Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng
Cơ sở lý luận về quản lý hoàn thuế GTGT
Theo cuốn “Giáo trình Lý thuyết thuế” của Đỗ Đức Minh và Nguyễn Việt Cường (2010), thuế được định nghĩa là khoản đóng góp bắt buộc của cá nhân và tổ chức cho Nhà nước, được quy định bởi pháp luật về mức độ và thời hạn, nhằm phục vụ cho các mục đích công cộng.
Theo Điều 2 của Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12, thuế giá trị gia tăng được định nghĩa là loại thuế áp dụng trên giá trị gia tăng của hàng hóa và dịch vụ trong suốt quá trình từ sản xuất, lưu thông cho đến tiêu dùng.
Hoàn thuế GTGT là việc Nhà nước trả lại số thuế GTGT mà đối tượng nộp thuế đã nộp cho NSNN trong một số trường hợp nhất định
Hoàn thuế GTGT là quá trình mà ngân sách nhà nước hoàn trả số tiền thuế đầu vào cho cơ sở kinh doanh hoặc cá nhân đã mua hàng hóa, dịch vụ, trong trường hợp số thuế này chưa được khấu trừ trong kỳ tính thuế Điều này cũng áp dụng cho các tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế.
Theo Giáo trình “Quản lý nhà nước về kinh tế” của Phan Huy Đường (2010):
Quản lý là quá trình có tổ chức và có mục đích, trong đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng và khách thể quản lý Mục tiêu của quản lý là sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong sự phát triển của sự vật.
Quản lý nhà nước là hình thức quản lý do nhà nước thực hiện, nhằm điều hướng và chi phối các hoạt động để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử cụ thể.
Quản lý thuế, theo "Giáo trình quản lý thuế" của Lê Xuân Trường (2010), là hoạt động của Nhà nước do cơ quan thuế đại diện, nhằm huy động nguồn thu từ thuế vào Ngân sách Nhà nước theo các quy định pháp luật về thuế.
Quản lý thuế là quá trình tổ chức và thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, bao gồm việc thiết lập hệ thống tổ chức, phân công trách nhiệm và xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận Mục tiêu của quản lý thuế là thực thi hiệu quả các chính sách thuế nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, trong bối cảnh môi trường quản lý luôn thay đổi.
Quản lý hoàn thuế GTGT là hoạt động của cơ quan thuế nhằm giải quyết hoàn thuế cho người nộp thuế, bao gồm tiếp nhận, giải quyết, kiểm tra và thanh tra hoàn thuế GTGT Hoạt động này phải tuân thủ các quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, Luật thuế GTGT, Luật Quản lý thuế cùng các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan.
2.1.2 Đối tượng và các trường hợp được hoàn thuế GTGT a Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế
Nếu số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc quý, doanh nghiệp có thể khấu trừ vào kỳ tiếp theo Sau ít nhất mười hai tháng hoặc bốn quý kể từ khi phát sinh số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ, nếu vẫn còn số thuế này, cơ sở kinh doanh sẽ được hoàn thuế (Chính phủ, 2013).
Trường hợp hoàn thuế không còn áp dụng sau khi Luật số 106/2016/QH13 và Nghị định số 100/2016/NĐ-CP có hiệu lực Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế Đặc biệt, cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư sẽ chịu sự điều chỉnh theo các quy định mới này.
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh và nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm, thăm dò và phát triển mỏ dầu khí trong giai đoạn đầu tư, có thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên, sẽ được hoàn thuế giá trị gia tăng cho hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm Nếu số thuế giá trị gia tăng lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ đầu tư đạt từ 300 triệu đồng trở lên, doanh nghiệp cũng sẽ được hoàn thuế giá trị gia tăng (Chính phủ, 2016).
Cơ sở kinh doanh đang hoạt động và thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ cần lưu ý đến các dự án đầu tư, trừ những trường hợp được hướng dẫn tại Điểm c.
Khoản 3 Điều này và trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê mà không hình thành tài sản cố định) cùng tỉnh, thành phố, đang trong giai đoạn đầu tư thì cơ sở kinh doanh thực hiện kê khai riêng đối với dự án đầu tư và phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện Số thuế GTGT được kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh
Sau khi thực hiện bù trừ, nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên, dự án sẽ được hoàn thuế GTGT Ngược lại, nếu số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết nhỏ hơn 300 triệu đồng, số thuế này sẽ được kết chuyển vào kỳ kê khai tiếp theo.
Khi cơ sở kinh doanh đang hoạt động và thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, cần lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án này nếu nó nằm ở tỉnh, thành phố khác với nơi đóng trụ sở chính và đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động Đồng thời, cơ sở kinh doanh phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại Lưu ý rằng số thuế GTGT được kết chuyển không vượt quá số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Cơ sơ thực tiễn liên quan đến quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng của một số nước trên thế giới
Hoàn thuế là một phần quan trọng trong chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) của nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước phát triển, nơi số lượng thuế GTGT được hoàn trả thường rất lớn.
Theo bài báo "Kinh nghiệm quốc tế về phòng, chống gian lận thuế" của Lê Văn Thuận (2013), tại các quốc gia như Anh, Hà Lan, Thụy Điển, Nam Phi và Canada, tỷ lệ hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) chiếm khoảng 40% tổng số thu từ thuế GTGT Trong khi đó, mức hoàn thuế GTGT ở các nước châu Á lại thấp hơn nhiều.
