Từ các yếu tố ảnh hưởng đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển KTTT trên địa bàn huyện trong thời gian tới cụ thể: Giải pháp chung cho các loại hình trang trại; Giải pháp cho từng
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Thanh Cúc
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực do chính tôi thực hiện và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi (ngoài phần đã trích dẫn)
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Bổ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc đến PGS.TS Mai Thanh Cúc đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và PTNT - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Bổ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC HỘP vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 3
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 5
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Vai trò và đặc điểm của phát triển kinh tế trang trại 8
2.1.3 Tiêu chí xác định kinh tế trang trại 15
2.1.4 Các loại hình kinh tế trang trại 16
2.1.5 Nội dung nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại 18
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng phát triển kinh tế trang trại 22
2.1.7 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh tế trong sản xuất trang trại 27
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 28
Trang 52.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại tại một số nước trên thế giới 28
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại và những bài học kinh nghiệm tại một số địa phương ở Việt Nam 30
2.2.3 Những bài học kinh nghiệm và thực tiễn cho phát triển kinh tế trang trại tỉnh Bắc Ninh 38
PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 40
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện thuận thành 40
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội trong huyện 43
3.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện đến phát triển kinh tế trang trại 46
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 46
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 47
3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 50
4.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH 53
4.1.1 Khái quát tình hình nông nghiệp trên địa bàn huyện 53
4.1.2 Các loại hình kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Thuận Thành 58
4.1.3 Tình hình sử dụng các nguồn lực của trang trại trên địa bàn huyện 60
4.1.4 Phát triển sản xuất trồng trọt, chăn nuôi các trang trại trên toàn huyện 65
4.1.5 Tình hình tiêu thụ và phát triển thị trường sản phẩm của các trang trại 69
4.1.6 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại 70
4.1.8 Những kết quả đạt được và những khó khăn trong phát triển kinh tế trang trại ở huyện Thuận Thành 76
4.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH 79
4.2.1 Thị trường tiêu thụ sản phẩm 79
4.2.2 Các chính sách quản lý nhà nước 80
4.2.3 Cơ sở hạ tầng, giao thông nông thôn 82
4.2.4 Các yếu tố thời tiết, khí hậu, dịch bệnh 83
4.2.5 Các điều kiện sản xuất của trang trại 84
Trang 64.2.6 Khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế trang trại 86
4.2.7 Khả năng liên kết hợp tác giữa các trang trại 86
4.3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH 87
4.3.1 Định hướng phát triển kinh tế trang trại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh 87
4.3.2 Giải pháp phát triển KTTT trên địa bàn huyên Thuận Thành 90
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
5.1 KẾT LUẬN 97
5.2 KIẾN NGHỊ 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 104
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tổng hợp loại hình trang trại trên cả nước 33
Bảng 3.1 Dân số trung bình huyện Thuận Thành giai đoạn 2010 - 2016 43
Bảng 3.2 Số lượng đàn gia súc, gia cầm giai đoạn 2012-2017 44
Bảng 3.3 Diện tích, sản lượng thủy sản huyện giai đoạn 2013-2017 45
Bảng 3.4 Phân bổ mẫu điều tra 47
Bảng 3.5 Đối tượng và số lượng mẫu điều tra 49
Bảng 4.1 Tình hình sản xuất trồng trọt của huyện Thuận Thành 53
Bảng 4.2 Tổng đàn vật nuôi năm 2017 54
Bảng 4.3 Tổng hợp tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện 56
Bảng 4.4 Số lượng các loại hình trang trại của huyện Thuận Thành qua 3 năm (2015 - 2017) 58
Bảng 4.5 Sự phân bổ trang trại trên toàn huyện 59
Bảng 4.6 Tổng diện tích khai thác đất của trang trại trên địa bàn huyện 60
Bảng 4.7 Tổng hợp vốn hiện nay của 29 trang trại 61
Bảng 4.8 Tình hình sử dụng lao động trong các trang trại năm 2017 63
Bảng 4.9 Trình độ chuyên môn của chủ các trang trại 64
Bảng 4.10 Tổng hợp khả năng tự học hỏi của chủ trang trại 65
Bảng 4.11 Diện tích gieo trồng một số cây trồng chính của trang trại 65
Bảng 4.12 Sản lượng một số cây trồng chính của trang trại 66
Bảng 4.13 Quy mô chăn nuôi một số giống vật nuôi chủ yếu của trang trại 67
Bảng 4.14 Sản lượng một số giống vật nuôi chính của trang trại 68
Bảng 4.15 Máy móc thiết bị của các trang trại năm 2017 69
Bảng 4.16 Chi phí sản xuất kinh doanh của trang trại năm 2017 70
Bảng 4.17 Tổng giá trị sản xuất từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại 71
Bảng 4.18 Tổng giá trị gia tăng từ các hoạt động sản xuất của trang trại 72
Bảng 4.19 Bảng chi phí tiền thuê nhân công thường xuyên và nhân công gia đình 72
Bảng 4.20 Lợi nhuận cuối cùng trong sản xuất kinh doanh của trang trại 73
Bảng 4.21 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại năm 2017 74
Bảng 4.20 Cơ cấu trang trại theo vốn đầu tư 78
Trang 8Bảng 4.21 Kết quả thăm dò ý kiến về việc áp dụng các chính sách hỗ trợ sản xuất
nông nghiệp 82
Bảng 4.22 Đánh giá của các trang trại về cơ sở hạ tầng 83
Bảng 4.23 Thông tin chung về các trang trại điều tra năm 2017 84
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Mối quan hệ ba mặt cơ bản của trang trại 6
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Thuận Thành 40
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ trang trại phân bổ trên cả nước 32
Biểu đồ 3.1 Nhiệt độ không khí (0C) và số giờ nắng trung bình năm 2015 41
Biểu đồ 3.2 Lượng mưa tương đối trung bình tháng năm 2015 tại Bắc Ninh 42
Biểu đồ 3.3 Lượng mưa trung bình tháng huyện Thuận Thành 2017 43
DANH MỤC HỘP Hộp 4.1 Ý kiến người dân về vốn sản xuất trang trại 62
Hộp 4.2 Ý kiến của chủ trang trại về người lao động trong trang trại 63
Hộp 4.3 Ý kiến người dân về vốn sản xuất trang trại 78
Trang 9CN-TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
NN&PTNT Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Văn Bổ
Tên Luận văn: “Phát triển kinh tế trang trại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” Ngành: Phát triển nông thôn Mã số: 8620116
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh
tế trang trại huyện Thuận Thành hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra 5/18 xã thị trấn trên địa bàn huyện, số liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu đã công
bố như các báo cáo, niên giám thống kê của huyện, các báo cáo tóm tắt của các phòng, ban liên quan Số liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn các cán bộ và hộ nông dân Phương pháp phân tích số liệu: Nghiên cứu sử dụng một số phương pháp phân tích
số liệu như phương pháp phân tích mô tả, phân tổ thống kê và phân tích so sánh
Kết quả nghiên cứu
Sau khi đánh giá thực trạng phát triển KTTT trên toàn huyện hiện nay như: thị trường tiêu thụ sản phẩm, các chính sách của nhà nước bao gồm chính sách đất đai, tín dụng…, cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, khí hậu thời tiết dịch bênh và các yếu tố sản xuất của trang trại Khả năng áp dụng KH-KT, khả năng liên kết giữa các trang trại
Từ các yếu tố ảnh hưởng đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển KTTT trên địa bàn huyện trong thời gian tới cụ thể: Giải pháp chung cho các loại hình trang trại; Giải pháp cho từng loại hình trang trại như trang trại chăn nuôi, trang trại tổng hợp; Các giải pháp cụ thể cho sản xuất như: giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ, giải pháp
