1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh

115 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu chính và kết luận Về thực trạng quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh: Các hộ chăn nuôi lợn đã hiểu biết được thiệt h

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN HỮU THỌ

QUẢN LÝ RỦI RO DỊCH BỆNH TRONG CHĂN NUÔI

LỢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN DU,

TỈNH BẮC NINH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đình Thao

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2018

Tác gi ả luận văn

Nguy ễn Hữu Thọ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc thầy PGS.TS Trần Đình Thao đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kế hoạch và đầu tư, Khoa Kinh tế - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trạm Chăn nuôi và Thú y Tiên Du đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều

kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà N ội, ngày 18 tháng 6 năm 2018

Tác gi ả luận văn

Nguy ễn Hữu Thọ

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract x

Ph ần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Đóng góp mới của đề tài 4

Ph ần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi l ợn 5

2.1 Cơ sở lý luận về rủi ro và quản lý rủi ro 5

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

2.1.2 Các bệnh chủ yếu và cách phòng bệnh trong chăn nuôi lợn 11

2.1.3 Nguyên nhân rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 14

2.1.4 Các chiến lược quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 16

2.1.5 Nội dung quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 18

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 21

2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 24

2.2.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn của một số địa phương ở Việt Nam 24

2.2.2 Bài học kinh nghiệm cho quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 29

Trang 5

2.2.3 Nghiên cứu liên quan đến đề tài 30

Ph ần 3: Phương pháp nghiên cứu 32

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32

3.1.1 Đặc điểm về tự nhiên 32

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Tiên Du 35

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 42

3.2 Phương pháp nghiên cứu 43

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 44

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 46

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 46

3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 48

Ph ần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 49

4.1 Thực trạng quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 49

4.1.1 Tổng quan chung về chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 49

4.1.2 Thực trạng rủi ro dịch bệnh và quản lý rủi ro dịch bệnh của hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 55

4.1.3 Quản lý của các cơ quan Nhà nước đối với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 69

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 84

4.2.1 Kiến thức quản lý và kỹ năng của người chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 84

4.2.2 Địa điểm, quy mô và diện tích chuồng trại của các hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 86

4.2.3 Năng lực quản lý và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ thú y 87

4.2.4 Chính sách tiêm phòng và quản lý thuốc thú y trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 88

4.3 Định hướng và giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 89

Trang 6

4.3.1 Định hướng 89

4.3.2 Các giải pháp 90

Ph ần 5 Kết luận và kiến nghị 96

5.1 Kết luận 95

5.2 Kiến nghị 96

Tài liệu tham khảo 98

Trang 7

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

UBND Ủy ban nhân dân

VLXD Vật liệu xây dựng

Trang 8

DANH M ỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp 17

Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Tiên Du từ năm 2014 đến 2016 36

Bảng 3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011 - 2016 37

Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động huyện Tiên Du giai đoạn 2014 - 2016 40

Bảng 3.4 Quy mô chăn nuôi và tỷ lệ lợn mắc bệnh trên địa bàn huyện Tiên Du năm 2017 44

Bảng 3.5 Đối tượng, công cụ và nội dung cần thu thập 45

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du giai đoạn 2015 - 2017 49

Bảng 4.2 Đặc điểm của hộ chăn nuôi lợn được điều tra 52

Bảng 4.3 Tài sản của hộ phục vụ chăn nuôi lợn 53

Bảng 4.4 Phương thức và địa điểm chăn nuôi lợn ở huyện Tiên Du 55

Bảng 4.5 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn huyện Tiên Du năm 2017 56

Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn mắc bệnh và các bệnh thường gặp ở lợn 57

Bảng 4.7 Thiệt hại kinh tế do dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 58

Bảng 4.8 Nguồn cung cấp giống của các hộ chăn nuôi lợn 59

Bảng 4.9 Lý do chọn nguồn cung cấp giống của hộ chăn nuôi lợn 60

Bảng 4.10 Phương thức sử dụng thức ăn của hộ chăn nuôi lợn 61

Bảng 4.11 Hình thức xử lý của hộ chăn nuôi khi lợn bị bệnh 62

Bảng 4.12 Khả năng tiếp cận dịch vụ thú y của hộ 64

Bảng 4.13 Phương pháp phòng chống dịch bệnh của hộ chăn nuôi lợn 64

Bảng 4.14 Phương thức và hình thức tiêm vaccine cho lợn của hộ chăn nuôi 65

Bảng 4.15 Cách xử lý khi xảy ra dịch bệnh của hộ chăn nuôi lợn 67

Bảng 4.16 Cách xử lý khi lợn chết do bệnh của hộ chăn nuôi lợn 68

Bảng 4.17 Thực trạng tham gia bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn 69

Bảng 4.18 Kết quả tiêm vaccine phòng dịch bênh cho đàn lợn trên địa bàn huyện Tiên Du giai đoạn 2015 - 2017 79

Bảng 4.19 Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tiêm Vaccine phòng bệnh cho đàn lợn 80

Trang 9

Bảng 4.20 Kết quả tập huấn về kiến thức chăn nuôi và phòng chống dịch bệnh

ở lợn trên địa bàn huyện Tiên Du giai đoạn 2015 - 2017 81 Bảng 4.21 Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tập huấn kiến thức chăn nuôi và phòng

chống dịch bệnh cho đàn lợn 82 Bảng 4.22 Kết quả của hộ chăn nuôi sau khi tham gia lớp tập huấn 83 Bảng 4.23 Nhận thức của hộ về quản lý rủi ro dịch bệnh 84

Bảng 4.24 Mức độ mắc rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn phân theo mức

độ tập huấn của hộ chăn nuôi 85

Bảng 4.25 Mức độ mắc rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn theo địa điểm

chăn nuôi 87

Bảng 4.26 Trình độ chuyên môn cán bộ thú y 87

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác gi ả: Nguyễn Hữu Thọ

Tên lu ận văn: Quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du,

tỉnh Bắc Ninh

Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

M ục đích nghiên cứu

Luận văn đã phân tích thực trạng quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích Số liệu sơ cấp được tác giả thu thập bằng cách điều tra phỏng vấn 95 hộ chăn nuôi trên địa bàn 5 xã Phú Lâm, Cảnh Hưng, Minh Đạo, Tân Chi, Lạc Vệ Nội dung thu thập: Đặc điểm của hộ; Tài sản của hộ; Chi phí trong chăn nuôi lợn; Sản lượng và thu nhập từ chăn nuôi lợn; Kiến thức trong chăn nuôi và cách phòng ngừa rủi ro dịch bệnh; Chất lượng thuốc thú y; Tổn thất khi rủi ro dịch bệnh như thế nào về: số con, số tiền, cách khắc phục Số liệu

thứ cấp được thu thập từ các sách, tạp chí, báo in, báo điện tử, báo cáo của các ngành, các

cấp,… có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài Số liệu sau khi được tác giả thu

thập về sẽ được tổng hợp và phân tích để đánh giá thực trạng quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất giải pháp quản lý

nhằm giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện

Kết quả nghiên cứu chính và kết luận

Về thực trạng quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh: Các hộ chăn nuôi lợn đã hiểu biết được thiệt hại to lớn của dịch bệnh gây ra trên đàn lợn và đã áp dụng một số biện pháp để quản lý rủi ro dịch bệnh ở lợn Tuy nhiên, do có sự khác biệt về hiểu biết, trình độ và kinh nghiệm chăn nuôi giữa các hộ chăn nuôi quy mô khác nhau nên cách thức quản lý rủi ro dịch bệnh ở các hộ này cũng khác nhau Trong quản lý con giống, các hộ chăn nuôi đã quan tâm đến việc lựa chọn nguồn gốc giống lợn mua về nuôi Trong đó các hộ có quy mô càng lớn thì họ chọn lợn giống càng kỹ hơn, họ hiểu biết rõ ràng nguồn gốc của lợn giống trước khi mua về Điều này giúp hạn chế tình trạng số lợn bị bệnh hoặc chậm phát triển của lợn

Trang 11

giống khi mua về Trong quản lý thức ăn, các hộ chăn nuôi quy mô trang trại sử dụng 100% thức ăn công nghiệp có tỷ lệ lợn mắc bệnh thấp hơn Trong quản lý thú y, những

hộ nhờ cán bộ thú y tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn theo định kỳ thì tỷ lệ lợn mắc bệnh thấp hơn Và khi lợn bị bệnh, các hộ chăn nuôi gọi ngay cán bộ thú y thì tỷ lệ lợn được chữa khỏi cao hơn và mức độ lây lan dịch bệnh cũng thấp hơn ở các hộ tự mua thuốc chữa trị Bên cạnh việc tự quản lý rủi ro dịch bệnh của các hộ chăn nuôi, các cấp

ủy đảng, chính quyền từ tỉnh, huyện đến cơ sở, đặc biệt là Sở NN & PTNT tỉnh, cùng với các ban, ngành chuyên môn của tỉnh và huyện cũng đưa ra rất nhiều biện pháp để quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn Các biện pháp gồm: quy định về việc giết

mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn; quy định về xử lý lợn bị dịch bệnh, lợn chết do bị dịch bệnh; tổ chức các đợt tiêm phòng bệnh cho đàn lợn (tiêm phòng bệnh dịch tả, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, tai xanh, phó thương hàn, sưng phù đầu, đóng dấu lợn); thường xuyên mở các lớp tập huấn về kiến thức chăn nuôi và phòng chống dịch bệnh ở lợn cho cán bộ thú y và hộ chăn nuôi

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro dịch bệnh trọng chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du gồm: Kiến thức quản lý và kỹ năng của người chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; Đất đai, quy mô và diện tích chuồng trại của các hộ

chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; Năng lực quản lý và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ thú y; Chính sách tiêm phòng và quản lý thuốc thú y trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

Nhằm giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên

Du, tác giả đề xuất một số giải pháp: Các hộ chăn nuôi cần phải nâng cao khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật; Tăng cường vệ sinh, khử trùng chuồng trại, tiêm phòng vaccine cho đàn lợn; Tham gia bảo hiểm nông nghiệp Các cơ quan quản lý cần phải tổ chức thực hiện tiêm phòng bắt buộc và mở rộng trên toàn huyện; Quản lý chặt chẽ thuốc thú

y, con giống, thức ăn trong chăn nuôi lợn; Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thú y; Quy hoạch khu chăn nuôi tập trung xa khu dân cư

Trang 12

THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguyen Huu Tho

Thesis title: Risk management in pig disease in Tien Du district, Bac Ninh province