Mỹ Latinh thường có tỷ lệ hoàn thuế thấp hơn 20% tổng thu nhập Quy mô hoàn thuế tại các quốc gia trong khu vực này thường phụ thuộc vào các đặc điểm của nền kinh tế.
Mức độ tạo ra giá trị gia tăng trong các ngành xuất khẩu và tỷ trọng doanh số giữa các nhóm chịu thuế có ảnh hưởng lớn đến chính sách thuế GTGT Chính sách này bao gồm quy mô nhóm hàng hóa và dịch vụ áp dụng thuế 0% cùng với các mức thuế suất khác nhau Sự tuân thủ của người nộp thuế và tình trạng gian lận thuế GTGT cũng là những yếu tố quan trọng cần xem xét Các quốc gia có độ mở cao và hệ thống quản lý thuế hiện đại thường có mức độ hoàn thuế GTGT cao hơn Để quản lý và hạn chế gian lận trong hoàn thuế GTGT, nhiều quốc gia đã áp dụng các phương thức khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế.
Một số quốc gia quy định rằng số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong một kỳ phải được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo, như ở Thái Lan, Bun-ga-ry, Ba Lan và Chi Lê Tuy nhiên, quy định này thường không áp dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu Theo phương thức này, người nộp thuế chỉ có thể hoàn thuế khi vẫn còn số thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là từ 3 đến 6 tháng, và có thể kéo dài hơn một năm, hoặc chỉ được khấu trừ mà không được hoàn.
Tại In-đô-nê-xi-a, kỳ kê khai thuế diễn ra hàng tháng, tuy nhiên, việc kê khai hoàn thuế chỉ được thực hiện vào cuối năm, trừ một số trường hợp đặc biệt cho phép kê khai hoàn theo tháng Đối tượng nộp thuế chỉ nhận được hoàn thuế sau khi cơ quan thuế tiến hành kiểm toán theo yêu cầu hoàn thuế, và việc kiểm toán này phải diễn ra trong vòng một năm kể từ ngày đề nghị hoàn thuế Sau khi có kết luận kiểm toán, việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong vòng một tháng.
Tại Chi Lê, thuế GTGT được kê khai hàng tháng, và số thuế đầu vào chưa được khấu trừ sẽ được chuyển sang 6 tháng tiếp theo trước khi tiến hành hoàn thuế.
Một số quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, Ma-rốc và Panama không cho phép hoàn tiền mà chỉ cho phép chuyển số tiền đó để khấu trừ vào các kỳ tiếp theo, trừ trường hợp xuất khẩu.
Trước khi thực hiện hoàn thuế GTGT, một số quốc gia yêu cầu kiểm toán, như In-đô-nê-xi-a Trong khi đó, một số nước khác như Bun-ga-ri áp dụng cơ chế tài khoản thuế GTGT để quản lý quá trình nộp và hoàn thuế Ngoài ra, tại Ke-ny-a, quy định yêu cầu hoàn thuế vượt một ngưỡng nhất định cần có xác nhận từ một công ty kiểm toán độc lập đã đăng ký hành nghề.
Để hạn chế gian lận thương mại và giảm thiểu thủ tục hoàn thuế, một số quốc gia như Singapore, Pháp, Ba Lan và Nam Phi quy định rằng số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ hết phải vượt qua một ngưỡng nhất định mới đủ điều kiện được hoàn thuế.
Hoàn thuế GTGT ở mức thấp hơn là một thực tế phổ biến ở nhiều quốc gia, trong đó số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ thường bằng với số thuế GTGT thực trả trong giao dịch hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, Trung Quốc có một ngoại lệ đặc thù, khi một số nhóm hàng hóa nông sản áp dụng thuế suất đầu vào 17%, nhưng chỉ được khấu trừ ở mức 13% Chính sách này được Trung Quốc sử dụng như một công cụ điều tiết thương mại, nhằm tăng tỷ lệ khấu trừ trong trường hợp xuất khẩu gặp khó khăn và nâng cao khả năng chủ động trong quản lý ngân sách.
2.2.2 Các văn bản, chính sách liên quan đến quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam Để quản lý hoàn thuế GTGT, Nhà nước Việt Nam ban hành các Luật, nghị định, thông tư và các chính sách liên quan đến hoàn thuế GTGT tại Việt Nam như sau: a Quốc hội ban hành các văn bản pháp lý
- Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006
- Luật số 21/2012/QH12 ngày 20/11/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế
- Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế
- Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QHH13 ngày 25/6/2015 b Chính phủ ban hành nghị định
- Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế
Nghị định số 83/2013/NĐ-CP, ban hành ngày 22/7/2013, của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, nhằm mục tiêu tạo ra khung pháp lý rõ ràng và minh bạch cho công tác quản lý thuế tại Việt Nam Nghị định này đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn thực hiện các quy định về thuế, đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong việc thu nộp ngân sách nhà nước.
Nghị định số 100/2016/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, quy định chi tiết việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế Các Bộ, ngành sẽ ban hành quyết định, thông tư và văn bản liên quan để thực hiện nghị định này.
- Thông tư số 150/2013/TT-BTC ngày 29/10/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về lâp, quản lý và việc thực hiện hoàn thuế từ quỹ hoàn thuế GTGT
Quyết định số 2404/QĐ-BTC ngày 27/9/2012 của Bộ Tài chính quy định về chế độ kiểm tra hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các trường hợp được hoàn thuế trước và kiểm tra sau Quyết định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình hoàn thuế, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý thuế.
- Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng