Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đất có nguồn gốc từ nông, lâm trườngtrên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
Nông, lâm trường là thuật ngữ chỉ các tổ chức có nguồn gốc từ nông lâm trường (NLT) hoặc các tổ chức khác đang quản lý đất sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, trong đó một phần hoặc toàn bộ diện tích đất từng thuộc về NLT Hiện nay, NLT được gọi bằng nhiều tên khác nhau, bao gồm nông trường, lâm trường, BQL rừng, trung tâm nông, lâm nghiệp, trạm, trại, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, công ty nông nghiệp và công ty lâm nghiệp, với chỉ 03 đơn vị NLT còn tồn tại trên toàn quốc, bao gồm 02 lâm trường tại Yên Bái và 01 nông trường tại Cần Thơ (Bùi Văn Sỹ, 2016).
Các NLT có nhiều hình thức tổ chức như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty cổ phần Trong đó, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, trong khi công ty cổ phần có thể có sự tham gia của các công ty khác và Nhà nước có thể nắm giữ cổ phần chi phối hoặc không Đất NLT bao gồm đất của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân, với các loại hình như đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất phi nông nghiệp Nguồn đất này có thể đến từ việc nhận khoán, mua vườn cây, thuê đất, mượn đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hoặc do NLT thu hồi và giao lại cho dân.
Quản lý đất nông lâm trường (NLT) là các hoạt động của Nhà nước nhằm quản lý và sử dụng đất do các NLT đảm nhận, phục vụ cho mục đích công ích hoặc sản xuất kinh doanh Đồng thời, quản lý đất NLT cũng bao gồm việc giám sát đất đã được bàn giao cho địa phương, nhằm tổ chức và sử dụng hiệu quả trong quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển các nông, lâm trường.
Sử dụng đất NLT bao gồm các hoạt động khai thác và quản lý quỹ đất được giao, như sản xuất, kinh doanh, và thực hiện các hoạt động công ích Các hình thức sử dụng đất đa dạng, từ giao khoán đất và vườn cây đến cho thuê, cho mượn, và góp quỹ đất để liên doanh Ngoài ra, các hoạt động tự quản lý như lập hồ sơ đất đai và bảo vệ đất khỏi các hành vi lấn chiếm và khai thác trái phép cũng được coi là một phần trong việc sử dụng đất của các nông, lâm trường (Hoàng Xuân Phương, 2013).
Giao đất là hoạt động quản lý của Nhà nước nhằm chuyển giao quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân, dựa trên nhu cầu sử dụng, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, cùng với các quy định pháp luật hiện hành Nhà nước thực hiện việc trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng theo các tiêu chí đã được xác định (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2006).
Giao đất là cơ sở pháp lý quan trọng xác lập quyền sử dụng đất và mối quan hệ pháp luật giữa Nhà nước và người sử dụng đất, đồng thời tạo ra quyền lợi và nghĩa vụ cho các bên liên quan Quyết định giao đất sẽ dẫn đến các nghĩa vụ tài chính khác nhau giữa người sử dụng đất và Nhà nước, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2006).
Quyết định giao đất là một quyết định hành chính do cơ quan có thẩm quyền ban hành, mang tính chất mệnh lệnh trong quan hệ pháp luật Để được coi là hợp pháp, quyết định giao đất phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về căn cứ, nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự và thủ tục thực hiện.
Giao đất là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất (Quốc hội, 2013)
Cho thuê đất là hình thức thực hiện quyền định đoạt đất đai của Nhà nước, được thực hiện qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định pháp luật Theo kinh nghiệm quốc tế, cho thuê đất đã tạo động lực đầu tư hiệu quả cho người sử dụng đất (Quốc hội, 2013) Pháp luật hiện hành quy định hai hình thức cho thuê đất: Nhà nước cho thuê đất thu tiền hàng năm và Nhà nước cho thuê đất thu tiền một lần cho toàn bộ thời gian thuê.
Cho thuê đất được thực hiện thông qua quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó, hợp đồng cho thuê đất sẽ được ký kết dựa trên quyết định này.