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture

Research Objectives

The thesis analyzes the situation of risk management in pig disease in Tien Du district, Bac Ninh province Accordingly, solutions are proposed to reduce disease risks

in pig farming in Tien Du district, Bac Ninh province

Materials and Methods

A number of research methods have been used including site selection method, data collection method, analytical method Primary data was collected by interviews with 95 households in 5 communes of Phu Lam, Canh Hung, Minh Dao, Tan Chi and Lac Ve Collected contents consist of features and property of the households; expenses for pig farming; productivity and income from pig farming; knowledge in animal husbandry and disease risk prevention; veterinary medicine quality; loss when the risk of disease outbreaks

in terms of: number of pig, money and overcome solutions Secondary data was collected from books, journals, printed newspapers, electronic newspapers, reports from sectors and levels, etc., which related to research content of the thesis The data collected will be synthesized and analyzed to assess the current status of risk management in pig disease in Tien Du district, Bac Ninh province and propose a management solution to reduce the risk

of disease in pig farming in the district

Main findings and conclusions

Regarding the status of risk management in disease in pig raising in Tien Du district, Bac Ninh province: Pig farmers have been aware of the serious damage caused

by the disease in pig herd and have applied a number of measures to manage risk in pig disease However, due to differences in knowledge, level and experience of households and the scale of pig farming, the method of managing disease risks in these households

is varied In the management of breeding animals, the husbandry was interested in choosing the origin of pigs for raising The bigger the scale of pig farming is, the more carefullypig breeds are chosen, and the better they know the origin of the pigs before purchasing This helps to limit the number of pigs that are sick or delay the development of piglets when purchased In feed management, farm-scale households using 100% of industrial feed have the lower incidence of pigs infected In veterinary

Trang 13

management, the number of pigs injected vaccine periodicallyhave lower diseases

When pigs are sick, livestock farmers call the veterinary staff immediately, the rate of pigs are cured higher and the level of disease transmission is lower than the self-medication Apart from self-management of disease risks of livestock producers, the provincial party committees, provincial authority, district and grassroots governments, especially the provincial Department of Agriculture and Rural Development have also introduced a number of measures to manage disease risks in pig production Measures include: regulations on the slaughter of cattle and poultry in the area; regulations on the handling of diseased pigs and dead pigs due to diseases; organize vaccination rounds for pigs (vaccination against cholera, foot and mouth disease, hemorrhage, blue ear, typhoid fever, swollen head, pig seal); regular training courses on livestock knowledge and disease prevention in pigs for veterinary staff and livestock farmers

Factors influencing risk management in pig disease in Tien Du district include: management knowledge and skills of pig farmers in Tien Du district, Bac Ninh province; land, scale and housing area of pig households in Tien Du district, Bac Ninh province; management capacity and professional qualifications of veterinary staff; vaccination policy and veterinary medicine management in Tien Du district, Bac Ninh province

In order to reduce the risk of disease in pig raising in Tien Du district, the writer proposes some solutions: Livestock producers need to improve their access to science and technology; strengthening hygiene, breeding facilities, vaccination for pigs; participating in agricultural insurance Regulatory authorities should implement compulsory and expanded vaccination throughout the district; strictly control veterinary medicine, breeds and feeds in pig raising; capacity building for veterinary staff; livestock planning is concentrated far from residential areas

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam là một nước nông nghiệp, trong khi đó ngành nông nghiệp là tiền

đề cho sự phát triển kinh tế và là cơ sở để thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy nông nghiệp, nông thôn luôn được coi là mặt trận hàng đầu trong quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước Trong những năm qua, nền nông nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng kể góp phần chung vào sự phát triển của đất nước, nhưng nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro làm giảm khả năng sinh lời, thậm chí người nông dân còn bị thua lỗ Trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, sản xuất ngày càng đa dạng bao nhiêu thì càng chứa nhiều rủi ro bấy nhiêu Hiện tượng được mùa, mất giá hay được giá, mất mùa vẫn luôn là vòng luẩn quẩn bao vây người dân mà chưa thể thoát ra được hoặc liên tiếp hứng chịu thiên tai, dịch bệnh, Nó đã gây ra những thiệt hại lớn và để lại hậu quả nặng nề cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt như lĩnh vực chăn nuôi lợn, người dân thường gặp nhiều rủi ro trong quá trình sản

xuất, cũng như tiêu thụ sản phẩm

Như chúng ta đã biết, chăn nuôi lợn là ngành khá quan trọng trong nền kinh

tế và đời sống của con người Bởi nó cung cấp nguồn thực phẩm thiết yếu hàng ngày cho con người, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến

thực phẩm; ngoài ra sản phẩm phụ của ngành chăn nuôi còn hỗ trợ và là đầu vào cho ngành trồng trọt Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, lĩnh vực chăn nuôi lợn thường gặp phải những khó khăn và rủi

ro, như: thiên tai, dịch bệnh, giá cả đầu vào và đầu ra luôn biến động,… đã gây ra

những thiệt hại đáng kể về kinh tế và ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý đầu tư phát triển sản xuất của người chăn nuôi, cũng như đời sống kinh tế, xã hội Trong

đó thiệt hại lớn nhất mà người nông dân gặp phải trong chăn nuôi lợn đó là rủi do

dịch bệnh Do vậy, đứng trước những vấn đề khó khăn đó đòi hỏi Nhà nước cần

có chủ trương, chính sách hỗ trợ người chăn nuôi và những nông hộ chăn nuôi

lợn cần có những biện pháp quản lý cụ thể để giảm thiểu tối đa thiệt hại mà rủi ro

dịch bệnh gây ra

Đa phần người dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh có thu nhập chủ yếu từ trồng trọt và chăn nuôi Trong những năm gần đây kinh tế - xã hội của huyện đã

Trang 15

từng bước khởi sắc, các cấp uỷ đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở đã và đang tích cực chỉ đạo chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp, theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn, giảm dần tỷ trọng trồng trọt Xu hướng chuyển dịch đó đã góp phần đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, tiêu thụ thực phẩm, nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình

Qua khảo sát thực tiễn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh cho thấy, rủi ro dịch bệnh là loại rủi ro mà các hộ chăn nuôi lợn ở đây thường gặp

và gây hậu quả lớn cho các hộ chăn nuôi Năm 2017, số lượng lợn bị mắc bệnh là 686.212 con với tỷ lệ mắc bệnh là 32,43%, số lượng lợn bị chết do dịch bệnh là 171.553 con, gây thiệt hại 480.348 triệu đồng cho các hộ chăn nuôi trong toàn huyện Tuy nhiên, cách thức quản lý để giảm thiểu rủi ro dịch bệnh cho các hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ra sao cho đến nay vẫn chưa được các hộ chăn nuôi lợn và các cơ quan có thẩm quyền quan tâm đúng mức để tổ chức triển khai sâu rộng Vì vậy, có những chủ trương, những tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn người dân chưa được tiếp nhận; một số chính sách của Nhà nước đôi khi do ảnh hưởng tác động của rủi ro dịch bệnh cũng bị kém hiệu lực

Xuất phát từ tính cấp thiết đó, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý rủi

ro d ịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh”

1.2 M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn, đề xuất các giải pháp giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

Trang 16

- Đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Có những loại rủi ro nào trong chăn nuôi lợn? Nội dung và chiến lược

quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn?

- Thực trạng rủi ro và quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 đến năm 2017 như thế nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh?

- Để giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn, các hộ nuôi lợn và cơ quan quản lý Nhà nước cần phải làm gì trong thời gian tới?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

- Đối tượng khảo sát: Hộ chăn nuôi lợn, các cán bộ làm việc tại Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh và các chính sách của các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đến quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

gia của các cơ quan chức năng có liên quan trong công tác quản lý quá trình chăn nuôi lợn của các hộ có quy mô chăn nuôi khác nhau trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Từ đó, đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu rủi ro

dịch bệnh cho người chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện

+ Số liệu thứ cấp thu thập trong 3 năm từ 2015 đến 2017;

+ Số liệu sơ cấp được điều tra và tổng hợp năm 2017;

+ Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2017 đến tháng 5/2018

+ Giải pháp đề xuất đến năm 2020 và những năm tiếp theo

Trang 17

1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Tính đến thời điểm hiện nay, chưa có đề tài nào thực hiện về quản lý rủi

ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Đề tài đã phân tích được thực trạng chăn nuôi lợn, rủi ro dịch bệnh và biện pháp quản lý

rủi ro dịch bệnh của các hộ chăn nuôi và các cấp chính quyền huyện Tiên Du,

tỉnh Bắc Ninh từ đó đã đưa ra được một số giải pháp cho các cơ sở chăn nuôi

lợn, các cơ quan chức năng nhằm giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi

lợn trên địa bàn huyện Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị có ý nghĩa hết sức tích cực, phù hợp với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn

hiện nay

Trang 18

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO

DỊCH BỆNH TRONG CHĂN NUÔI LỢN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Không chắc chắn

Những điều không chắc chắn được nhìn nhận như nguy cơ rủi ro và trở ngại lớn đối với việc ra quyết định đúng đắn Chúng ta không thể dự đoán chính xác những yếu tố cản trở này do phần lớn chúng đều liên quan đến tương lai - những điều chưa biết và không có dữ liệu Tóm lại, ta có thể hiểu không chắc chắn là tình trạng mà các kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó không biết trước được để ra một quyết định cho phù hợp Trong ngành Nông nghiệp thì sự không chắc chắn là một vấn đề khó hơn so với những ngành nghề khác và nó được thể hiện trên các dạng chủ yếu sau (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

- Sự không chắc chắn về giá cả

Do chu kỳ sản xuất một đàn lợn tương đối dài nên khi lựa chọn chăn nuôi hay không giá cả cũng có những biến động nhất định Chẳng hạn thời điểm ra quyết định người ta khó có thể đoán trước được giá cả những sản phẩm đầu ra

là bao nhiêu Vấn đề này càng trầm trọng hơn đối với các nước nông nghiệp

chậm phát triển nơi có thị trường không hoàn thiện và thiếu thông tin Sự dao động của thị trường cũng có thể được hiểu là sự không chắc chắn của giá cả (Bùi Thị Gia, 2005)

+ Sự không chắc chắn về giá đầu vào

Trong chăn nuôi lợn thì những yếu tố đầu vào cho lợn có ý nghĩa kinh tế

rất quan trọng Thị trường giá cả các yếu tố đầu vào luôn biến động nên nhiều khi người ta không thể lường trước được mức độ giá cả, các yếu tố đầu vào biến đổi