về chính sách, về xây dựng cơ sở hạ tầng, về bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ quản lý, áp dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế trang trại
Từ những kết quả nghiên cứu đưa ra các kiến nghị tới các các cấp: Đối với nhà nước về định hướng phát triển KTTT trong thời gian tới cần có những thay đổi về chính sách, về đầu tư Đối với địa phương cấp huyện, cấp xã tăng cường công tác quản lý, hỗ trợ các nguồn lực địa phương cho các trang trại, việc phân bổ nguồn lực hợp lý sẽ tạo ra kết quả cao Đối với chủ trang trại trực tiếp quản lý, điều hành phát triển sản xuất tại trang trại cần nắm và hiểu rõ nhu cầu thị trường Cần có sự sang tạo, không ngừng học
hỏi và đưa ra các sáng kiến thúc đẩy phát triển kinh tế
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Van Bo
Thesis title: Developing farm economy in Thuan Thanh district, Bac Ninh province Major: Rural Development Code: 8620116
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
Evaluating situation and analyzing factors that influence the development of farm economy, and put forward several main solutions to develop farm economy in Thuan Thanh district, Bac Ninh province
Methods
Data collection method:
Primary data was collected through the survey of 5/18 communes in the district Secondary data is collected through proclaimed documents such as reports, statistical yearbook of the province; summary reports of the departments, committees
Primary data is gathered from government officials and households
Method of analysis: there are several methods of analysis using in this study such as
descriptive analysis, partial analysis, comparative analysis
Main findings and conclusions
Evaluating the real situation of agricultural development in the district such as product consumption market, state policies including land policy, credit…, rural transport infrastructure, the ability of famers to link between farms
The solutions to improve the development of farm economy in the district: General solutions for various types of farms; Solutions for each type of farm such as livestock farming, mixed farm ; The solutions for production such as expanding market consumption, policy solutions, infrastructure construction, professional management skills training, apply science and technology to development farm economy
For the Government, they should be changes in the policies and the investment For local governmen, the district should be strengthen the management, support local resources for farms, the rational allocation of resources will produce high results For the farm owner who directly manages and develops the production at the farm, they should be understand the market demand Famers need creativity, constantly learning and giving initiatives to improve economic development
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm trở lại đây vơi sự thay đổi về cơ chế, chính sách của Đảng và nhà nước Nông nghiệp nông thôn ngày nay đã từng bước thay đổi, bộ mặt cho nông thôn ngày càng khở sắc Bằng các chính sách thực hiện như tổ chức lại các hoạt động trong nông nghiệp: tổ chức lại các Hợp tác xã nông nghiệp, những chính sách khuyến khích nông dân làm giàu bằng các hình thức sản xuất mới, tìm tòi học hỏi các phương thức canh tác sản suất có hiệu quả cao,
áp dụng khoa học kỹ thuật mà thành phần chính đó là phát triển kinh tế hộ, kinh
tế cá nhân và phát triển kinh tế trang trại Mô hình kinh tế hộ và kinh tế cá nhân
đã dần dần chuyển đổi sang mô hình kinh tế trang trại Đến nay kinh tế trang trại
đã đóng vị trí quan trọng trong thời kỳ CNH-HĐH nền nông nghiệp nước ta và là một phần không thể tách rời trong nhiệm vụ đổi mới và phát triển các hình thức
tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn, góp phần thiết thực trong mục tiêu xây dựng nông thôn mới toàn diện
Tuy vậy, vì sản xuất nông nghiệp được diễn ra trên không gian rộng lớn, trên nhiều vùng, thậm chí mỗi tiểu vùng cũng có sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, nên các trang trại ở mỗi vùng cũng có những đặc điểm khác nhau Do đó việc các hoạt động kinh tế trang trại ngày nay gặp phải không
ít những khó khăn, hạn chế trong qúa trình phát triển và chưa phát huy được thế mạnh của vùng Tỉnh Bắc Ninh là một trong những tỉnh không ngoại lệ Mặc dầu
có điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH thuận lợi trong việc phát triển kinh tế trang trại vùng Với sự quan tâm của Đảng, chính quyền địa phương trong những năm qua nông nghiệp nông thôn luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo Mặc dù không có điều kiện thuận lợi về quy mô đất đai lớn như ở vùng đồng bằng phía nam, nhưng Bắc Ninh luôn quan tâm tới phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Cụ thể hóa bằng các Chỉ thị, Nghị quyết chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và hạ tầng nông thôn, do đó sản xuất nông nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh đã đạt được những kết qủa đáng kể, đời sống kinh tế xã hội của nông dân khu vực nông thôn ngày càng được nâng cao
Huyện Thuận Thành là một trong 7 huyện của Tỉnh Bắc Ninh Với điều kiện khá thuận lợi: tiếp giáp với nhiều khu đô thị lớn như KCN tập trung Sài Đồng, KCN Quế Võ, Hapro Trên địa bàn huyện có 3 KCN và một số cụm công
Trang 13nghiệp công nghệ cao, khu lắp ráp chế xuất của nhiều tập đoàn công ty nước ngoài do đó mang lại thuận lợi cho công tác chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường sử dụng đất nông nghiệp Việc dồn điền đổi thửa sản xuất nông nghiệp dưới quy mô lớn hiệu quả cao đem lại nhiều thế mạnh cho phát triển kinh tế nông nghiệp trong vùng đặc biết là phát triển kinh tế trang trại trên toàn huyện
Dựa vào thế mạnh hiện nay trên toàn huyện đã hình thành nhiều mô hình kinh tế trang trại với quy mô vừa và lớn với số lượng ngày càng gia tăng Cụ thể hiện nay trên toàn huyện có 298 trang trại gia trại Số lượng trang trại được chứng nhận theo thông tư 27/2011 Bộ Nông nghiệp là 29 trang trại Trong những năm qua các gia trại không ngừng mở rộng phát triển kinh tế và hoàn thiện thủ tục xin cấp chứng nhận trang trại để đủ điều kiện hưởng các nguồn hỗ trợ cũng như điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế Tuy nhiên phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn thách thức Trên tổng số
29 trang trại được cấp chứng nhận có 10 trang trại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Diện tích đất khai thác tại các trang trại chưa hiệu quả tương ứng với số vốn đầu tư Định hướng phát triển còn hạn chế về đầu ra sản phẩm, công nghệ chăn nuôi trồng trọt, kỹ thuật canh tác, khả năng huy động vốn đầu tư còn nhiều hạn chế Từ thực trạng trên cho thấy cần có đề tài nghiên cứu
và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Thuận Thành hiện nay như thế nào? Để giải quyết các yếu tố ảnh hưởng đó cần
có những giải pháp nào để phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Thuận Thành trong thời gian tới? Nhằm liên kết sản xuất giữa các trang trại hiệu quả, và phát huy tốt các nguồn lực sẵn có của địa phương cần có giải pháp gì ? Trước những vấn đề đó chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Phát triển kinh tế trang trại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại huyện Thuận Thành; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế
Trang 141.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Là các vấn đề về thực trạng kinh tế trang trại hiện nay và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
- Đối tượng khảo sát: Là các cán bộ quản lý các cấp tham gia trong công tác quản lý liên quan đến phát triển kinh tế trang trại, chủ các trang trại trên địa bàn huyện Thuận Thành
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi về nội dung
- Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng để
đề ra các giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Thuận Thành trong thời gian qua
- Nghiên cứu nội dung hoạt động của các loại hình KTTT trên địa bàn huyện (quy mô, kết quả và hiệu quả sản xuất, các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả
và hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại.)