Cho thuê đất là quá trình mà Nhà nước cấp quyền sử dụng đất cho những cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất, theo quy định của Quốc hội năm 2013.
Các loại hình tổ chức sử dụng đất NLT: Gồm các công ty, tổng công ty nông, lâm nghiệp; các Trung tâm, trạm, trại…
Hình thức tự tổ chức sử dụng đất cho phép các công ty giữ lại một phần diện tích đất lớn để sản xuất tập trung Trong mô hình này, công ty trực tiếp đầu tư, trong khi người lao động làm công ăn lương Sản phẩm được tạo ra sẽ do công ty quản lý, chế biến và tiêu thụ.
Hình thức khoán sử dụng đất là quá trình mà các tổ chức giao khoán chuyển giao quyền sử dụng đất cho các đối tượng nhận khoán, chủ yếu là thành viên của NLT, nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất theo kế hoạch của tổ chức Các đối tượng nhận khoán sẽ giao nộp sản phẩm theo định mức và nhận tiền công cũng như phần lợi nhuận còn lại theo thỏa thuận trong hợp đồng Tổ chức giao khoán có trách nhiệm quản lý, đầu tư cho sản xuất và bao tiêu sản phẩm với các mức độ khác nhau.
Hình thức sử dụng đất để liên doanh, liên kết là một phương thức mà các tổ chức doanh nghiệp được Nhà nước giao đất để sử dụng làm tài sản đối ứng, nhằm thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp khác Điều này không chỉ giúp xây dựng các cơ sở chế biến mà còn cung cấp giải pháp kỹ thuật và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường Ngoài ra, hình thức này còn khuyến khích người lao động địa phương tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh trên đất của doanh nghiệp.
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của các nông, lâm trường
Nông, lâm trường đóng vai trò lịch sử quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực nông thôn và miền núi Trong bối cảnh kinh tế còn phụ thuộc vào cơ chế bao cấp, NLT đã thực hiện tốt vai trò của doanh nghiệp nhà nước, sản xuất và kinh doanh để tạo ra của cải vật chất cho xã hội NLT không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho nhà nước mà còn là công cụ hỗ trợ Nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, hạ tầng cơ sở và đảm bảo an ninh xã hội tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi và vùng dân tộc thiểu số.
Từ đầu thập kỷ 90 đến đầu những năm 2000, việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thúc đẩy yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý và kinh doanh của các NLT Nguyên nhân chính là do việc sử dụng tài nguyên, đặc biệt là đất, chưa hiệu quả, không phát huy được vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và nông thôn; đồng thời, quản lý rừng tự nhiên, rừng đầu nguồn và rừng đặc dụng còn hạn chế Hơn nữa, đời sống của công nhân NLT vẫn ở mức thấp và chưa đáp ứng được nhu cầu.
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Quá trình hình thành, sắp xếp, đổi mới phát triển các nông lâm trường ở nước ta qua các thời kỳ
Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống NLT được phân tích từ các khía cạnh chức năng, nhiệm vụ, cơ chế quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, hình thái tổ chức, và hệ thống cơ quan chủ quản Ngoài ra, phương thức quản lý và khai thác quỹ đất cũng đóng vai trò quan trọng Sự phát triển của các NLT về số lượng và quy mô trải qua ba giai đoạn chính: kế hoạch hóa tập trung từ 1955 đến 1986, giai đoạn đổi mới từ 1987 đến 2003, và giai đoạn sắp xếp đổi mới từ 2004 đến 2014.
Giai đoạn 1955 - 1986 đánh dấu sự khai hoang, phục hóa đất đai, trồng rừng và phát triển kinh tế theo mô hình tập trung, tập thể Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ về quy mô và số lượng, với việc thành lập hệ thống nông, lâm trường trên toàn quốc.