Trang 19

như thế nào để có những định hướng cho phù hợp cho việc ra quyết định đầu tư

sản xuất (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

+ Sự không chắc chắn về giá đầu ra

Những biến động về giá cả của thị trường là điều rất khó có thể lường trước được Sự biến động này xảy ra do rất nhiều lý do, có thời điểm giá rất cao, nhưng

có những thời điểm giá cả lại xuống thấp và đã gây những ảnh hưởng tiêu cực đến những hộ chăn nuôi lợn Sự không lường trước được có thể hiểu là sự không

chắc chắn trong thị trường đầu ra (Bùi Thị Gia, 2005)

2.1.1.2 Khái niệm rủi ro

Trong các tình trạng không chắc chắn trên thì các biến cố có thể xảy ra với

một xác suất có thể ước đoán chủ quan được gọi là rủi ro Như vậy, chúng ta có

thể hiểu rủi ro là những tổn thất, những bất trắc, khả năng không đạt được kết

quả mong muốn và rủi ro có thể đo lường được (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

Để đưa ra được một quyết định thì việc gặp phải các rủi ro là điều không

thể tránh khỏi trong bất cứ lĩnh vực ngành nghề nào, đặc biệt trong chăn nuôi lợn thì xác suất gặp rủi ro lại càng cao Mức độ rủi ro phụ thuộc vào sự tác động của các yếu tố và khả năng kiểm soát các yếu tố trong giai đoạn quyết định đến kết

quả Trong khi đó, từ quyết định đến kết quả là một quá trình bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó có rất nhiều yếu tố nằm ngoài dự đoán và khả năng kiểm soát của người ra quyết định nên mức độ rủi ro là rất lớn (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

Bàn về khái niệm rủi ro: Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất

về rủi ro Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng

tập trung lại có thể chia thành hai trường phái:

Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự

tổn thất mất mát, nguy hiểm Nó được xem là điều không lành, điều không tốt,

bất ngờ xảy đến Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế

so với lợi nhuận dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn

xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến

sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp Tóm lại, theo quan điểm này thì

ủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến

Trang 20

nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người” (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn

thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ

hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết

quả tốt đẹp cho tương lai (Bùi Thị Gia, 2005)

Rủi ro phụ thuộc vào ngữ cảnh, nếu con người không có khái niệm hoặc

không liên quan đến thì họ không có rủi ro (Bùi Thị Gia, 2005)

2.1.1.3 Phân biệt giữa rủi ro và không chắc chắn

- Từ các khái niệm nêu trên ta nhận thấy rằng rủi ro là khách quan và nếu

có đầy đủ thông tin thì có thể tính được xác suất của các sự kiện xảy ra, còn không chắc chắn là tình trạng mà cả các kết quả có khả năng xảy ra và xác suất

của nó không biết trước khi quyết định quản lý, có nghĩa là con người có thể tác động để giảm bớt sự thua thiệt cho người sản xuất Đó cũng là nguyên tắc cho

việc ra quyết định trong quản lý rủi ro phải dựa vào suy nghĩ chủ quan của từng người (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

Trong lĩnh vực nông nghiệp, chúng ta có thể hiểu rủi ro là những tổn thất,

những bất trắc, khả năng không đạt được kết quả mong muốn và rủi ro có thể đo lường được Rủi ro tồn tại khi người sản xuất biết vùng kết quả có khả năng xảy

ra và xác xuất của từng kết quả đó đối với quyết định của anh ta Ngược lại, sự không chắc chắn xảy ra khi các kết quả hoặc sự kiện xảy ra và xác xuất của chúng không biết (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

- Rủi ro và không chắc chắn có thể định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, song cách phân biệt thông thường đó là: Rủi ro là sự biết không hoàn hảo về kết

quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó, còn không chắc chắn là kết quả có

khả năng xảy ra và xác suất của nó là không biết trước Nhưng sự phân biệt này không có ích lắm vì nhiều trường hợp có biết trước xác suất khách quan (Bùi Thị Gia, 2005)

- Rủi ro đề cập đến nhiều kết quả có thể xảy ra với các khả năng khác nhau

Khả năng của một kết quả nào đó hiểu theo nghĩa tần suất trung bình xảy ra kết

quả đó Trong khi đó không chắc chắn đề cập đến tình trạng có nhiều kết quả có

Trang 21

thể xảy ra trong một quyết định nhưng chưa biết khả năng xảy ra của từng kết

quả Như vậy, rủi ro và không chắc chắn chỉ khác nhau ở việc đánh giá được hay không (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

- Đối với những quyết định hằng ngày thì rủi ro không quan trọng bởi vì tổn

thất không lớn hoặc xác suất gánh chịu mất mát được cho là nhỏ không đáng kể Nhưng đối với những quyết định quan trọng của cuộc đời hoặc những quyết định

của sản xuất hay nuôi trồng một con gì hay cây gì, người ta phải cân nhắc đến sự không chắc chắn vì nó sẽ có những cách khác nhau quan trọng giữa hậu quả tốt

và xấu Do đó, đối với những quyết định như vậy thì rủi ro có thể được đánh giá

là có ý nghĩa quan trọng Trong chăn nuôi lợn, nhiều quyết định không cần tính đến rủi ro nhưng có nhiều quyết định cũng nên chú ý khi lựa chọn các khả năng

sẵn có (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

2.1.1.4 Phân loại rủi ro

Từ nguồn gốc rủi ro người ta phân loại rủi ro thành các nhóm sau:

- Rủi ro và không chắc chắn do thiên nhiên: Đây là nhóm rủi ro do các hiện tượng thiên nhiên gây ra Những rủi ro này thường gây ra những thiệt hại lớn cho những người chăn nuôi Có thể gây ra chi phí trực tiếp hay những chi phí gián tiếp hộ chăn nuôi lợn Đây là những rủi ro tác động trực tiếp đến sản lượng cũng như năng suất của những hộ chăn nuôi lợn (Bùi Thị Gia, 2005)

- Rủi ro và không chắc chắn do thị trường hay rủi ro về giá cả:

+ Biến động do các yếu tố đầu vào bất kỳ một hoạt động kinh tế nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh cũng cần các yếu tố đầu vào Trong chăn nuôi lợn thì những yếu tố đầu vào có tác dụng không nhỏ đến quá trình chăn nuôi Sự biến động của giá các yếu tố đầu vào là nguyên nhân chứa đựng nhiều rủi ro Sự tăng giá hay chất lượng các yếu tố đầu vào có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất chăn nuôi lợn (Nguyễn Thị Tâm, 2008)

+ Rủi ro thị trường tiêu thụ sản phẩm hay là những rủi ro liên quan đến đầu

ra của sản phẩm Đây là một yếu tố dẫn đến những rủi ro cho các hộ chăn nuôi lợn Giá thịt lợn có thể thay đổi qua từng tháng, thậm chí qua từng ngày Cũng có khi lường trước được nếu như thị trường bên ngoài biến động theo một chu kỳ nhất định Nhưng chu trình chăn nuôi lợn kéo dài, có thể vài tháng nên những dự đoán về thị trường là rất khó (Phạm Thị Lam, 2010)

Trang 22

trước được Cung về thịt lợn chịu tác động của quyết định sản xuất của từng hộ hay thời tiết, dịch bệnh năm đó Còn cầu thịt lợn lại chịu tác động bởi nhiều yếu

tố như thu nhập của người tiêu dùng, hay thị hiếu của họ, giá cả những hàng hoá thay thế như thịt bò, thịt gà như vậy, giá sản phẩm đầu ra cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro (Bùi Thị Gia, 2005)

Tại thời điểm ra quyết định thì giá bán thịt lợn thường cao, nhưng do đặc điểm của chăn nuôi lợn là phải mất thời gian dài mới tạo ra sản phẩm nên chưa chắc những mong muốn của người ra quyết định có thể trở thành hiện thực

- Rủi ro và không chắc chắn do tiến bộ khoa học kỹ thuật:

+ Biến động về năng suất: Trong chăn nuôi lợn, ngoài những yếu tố tạo nên năng suất cũng như sản lượng của các hộ chăn nuôi lợn thì hoạt động chăn nuôi còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố không kiểm soát được (thời tiết, dịch bệnh )

Đối với ngành nông nghiệp, yếu tố tự nhiên đóng vai trò hết sức quan trọng

Do tác động của các yếu tố đó nên xảy ra trường hợp sử dụng cùng số lượng và chất lượng các yếu tố đầu vào nhưng vẫn cho kết quả khác nhau Sự biến động này có thể nói là do rất nhiều nguyên nhân mà bản thân con người không có khả năng đối phó được, cho dù khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và tiên tiến hơn Sự biến động đó đã làm cho năng suất giảm đi rõ rệt Đây là một đặc điểm riêng mà trong ngành nông nghiệp mới có (Bùi Thị Gia, 2005)

Trong điều kiện các yếu tố đầu vào không thay đổi nhưng vẫn cho năng suất khác nhau bởi vì điều kiện tự nhiên ở các trạng thái khác nhau Trong điều kiện thuận lợi thì năng suất chăn nuôi sẽ cao và ngược lại, vì vậy nó có thể gây ra tình trạng rủi ro và không chắc chắn về đầu ra

+ Rủi ro do dịch bệnh

Con người càng ngày càng có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm chất lượng, cho nên những yêu cầu về sản phẩm đòi hỏi ngày càng cao Trong chăn nuôi ngày càng có nhiều giống mới được đưa vào, con người ngày càng sử dụng nhiều yếu tố đầu vào nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như tăng số lượng đầu lợn Khi có dịch bệnh xảy ra người chăn nuôi rất khó phòng tránh các thiệt hại do dịch bệnh gây ra Điều này cũng chứa đựng nhiều yếu tố không may

- Rủi ro và không chắc chắn do chính sách gây ra: Các cơ chế, chính sách cũng là một nguồn chứa đựng nhiều rủi ro Thay đổi các quy định có ảnh hưởng

Trang 23

đến người chăn nuôi lợn, có thể làm cho lợi nhuận đã định không đạt được như mong muốn Chẳng hạn như thay đổi luật quản lý chất thải trong chăn nuôi có thể ảnh hưởng tốt, nhưng những thay đổi quá nhiều các điều khoản thuế thu nhập hoặc trả nợ thì lại có ảnh hưởng ngược lại Hay người chăn nuôi bị ảnh hưởng nhiều bởi quy định hạn chế dùng thuốc chữa bệnh hoặc một quyết định về chuyển đổi đất đai cũng dẫn đến rủi ro cho người chăn nuôi (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2017)

