Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đầu tư phát triển chợ
Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm có liên quan
Chợ là địa điểm tập trung giữa người mua và người bán, nơi diễn ra hoạt động trao đổi hàng hoá và thực phẩm hàng ngày Các phiên chợ thường được tổ chức theo lịch trình cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc mua sắm.
Theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương Mại, chợ được định nghĩa là một mạng lưới thương nghiệp, hình thành và phát triển song song với sự phát triển của nền kinh tế xã hội.
Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ, chợ là một hình thức kinh doanh thương mại truyền thống, được tổ chức tại các địa điểm theo quy hoạch nhằm phục vụ nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và tiêu dùng của cộng đồng dân cư.
Phạm vi chợ là khu vực được quy hoạch dành riêng cho hoạt động chợ, bao gồm diện tích cho các điểm kinh doanh và khu vực dịch vụ như bãi đỗ xe, kho hàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác, cùng với đường bao quanh chợ (Đàm Quang Hưng, 2013).
Chợ đầu mối là nơi tập trung hàng hóa lớn từ các nguồn sản xuất và kinh doanh khác nhau, phục vụ cho việc phân phối tới các chợ và kênh lưu thông khác (Đàm Quang Hưng, 2013) Tại chợ, các điểm kinh doanh bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt và cửa hàng được bố trí cố định theo thiết kế xây dựng, với diện tích tối thiểu là 3 m² cho mỗi điểm (Đàm Quang Hưng, 2013).
Chợ là hình thức kinh doanh thương mại truyền thống, diễn ra tại các địa điểm công cộng, nơi tập trung đông đảo người mua và bán Chợ được hình thành từ nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa và đời sống tiêu dùng xã hội, hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định.
2.1.1.2 Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị ) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng ) gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển (Nguyễn Bạch Nguyệt và cs, 2007) Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc, trang thiết bị, tài nguyên Như vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển cần tính đúng, tính đủ các nguồn lực tham gia Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Trên quan điểm phân công lao động xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư chia thành hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành: loại khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loại cấm đầu tư Trên góc độ tài sản: đầutư chia thành những tài sản vật chất và những tài sản vô hình Tài sản vật chất ở đây là những tài sản cố định được dùng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu động Tài sản vô hình như phát minh sáng chế, uy tín, thương hiệu(Nguyễn Bạch Nguyệt và cs, 2007)
Đầu tư phát triển mang lại sự gia tăng tài sản vật chất, trí tuệ và vô hình, góp phần nâng cao năng lực sản xuất xã hội Hiệu quả của đầu tư được đánh giá qua mối quan hệ giữa kết quả kinh tế xã hội đạt được và chi phí đã bỏ ra (Nguyễn Bạch Nguyệt và cs, 2007).
Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình kéo dài, thường gặp vấn đề về “độ trễ thời gian”, tức là sự không khớp giữa thời gian đầu tư và thời gian bắt đầu vận hành kết quả đầu tư Điều này có nghĩa là đầu tư diễn ra hiện tại nhưng kết quả chỉ được thu về trong tương lai Đặc điểm này cần được xem xét kỹ lưỡng khi đánh giá kết quả, chi phí và hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển.
(Nguyễn Bạch Nguyệt và cs, 2007)
2.1.1.3 Quản lý đầu tư phát triển chợ
Quản lý, theo nghĩa chung, là hành động có mục đích của chủ thể quản lý tác động vào các đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Đầu tư phát triển, với tính chất liên ngành, yêu cầu quản lý đầu tư phát triển một cách phức tạp để nâng cao hiệu quả đầu tư.
Quản lý đầu tư phát triển là quá trình tác động liên tục và có tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đầu tư, bao gồm các giai đoạn chuẩn bị, thực hiện và vận hành kết quả đầu tư Điều này được thực hiện thông qua một hệ thống biện pháp kinh tế - xã hội, tổ chức kỹ thuật và các phương pháp khác để tối ưu hóa kết quả và hiệu quả đầu tư Quản lý đầu tư phát triển cần căn cứ vào các quy luật khách quan và quy luật đặc thù trong bối cảnh cụ thể để đảm bảo tính sáng tạo và hiệu quả trong quá trình đầu tư.
Trong nghiên cứu này, quản lý đầu tư phát triển chợ được định nghĩa là quá trình tác động liên tục và có định hướng vào toàn bộ chu trình đầu tư xây dựng chợ, bao gồm lập chiến lược quy hoạch, chuẩn bị và thực hiện đầu tư, cũng như đưa các công trình vào hoạt động Điều này được thực hiện thông qua một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội, tổ chức kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý đầu tư phát triển chợ.
2.1.2 Vai trò của chợ và sự cần thiết phải đầu tư phát triển chợ
Chợ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của quốc gia và các vùng miền, thu hút sự tham gia của đa dạng đối tượng dân cư và hàng hóa với nhiều phẩm cấp khác nhau Ngoài ra, chợ còn phản ánh bản sắc văn hóa dân tộc đặc trưng của từng địa phương, là không gian cho các hoạt động văn hóa truyền thống.