Từ năm 1954 ở miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam, nhiệm vụ chính là khai hoang mở rộng diện tích canh tác tại các vùng đất mới, tiếp quản cơ sở của chế độ cũ, và phát triển sản xuất nông - lâm sản hàng hóa Mục tiêu là cung cấp tiêu dùng trong nước, xuất khẩu, đồng thời đảm bảo an ninh, quốc phòng tại các khu vực yếu, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Hệ thống nông, lâm trường bao gồm nông, lâm trường quân đội, nông, lâm trường của cán bộ miền Nam tập kết và đồn điền của chế độ cũ được Nhà nước tiếp quản Bộ Nông trường và Tổng cục Lâm nghiệp đã được thành lập để quản lý và chỉ đạo hoạt động của các NLT Tính đến năm 1960, miền Bắc đã xây dựng 29 nông trường quân đội, 18 nông trường quốc doanh và 9 tập đoàn sản xuất, đồng thời thành lập một số lâm trường khai thác gỗ và trồng rừng Đến năm 1975, toàn miền Bắc đã có 315 NLT, trong đó có 200 lâm trường và 115 nông trường quốc doanh.
Sau năm 1975, Nhà nước đã tiếp nhận và mở rộng các đồn điền cao su, cà phê chủ yếu tại Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, đồng thời thành lập mới các lâm trường quốc doanh để khai thác và trồng rừng ở phía Nam và biên giới phía Bắc Các đơn vị quân đội cũng đã tham gia vào lĩnh vực kinh tế, xây dựng một số nông, lâm trường Đến năm 1986, hệ thống nông, lâm trường đã được phân bố rộng rãi trên toàn quốc.
870 NLT quản lý 7.500 nghìn ha đất, chiếm 23,2% tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam Trong đó, 457 nông trường quốc doanh quản lý khoảng 1.200 nghìn ha, và 413 lâm trường quản lý 6.300 nghìn ha Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm hiện nay là cơ quan quản lý chính.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý 92 nông trường, trong khi Tổng cục Cao su quản lý 124 nông trường và Bộ Quốc phòng quản lý 12 nông trường Ngoài ra, Bộ Lâm nghiệp quản lý 76 lâm trường, các địa phương quản lý 229 nông trường và 337 lâm trường.
Diện tích đất NT Diện tích đất LT Diện tích đất BQL
Hình 2.1 Quá trình phát triển nông lâm trường quốc doanh gắn với các mốc chính sách chính
Theo báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện chính sách quản lý đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 - 2014, các nông, lâm trường hoạt động theo mô hình kinh tế nhà nước, sản xuất và phân phối sản phẩm dựa trên kế hoạch tập trung Nhà nước đảm bảo cung cấp đất đai, vốn, thiết bị và vật tư, đồng thời chi trả lương cho người lao động Về mặt kinh tế, Nhà nước hoạt động như một đại doanh nghiệp quản lý kinh doanh trên quy mô toàn quốc, trong khi các nông, lâm trường chỉ thực hiện sản xuất theo kế hoạch và tự quản lý nhân sự Người lao động nhận lương từ ngân sách nhà nước theo bậc lương, không phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của đơn vị.
Giai đoạn 1987 - 2003: thực hiện đăng ký, sắp xếp, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động
Năm 1991, Hội đồng bộ trưởng cho thấy cả nước có 457 nông trường và
Việt Nam hiện có 412 lâm trường, với tổng diện tích lên tới 7.010 nghìn ha, tương đương 21,2% diện tích đất tự nhiên của cả nước Trong đó, diện tích đất nông trường do Nhà nước quản lý đã giảm xuống còn 850 nghìn ha, chiếm 2,6% tổng diện tích đất tự nhiên.
NQ388/HĐBT-1991 chuyển NLT theo luật DNNN
NĐ02/1994 giao đất LN, NĐ01/1995 giao khoán
NQ28/2003, NĐ170/2004, NĐ200/2004 sắp xếp lại, NĐ135/2005 giao khoán
NQ30/2014, NĐ118/2014, sắp xếp lại, tăng hiệu quả
Từ năm 2004 đến 2014, việc đăng ký, sắp xếp và đổi mới quản lý đất đai đã được tiếp tục thực hiện, với tổng diện tích đất nông, lâm trường chiếm 12,1% tổng diện tích đất tự nhiên cả nước Đến cuối năm 2000, tổng diện tích đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quản lý là 5.637 nghìn ha, tương đương 17,4% diện tích đất tự nhiên Trong đó, diện tích các nông trường được sắp xếp lại còn 630 nghìn ha, chiếm 11,3% tổng diện tích đất nông, lâm trường, đạt 74,8% so với diện tích được giao quản lý năm 1991 Diện tích lâm trường toàn quốc đạt 5.000 nghìn ha, chiếm 15,1% tổng diện tích đất tự nhiên và 88,7% tổng diện tích đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường.