Ngoài ra còn có rủi ro về con người: Rủi ro mang tính cá nhân hoặc do sức khỏe bị ảnh hưởng bởi ốm đau bệnh tật, bị thương, bị chết hoặc do bất cẩn làm hỏng máy móc Tình trạng này kéo dài có thể ảnh hưởng đến sản xuất và tăng chi phí một cách một cách đáng kể (Phạm Sỹ An, 2004)

Rủi ro tài chính và rủi ro tín dụng: Rủi ro về tài chính liên quan đến sự an tâm hoặc mất an toàn về mặt tài chính của doanh nghiệp An toàn tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng trả nợ và khả năng thanh toán Rủi ro tài chính

là phần rủi ro tăng lên ngoài rủi ro kinh doanh do doanh nghiệp sử dụng nợ hay

sử dụng vốn vay (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

2.1.1.5 Quản lý rủi ro

Quản lý rủi ro là một khái niệm mới được đưa vào sử dụng trong những năm gần đây Trước hết cần phải phân biệt quản lý rủi ro và khắc phục rủi ro Quản lý rủi ro đề cập tới việc điều chỉnh trong sản xuất và sử dụng nguồn lực trước khi xảy ra các biến cố về sản xuất tức là trước khi rủi ro xảy ra Quản lý rủi

ro không chỉ bao hàm ý chống rủi ro mà còn bao hàm cả ý về lập kế hoạch nhằm

để thích ứng với rủi ro (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

- Chống lại hoặc không chấp nhận rủi ro để đảm bảo an toàn các hoạt động của mình trong trường hợp khả năng xấu có thể xảy ra, mặc dù khả năng xảy ra cũng chỉ có một xác suất nhất định (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

- Thái độ trung hòa với rủi ro với mong muốn đạt được thu nhập trung bình giữa sự kiện rủi ro và thuận lợi (Nguyễn Thị Tâm, 2008)

- Từ thái độ với rủi ro mà chia nông hộ thành 3 loại là sợ rủi ro, trung hòa rủi ro và chấp nhận rủi ro (Nguyễn Thị Tâm, 2008)

Trong khi đó, khắc phục rủi ro là các hành động hay phản ứng sau khi xảy

ra rủi ro nhằm tối thiểu hóa tác hại Các loại phản ứng thuộc loại này dựa trên cơ

Trang 24

- Ổn định chi tiêu thông qua việc phân chia rủi ro: Thỏa thuận chuyển nhượng giữa hàng xóm với nhau (Nguyễn Thị Tâm, 2008)

Muốn quản lý rủi ro phải có những thể chế và thông tin cho nông hộ Với mức rủi ro nhỏ thì cơ chế tương hỗ giữa hộ và cộng đồng sẽ là một công cụ đắc lực cho quản lý rủi ro bên cạnh thể chế và chính sách của nhà nước (Nguyễn Thị Tâm, 2008)

Vì vậy, quản lý rủi ro chính là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa

học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và

giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro (Phạm Thị Lam, 2010)

2.1.2 Các bệnh chủ yếu và cách phòng bệnh trong chăn nuôi lợn

- B ệnh dịch tả lợn: Là bệnh truyền nhiễm do virus gây ra, thường ghép với

bệnh phó thương hàn lợn và tụ huyết trùng lợn Bệnh lây lan nhanh, mạnh và tỷ

lệ chết cao Bệnh mắc ở mọi lứa tuổi, nặng nhất là lợn con, lợn cai sữa Lợn nái

có thể truyền bệnh cho lợn con Bệnh xảy ra tại nhiều địa phương ở nước ta và nhiều nơi trên thế giới (Trần Kim Anh và cs., 2004)

Cách phòng bệnh: Bệnh do virus gây ra nên không thể điều trị bằng kháng sinh Nếu chăm sóc, hộ lý tốt và điều trị sớm bằng kháng huyết thanh dịch tả, kết hợp với điều trị triệu chứng, bệnh sẽ chuyển sang thể mãn tính và có thể khỏi nhưng rất nguy hiểm vì đó là nguồn gieo rắc mầm bệnh Có thể tiêm phòng vaccine thẳng vào ổ dịch để dập tắt ổ dịch nhanh chóng, tránh lây lan Tiêm phòng là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh (Trần Kim Anh và cs., 2004)

- B ệnh tụ huyết trùng lợn: Bệnh tụ huyết trùng là bệnh truyền nhiễm do vi

khuẩn tụ huyết trùng gây ra Bệnh có tỷ lệ chết cao, thường ghép với các bệnh dịch tả lợn, phó thương hàn, suyễn lợn, đóng dấu lợn Hầu hết các loài gia súc, gia cầm, động vật hoang dại đều mắc Lợn ở mọi lứa tuổi đều mắc, nhiều nhất từ

3 đến 6 tháng Bệnh xảy ra ở nhiều địa phương và nhiều nơi trên thế giới Vi khuẩn tụ huyết trùng có trong cơ thể lợn khỏe mạnh (40%) tập trung ở niêm mạc đường hô hấp, khi thời tiết thay đổi đột ngột và khi có các yếu tố không thuận lợi như chuyển đàn, tiêm phòng, dinh dưỡng kém, sức đề kháng giảm, vi khuẩn sẽ phát triển thành bệnh Bệnh truyền nhiễm qua không khí, truyền trong đàn với nhau bằng đường hô hấp hoặc qua rác, chất thải và dụng cụ chăn nuôi (Trần Kim Anh và cs., 2004)

Trang 25

Phòng bệnh: Biện pháp tích cực và hiệu quả nhất là 1 năm hoặc 1 lứa tiêm phòng 2 - 3 lần tùy theo mục đích nuôi Một số vaccine đang được sử dụng tại Việt Nam: Vaccine nhũ hóa, vaccine vô hoạt có bổ trợ keo phèn, vaccine nhược độc Cần vệ sinh chuồng trại, máng ăn và dụng cụ thường

xuyên Cách ly kịp thời những con có biểu hiện bị bệnh (Trần Kim Anh và cs., 2004)

gây ra Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi của lợn, tuy nhiên bệnh lâm sàng thường chỉ thấy ở lợn con, lợn lớn thường mắc ít hơn và ở thể mãn tính Tác động chủ yếu đến toàn bộ niêm mạc, đường tiêu hóa, gây ra viêm dạ dày, ruột,

có thể có mụn loét ở ruột già và làm lợn ỉa chảy nặng Bệnh gây ra ô nhiễm thực phẩm và ảnh hưởng đến người sử dụng và thực phẩm nhiễm bệnh (Trần Kim Anh và cs., 2004)

Phòng bệnh: Vệ sinh phòng bệnh, tiêu độc khử trùng chuồng trại, máng ăn Đảm bảo cung cấp thức ăn và nước uống sạch, không cho lợn ăn thức ăn ôi thiu,

ẩm mốc (Trần Kim Anh và cs., 2004)

Phòng bệnh bằng vaccine: Tiêm vaccine phó thương hàn cho lợn con lần 1

từ 20 - 30 ngày tuổi, lần 2 tiêm nhắc lại sau 3 tuần Vaccine nhược độc phó thương hàn đông khô Tiêm sau 20 ngày tuổi Vaccine Salsco tiêm cho lợn sau 2

- 3 tháng tuổi để phòng bệnh ỉa chảy do thương hàn, E.coli, liên cầu khuẩn (Trần

Kim Anh và cs., 2004)

lợn gây nên Bệnh thường tạo nên các mảng đỏ xuất huyết hình con dấu vuông, quả trám, bầu dục, hoặc đa giác trên da Bệnh ảnh hưởng đến tim, khớp xương và có thể gây chết lợn Lợn mắc bệnh nhiều nhất từ 3 - 4 tháng đến 1 năm tuổi Lợn con dưới 2 tháng tuổi ít mắc bệnh hơn do còn kháng thể

từ lợn mẹ truyền sang Lợn nái và lợn vỗ béo có sức đề kháng tốt hơn (Trần

Kim Anh và cs., 2004)

Phòng bệnh: Tiêm phòng định kỳ cho đàn lợn như sau: Tiêm vaccine cho lợn từ 3 - 4 tháng tuổi Tiêm vaccine nhược độc dóng dấu cho lợn từ 2 tháng tuổi trở lên, miễn dịch trên 6 tháng (Trần Kim Anh và cs., 2004)

loài như trâu, bò, lợn, dê, chó và người Nguyên nhân gây bệnh là xoắn

Trang 26

khuẩn Leptospira Một trong những nguồn gây lây lan của bệnh là chuột - nước tiểu của chuột mang vi trùng gieo rắc bệnh cho gia súc và con người Bệnh được gọi là bệnh lợn nghệ do đặc điểm gây vàng da và niêm mạc Bệnh gây xảy thai cho đàn gia súc, gia súc ốm, chết, giảm khối lượng, giảm sản lượng sữa Đặc biệt, bệnh còn lây sang người, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Bệnh xảy ra quanh năm, ở nhiều địa phương khác nhau (Trần Kim Anh

và cs., 2004)

- B ệnh phù đầu ở lợn con sau cai sữa: Là bệnh do nhiễm độc huyết gây

nên bởi loài vi khuẩn Ecoli dung huyết, cư trú ở ruột non, sản sinh ra ngoại độc

tố vào máu gây tổn thương thành mạch, phù đầu, phù dạ dày, phù ruột cho lợn con Bệnh này xảy ra ở lợn con sau khi tách mẹ, do thay đổi thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Bệnh thường gây ra triệu chứng thần kinh và có tỷ lệ chết khá cao (60 - 100%) Xuất hiện lẻ tẻ, không lây từ đàn này sang đàn khác (Trần Kim Anh và cs., 2004)

Cách phòng, trị bệnh: Có thể dùng vaccine E.coli phù đầu, sản xuất tại Viện thú y Quốc gia Cho lợn ăn tăng thức ăn chất xơ lên 20 - 25%, giảm đạm thô và năng lượng tiêu hóa nhằm ngăn chặn sự phát triển của E.coli đường ruột Bệnh này hầu như không điều trị được Thường điều trị dự phòng bằng cách sử dụng một trong các loại kháng sinh khác nhau như Colivilavet, Gentacosmis dạng gói (Trần Kim Anh và cs., 2004)

