Ngân hàng Khác
11. Ngân hàng TMCP Bắc Á (2013, 2014, 2015). Báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán Khác
12. Ngân hàng TMCP Bắc Á (2013). Quy trình cho vay đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 650 ngày 02/12/2013 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Bắc Á Khác
13. Ngân hàng TMCP Bắc Á (2009). Quy định thẩm định bất động sản tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Ấ, ban hành kèm theo Quyết định số 669/2009/QĐ-BacAbank ngày 10/09/2009 của Hội đồng Quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á Khác
14. Ngân hàng TMCP Bắc Á (2010). Quy chế cho vay đối với khách hàng áp dụng trong hệ thống Ngân hàng TMCP Bắc Á (Ban hành kèm theo Quyết định số 567/QĐ- BacABank ngày 31/12/2010 của Hội đồng quản trị) Khác
15. Ngân hàng TMCP Bắc Á (2010). Quy trình chuyển giao nợ cho BacA AMC xử lý ban hành theo Quyết định số 498/2010/QĐ-BacABank ngày 18/11/2010 của Tổng giám đốc BacA Bank Khác
16. Ngân hàng TMCP Bắc Á – Chi nhánh Thăng Long (2013, 2014, 2015). Báo cáo tổng kêt hàng năm Khác
17. Ngân hàng TMCP Bắc Á – Chi nhánh Thăng Long (2015). Báo cáo tổng kết quý 2015 Khác
18. Ngân hàng TMCP Bắc Á – Chi nhánh Thăng Long (2012, 2013, 2014, 2015). Lưu hành nội bộ Khác
19. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2010). Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam Khác
20. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2010). Luật các tổ chức tín dụng Khác
21. Chính phủ (2006). Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, ngày 29/12/2006: về giao dịch bảo đảm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1. Mơ hình tổ chức của BacABank – Thăng Long - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
Sơ đồ 3.1. Mơ hình tổ chức của BacABank – Thăng Long (Trang 63)
Bảng 3.1. Số lượng mẫu điều tra - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
Bảng 3.1. Số lượng mẫu điều tra (Trang 66)
Bảng 4.1. Nguồn vốn huy động tại chi nhánh Thăng Long ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
Bảng 4.1. Nguồn vốn huy động tại chi nhánh Thăng Long ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á (Trang 71)
Bảng 4.2. Tình hình dư nợ tín dụng của Chi nhánh qua 3năm - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
Bảng 4.2. Tình hình dư nợ tín dụng của Chi nhánh qua 3năm (Trang 72)
- Tình hình dự nợ theo chất lương tín dụng: Tỷ lệ nợ trong hạn và nợ quá hạn đều tăng qua các năm - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
nh hình dự nợ theo chất lương tín dụng: Tỷ lệ nợ trong hạn và nợ quá hạn đều tăng qua các năm (Trang 74)
4.1.4.1. Tình hình nợ quá hạn trong cho vay tín dụng - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
4.1.4.1. Tình hình nợ quá hạn trong cho vay tín dụng (Trang 76)
4.1.4.2. Tình hình nợ quá hạn tín dụng theo loại hình doanh nghiệp - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
4.1.4.2. Tình hình nợ quá hạn tín dụng theo loại hình doanh nghiệp (Trang 77)
Nợ quá hạn phân theo loại hình doanh nghiệp bảng 4.5 và đồ thị 4.1: Nợ quá hạn ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng rất lớn  qua các năm, sau đó là khối doanh nghiệp nhà nước, cịn hộ gia đình và cá thể thì nợ  quá hạn chiếm - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
qu á hạn phân theo loại hình doanh nghiệp bảng 4.5 và đồ thị 4.1: Nợ quá hạn ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng rất lớn qua các năm, sau đó là khối doanh nghiệp nhà nước, cịn hộ gia đình và cá thể thì nợ quá hạn chiếm (Trang 77)
4.1.4.3. Tình hình nợ quá hạn tín dụng theo ngành nghề - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
4.1.4.3. Tình hình nợ quá hạn tín dụng theo ngành nghề (Trang 78)
Bảng 4.6. Nợ quá hạn tín dụng phân theo ngành nghề - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
Bảng 4.6. Nợ quá hạn tín dụng phân theo ngành nghề (Trang 78)
Qua bảng 4.6 và đồ thị 4.2 cho thấy: NQH và tỷ lệ NQH/dư nợ trong lĩnh vực  công  nghiệp,  xây  dựng  chiếm  tỷ  trọng  cao  nhất - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
ua bảng 4.6 và đồ thị 4.2 cho thấy: NQH và tỷ lệ NQH/dư nợ trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng chiếm tỷ trọng cao nhất (Trang 79)
Bảng 4.7 và đồ thị 4.3 cho thấy. NQH đến 90 ngày có khả năng thu hồi có xu hướng tăng qua các năm cùng với sự gia tăng dư nợ tín dụng - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
Bảng 4.7 và đồ thị 4.3 cho thấy. NQH đến 90 ngày có khả năng thu hồi có xu hướng tăng qua các năm cùng với sự gia tăng dư nợ tín dụng (Trang 80)
Bảng 4.8. Tình hình nợ quá hạn theo tính chất đảm bảo trong cho vay - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
Bảng 4.8. Tình hình nợ quá hạn theo tính chất đảm bảo trong cho vay (Trang 81)
SL (tỷ.đ) - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
t ỷ.đ) (Trang 81)
2013 2014 2015 So sánh(%) SL - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh thăng long nhân hàng thương mại cổ phần bắc á
2013 2014 2015 So sánh(%) SL (Trang 83)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w