1.4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
về phát triển kinh tế trang trại;
Trang 15Về mặt thực tiễn:
- Tổng hợp, phân tích các thế mạnh, cơ hội thách thức cho phát triển kinh
tế trang trại huyện Thuận Thành
- Chỉ ra và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tác động tới phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện
- Đề xuất những phương hướng, mô hình thí điểm, mục tiêu để phát triển kinh tế trang trại thời gian tới
- Khuyến nghị những giải pháp để tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại bền vững, hiệu quả thời gian tiếp theo
- Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo giúp cho các cấp Đảng
ủy, chính quyền địa phương có cơ sở thực tiễn để chỉ đạo phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện hiệu quả
Trang 16PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRANG TRẠI
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về trang trại
Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về trang trại và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về trang trại và kinh tế trang trại Tùy vào mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà các học giả đưa ra các quan điểm khác nhau Để hiểu rõ khái niệm
về trang trại trước hết cần phân biệt thuật ngữ trang trại và kinh tế trang trại là những khái niệm khác nhau không đồng nhất Có nhiều học giả trên thế giới đã đưa ra những quan điểm khác nhau về trang trại
Theo tác giả Nguyễn Đình Hương “Trang trại là loại hình sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp của hộ gia đình nông dân sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín của hộ tiểu nông, vươn lên sản xuất nhiều nông sản, hàng hoá, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh” Ngoài ra phần lớn các các nhà nghiên cứu đều cho rằng trang trại là một loại hình
tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu, hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ, trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với
thị trường (Nguyễn Đình Hương, 2000)
Trang trại là một đơn vị kinh tế hộ gia đình có tư cách pháp nhân, được nhà nước giao quyền sử dụng một số diện tích đất đai, rừng, biển hợp lý: để tổ chức lại quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tích cực áp dụng các biện pháp kỹ thuật và công nghệ mới nhằm cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao hơn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của từng đơn vị diện tích, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người tham gia (Nguyễn Điềm và cs., 1993)
Như vậy từ những quan điểm trên ta có thể khái quát trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa nông nghiệp chủ yếu, và là một đơn vị kinh
Trang 17KINH TẾ XÃ HỘI
MÔI TRƯỜNG
Mối quan hệ ba mặt cơ bản của TT
doanh nông nghiệp được phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân, sản phẩm hàng hóa bao gồm nông, lâm, thuỷ sản Với nguồn lực sẵn có của gia đình nhằm mở rộng quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất và có trình độ kỹ thuật cao, tổ chức và quản lý tiến bộ
Như vậy, nói trang trại là bao hàm về mặt kinh tế của trang trại Ngoài mặt kinh tế, còn có thể nhìn nhận trang trại từ mặt xã hội và mặt môi trường Sự kết hợp hài hoà ba mặt này sẽ bảo đảm cho kinh tế trang trại phát triển bền vững
và bảo vệ tốt môi trường, sử dụng tối ưu các nguồn lực Mối quan hệ ba mặt cơ bản của trang trại được trình bày qua sơ đồ
Hình 2.1 Mối quan hệ ba mặt cơ bản của trang trại
Nguồn: Nguyễn Đình Hương, (2000)
2.1.1.2 Khái niệm về kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại (KTTT) là một khái niệm không còn mới với các nước kinh tế phát triển và đang phát triển Song đối với nước ta đang còn là một vấn đề mới, do nước ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nên việc nhận thức chưa đầy đủ về kinh tế trang trại là điều không thể tránh khỏi Tìm hiểu các khái niệm
về kinh tế trang trại đã được đưa ra trong những năm qua, tuy nhiên các ý kiến chưa có sự thống nhất Để góp phần làm rõ thêm khái niệm về kinh tế trang trại chúng tôi đề cập một số khái niệm sau:
Đối với các quan điểm trong nước, các nhà khoa học đã có những nhận xét về kinh tế trang trại như sau: Theo khái niệm của PGS.TS Lê Trọng: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức cơ sở, là doanh nghiệp tổ chức sản xuất trực tiếp ra nông sản phẩm hàng hóa dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao
Trang 18động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường được nhà nước bảo hộ theo luật định” (Lê Trọng, 2000)
Theo ông Trần Tác, Phó Vụ trưởng - Vụ Kinh tế Trung ương Đảng cho rằng: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn Có sức đầu
tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra tỷ suất sinh lời cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra, có trình độ đưa các thành tựu khoa học, công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá, tạo
ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao” (Trần Tác, 2001)
Theo PGS.PTS Lâm Quang Huyên, Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cho rằng: “Kinh tế trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp, hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường từ khi phương thức này thay thế phương thức sản xuất phong kiến Trang trại được hình thành các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ cái vỏ tự cấp, tự túc khép kín, vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hoá tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế thị trường”
(Lâm Quang Huyên, 2002)
Từ các quan điểm trên đây và theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày
02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại thống nhất như sau: “Kinh tế
trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”
Khái niệm này đã chỉ ra tương đối khá đầy đủ, nêu ra được cơ sở, chức năng, hình thức sản xuất của trang trại Tuy nhiên, ở mỗi nước trong từng giai đoạn cụ thể, do trình độ phát triển cụ thể của nền kinh tế mà những đặc điểm trên
có thể biểu hiện ở mức độ khác nhau Ở nước ta, nền nông nghiệp đang trên bước đầu chuyển từ nền nông nghiệp nửa tự nhiên sang nền nông nghiệp hàng hóa
2.1.1.3 Khái niệm phát triển kinh tế trang trại
Trong kinh tế: Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất; nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia (Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung, 2008)
Trang 19Như vậy, có thể hiểu phát triển kinh tế trước hết là sự gia tăng nhiều hơn về
số lượng và chất lượng sản phẩm, sự đa dạng về chủng loại sản phẩm của nền kinh
tế Đồng thời, phát triển còn là sự thay đổi theo chiều hướng tích cực trên tất cả các khía cạnh của nền kinh tế xã hội Đó là sự thay đổi về cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997)
Tóm lại: Sự phát triển KTTT là biểu hiện bằng sự gia tăng quy mô trang trại cả về chiều rộng và bề sâu Về bề rộng chính là sự gia tăng về số lượng trang trại ở một vùng nào đó Về bề sâu là vẫn giữ nguyên số lượng trang trại nhưng tăng quy mô mỗi trang trại thông qua quá trình hợp tác, liên kết giữa các trang trại với nhau, hoặc tăng cường năng lực sản xuất của mỗi trang trại như đầu tư thêm vốn, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Phát triển trang trại phải công nghiệp chế biến, cần có sự liên kết, hợp tác giữa các cấp, ngành, doanh nghiệp với chủ trang trại nhằm đạt hiệu quả sản xuất cao nhất
2.1.2 Vai trò và đặc điểm của phát triển kinh tế trang trại
2.1.2.1 Vai trò của phát triển kinh tế trang trại