- B ệnh ký sinh trùng ở lợn: Có nhiều loại giun sán ký sinh trong cơ thể

lợn, một trong những loài gây thiệt hại lớn là giun đũa lợn và sán lá ruột lợn Giun sán ký sinh gây tác hại do hút chất dinh dưỡng, hút máu, tiết ra độc tố gây hại cho gia súc chúng ký sinh, hoặc với số lượng nhiều thì chèn ép, gây tắc nghẽn hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể Một số giun sán ký sinh đòi hỏi có một thời gian phát triển bên ngoài cơ thể gia súc hoặc phát triển trên một ký chủ khác trước khi trưởng thành, nếu nắm được các đặc điểm này thì có thể phòng

chống bệnh hiệu quả hơn (Trần Kim Anh và cs., 2004)

Các phòng trị bệnh: Thời gian tẩy sán tốt nhất là khi sán chưa trưởng thành

và chưa đẻ trứng ra môi trường Có thể tẩy bằng các loại thuốc tẩy sán thông thường như Oxyclozamid, Fasinex (Trần Kim Anh và cs., 2004)

- B ệnh ỉa phân trắng ở lợn con: Bệnh ỉa phân trắng ở lợn con rất hay gặp

trong chăn nuôi lợn Lứa tuổi mắc ở lợn con từ 2 - 3 giờ sau khi sinh ra đến 21

Trang 27

ngày tuổi, cũng có khi mắc tới 28 ngày tuổi Bệnh gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi, giảm tăng trọng, làm lợn con bị suy kiệt dẫn đến chết Bệnh do E.coli gây ra Độc tố của vi khuẩn phá vỡ cân bằng nước và điện giải gây ra ỉa chảy trầm trọng Biểu hiện của bệnh là lúc đầu nước phân trong, sau chuyển sang trắng đặc (Trần Kim Anh và cs., 2004)

Phòng trị bệnh: Bệnh này yếu tố nhiệt độ rất quan trọng Ngay khi lợn mẹ

đẻ ra ta cần cho lợn con vào ổ riêng sưởi ấm 37 độ, duy trì nhiệt độ như vậy trong vòng 3 - 4 ngày, sau đó mỗi ngày hạ 1 độ Chuồng cần khô ráo và sạch sẽ, thường xuyên bổ sung chất độn chuồng cho lợn con Khi lợn con bị bệnh thì điều trị một số loại thuốc như sau: Colistin, Belcomgcu, Flumiquiel… (Trần Kim Anh

và cs., 2004)

2.1.3 Nguyên nhân rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn

2.1.3.1 Nguyên nhân chủ quan

* Nguyên nhân dẫn đến rủi ro dịch bệnh từ phía nhà quản lý chủ yếu như sau:

- Một số cán bộ thú y ở một số nơi còn lơ là trong công tác thú y như khâu

kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, xử lý khi có gia súc, gia cầm bị bệnh còn chưa kịp

thời, triệt để (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

- Trình độ chuyên môn về chăn nuôi, thú y của một số cán bộ còn hạn chế, chưa có nhiều kinh nghiệm trong thực tế chăn nuôi, chẩn đoán và điều trị bệnh (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

- Chế độ báo cáo dịch bệnh của thú y cấp xã khi có hiện tượng gia súc, gia

cầm ốm, chết chưa được thực hiện nghiêm chỉnh, vẫn còn hiện tượng che dấu

dịch, giữ lại điều trị để tăng thu nhập cho bản thân, khi không điều trị được mới báo cáo cho chính quyền hoặc cơ quan chuyên môn cấp huyện để xử lý (Nguyễn

Thị Tuyến, 2012)

- Chính quyền ở một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến lĩnh vực chăn nuôi, thú y làm ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý về công tác chăn nuôi và thú y của cấp xã (ban thú y xã) và cấp huyện (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

* Nguyên nhân dẫn đến rủi ro dịch bệnh từ phía người chăn nuôi bao gồm:

- Ý thức của người chăn nuôi trong công tác phòng chống dịch bệnh còn

thấp, vẫn còn hiện tượng “bán chạy” mà không báo cáo cho cơ quan chuyên môn khi vật nuôi ốm, chết nhằm thu lại một phần kinh phí đã đầu tư trong chăn nuôi

Trang 28

Khi vật nuôi ốm, chết thì vứt ra môi trường như sông, ngòi, bãi đất trống… làm tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

- Kiến thức về chăn nuôi, phòng bệnh của người chăn nuôi chưa cao, chưa

cập nhật các thông tin về khoa học, kỹ thuật trong chăn nuôi, phòng chống dịch

bệnh, còn chủ quan trong chăn nuôi như không thực hiện tiêu độc, khử trùng chuồng trại, môi trường chăn nuôi, không tiêm các loại vaccine phòng bệnh… từ

đó cũng làm tăng các yếu tố dẫn đến dịch bệnh (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

2.1.3.2 Nguyên nhân khách quan

Bên cạnh các nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng đến rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn còn một số nguyên nhân khách quan chủ yếu như sau:

- Giá thành đầu tư cơ sở vật chất tại các cơ sở chăn nuôi để đảm bảo được

an toàn sinh học quá cao, do đó các cơ sở chăn nuôi hiện tại phần lớn chưa đáp ứng được do vốn đầu tư ban đầu thấp, từ đó làm cho rủi ro về dịch bệnh tăng cao (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2017)

- Chăn nuôi trong nông hộ chiếm đa số so với chăn nuôi trang trại tập trung nên nguy cơ xảy ra dịch bệnh rất lớn do khó kiểm soát (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2017)

- Hiện tại chưa có nhiều cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung mà chủ

yếu là giết mổ nhỏ lẻ trong hộ dân để phục vụ nhu cầu thực phẩm cho người dân nên không đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh thú y trong giết mổ (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2017)

- Phương tiện vận chuyển động vật, sản phẩm động vật sau giết mổ không đảm bảo tiêu chuẩn nên làm phát tán mầm bệnh (nếu có) ra môi trường làm tăng nguy cơ xảy ra dịch bệnh (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2017)

- Giá thành sản phẩm trong chăn nuôi có nhiều biến động, đặc biệt giảm

mạnh trong giai đoạn thu hoạch, không đủ bù lại công sức, vốn đầu tư trong chăn nuôi nên các cơ sở chăn nuôi, người chăn nuôi không thực hiện triệt để các biện pháp phòng, trị bệnh như không tiêm vaccine, không thực hiện tiêu độc khử trùng môi trường chăn nuôi, không điều trị con ốm, không xử lý động vật chết

mà vứt bỏ ra môi trường Từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2017)

Trang 29

- Diễn biến thời tiết phức tạp làm ảnh hưởng tới sự phát sinh dịch bệnh mang tính mùa vụ như Lở mồm long móng trên lợn thường xảy ra vào mùa đông, bệnh do vi khuẩn gây ra như tụ huyết trùng, tiêu chảy do E coli thường

xảy ra khi có sự thay đổi thời tiết đột ngột như mưa, độ ẩm cao (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2017)

- Hoạt động vận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm vào những giai đoạn như

tết nguyên đán… tăng cao so với ngày thường làm tăng cao nguy cơ phát sinh

dịch bệnh (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2017)

- Lực lượng biên chế nhà nước trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y còn hạn chế nên khó kiểm soát các lĩnh vực trong chuyên môn Đặc biệt là đội ngũ thú y cấp

xã được hưởng phụ cấp thấp, chủ yếu là làm kiêm nhiệm cùng một số công tác ở

xã như an ninh, công tác đoàn thể hoặc đi làm tại các khu công nghiệp… nên

hiệu quả quản lý công tác chăn nuôi thú y tại cơ sở còn hạn chế (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2017)

2.1.4 Các chiến lược quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn

Quản lý rủi ro là sự áp dụng có hệ thống các chính sách quản lý, các nguyên

tắc và hành động trong định dạng, phân tích, đánh giá, xử lý và giám sát rủi ro

nhằm giảm thiểu thiệt hại và tối đa hóa các cơ hội Tuy nhiên các nguyên tắc này không cố định và mang tính thích ứng với từng trường hợp cụ thể

Ngoài các chiến lược mang tính tự vệ ở cấp nông hộ khi đối mặt với rủi ro thì cơ chế chia sẻ rủi ro dựa vào thị trường là một trong những chiến lược đang nhận được sự quan tâm như bảo hiểm, sản xuất theo hợp đồng, quản lý an toàn thực phẩm (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

Các chiến lược để quản lý các mối đe dọa (sự không chắc chắn với hậu quả tiêu cực) thường bao gồm việc tránh né mối đe dọa, giảm tác động tiêu cực hoặc xác suất của mối đe dọa, chuyển tất cả hoặc một phần mối đe dọa cho bên khác,

và thậm chí giữ lại một số hoặc toàn bộ các tiềm năng hoặc hậu quả thực tế của một mối đe doạ nhất định, và sự đối lập về cơ hội (các trạng thái không chắc chắn trong tương lai nhưng có lợi ích)

Trang 30

B ảng 2.1 Các chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp

Cơ chế phi chính thống

Cơ chế chính thống Điều tiết bởi

• Đa dạng hóa nguồn thu nhập

• Dự trữ đệm hoặc tích lũy các tài sản có tính lỏng

• Áp dụng các kỹ thuật, công nghệ canh tác hiện đại

• Hệ thống khuyến nông

• Cung cấp các

yếu tố đầu vào

có chất lượng

• Các chương trình quản lý địch hại

• Hợp đồng giao sau

• Bảo hiểm nông nghiệp

• Nới lỏng các quy định về

thực phẩm

• Hỗ trợ nguyên

liệu đầu vào

• Cấp tiền

năm 1982 bởi Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt và đến năm 1993 thì công ty này

mở rộng bảo hiểm đối với lúa cho 16 tỉnh, thành trên cả nước, đồng thời cung

Trang 31

cấp các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp khác như bảo hiểm chăn nuôi, bảo hiểm cây công nghiệp, bảo hiểm cháy rừng Tiếp theo Bảo Việt, Groupama, một công

ty bảo hiểm nước ngoài cũng đã tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam với các sản phẩm bảo hiểm vật nuôi cho 13 tỉnh thành ở Đồng bằng sông Cửu

Long và mở rộng đối với một vài tỉnh phía Bắc, miền Trung Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, các công ty kể trên đều không thành công và buộc phải “tháo chạy” khỏi thị trường bảo hiểm nông nghiệp Ba nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thất bại nêu trên, bao gồm: Rủi ro đạo đức của người được bảo hiểm, cơ chế cung cấp thông tin thiếu minh bạch của các cơ quan chức năng địa phương, và cách tính phí bảo hiểm không tương xứng với mức độ rủi ro Sự cản trở lớn nhất của các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp truyền thống không thành công ở Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung đó là không loại trừ được các rủi

ro có tính hệ thống (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

- Sản xuất theo hợp đồng (contract farming): Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của thế giới và Việt Nam cho rằng: “Sản xuất nông sản theo hợp đồng hay hệ thống hợp đồng là hình thức tổ chức gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến hoặc kinh doanh nông sản bằng hợp đồng hai chiều quy định các

điều kiện sản xuất và tiếp thị nông sản hàng hóa” (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

2.1.5 Nội dung quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn

2.1.5.1 Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro

- Nh ận dạng rủi ro

Để quản lý rủi ro trước hết phải nhận dạng rủi ro Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động chăn nuôi lợn Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những rủi ro đã

và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện, trên

cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

- Phương pháp nhận dạng rủi ro

Để nhận dạng rủi ro cần phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và có khả năng xuất hiện, có thể sử dụng các phương pháp sau:

Trang 32

+ Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra Các câu hỏi được sắp xếp theo nguồn gốc rủi ro hoặc môi trường tác động,… Các câu hỏi thường xoay quanh vấn đề như:

• Các hộ chăn nuôi lợn đã gặp những loại rủi ro nào?