Năm 2003, tiếp tục sắp xếp lại còn 682 đơn vị, gồm 314 nông trường và
368 lâm trường, trong đó đất nông nghiệp (chiếm 95,9% tổng diện tích), bao gồm
Việt Nam có tổng diện tích 640 nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp và 6.980 nghìn ha đất lâm nghiệp, trong đó bao gồm gần 2.420 nghìn ha đất rừng sản xuất, 2.560 nghìn ha rừng phòng hộ và gần 2.000 nghìn ha rừng đặc dụng Ngoài ra, diện tích đất phi nông nghiệp đạt gần 90 nghìn ha, chiếm 1,1% tổng diện tích, và có 240 nghìn ha đất chưa sử dụng, chiếm 3,0% (Chính phủ, 2015).
Trong giai đoạn hiện tại, hệ thống NLT đang gặp phải nhiều yếu kém, không theo kịp với tiến trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của đất nước Điều này thể hiện qua hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp và quản lý đất đai chưa được thực hiện một cách hiệu quả.
Giai đoạn 2004 - 2014: tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển NLT
Tại thời điểm sắp xếp (2005) cả nước có 256 lâm trường là doanh nghiệp hạch toán độc lập, 02 trung tâm nông lâm nghiệp (trong đó có 231 lâm trường và
Trung tâm trực thuộc địa phương hiện có 25 lâm trường và 01 Trung tâm thuộc các Tổng công ty nhà nước Trong số các doanh nghiệp độc lập, có 95 lâm trường hạch toán phụ thuộc và 186 nông trường hạch toán độc lập, trong đó 96 nông trường do địa phương quản lý và 90 nông trường thuộc các Tổng công ty nhà nước Ngoài ra, còn có 146 nông trường hạch toán phụ thuộc trong các doanh nghiệp độc lập Đã có 38 NLT bị giải thể, và các đơn vị còn lại được sắp xếp lại.
Đến năm 2013, cả nước có 403 đơn vị trong lĩnh vực lâm nghiệp, bao gồm 303 NLT, trong đó có 243 công ty hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước, 30 Công ty TNHH một thành viên, 01 Công ty TNHH hai thành viên, và 28 Công ty cổ phần Đến cuối năm 2008, đã sắp xếp 181 nông trường theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước, với 139 đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc, 16 Công ty TNHH Nhà nước một thành viên, 1 Công ty TNHH hai thành viên, và 25 Công ty cổ phần, chủ yếu thuộc các Tổng công ty Chè, Rau quả, nông sản, Chăn nuôi, và Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam Các lâm trường quốc doanh được tổ chức lại thành 136 lâm trường theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước, trong đó có 62 đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc, 4 Trung tâm lâm nghiệp, 14 Công ty TNHH Nhà nước một thành viên, và 3 Công ty cổ phần 25 lâm trường quốc doanh đã chuyển đổi thành BQL rừng, trong khi 28 BQL rừng mới được thành lập từ diện tích rừng phòng hộ tách ra từ lâm trường quốc doanh.
Đến cuối năm 2012, quá trình rà soát và sắp xếp đã hoàn tất, với tổng số 387 đơn vị, bao gồm 296 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và 91 Ban Quản lý rừng Tổng cộng có 653 tổ chức sử dụng đất nông, lâm nghiệp, trong đó có 364 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, 210 Ban Quản lý rừng, cùng 79 vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, không tính các đơn vị chưa thực hiện sắp xếp theo Nghị định số 170/2004/NĐ-CP và Nghị định số 200/2004/NĐ-CP (Bộ Chính Trị, 2013).