a Vai trò thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, góp phần đưa sản xuất nông nghiệp lên công nghiệp hoá hiện đại hoá
KTTT là một bước phát triển mới của nền sản xuất xã hội, là nhân tố mới trong nông thôn, là động lực mới, nối tiếp và phát huy động lực kinh tế hộ nông dân, là sự đột phá trong bước chuyển qua sản xuất nông nghiệp hàng hoá, tạo ra sức sản xuất mới, có khả năng và đã tạo ra khối lượng lớn về nông sản hàng hoá đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Sản phẩm được làm ra theo yêu cầu của thị trường từ đó kích thích sản xuất và đòi hỏi cạnh tranh để tồn tại phát triển
Để nâng cao hiệu quả các trang trại phải nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Muốn vậy các trang trại phải biết đầu tư qui mô sản xuất hợp lý, đầu tư khoa học công nghệ, đầu tư máy móc thiết bị, tăng cường quản lý, như vậy kinh tế trang trại đã góp phần thúc đẩy nhanh việc sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn Do đó đòi hỏi các trang trại phải sử dụng máy móc để sản xuất, cơ giới hoá khâu làm đất và vận chuyển sản phẩm, cơ giới hoá khâu thu hoạch, khâu bơm nước tưới, chủ động nguồn nước tưới, điện Như vậy, KTTT đã tạo điều kiện để đưa nông nghiệp đi dần vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo tiền đề đi lên sản xuất hàng hoá lớn ( Lê Trường Sơn (1996)
Trang 20Khi nông nghiệp đã có một bước chuyển mình đáng kể, nhiều hộ nông dân
đã giàu lên, nhận thức và hiểu biết về khoa học kỹ thuật ngày càng sâu sắc, kinh nghiệm và khả năng quản lý, tổ chức sản xuất ngày càng được nâng cao, vốn tích luỹ đạt đến một mức độ nhất định, thì cũng là lúc người kinh doanh nông nghiệp phải nghĩ đến một hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp mới, có quy mô lớn hơn, tỷ suất lợi nhuận cao hơn Thế là họ bỏ vốn, lập nên các trang trại, thuê nhân công và hoạt động như một nhà kinh doanh thật sự (Nguyễn Đình Hương, 2000)
b Phát triển kinh tế trang trại tác động đến sự phát triển của ngành sản xuất nông nghiệp
Thứ nhất: Phát triển KTTT thúc đẩy chuyên môn hoá sản xuất và chuyển
dịch cơ cấu nông nghiệp - nông thôn và phát triển kinh tế hàng hoá Đặc trưng của kinh tế trang trại là mức độ tập trung cao về đất đai và tích luỹ lâu dài về vốn, dần tạo nên một quy mô vượt trội so với sản xuất của hộ gia đình Trong giai đoạn đầu
do còn thiếu vốn và khả năng sản xuất cũng như kinh nghiệm quản lý, các trang trại thường kết hợp sản xuất nhiều loại nông sản hàng hóa khác nhau nhưng sau đó
do sự tích luỹ về các yếu tố vốn, đất đai, kinh nghiệm sản xuất thì các trang trại sẽ hướng theo một vài loại sản phẩm chủ chốt, có lợi thế về vùng Do đó quy mô của loại sản phẩm này cũng lớn lên (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1999)
Thứ hai: Phát triển KTTT sẽ làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp Lợi thế
về quy mô của các trang trại (quy mô đất đai, quy mô lao động ) giúp các trang trại tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn Trang trại sẽ có điều kiện thuận lợi trong
cả việc giảm giá thành các yếu tố đầu vào và cả trong quản lý, tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là dễ dàng hơn khi áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sử dụng máy móc, trang thiết bị hiện đại trong hoạt động sản xuất Với các hộ gia đình, chi phí cho các thiết bị này chiếm tỷ lệ quá lớn so với thu nhập và giá trị sản phẩm làm ra, nên thông thường họ phải đi thuê, tỷ suất lợi nhuận vì thế cũng thấp, khiến cho giá trị của cả ngành nông nghiệp giảm theo (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1999)
Thứ ba: Phát triển KTTT thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp - nông thôn Không những thế, sản phẩm của trang trại sẽ góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp cơ khí, công nghiệp năng lượng trong các mối liên hệ ngược với các ngành này Để làm ra sản phẩm, các trang trại cần sử dụng máy móc, cần tiêu dùng năng lượng, cần được cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu Đó là không kể những trang trại kinh doanh tổng hợp còn tự sơ
Trang 21chế, chế biến ngay tại chỗ Yêu cầu này cần được sự giúp đỡ của ngành công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm mối quan hệ qua lại này chỉ ra rằng: Sự phát triển của ngành này là động lực phát triển của ngành kia (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1999)
Mặt khác, khi kinh tế trang trại phát triển nó sẽ đem lại thu nhập cho một bộ phận nông dân, người tiêu dùng của khu vực nông nghiệp - nông thôn tăng lên kéo theo sự khởi sắc của ngành dịch vụ theo đúng quy luật của nền kinh tế thị trường
c Phát triển kinh tế trang trại giải quyết được những vấn đề về mặt xã hội và môi trường
Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số
hộ giàu trong nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, an ninh trật tự xã hội Mặt khác, còn thúc đấy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn, không ngừng nâng cao trình độ văn hóa - xã hội cho nhân dân Theo ước tính, lao động ở khu vực nông thôn mới chỉ sử dụng hết khoảng 3/4 thời gian lao động nông nghiệp, như vậy là đã lãng phí một lượng lớn lao động nông thôn Trong số đó nhiều người thậm chí còn hoàn toàn không có cả việc làm Một phần lao động dư thừa ấy sẽ được giải quyết khi các trang trại hình thành vì trang trại không chỉ giải quyết việc làm cho bản thân chủ trang trại cũng như người nhà của họ mà còn thu hút được một lực lượng đáng kể lao động làm thuê (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1999)
Về mặt môi trường: Hầu hết các chủ trang trại đều có ý thức bảo vệ và khai
thác hợp lý môi trường sinh thái xung quanh vì lơi ích thiết thực và lâu dài của trang trại, trước hết là ngay trong phạm vi trang trại mình Đặc biệt là ở các tỉnh trung du, miền núi thì vấn đề này cũng có ý nghĩa hơn, do các trang trại góp phần quan trọng cho việc trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, khai thác hiệu quả tài nguyên đất (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1999)
d Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp và nông thôn
Sự hình thành và phát triển KTTT ở nước ta hiện nay là xu hướng tất yếu của tập trung hoá, chuyên môn hoá sản xuất trong nông nghiệp, góp phần tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng manh mún, phân tán, tạo nên những vùng chuyên canh hoá, tập trung hàng hoá
và thâm canh cao, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp phát triển nhất là công
Trang 22nghiệp chế biến, thương mại và dịch vụ, góp phần làm nông thôn phát triển, tạo thu nhập ổn định trong một bộ phận dân cư làm nông nghiệp
Nhiều chủ trang trại đã đầu tư và hợp tác với nhau để đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị công nghiệp để chế biến sản phẩm tạo ra những bán thành phẩm nông sản hàng hoá cung cấp đầu vào cho các cơ sở chế biến hàng xuất khẩu lớn hơn của Nhà nước Một số doanh nghiệp Nhà nước đã hợp tác với các trang trại, thực hiện đầu tư ứng trước vốn trên cơ sở diện tích cho chủ trang trại, bao tiêu toàn bộ sản phẩm tạo thế chủ động về nguồn nguyên liệu cho sản xuất kinh doanh Một số lâm trường quốc doanh đã khoán khoanh nuôi, bảo vệ, chăm sóc rừng cho nhân dân Điều này đã tạo ra sự phân công và hợp tác, làm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo khuynh hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá (Lê Trường Sơn ,1996)
e Phát triển kinh tế trang trại thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn
Rõ ràng là để đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hoá của mình, các trang trại cần phải được đảm bảo bằng một hệ thống cơ sở hạ tầng đầy đủ và hiện đại Nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, các trang trại có thể kết hợp với các địa phương, cùng các doanh nghiệp khác để giải quyết những vấn đề chung này (giao thông, điện, nước, thuỷ lợi, hệ thống tiêu thụ sản phẩm ) các công trình giao thông, kho tàng, bến bãi, các phương tiện vận tải được mở rộng và xây dựng mới
để phục vụ cho sản xuất hàng hoá của các trang trại Vì không phải trang trại nào cũng có khả năng tự xây dựng hệ thống này nên cần có những sự giúp đỡ của Nhà nước Đi đôi với việc phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất là
hệ thống cơ sở phục vụ đời sống nhân dân, hệ thống trường học, trạm xá, chợ, các công trình văn hoá, thể thao (Lê Trường Sơn ,1996)
f Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác hiệu quả các nguồn lực
Thực tế cho thấy trong các mô hình kinh tế các yếu tố nguồn lực thường được sử dụng hiệu quả hơn so với kinh tế hộ Không còn mang tính chất tự sản tự tiêu, cơ chế thị trường buộc các "Doanh nghiệp trang trại" phải hạch toán kinh doanh do đó vì lợi nhuận, các yếu tố đầu vào như đất đai, chi phí mua giống, phân bón, trang thiết bị máy móc, thuê mướn nhân công đều được tính toán sao cho đem lại tỷ suất lợi nhuận cao nhất Rộng hơn, kinh tế trang trại còn góp phần tích cực vào việc huy động tiền vốn đọng trong một bộ phận lớn nông dân lâu nay vào sản xuất nông nghiệp Chủ trang trại tận dụng mọi nguồn lao động trong gia đình
Trang 23là chính Song trang trại nào cũng phải thuê từ 3-5 lao động thường xuyên và một đến vài ngày công lao động thời vụ
2.1.2.2 Đặc điểm của kinh tế trang trại
Việc nghiên cứu những đặc điểm của kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu và trong thực tiễn về quản lý và phát triển kinh tế trang trại Theo tác giả Nguyễn Đình Hương, 2000 Kinh tế trang trại mang những đặc điểm
cơ bản sau đây:
a Phát triển kinh tế trang trại mang tính chất chuyên môn hóa, tập trung hóa sản xuất nông, lâm, thuỷ sản theo hướng hàng hoá
So với kinh tế nông hộ thì đây là một đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại Giá trị tổng sản phẩm và sản phẩm hàng hóa của nó là chỉ tiêu trực tiếp đánh giá về quy mô kinh tế trang trại là nhỏ, vừa hay lớn Quy mô kinh tế của trang trại thường lớn hơn nhiều lần so với quy mô của kinh tế nông hộ và có tỷ suất nông sản hàng hóa trên 85% Riêng về quy mô ruộng đất chẳng những nhiều hơn nhiều lần (tùy theo phương hướng và trình độ kinh doanh) mà còn rất tập trung, liền vùng và liền khoảng Kinh tế trang trại là hình thức từng bước đưa nông dân từ hộ nông nghiệp sản xuất nhỏ lẻ tự cung tự cấp lên các hộ nông nghiệp sản xuât hàng hoá Đặc điểm này gắn liền với tính hai mặt của hộ nông dân, với trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp và sự giao lưu hàng hoá giữa thành thị và nông thôn Nông hộ vừa là gia đình vừa là cơ sở sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp sản xuất ra những sản phẩm cần thiết cho cuộc sống có thể tiêu dùng trực tiếp
b Quá trình tích tụ ruộng đất và vốn đầu tư được tập trung với quy mô lớn theo nhu cầu thị trường
KTTT đã sản xuất hàng hóa thì hàng hóa luôn gắn với thị trường, do đó thị trường bán sản phẩm và mua vật tư là nhân tố có tính chất quyết định chiến lược phát triển và sản xuất sản phẩm hàng hóa cả về số lượng và chất lượng, hiệu quả kinh doanh của trang trại Do đó ở các trang trại, sản xuất hàng hoá chỉ có thể được thực hiện khi ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất được tập trung tới quy
mô cần thiết (đủ lớn) Đặc điểm này được quy định bởi chính đặc trưng về mục đích sản xuất của trang trại Ở các trang trại tư nhân, quy mô tập trung các yếu tố sản xuất lớn hơn hẳn so với các trang trại gia đình
Đặc điểm về sự tập trung các yếu tố sản xuất của kinh tế trang trại có thể biểu thị về mặt lượng bằng những chỉ tiêu chủ yếu sau:
Trang 24+ Quy mô diện tích ruộng đất của trang trại (nếu là trang trại chăn nuôi thì
là số lượng gia súc, gia cầm )
+ Quy mô vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại
c Tổ chức và quản lý sản xuất theo phương thức tiến bộ dựa trên sự chuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng KHKT, thực hiện hoạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận thị trường
Kinh tế trang trại có nhiều khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật hơn, tốt hơn kinh tế nông hộ vì trang trại có vốn, có lãi nhiều hơn Nói chung, các trang trại không những sử dụng công cụ thô sơ mà được trang bị nhiều loại máy móc và áp dụng nhiều quy trình công nghệ mới (hay quy trình sản xuất mới) vào các ngành sản xuất, dịch vụ theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp Đây chính là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh doanh
Về trình độ chuyên môn hoá sản xuất trong các trang trại: Chuyên môn hoá sản xuất của trang trại là quá trình gắn liền với việc chuyển phương hướng sản xuất của trang trại từ sản xuất đa dạng, đa canh kết hợp trồng trọt với chăn nuôi sang sản xuất chuyên canh, tập trung vào một vài nông sản hàng hoá có lợi thế so sánh và khả năng sinh lời cao.Để phản ánh trình độ chuyên môn hoá, có thể sử dụng chỉ tiêu: Cơ cấu giá trị sản lượng của trang trại; Cơ cấu giá trị sản lượng hàng hoá của trang trại
Trình độ thâm canh trong các trang trại cũng được nâng dần từ thâm canh truyền thống sang thâm canh kết hợp truyền thống với hiện đại rồi thâm canh hiện đại Những chỉ tiêu chủ yếu có thể sử dụng để biểu hiện trình độ thâm canh là: Vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích; Vốn đầu tư cho những công nghệ sản xuất tiến bộ trên một đơn vị diện tích
Về cách thức điều hành sản xuất: Lúc đầu sản xuất hàng hoá còn ít và giản đơn với mục đích là tối đa hoá lợi ích và tăng thêm thu nhập cho gia đình thì chủ trang trại vẫn điều hành sản xuất theo kiểu gia trưởng, song đã bắt đầu đi vào bố trí, tổ chức sản xuất, ghi chép thu chi và hoạch toán đơn giản
Về hoạt động tài chính và hoạch toán của trang trại: Hoạt động tài chính và hoạch toán của trang trại dần dần thay đổi Lúc đầu khi mới đi vào sản xuất hàng hoá, chủ trang trại thường ghi nhớ trong đầu hoặc có ghi chép, hoạch toán đơn giản lượng thu, lượng chi và phần thu nhập dôi ra đối với vài cây trồng, vật nuôi
Trang 25chủ yếu Khi sản xuất hàng hoá đã trở thành hướng chính, các trang trại thường thực hiện hoạch toán giá thành và lợi nhuận đối với từng cây, con hàng hoá Đến khi trang trại kinh doanh gần như một doanh nghiệp thì hoạt động tài chính đi vào chiều sâu, bao gồm các nội dung: Kế hoạch tài chính, hoạch toán giá thành, lợi nhuận, phân tích kinh doanh Hoạt động tài chính và hoạch toán của trang trại ngày càng có vai trò quan trọng, đồng thời cũng ngày càng phức tạp đòi hỏi phải có kiến thức và nghiệp vụ kế toán, hoạch toán nhất định
Về tiếp cận thị trường: Thái độ và hành động đối với thị trường của trang trại cũng từng bước được thay đổi theo hướng ngày càng tiếp cận và gắn kết với thị trường Lúc đầu trang trại chưa quan tâm nhiều đến thị trường Nhưng khi trình
độ sản xuất hàng hoá đã nâng lên thì các trang trại thường xuyên quan tâm đến thị trường và tìm kiếm thị trường Đến khi giai đoạn coi kinh doanh là lẽ sống của mình thì thị trường là khâu kết thúc, quyết định chu kỳ kinh doanh thì trang trại thường xây dựng và thực hiện linh hoạt chiến lược kinh doanh nhằm đứng vững và phát triển trong cạnh tranh
Mức độ liên hệ và gắn kết với thị trường có thể xem xét thông qua chỉ tiêu