2.1.2.1 Chợ có vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế vùng miền:
Chợ đóng vai trò trung gian quan trọng trong quá trình vận động của hàng hóa, từ sản xuất đến tiêu dùng Theo cách nhìn dọc, chợ là điểm khởi đầu cho hàng nông sản thực phẩm, trong khi đối với hàng công nghiệp tiêu dùng, chợ lại là điểm kết thúc của quá trình lưu thông Theo cách nhìn ngang, chợ là trung tâm của mạng lưới tổ chức lưu thông hàng hóa trong một không gian thị trường nhất định, đặc biệt quan trọng ở khu vực nông thôn và miền núi Mặc dù có sự phát triển của các hình thức tổ chức lưu thông khác, nhiều sản phẩm vẫn cần phải qua chợ để từ sản xuất đến tay người tiêu dùng, đặc biệt là trong các thị trường nông thôn và miền núi (Nguyễn Ngọc Vĩnh, 2012).
Chợ là nơi tiêu thụ sản phẩm đầu ra và cung ứng vật tư đầu vào, đồng thời phản ánh tín hiệu thị trường và nhu cầu tiêu dùng Chợ không chỉ định hướng cho sản xuất mà còn thúc đẩy quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục phát triển.
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý đầu tư phát triển chợ của một số địa phương ở Việt Nam
2.2.1.1 Tổng quan chung về quản lý đầu tư phát triển chợ
Phong trào xây dựng, cải tạo và chỉnh trang chợ đang diễn ra mạnh mẽ từ Bắc vào Nam, đặc biệt tập trung vào các đô thị lớn và khu đông dân cư, đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm và đồ dùng sinh hoạt của người dân Tuy nhiên, công tác xây dựng và phát triển chợ dân sinh tại một số địa phương vẫn còn nhiều bất cập cần khắc phục.
Nhiều dự án chợ hiện nay đang gây lãng phí lớn, khi những nơi cần chợ lại không được xây dựng, trong khi các chợ mới đầu tư hoành tráng lại vắng vẻ Chợ Gio Hải tại Quảng Trị, được đầu tư 1,9 tỷ đồng, sau gần 3 năm hoạt động vẫn không có khách, trong khi chợ tạm bên cạnh lại đông đúc Tại Bến Tre, hàng chục chợ tiền tỷ cũng rơi vào tình trạng tương tự Mặc dù các tiêu chí về vệ sinh và an toàn thực phẩm được tuân thủ nghiêm ngặt, nhưng chợ mới Quới Sơn vẫn không thu hút người mua Nguyên nhân của tình trạng này rất đa dạng, bao gồm việc xây dựng chợ ở vị trí không thuận lợi, thiếu kết nối hạ tầng và nguồn cung cấp hàng hóa Phong trào đầu tư chợ thiếu quy hoạch và thường theo cơ chế "xin - cho", dẫn đến nhiều chợ xây xong nhưng không hoạt động, trở thành lãng phí ngân sách.
Theo thống kê của Bộ Công Thương, tính đến cuối năm 2016, cả nước đã cải tạo và nâng cấp 2.984 chợ, xây mới hơn 2.000 chợ, nâng tổng số chợ lên gần 8.550 Ông Võ Văn Quyền, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước, cho biết sự phát triển của hệ thống chợ đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, và tiêu thụ hàng hóa, đồng thời hỗ trợ cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" Tuy nhiên, việc phát triển và quản lý chợ vẫn gặp nhiều khó khăn, như chất lượng quy hoạch chưa tốt và phân bổ chợ không đều Hệ thống chợ chủ yếu là chợ bán lẻ, với phần lớn có quy mô nhỏ và cơ sở vật chất lạc hậu, trong đó khoảng 28% chợ còn ở tình trạng tạm bợ và 15% phải họp ngoài trời.
Chợ đầu mối quy mô lớn ở Việt Nam còn rất hạn chế, với chỉ 84 chợ chiếm 0,98% tổng số chợ cả nước Hệ thống chợ hiện tại chưa tương xứng với vai trò và vị trí của nó, không đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân Tình trạng hoạt động kém hiệu quả tại các chợ chiếm khoảng 3% ở một số địa phương, bao gồm những chợ được đầu tư từ Chương trình 135.
Để phát triển và quy hoạch chợ một cách hợp lý và đồng bộ, các cấp, ngành và địa phương cần nhận thức rõ ràng và chủ động rà soát các quy hoạch, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn Việc lựa chọn cơ chế quản lý phù hợp và cân đối lợi ích giữa chủ đầu tư, tiểu thương, người mua cùng các mục tiêu kinh tế - xã hội khác là rất quan trọng.