• Những rủi ro chưa xảy ra có thể xuất hiện? Lý do?

• Những ý kiến đánh giá và đề xuất về công tác quản lý rủi ro …

+ Thanh tra hiện trường : Để quản lý rủi ro đòi hỏi phải thường xuyên thanh tra hiện trường Nhờ quan sát, theo dõi trực tiếp hiện trường sẽ tiến hành phân tích, đánh giá, nhận dạng rủi ro (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

- Phân tích r ủi ro

Nhận dạng được các rủi ro và lập bảng liệt kê các rủi ro có thể xuất hiện, tuy là công việc quan trọng không thể thiếu, nhưng mới chỉ là bước khởi đầu của công tác quản lý rủi ro Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi ro, xác định được nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra các biện pháp phòng ngừa (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

- Đo lường rủi ro

Là công việc xác định tần suất xuất hiện rủi ro trong một khoảng thời gian nhất định và xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ro Có hai cách tiếp cận chính

về việc đo lường mức độ rủi ro:

Cách tiếp cận phương sai - thu nhập và phòng tránh thảm họa hay còn gọi là cách tiếp cận an toàn trước tiên Theo cách này dùng độ phân tán của kết quả, như phương sai hay hệ số sai lệch làm thước đo rủi ro Hệ số sai lệch càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

Trong cách tiếp cận thứ hai, rủi ro được đo bằng xác suất để các kết quả của một hành động nào đó có giá trị nhỏ hơn một giá trị định trước Nói cách khác làm xác suất để một hành động tạo ra kết quả nhỏ hơn một giá trị lựa chọn nào đó (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

Trang 33

Trong việc nghiên cứu hành vi ra quyết định, mô hình thông dụng và được công nhận hiện nay là mô hình được xây dựng theo giả thuyết về độ thoả dụng mong đợi Nội dung cơ bản của mô hình này là các cá nhân sẽ ra quyết định lựa chọn các phương án khác nhau sao cho có thể tối đa hoá được độ thoả dụng mong đợi Việc ra quyết định dựa trên các tiêu thức kỳ vọng và phương sai phù hợp với giả thuyết về độ thoả dụng mong đợi, do vậy cách tiếp cận phương sai - thu nhập thường được sử dụng (Nguyễn Thị Tuyến, 2012)

2.1.5.2 Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn

- Ki ểm soát rủi ro

Công việc trọng tâm của quản lý rủi ro là kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi ro

là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến luợc, các chương trình, hoạt động,… để ngăn ngừa, né tránh, hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến Kiểm soát rủi ro phải sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt, bao gồm các biện pháp sau:

+ Các biện pháp né tránh rủi ro: Là các biện pháp né tránh những hoạt động hoặc nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể có Đây là biện pháp đuợc sử dụng thường xuyên trong cuộc sống (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

+ Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất: Là sử dụng các phương pháp giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại (Phạm Thị Lam, 2010)

+ Các biện pháp giảm thiểu tổn thất: Là những biện pháp cứu vớt những tài sản còn lại, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro, lập quỹ dự phòng phân tán rủi ro… (Phạm Thị Lam, 2010)

+ Các biện pháp chuyển giao rủi ro: Là những biện pháp chuyển rủi ro đến cho người khác, tổ chức thông qua các con đường ký hợp đồng (Phạm Thị Lam, 2010)

+ Các biện pháp đa dạng rủi ro: Gần giống với kỹ thuật phân tán rủi ro, bao gồm đa dạng hóa mặt hàng, đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hóa thị trường,

đa dạng hóa vật nuôi, cây trồng … để phòng chống rủi ro (Phạm Thị Lam, 2010)

- Phòng ng ừa rủi ro: Là những biện pháp dự phòng để giảm rủi ro có thể

xảy ra (Nguyễn Thị Tâm, 2008)

Trang 34

2.1.5.3 Tài trợ rủi ro

Rủi ro có nhiều loại, rủi ro có thể xuất hiện mọi lúc, mọi nơi, rủi ro có thể đến với bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào Do đó, dù phòng kỹ đến đâu, dù kiểm soát rủi ro chặt chẽ cách nào thì cũng không thể né tránh, ngăn chặn, được tất cả tổn thất Vì vậy, khi tổn thất xảy ra phải có các biện pháp để tài trợ rủi ro thích hợp Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhận rủi ro và bảo hiểm (Bùi Thị Gia, 2005)

- Chấp nhận rủi ro: Đây là hình thức mà người nông dân gặp phải tổn thất

tự chấp nhận khoản tổn thất đó hay tự khắc phục rủi ro đã xảy ra Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận rủi ro, tuy nhiên có thể chia làm

2 nhóm: Chấp nhận rủi ro thụ động và chấp nhận rủi ro chủ động Trong chấp nhận rủi ro thụ động, người ta gặp tổn thất không có sự chuẩn bị trước và có thể vay mượn để khắc phục hậu quả tổn thất Đối với chấp nhận rủi ro chủ động, người ta lập ra quỹ dự trữ dự phòng và quỹ này chỉ được sử dụng để bù đắp tổn thất do rủi ro gây ra Tuy nhiên, việc này dẫn đến việc nguồn vốn không được sử dụng một cách tối ưu hoặc nếu đi vay sẽ bị động và còn gặp phải vấn đề gia tăng

về lãi suất (Bùi Thị Gia, 2005)

- Bảo hiểm: Trong cuộc sống dù muốn hay không, thì nhiều loại rủi ro đã xuất hiện vẫn tồn tại và sẽ còn chi phối đến cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình

và toàn xã hội Rủi ro xảy ra và nhu cầu cần được bảo hiểm phát sinh Bảo hiểm là một phần quan trọng của chương trình quản lý rủi ro (Phạm Sỹ An, 2004)

Thực chất của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm Phân phối trong bảo hiểm là phân phối không đều, không bằng nhau nghĩa là không phải ai tham gia bảo hiểm cũng được phân phối và phân phối số tiền như nhau Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít Bảo hiểm có rất nhiều tác dụng đối với người tham gia trong đó quan trọng nhất là góp phần ổn định tài chính cho

người tham gia trước tổn thất rủi ro xảy ra (Phạm Sỹ An, 2004)

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn

2.1.6.1 Chính sách của Nhà nước về quản lý rủi ro dịch bệnh

Hệ thống chính sách quản lý rủi ro dịch bệnh trong ngành chăn nuôi lợn rất

đa dạng, bao gồm nhiều đơn vị, nhiều cấp quản lý khác nhau Tính đến đầu năm

Trang 35

2017, các văn bản pháp luật còn hiệu lực liên quan đến quản lý rủi ro dịch bệnh trong ngành chăn nuôi lợn là 51 văn bản chủ yếu hướng đến việc giảm thiểu rủi

ro do dịch bệnh gây ra Hệ thống chính sách quản lý rủi ro dịch bệnh trong ngành chăn nuôi lợn bao phủ đầu đủ tất cả các khâu và các tác nhân tham gia, bao gồm:

- Nhóm quản lý đầu vào gồm giống và thức ăn chăn nuôi

- Nhóm các quy định về quy trình chăn nuôi an toàn sạch bệnh

- Nhóm các chính sách thú y

Tuy nhiên, các chính sách quản lý rủi ro dịch bệnh của Nhà nước đôi khi được xây dựng và ban hành chậm đổi mới so với sự phát triển của ngành chăn nuôi lợn Các chính sách còn thiếu và chưa đồng bộ, năng lực chuyển giao chính sách của các cơ quan thực thi còn yếu (Nguyễn Văn Huyên, 2014)

2.1.6.2 Kiến thức quản lý và kỹ năng của người chăn nuôi lợn

Người Việt Nam từ xưa tới nay vẫn nổi tiếng cần cù, chịu thương chịu khó, tính vươn lên trong cuộc sống, tính cộng đồng Đây là điều kiện cho quá trình phát triển một đất nước mạnh mẽ về cả vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, các chủ

hộ ở Việt Nam đa số là chưa được qua đào tạo, hoặc được đào tạo chắp vá, tổ chức sản xuất, kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sự học hỏi lẫn nhau (Nguyễn Thị Tâm, 2008)

Sự quản lý của người chăn nuôi lợn chưa khoa học như không có sổ theo dõi tình hình dịch bệnh trong quá trình chăn nuôi cũng như lịch tiêm phòng một

số bệnh quan trọng trên lợn đối với từng đối tượng cũng như độ tuổi của lợn, chưa có khu cách ly riêng đối với lợn mới mua về so với lợn đang nuôi tại nhà

Sự quản lý không khoa học này đã làm ảnh hưởng tới tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi (Nguyễn Thị Tâm, 2008)

Sự tiếp cận khoa học, kỹ thuật trong chăn nuôi của người chăn nuôi qua các kênh truyền hình bản tin về nông nghiệp trong chăn nuôi, các cuốn sách về chăn nuôi cũng như phòng bệnh trên lợn, tra cứu kiến thức chăn nuôi, phòng bệnh trên internet… còn hạn chế, đặc biệt chưa cập nhật các thông tin về tình hình dịch bệnh trên lợn tại địa phương cũng như các địa phương lân cận, một số bệnh mới nổi trong chăn nuôi lợn, một số bệnh chung giữa trâu bò và lợn như Lở mồm long móng Do vậy, không có các biện pháp phòng chống hiệu quả, dẫn tới tình hình dịch bệnh vẫn xảy ra làm thiệt hại kinh tế trong chăn nuôi (Nguyễn Thị