tỷ trọng chi phí trung gian trong tổng chi phí sản xuất của trang trại
d Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh
Người chủ trang trại là người có những tố chất cần thiết để tổ chức và quản
lý hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế của trang trại Những tố chất cần thiết và chủ yếu của chủ trang trại là: Có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông; Có năng lực tổ chức quản lý; Có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, đồng thời có hiểu biết nhất định về hoạch toán, phân tích kinh doanh, tiếp cận thị trường
Những tố chất của người chủ trang trại nêu trên, về cơ bản không có ở người chủ nông hộ sản xuất tự cấp, tự túc.Tuy nhiên, những tố chất ngày nói chung không phải hoàn toàn được hội đủ ngay khi trang trại mới hình thành mà phần lớn các chủ trang trại, sự hội tụ các tố chất cần thiết cũng trải qua một quá trình nhất định Mức độ hoàn thiện của các tố chất cũng gắn liền với các giai đoạn phát triển của trang trại
e Phát triển kinh tế trang trại giải quyết việc làm cho người lao động:
Thông thường các trang trại trong nông, lâm, ngư nghiệp đều có quy mô
Trang 26sản xuất lớn hơn hẳn so với quy mô sản xuất của hộ nông dân Cho nên đa số các trang trại có thể sử dụng nguồn lao động vốn có của gia đình, nhưng hầu hết chủ yếu là thuê mướn lao động làm thường xuyên quanh năm hoặc theo thời vụ với số lượng nhiều, ít khác nhau theo quy mô của trang trại Số lượng lao động làm thuê bao giờ cũng lớn hơn số lượng lao động tự có của gia đình chủ trang trại Quy mô thuê mướn lao động của trang trại trong các loại hình khác nhau và phụ thuộc chủ yếu vào các loại hình trang trại và quy mô sản xuất của các trang trại
Có hai hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại đó là: Thuê lao động thường xuyên và thuê lao động theo thời vụ Trong hình thức thuê lao động thường xuyên, trang trại thuê người lao động làm việc ổn định quanh năm, còn trong hình thức thuê lao động theo thời vụ, trang trại chỉ thuê người lao động làm việc theo thời vụ sản xuất
2.1.3 Tiêu chí xác định kinh tế trang trại
Để nhận dạng hay nói cách khác là xác định một đơn vị sản xuất cơ sở trong nông nghiệp có phải là một trang trại hay không cần phải có tiêu chí xác định Việc kết hợp giữa tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng giúp cho xác định trang trại được hiệu quả và rõ dàng
Theo thông tư số 69/2000/TTLT/BNN- TCT của Liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục thống kê đã ra ngày 23/6/2000
Để nhận dạng các trang trại có thể dùng các tiêu chí định tính và định lượng để xác định
+ Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ
Trang 27* Tiêu chí định lượng
Thông qua các chỉ số cụ thể nhằm định dạng và phân biệt đâu là trang trại
và đâu không phải là trang trại từ đó phân loại quy mô giữa các trang trại Chủ yếu
là các tiêu chí diện tích đất, giá trị sản lượng hàng hoá
* Tiêu chí xác định kinh tế trang trại theo thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT
Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại thì cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
- Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
+ 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
+ 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
+ Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên
+ Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên
2.1.4 Các loại hình kinh tế trang trại
Hiện nay, có nhiều cách phân loại khác nhau đối với trang trại, mỗi nhà nghiên cứu dựa vào những tiêu chí khác nhau để phân loại, tùy vào đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng địa phương Tuy nhiên để phân loại các loại hình trang trại dựa theo Thông tư số 69/2000/TTLT/BNN- TCT của Liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục thống kê đã ra ngày 23/6/2000 Ta có thể phân loại các trang trại như sau:
- Phân loại theo lĩnh vực sản xuất:
+ Trang trại tổng hợp
+ Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong năm Trường
Trang 28hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là trang trại tổng hợp Ta có thể tổng hợp thành 3 loại hình kinh tế trang trại cơ bản sau:
Sơ đồ 2.1 Các loại hình kinh tế trang trại
Nguồn: Liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,(2000)
- Phân loại theo hình thức quản lý theo Thông tư số 69/2000/TTLT/BNN-
TCT của Liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục thống kê đã ra ngày 23/6/2000
+ Trang trại gia đình: toàn bộ tư liệu sản xuất đều thuộc quyền sở hữu của
hộ gia đình, hộ gia đình là người tự quyết định tổ chức và sản xuất kinh doanh Loại hình trang trại này sử dụng sức lao động trong gia đình là chính, kết hợp thuê nhân công phụ trong mùa vụ Trang trại gia đình là mô hình sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp thế giới, chiếm tỷ trọng lớn về đất canh tác và khối lượng nông sản so với các loại hình sản xuất khác
+ Trang trại hợp tác: là loại hình hợp tác tự nguyện của một số trang trại gia đình với nhau thành một trang trại quy mô lớn hơn để tăng thêm khả năng về vốn,
tư liệu sản xuất và công nghệ mới tạo ra ưu thế cạnh tranh
+ Trang trại cổ phần: là loại hình hợp tác các trang trại thành một trang trại lớn theo nguyên tắc góp cổ phần và hoạt động giống nguyên tắc của công ty cổ phần Loại hình này chủ yếu phát triển trong lĩnh vực chế biến, tiêu thụ lâm sản
+ Trang trại uỷ thác: là loại hình trang trại mà chủ trang trại uỷ thác cho bà con, bạn bè quản lý từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh trong khoảng thời gian nhất định khi chủ trang trại đi làm việc khác
+ Trang trại lâm nghiệp
- Trang trại chăn nuôi
+ Trang trại chăn nuôi gia súc: trâu, bò
+ Chăn nuôi gia súc: Lợn, Dê + Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan
- Trang trại nuôi trồng thủy sản
Ba loại hình Kinh tế trang trại
Trang 29- Phân loại theo cơ cấu sản xuất
+ Trang trại kinh doanh tổng hợp: là loại nông trại sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm, gắn trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp với các ngành nghề khác + Trang trại sản xuất chuyên môn hoá: là trang trại tập trung sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm như trang trại chuyên nuôi gà, vịt, lợn và bò sữa, chuyên trồng hoa, rau, chuyên nuôi trồng thuỷ sản
- Phân loại theo hình thức sở hữu:
+ Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất đất đai, công cụ máy móc đến chuồng trại, kho bãi (thường là trang trại gia đình) đây là loại hình phổ biến ở các nước
+ Chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất phần còn lại phải đi thuê người khác ví như phải thuê phải thuê máy móc, chuồng trại, kho bãi
+ Trang trại thuê toàn bộ tư liệu sản xuất của chủ khác để sản xuất kinh doanh Chủ trang trại hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mà đi thuê toàn bộ cơ sở của một trang trại hoặc của Nhà nước để sản xuất, không chỉ máy móc, thiết bị, kho tàng, chuồng trại mà cả đất đai mặt nước rừng cây
2.1.5 Nội dung nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại
2.1.5.1 Phát triển kinh tế trang trại là phát triển về mặt số lượng các trang trại
Phát triển KTTT là phát triển về mặt số lượng trang trại Hiện nay số lượng trang trại ngày càng tăng có nghĩa là các hộ gia đình, các cá thể kinh doanh trang trại tăng lên Từ việc nhân rộng số lượng các trang trại hiện tại; làm cho loại hình KTTT phát triển lan toả sang những khu vực khác để có thể thông qua đó mà phát triển thêm số cơ sở, làm tăng số các trang trại mới Nhờ phát triển số lượng các trang trại sẽ làm cho các ngành kinh tế phát triển Tiêu chí phản ánh sự phát triển