Ông Võ Văn Quyền nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chú trọng đến yêu cầu thiết kế kỹ thuật và tiêu chuẩn hóa trong phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chợ Điều này nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo vệ quyền lợi cho cả người mua lẫn người bán, khuyến khích doanh nghiệp, tiểu thương và hộ gia đình tham gia kinh doanh tại chợ với chi phí thấp nhất Khi đó, chợ sẽ phát huy vai trò thiết yếu của mình, giải quyết các nghịch lý liên quan đến chợ dân sinh, đồng thời tiết kiệm tài nguyên và công sức của cộng đồng (Đoàn Hải Nam, 2016).
2.2.1.2 Tình hình đầu tư, phát triển chợ tại Thành phố Hà Nội:
Hiện nay, Thành phố Hà Nội có 411 chợ, trong đó 380 chợ đã được phân hạng Cụ thể, có 3 chợ đầu mối, 12 chợ hạng 1 (chiếm 2,9%), 69 chợ hạng 2 (chiếm 16,8%) và 299 chợ hạng 3 (chiếm 72,7%) Trung bình, mỗi quận, huyện, thị xã có khoảng 14 chợ, phục vụ cho khoảng 15.165 người mỗi chợ (Sở Công Thương Hà Nội, 2016).
Mạng lưới chợ được phân bố rộng rãi với 103 chợ (25,06%) tại 10 quận, 11 chợ (2,68%) ở thị xã, và 297 chợ (72,26%) tại các huyện Trung bình, mỗi quận nội thành có khoảng 10,3 chợ, trong khi mỗi huyện ngoại thành có khoảng 16,5 chợ Tổng diện tích đất dành cho các chợ là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế địa phương.
1.560.536,2 m 2 Diện tích đất chợ bình quân đầu người là 0,25m 2 /người, chỉ bằng 50% so với chỉ tiêu này của cả nước(Sở Công Thương Hà Nội, 2016)
Hiện tại, số lượng chợ còn hạn chế, không đủ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của các hộ kinh doanh cũng như nhu cầu mua sắm hàng hóa thiết yếu hàng ngày của người dân.
Mô hình tổ chức quản lý chợ hiện nay bao gồm các chợ đã được phân hạng, với Ban quản lý chợ trực thuộc UBND quận, huyện hoặc UBND xã, phường Ngoài ra, một số chợ còn có tổ quản lý thuộc doanh nghiệp hoặc hợp tác xã kinh doanh chợ.
+ Chợ do quận, huyện quản lý có 88 chợ, chiếm khoảng 21%
+ Chợ do xã, phường, thị trấn quản lý có 236 chợ, chiếm khoảng 58% + Chợ do doanh nghiệp, HTX quản lý có 87 chợ, chiếm khoảng 21%
- Về cơ sở hạ tầng: Trong số 411 chợ trên địa bàn Thành phố thì có khoảng
Trong tổng số chợ, có 67 chợ kiên cố chiếm 16,3%, 213 chợ bán kiên cố chiếm 51,7% và 131 chợ lán tạm chiếm 32% Tại các quận nội thành và huyện Thanh Trì, Từ Liêm, phần lớn chợ được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố Tuy nhiên, một số huyện như Sóc Sơn và Ba Vì có tỷ lệ chợ lán tạm khá cao, đặc biệt huyện Sóc Sơn chiếm tới 70%.
Khoảng 65% chợ hạng 3 tại huyện Chương Mỹ và 71% chợ ở các xã khu vực nông thôn đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Đặc biệt, có khoảng 80% chợ hạng 3 chỉ là những lều lán tạm bợ hoặc diễn ra trên các bãi đất trống, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện cơ sở hạ tầng thương mại tại các vùng nông thôn (Sở Công Thương Hà Nội, 2016).
Trên địa bàn Thành phố Hà Nội, có khoảng 1.800 cán bộ, công nhân viên tham gia quản lý chợ, bao gồm 350 người trong biên chế và 1.445 lao động hợp đồng Ngoài ra, có khoảng 74.974 hộ kinh doanh đã đăng ký hoạt động, trong đó 24.407 hộ thuộc 10 quận nội thành và 50.567 hộ ở các huyện ngoại thành (Sở Công Thương Hà Nội, 2016).
Đầu tư xây dựng chợ truyền thống đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương Theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP và Nghị định 114/2009/NĐ-CP, nguồn vốn chủ yếu được phân bổ cho các chợ nông thôn, trong khi việc xã hội hóa đầu tư và quản lý chợ ở khu vực nội thành gặp nhiều khó khăn do yêu cầu vốn lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài (Sở Công Thương Hà Nội, 2016).
2.2.1.3 Đánh giá chung về quản lý đầu tư phát triển chợ trong nước
Mạng lưới chợ ở khu vực nông thôn còn yếu, với sự phát triển tự phát và phân bố không hợp lý Nhiều khu vực đông dân cư gặp phải tình trạng mua bán lấn chiếm vỉa hè và lòng đường, gây cản trở nghiêm trọng đến giao thông.
- Phân bố mạng lưới chợ hiện nay chưa hợp lý cả về khoảng cách, bán kính và quy mô dân số phục vụ