Trang 36

2.1.6.3 Đất đai và quy mô, diện tích chuồng trại

Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai phì nhiêu, cây cối tươi tốt quanh năm, diện tích đất trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn Ngoài ra, đất đai còn là một loại hàng hóa đặc biệt, khi có sự đầu tư của con người thì đất đai ngày càng tốt, độ phì ngày càng cao, diện tích đất canh tác ngày càng lớn, chứ không giống loại tài sản khác là có hao mòn và dẫn đến hư hỏng Tuy diện tích lớn nhưng đất canh tác của Việt Nam lại thiếu, vì nước ta phân làm bốn vùng rõ rệt, vùng cao nguyên, vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng Diện tích vùng đồng bằng phù hợp cho phát triển chăn nuôi thì bình quân trên đầu người lại ít, mà vùng núi và trung du lại nhiều Để cải tạo và tạo vùng nguyên liệu rộng lớn là rất khó khăn, thậm chí là không thể Ngoài ra, chuồng trại của người dân thường xây bán kiên cố hoặc sử dụng chuồng tạm bợ nên không đảm bảo trong quá trình chăn nuôi, chịu tác động nhiều bởi thiên nhiên bên ngoài và làm tốn nhiều chi phí sửa, chữa chuồng trại hằng năm (Nguyễn Văn Huyên, 2014)

2.1 6.4 Năng lực quản lý và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ thú y

Cán bộ thú y tại các địa phương tuy được đào tạo nhưng chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, kỹ thuật, kỹ năng thực thi nhiệm vụ còn hạn chế Đa số cán bộ thú y cơ sở tuy có nhiệt tình và năng động nhưng trình độ chuyên môn, khả năng vận động quần chúng, phương pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế Trình độ, năng lực nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành chăn nuôi lợn trong việc quản lý rủi ro do dịch bệnh gây ra (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2017)

Một trong những hạn chế lớn nhất đối với công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của thú y viên còn yếu Do vậy khi xảy ra dịch bệnh, nhiều nhân viên thú y lúng túng trong việc báo cáo cũng như thực hiện khoanh vùng, dập dịch Do vậy trong thời gian tới Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cần sớm ban hành quy định thống nhất về chức năng, nhiệm vụ và chính sách, nhất là chính sách về bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và các quy định mang tính quy phạm pháp luật đối với mạng lưới thú y để họ thực sự yên tâm tham gia công tác xã hội như mọi ngành nghề khác, góp phần hạn chế dịch bệnh xảy ra và lây lan, bảo đảm cho ngành chăn nuôi phát triển bền vững (Nguyễn Thị Thu Huyền, 2017)

Trang 37

2.1.6.5 Lực lượng quản lý thị trường thuốc thú y

Vấn đề quản lý thuốc thú y tại các địa phương còn hạn chế, số lượng mẫu thuốc thú y được lấy đi kiểm tra, phân tích chất lượng chưa nhiều, chưa đa dạng các loại thuốc do kinh phí kiểm tra còn hạn hẹp, trang thiết bị máy móc phân tích tại địa phương chưa có mà phải gửi đi xét nghiệm, phân tích và có sự chồng chéo trong hoạt động thanh, kiểm tra chất lượng thuốc y Chủ yếu chỉ kiểm tra các thủ tục hành chính, hồ sơ nguồn gốc, xuất xứ và thông qua cảm quan nhìn bằng mắt

về các nhãn hiệu và mã vạch của các loại thuốc thú y Mặt khác, thẩm quyền xử

lý thanh tra, kiểm tra còn hạn chế nên chất lượng công việc không được như mong muốn, khó có thể tổ chức đi kiểm tra thường xuyên (Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh, 2012)

Bên cạnh đó, số lượng công ty nhập khẩu, sản xuất thuốc thú y, cửa hàng buôn bán thuốc ngày càng tăng, mặt hàng thuốc thú y ngày càng đa dạng, phong phú làm ảnh hưởng tới hoạt động kiểm soát của cơ quan chức năng trong quá trình quản lý mặt hàng thuốc thú y

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO DỊCH BỆNH TRONG CHĂN NUÔI LỢN

2.2.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn của một số địa phương ở Việt Nam

Thực hiện quy định của Luật Thú y năm 2015, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 32/2016/QÐ-UBND ngày 21/2/2016 quy định về tổ chức, quản lý

và hoạt động của ban chăn nuôi thú y xã, phường, thị trấn Theo đó, hệ thống tổ

chức của Chi cục Chăn nuôi và Thú y được hình thành và phát triển ổn định trong nhiều năm qua, tạo sự ổn định về mặt tổ chức, đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong công tác quản lý nhà nước về thú y Hiện nay, hệ thống của Chi cục Chăn nuôi và Thú y được kiện toàn với 5 phòng chuyên môn, 1 Trạm Chẩn đoán, xét

ệm và Điều trị bệnh động vật và 8 Trạm Chăn nuôi và Thú y ở các huyện,

Trang 38

thành phố Mạng lưới thú y cơ sở có sự thay đổi cả về số lượng và chất lượng (Chi cục Chăn nuôi và Thú y Thái Bình, 2016)

Những năm qua, UBND tỉnh đã quan tâm phân bổ ngân sách, đầu tư xây

dựng cơ sở làm việc của 1 Trạm Chẩn đoán, xét nghiệm và Điều trị động vật Với trang thiết bị hiện có đã thực hiện công tác chẩn đoán, xét nghiệm nhanh một số

dịch bệnh thủy sản Chi cục Chăn nuôi và Thú y đang tiếp tục đề nghị tỉnh đầu tư

bổ sung các thiết bị để tiến tới thực hiện chẩn đoán, xét nghiệm một số dịch bệnh nguy hiểm khác ở động vật, nâng cao năng lực giám sát và xử lý sớm dịch, không phụ thuộc nhiều thời gian khi gửi mẫu đi lên trung ương (Chi cục Chăn nuôi và Thú y Thái Bình, 2016)

Luật Thú y năm 2015 đã giúp tăng nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực thú y trên địa bàn tỉnh so với các năm trước đây, trong đó nguồn lực chủ yếu từ ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh và từ công tác xã hội hóa Từ năm 2014 - 2016, kinh phí mua vaccine cấp hỗ trợ tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm của tỉnh đạt gần 23,7 tỷ đồng trong đó kinh phí của tỉnh gần 21 tỷ đồng, chiếm 88%, kinh phí trung ương gần 2,7 tỷ đồng (12%) Tổng lượng hóa chất đã hỗ trợ cho công tác phòng, chống dịch bệnh gồm 55.000 lít Benkocid, 37.000 lít Iodine và 45.000 kg Chloramin (trung ương hỗ trợ 107 tấn, tỉnh hỗ trợ 30.000 kg), tương ứng với nguồn kinh phí khoảng 10,4 tỷ đồng Ngoài ra, căn cứ vào tình hình dịch bệnh phát sinh, UBND tỉnh đã cấp bổ sung kinh phí phục vụ phòng, chống dịch đồng

thời đẩy mạnh công tác xã hội hóa Công tác thú y còn thu hút được nhiều nguồn

lực đầu tư do thụ hưởng các hoạt động hợp tác về thú y, giúp giảm bớt gánh nặng kinh phí Từ năm 2011 đến nay, đã có khoảng 15 tỷ đồng từ các dự án, đề tài về thú y được đầu tư vào Thái Bình (Chi cục Chăn nuôi và Thú y Thái Bình, 2016)

Ðề án “Tăng cường năng lực chủ động kiểm soát dịch bệnh trên gia súc, gia

cầm tỉnh Thái Bình” và Quyết định số 04/2016/QÐ-UBND ngày 18/1/2016 của UBND tỉnh về việc hỗ trợ, tăng cường năng lực chủ động kiểm soát dịch bệnh trên gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Ðề án đã củng cố, nâng cao chất lượng nguồn lực hệ thống thú y từ tỉnh đến cơ sở, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng hoạt động giám sát và xử lý dịch, dịch bệnh được chủ động phát hiện sớm, các ổ dịch được xử lý triệt để, không lây ra diện rộng, thời gian khống chế dịch

ngắn, thiệt hại kinh tế giảm, không ảnh hưởng nhiều đến sản xuất chăn nuôi của

tỉnh (Chi cục Chăn nuôi và Thú y Thái Bình, 2016)

Trang 39

2.2.1.2 H ải Dương

Chi cục Thú y là đơn vị chỉ đạo chính trong công tác quản lý rủi ro dịch

bệnh trên toàn tỉnh, Chi cục Thú y đã chủ động tham mưu, đề xuất các biện pháp phòng dịch với Ban chỉ đạo phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tỉnh và Sở

NN & PTNT; Công bố dịch, ban hành các văn bản chỉ đạo các địa phương thực

hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch như:

+ Thực hiện tiêu hủy gia súc, gia cầm mắc bệnh

+ Thành lập các chốt kiểm dịch tạm thời ngăn chặn vận chuyển gia súc, gia cầm mắc bệnh ra vào địa phương, tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc

vận chuyển gia súc trên địa bàn tỉnh, xử lý các trường hợp vi phạm vận chuyển gia súc, gia cầm không rõ nguồn gốc vào địa bàn tỉnh (Chi cục Thú y

Hải Dương, 2016)

+ Phun thuốc khử trùng tiêu độc, vệ sinh môi trường, tiêm vaccine bao vây

ổ dịch, tăng cường kiểm tra,

+ Tuyên truyền vận động nhân dân, người chăn nuôi ký cam kết thực hiện

"05 không" không giấu dịch, không mua động vật, sản phẩm động vật mắc bệnh, không bán chạy gia súc bệnh, không vận chuyển động vật mắc bệnh ra khỏi vùng

dịch, không vứt bừa bãi xác động vật bệnh ra môi trường; hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học (Chi cục Thú y Hải Dương, 2016)

- Do tập trung chỉ đạo quyết liệt, khẩn trương, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc trên địa bàn tỉnh sớm ổn định, giảm thiệt hại cho người chăn nuôi

- Ngoài ra, Chi cục Thú y đã triển khai nhiệm vụ tiêm phòng đến 12 huyện, thành phố, thị xã và tuyên truyền cho người chăn nuôi hiêu rõ hiệu quả của việc tiêm phòng, kết quả như sau:

+ Đối với đàn lợn: Tiêm phòng vaccine dịch tả lợn được: 1.245.022 liều (kể

cả các trang trại), đạt tỷ lệ 79,80% Tiêm phòng vaccine Tụ dấu được: 1.065.122

liều (kể cả các trang trại), đạt tỷ lệ 66,98% (Chi cục Thú y Hải Dương, 2016)

+ Nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan trong quá trình vận chuyển, giết mổ, tiêu thụ gia súc, đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng Chi cục Thú y còn tăng cường công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh

Trang 40

thú y đã kiểm dịch lợn sữa xuất khẩu (tại 03 xí nghiệp giết mổ lợn sữa là Công ty TNHH Thắng Lợi, Công ty TNHH Long Thành và Công ty CP Hương Quỳnh Đăng) được 1.010.334 con Trong đó số lợn đủ tiêu chuẩn giết mổ xuất khẩu 1.003.471 con, số loại thải 6.863 con Kiểm dịch xuất tỉnh được: Lợn thịt 9.890 con, lợn giống 49.6062 con; Kiểm dịch nội tỉnh: Tiến hành kiểm tra sản phẩm

thịt lợn, từ các huyện vận chuyển về thành phố Hải Dương phục vụ tiêu dùng hàng ngày được 458.698 kg, đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y (Chi cục Thú y Hải Dương, 2016)

+ Kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y: Công tác kiểm soát giết mổ gia súc, đã được triển khai và duy trì ở một số huyện, thị xã, thành phố như: Thành

phố Hải Dương, Gia Lộc, Cẩm Giàng, Bình Giang, Chí Linh Kết quả đã kiểm soát được: 42.300 con lợn; Duy trì kiểm soát giết mổ lợn, gia cầm tại cơ sở giết

mổ gia súc tập trung Hoàng Long - thành phố Hải Dương, quá trình kiểm tra đã

chấn chỉnh, nhắc nhở các chủ hộ chấp hành nghiêm túc các quy định về an toàn

dịch bệnh ở gia súc, vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng (Chi cục Thú

y Hải Dương, 2016)

Chi cục Thú y chỉ đạo Trạm Thú y các huyện, thị xã, thành phố, thực hiện

kiểm tra vệ sinh thú y sản phẩm động vật bán tại chợ ở 97/137 chợ của 9/12 huyện, thành phố được thực hiện kiểm tra thường xuyên, hàng ngày với số lượng

sản phẩm được kiểm tra quy ra con là: 27.756 con lợn, quá trình kiểm tra đã phát

hiện, xử lý 93 trường hợp không đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y; thẩm định cấp

15 giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh thú y đối với trang trại chăn nuôi, cơ sở kinh doanh động vật, sản phẩm động vật, cơ sở giết mổ gia súc trên địa bàn tỉnh (Chi cục Thú y Hải Dương, 2016)

Chi cục Thú y tổ chức tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho đội ngũ thú y cơ sở: Tập huấn về nhiệm vụ phòng chống dịch tai xanh, hướng dẫn các biện pháp phòng, trị cho thú y cơ sở xã, phường, thị trấn, các chủ trang trại, gia trại được 08 lớp, với 625 người tham dự; Tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng kinh doanh thuốc thú y ở 12 huyện, thị

xã, thành phố với số người học tập là 155 người; Phối hợp với các công ty thuốc

Ngày đăng: 05/04/2022, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Gia (2005). Quản trị rủi ro trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp. NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
2. Chính ph ủ (2007). Ngh ị định 60/2007/NĐ -CP ngày 09/4/2007 v ề vi ệc điề u ch ỉ nh đị a gi ớ i hành chính huy ệ n Yên Phong, huy ệ n Qu ế Võ, huy ện Tiên Du để m ở r ộ ng thành ph ố B ắ c Ninh; thành l ập phườ ng Võ C ườ ng thu ộ c thành ph ố B ắ c Ninh, t ỉ nh B ắ c Ninh Khác
3. Chi c ục Chăn nuôi và Thú y Bắ c Giang (2016). Báo cáo tình hình qu ả n lý d ị ch b ệnh trên đàn lợ n t ỉ nh B ắc Giang năm 2016 Khác
4. Chi c ục Chăn nuôi và Thú y Thái Bình (2016) . Báo cáo tình hình qu ả n lý d ị ch bệnh trên đàn lợn tỉnh Thái Bình năm 2016 Khác
5. Chi cục Thống kê huyện Tiên Du (2016). Báo cáo thống kê kinh tế huyện Tiên Du t ừ năm 2011 đến năm 2016 Khác
6. Chi cục Thống kê huyện Tiên Du (2017). Báo cáo thống kê tình hình dân số và lao động huyện Tiên Du từ năm 2014 đến năm 2016 Khác
7. Chi cục Thú y Hải Dương (2016). Báo cáo tình hình quản lý dịch bệnh trên đàn lợn tỉnh Hải Dương năm 2016 Khác
8. Lê Ngọc Hướng và Nguyễn Duy Linh (2012). Rủi ro và chính sách quản lý rủi ro trong chăn nuôi lợn ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Phát triển. 10 Khác
9. Nguyễn Thị Thu Huyền (2017). Nghiên cứu rủi ro trong chăn nuôi lợn của hộ nông dân tỉnh Hưng Yên. Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Khác
10. Nguyễn Thị Tâm (2008). Nghiên cứu hành vi ứng xử của nông hộ đối với rủi ro trong chăn nuôi tại xã An Bình, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học nông nghiệp I, Hà Nội Khác
11. Nguy ễ n Th ị Tuy ế n (2012). Qu ả n lý r ủi ro trong chăn n uôi l ợ n th ị t ở các nông h ộ t ạ i xã Yên Nhân, huy ệ n Ý Yên, t ỉnh Nam Đị nh Khác
12. Nguy ễn Văn Huyên (2014). Quả n lý r ủ i ro d ị ch b ệnh trong chăn nuôi lợ n th ị t trên đị a bàn huy ệ n Tiên L ữ , t ỉnh Hưng Yên. Luận văn thạ c s ỹ kinh t ế , H ọ c vi ệ n Nông nghi ệ p Vi ệ t Nam Khác
13. Phạm Sỹ An (2004). Công cụ giảm rủi ro nông nghiệp và điều kiện sử dụng công cụ trong quá trình gia nhập WTO. Tạp chí nghiên cứu kinh tế 323 tháng 4/2005 Khác
14. Phạm Thị Lam (2010), Phân tích rủi ro trong chăn nuôi lợn thịt ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học nông nghiệp I, Hà Nội Khác
15. Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Tiên Du (2016). Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác sản xuất Nông nghiệp huyện Tiên Du năm 2016 Khác
16. Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Tiên Du (2017). Báo cáo kết quả thực hi ệ n nhi ệ m v ụ côn g tác Tài nguyên và Môi trườ ng huy ệ n Tiên Du năm 2016 Khác
18. Tr ạm Chăn nuôi và Thú y huyệ n Tiên Du (2017). Báo cáo tình hình chăn nuôi lợ n huy ệ n Tiên Du giai đoạ n 2015 - 2017 Khác
19. Tr ạm Chăn nuôi và Thú y huyệ n Tiên Du (2017). Báo cáo tình hình d ị ch b ệ nh ở l ợ n huy ệ n Tiên Du năm 2017 Khác
20. Tr ạm Chăn nuôi và Thú y huyệ n Tiên Du (2017). Báo cáo k ế t qu ả tiêm Vaccine phòng d ị ch b ệnh cho đàn lợ n huy ệ n Tiên Du giai đoạ n 2015 - 2017 Khác
21. Tr ạm Chăn nuôi và Thú y huyệ n Tiên Du (2017). Báo cáo k ế t qu ả t ậ p hu ấ n ki ế n th ức chăn nuôi và phòng bệ nh cho l ợ n huy ệ n Tiên Du giai đoạ n 2015 - 2017 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Các chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 2.1 Các chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp (Trang 30)
Bảng 3.1. Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Tiên Du từ năm 2014 đến 2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.1. Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Tiên Du từ năm 2014 đến 2016 (Trang 49)
Bảng 3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011- 2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011- 2016 (Trang 50)
Bảng 3.3. Tình hình dân số và lao động huyện Tiên Du giai đoạn 2014 - 2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.3. Tình hình dân số và lao động huyện Tiên Du giai đoạn 2014 - 2016 (Trang 53)
Bảng 3.4. Quy mô chăn nuôi và tỷ lệ lợn mắc bệnh trên địa bàn huyện Tiên Du năm 2017 - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.4. Quy mô chăn nuôi và tỷ lệ lợn mắc bệnh trên địa bàn huyện Tiên Du năm 2017 (Trang 57)
Đối tượng, công cụ và nội dung cần thu thập được thể hiện dưới bảng sau: - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
i tượng, công cụ và nội dung cần thu thập được thể hiện dưới bảng sau: (Trang 58)
4.1.1.1. Tình hình chăn ni lợn trên địa bàn huyện Tiên Du - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
4.1.1.1. Tình hình chăn ni lợn trên địa bàn huyện Tiên Du (Trang 62)
Bảng 4.2. Đặc điểm của hộ chăn nuôi lợn được điều tra - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.2. Đặc điểm của hộ chăn nuôi lợn được điều tra (Trang 65)
Bảng 4.3. Tài sản của hộ phục vụ chăn nuôi lợn - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.3. Tài sản của hộ phục vụ chăn nuôi lợn (Trang 66)
Bảng 4.4. Phương thức và địa điểm chăn nuôi lợn ở huyện Tiên Du - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.4. Phương thức và địa điểm chăn nuôi lợn ở huyện Tiên Du (Trang 67)
Bảng 4.5. Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn huyện Tiên Du năm 2017 - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.5. Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn huyện Tiên Du năm 2017 (Trang 69)
Bảng 4.6. Tỷ lệ lợn mắc bệnh và các bệnh thường gặp ở lợn - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.6. Tỷ lệ lợn mắc bệnh và các bệnh thường gặp ở lợn (Trang 70)
Bảng 4.7. Thiệt hại kinh tế do dịch bệnh trong chăn nuôi lợn - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.7. Thiệt hại kinh tế do dịch bệnh trong chăn nuôi lợn (Trang 71)
Bảng 4.8. Nguồn cung cấp giống của các hộ chăn nuôi lợn Nguồn cung cấp - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.8. Nguồn cung cấp giống của các hộ chăn nuôi lợn Nguồn cung cấp (Trang 72)
Bảng 4.9. Lý do chọn nguồn cung cấp giống của hộ chăn nuôi lợn Nguồn cung cấp - (LUẬN văn THẠC sĩ) quản lý rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.9. Lý do chọn nguồn cung cấp giống của hộ chăn nuôi lợn Nguồn cung cấp (Trang 73)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w