số lượng các trang trại: số lượng trang trại tăng qua các năm, tốc độ tăng của số lượng trang trại , số lượng trang trại của từng ngành, từng khu vực, lĩnh vực sản xuất (Trần Kiên, 2000)
Trong cơ chế thị trường việc tăng số lượng các trang trại cần chú trọng phát triển những trang trại sản xuất nông sản hàng hóa đáp ứng được nhu cầu lớn của thị trường, sản phẩm có khả năng xuất khẩu, sản phẩm có giá trị kinh tế cao
Sự phản ánh sự phát triển số lượng các trang trại thể hiện cụ thể qua:
+ Số lượng trang trại tăng qua các năm,
Trang 30+ Tốc độ tăng của số lượng trang trại,
+ Số lượng trang trại của từng ngành, từng khu vực, lĩnh vực sản xuất
2.1.5.2 Phát triển quy mô các nguồn lực của các trang trại
a Nguồn lực đất đai
Đất đai có vị trí quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp nói chung
và đối với kinh tế trang trại nói riêng Mặc dù vậy nguồn lực đất đai rất có hạn chế, trong điều kiện nước ta mức diện tích tự nhiên theo đầu người thấp hơn thế giới tới
6 lần (0,55ha/3,36ha) xếp vào hàng thứ 135, thuộc nhóm các nước có mức bình quân đất đai thấp nhất thế giới Trong đó bình quân đất nông nghiệp nước ta đạt 0,1ha/người, bằng 1/3 mức bình quân thế giới (Nguyễn Thế Nhã và Vũ Đình Thắng, 2004)
Nguồn lực về đất đai cho phát triển KTTT phải xem xét trên các tiêu chí: + Phân loại theo hình thức sở hữu: Đất thuộc quyền sở hữu, đất đấu thầu, đất nhận chuyển nhượng
+ Phân theo loại đất: Đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất chăn nuôi, diện tích đất mặt nước, đất khác
b Nguồn lực về vốn
Nếu đất là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp thì vốn là yêu cầu không thể thiếu đối với bất kỳ một lĩnh vực sản xuất kinh doanh chứ không riêng gì trang trại Đặc biệt trong xu thế hiện nay, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế các trang trại muốn đứng vững và phát triển cần một lượng vốn cố định để có thể đầu tư áp dụng khoa học kỹ thuật canh tác tiến bộ vào sản xuất, từ đó giúp tăng năng suất cây trồng vật nuôi và các dịch vụ của trang trại đạt được hiệu quả cao Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh Nguồn lực về vốn trong nông nghiệp nước ta đang là yếu tố hạn chế Vốn tự có trong nông dân ít ỏi Nguồn vốn ngân sách mỏng, nguồn thu cho ngân sách thấp và chưa ổn định, hàng năm ngân sách còn bội chi (Nguyễn Thế Nhã và Vũ Đình Thắng, 2004)
c Nguồn lực về lao động
Lao động là yếu tố đầu vào quan trọng phản ánh nguồn lực sản xuất của trang trại, đồng thời quy mô và cơ cấu lao động cho biết trình độ và khả năng sử dụng nguồn lao động của từng trang trại Nguồn nhân lực của nước ta rất phong
Trang 31phú, hiện lao động nông nghiệp chiếm gần 70% tổng lao động xã hội, nhưng chưa được sử dụng hợp lý, một bộ phận lao động đáng kể thiếu việc làm, thu nhập thấp (Nguyễn Thế Nhã và Vũ Đình Thắng, 2004)
2.1.5.3 Phát triển về sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi trong trang trại
a Về trồng trọt
Yếu tố trồng trọt trong KTTT đóng một vai trò tuy không lớn nhưng đối với trang trại cũng phần nào đem lại hiệu quả về kinh tế, góp phần tạo thêm thu nhập cho các chủ trang trại theo định hướng bền vững Sản phẩm trồng trọ hiện nay gồm hai loại là sản phẩm thô và sản phẩm đã qua sơ chế Tại sao cần phải nghiên cứu, phát triển sản phẩm đã qua sơ chế, đống gói đối với các trang trại? Do sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ làm nảy sinh thêm những nhu cầu mới,
sự đòi hỏi và lựa chọn ngày càng khắt khe của khách hàng với các loại sản phẩm khác nhau, khả năng thay thế nhau của các sản phẩm (Bùi Bằng Đoàn 2009)
- Sự biến đổi danh mục sản phẩm của trang trại gắn liền với sự phát triển sản phẩm theo nhiều hướng khác nhau:
+ Hoàn thiện các sản phẩm hiện có;
+ Phát triển sản phẩm mới tương đối;
+ Phát triển sản phẩm mới tuyệt đối, bỏ các sản phẩm không sinh lời
b Về chăn nuôi
- Định hướng chăn nuôi là một trong những yếu tố cấu thành trong định hướng phát triển kinh tế trang trại Xu hướng chăn nuôi ngày nay được đánh giá bởi khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, vì vậy nên sản phẩm trong chăn nuôi đóng góp vai trò phát triển bền vững của trang trại Do vậy, trang trại phải cố gắng để có sản phẩm hàng hóa chăn nuôi cả về mặt số lượng và chất lượng cao Ngày nay yếu tố về chất lượng sản phẩm chăn nuôi trở thành một trong những chiến lược quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của trang trại Do đó nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm chăn nuôi của các trang trại sản xuất ra thì cần phải kiểm soát tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất từ khâu sản xuất, thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch, chế biến (Bùi Bằng Đoàn 2009)
c Áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Để áp dụng được các tiến bộ khoa học, kĩ thuật, công nghệ vào sản xuất rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước, các cơ quan nghiên cứu, các Viện, các Trường, các cơ
Trang 32quan khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư Nhà nước cần có cơ chế thích hợp trong việc thực hiện chuyển giao các tiến bộ khoa học kĩ thuật – công nghệ mới phù hợp cho các trang trại, thúc đẩy nhanh việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo chủ trương của Đảng và Nhà nước
Khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự phát triển của kinh tế trang trại Trong những năm qua nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật đã được áp dụng mạnh mẽ và nhanh chóng vào trong nông nghiệp Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá như là yếu tố đầu vào cho sản xuất của các trang trại đó là các loại vật tư, phân bón, giống cây con các loại, máy móc thiết bị Chính những yếu tố đầu vào có chất lượng tốt đã tạo ra một khả năng to lớn góp phần tăng năng suất, sản lượng và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp
Số lượng trang trại ngày càng tăng lên trong đó có nhiều trang trại đã mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh những loại cây trồng vật nuôi, những loại sản phẩm mới có năng suất và chất lượng cao hơn và do đó làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại một cách rõ rệt
2.1.5.4 Phát triển các hình thức liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
a Liên kết sản xuất của các trang trại
Liên kết sản xuất trong trang trại là sự thiết lập các mối quan hệ giữa các trang trại thuộc cùng lĩnh vực hoạt động, giữa các đối tác cạnh tranh hoặc giữa các trang trại có hoạt động mang tính chất bổ sung, nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất-kinh doanh, tạo ra sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả năng, mở rộng thị trường mới
Liên kết sản xuất giữa các trang trại có thể thông qua nhiều hình thức như: liên kết ngang, liên kết dọc và hiệp hội Nhờ có sự liên kết giữa các trang trại đem lại lợi ích cho các bên tham gia rất lớn như sẽ làm tiết kiệm các nguồn lực nhờ giảm chi phí cạnh tranh, tăng khả năng linh hoạt của mỗi bên, giảm thiểu rủi ro nhờ chia sẻ trách nhiệm của mỗi bên tham gia (Bùi Bằng Đoàn 2009)
Các tiêu chí đánh giá sự liên kết sản xuất cúa các trang trại là:
+ Số lượng trang trại tham gia liên kết sản xuất kinh doanh,
+ Các loại hình liên kết, tổ chức hiệp hôi phát triển qua các năm
b Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá dịch vụ
Trang 33giữa người mua và người bán hay nói ngắn gọn hơn thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu (Lê Đình Thắng ,1993, Mankiw, 2003)
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như người sản xuất
Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Người sản xuất tiêu thụ hàng hóa phải thông qua thị trường, thị trường được coi là một nơi mà ở đó có người bán người mua tự tìm đến nhau để thỏa thuận nhu cầu của cả hai bên
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng phát triển kinh tế trang trại
2.1.6.1 Những yếu tố khách quan
a Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Khi nói đến thị trường chính là nói đến yếu tố tố kinh tế thị trường Yếu tố này có tính chất quyết định đến sự phát triển của kinh tế trang trại Sản xuất và kinh doanh cái gì, sản xuất kinh doanh bằng cách nào và sản phẩm làm ra tiêu thụ ở đâu lại phụ thuộc vào việc sản phẩm của các trang trại làm ra có đáp ứng được nhu cầu thị trường hay không? Rõ ràng kinh tế thị trường tạo ra những thách thức, những đòi hỏi khắt khe, đồng thời cũng tạo ra những cơ hội đối với kinh tế trang trại Thị trường tiêu thụ: chịu sự tác động ảnh hưởng của các yếu tố từ thị trường đầu ra như: giá cả, mức độ cạnh tranh, chất lượng hàng hóa (Viện Kinh tế và phát triển, 2007) Như vậy ảnh hưởng tác động của kinh tế thị trường đối với kinh tế trang trại là rất mạnh mẽ trên tất cả mọi phương diện của thị trường Kinh tế trang trại phát triển như thế nào rõ ràng phụ thuộc rất lớn vào kinh tế thị trường như là một điều kiện khách quan, quá trình nhận thức và vận dụng kinh tế thị trường của các chủ trang trại như là một điều kiện chủ quan
Hiện nay kinh tế trang trại đang là then chốt và chủ đạo trong phát triển nông nghiệp Bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp lại luôn phải gắn liền với đất đai, phụ thuộc rất lớn về khí hậu và thời tiết, bệnh dịch Hơn nữa vùng sản xuất lại luôn dàn trải, không tập trung Các hệ thống phân tán rộng khắp trên toàn lãnh thổ Chính điều này cũng khiến gặp không ít khó khăn trong vấn đề tiêu thụ (Viện Kinh tế và phát triển, 2007)
b Chính sách về đất đai
Đất đai là yếu tố quan trọng và không thể thay thế trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp do vậy các chính sách về đất đai là vô cùng cần thiết nhằm thúc đẩy sự
Trang 34phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế trang trại nói riêng Như ở Việt Nam, có các chính sách như: giao đất giao rừng cho người dân sử dụng, sản xuất kinh doanh; dồn điền đổi thửa (Viện Kinh tế và phát triển, 2007) Do vậy, để hình thành trang trại cần phải có quỹ đất cần thiết để phát triển kinh tế trang trại Để làm được điều này, Nhà nước phải đưa ra được những chính sách về đất đai phù hợp để chủ trang trại yên tâm sản xuất trên những thửa ruộng được giao
Theo điều 82, Luật Đất đai năm 2003: đất sử dụng cho kinh tế trang trại còn được quy định: “Nhà nước khuyến khích hình thức KTTT của hộ gia dình, cá nhân nhằm khai thác có hiệu quả đất đai để phát triển sản cuất, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối gắn với dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ” (Luật đất đai 2003, 2004)
c Chính sách về tín dụng
Hầu hết các trang trại bước đầu gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận chính sách vốn Với nhiều khó khăn như phải vay với lãi suất cao, nguồn vốn nhỏ nên các trang trại đều có nguyện vọng vay vốn từ các ngân hàng với lãi suất
ưu đãi Chính vì vậy, hệ thống ngân hàng và chính sách về tín dụng là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế trang trại Bên canh đó các chính sách khác như: Chính sách thuế, chính sách về áp dụng khoa học công nghệ, về hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển sản xuất nâng cao chất lượng cuộc sống, chính sách
về việc ưu tiên cán bộ làm việc ở vùng sâu, vùng xa,…cũng có những tác động rất lớn tới sự phát triển kinh tế trang trại (Viện Kinh tế và phát triển, 2007)
Chính sách của Nhà nước là yếu tố quan trọng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các loại hình sản xuất nông nghiệp đặc biệt là trong hình thức kinh tế trang trại được khuyến khích phát triển mạnh mẽ Thực tế cho thấy các trang trại ở các nước tiên tiến phát triển mạnh mẽ không chỉ vì trình độ sản xuất kinh doanh của trang trại mà một yếu tố hết sức quan trọng đó là có sự tác động và hỗ trợ mạnh mẽ của các chính sách tích cực từ Nhà nước đặc biệt là các chính sách về đất đai, chính sách về đầu tư, chính sách thuế và các chính sách
hỗ trợ khác, ở nước ta trong những năm gần đây nhờ những chính sách cụ thể của Nhà nước đã góp phần tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng các loại hình kinh tế trang trại Các chủ trang trại đã mạnh dạn đầu tư vào việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại với nhiều loại hình trang trại khác nhau (Viện Kinh tế
và phát triển, 2007)
Trang 35d Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên (khí hậu, thời tiết, dịch bệnh )
Để KTTT có thể phát triển và bền vững, yếu tố quan trọng đầu tiên là phải
có các điều kiện tự nhiên như: Tài nguyên đất, thổ nhưỡng thuận lợi, thời tiết khí hậu phù hợp, nguồn nước đầy đủ để có thể SX được những loại nông sản hàng hoá có giá trị cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường
Đây là một yếu tố có sự tác động vô cùng to lớn đến hoạt động của kinh tế nông nghiệp nói chung cũng như tới kinh tế trang trại nói riêng, vì đối tượng của kinh tế trang trại đều là các sinh vật sống, có thời gian sinh trưởng và phát triển phụ thuộc rất lớn đối với yếu tố tự nhiên Trong những năm vừa qua, sự biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu cùng với ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân và các thảm họa về môi trường như hạn hán, lụt lội sảy ra liên tiếp, môi trường bị tàn phá một cách nghiêm trọng, sự mất cân bằng sinh thái là tất yếu, dẫn đến dịch bệnh, sâu bọ phá hoại mùa màng khủng khiếp, điều này khiến không ít các nhà quản lý cũng như các chủ trang trại ngần ngại khi đầu tư
2.1.6.2 Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới phát triển kinh tế trang trại
a Trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của chủ trang trại
Trong các trang trại, chủ trang trại thường là người ra quyết định phương hướng và vốn đầu tư cho SXKD của trang trại mình Khi năng lực quản lý của chủ trang trại tốt thì sẽ có định hướng phát triển đúng đắn, thích ứng được với nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế đạt được sẽ cao hơn Vì vậy nên năng lực điều hành, lãnh đạo cũng như trình độ của người chủ trang trại là hết sức cần thiết và quan trọng đối với sự sống còn của trang trại Người chủ trang trại phải
là người có khả năng tổ chức và quản lý sản xuất: quy hoạch, bố trí đất đai, sắp xếp và sử dụng các nguồn lực Người chủ trang trại phải là người có ý trí vươn lên, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm, gian khổ và có ham muốn làm giàu Bên cạnh trình độ Người chủ trang trại phải có kiến thức cơ bản về sản xuất nông nghiệp,
tự tìm tòi, học hỏi về kỹ thuật nhất định để làm chủ được công việc của mình Mặt khác, chủ trang trại còn phải có kiến thức và năng lực quản lý kinh doanh, nhạy bén với thị trường (Lương Xuân Quỳ, 1996; Phạm Ngọc Thứ, 2000)
b Nguồn lực lao động của trang trại
Lao động là yếu tố sản xuất đặc biệt, đóng góp vai trò to lớn đối với việc sản xuất kinh doanh, do vậy đối với kinh tế trang trại, việc quan tâm tới lực lượng lao động là cần thiết Để có được sự tác động hiệu quả từ nguồn lực này,
Trang 36cần thiết phải quan tâm tới chất lượng lao động, cần phải có sự đào tạo chuyên môn, có như vậy kinh tế trang trại mới có thể có hiệu quả kinh tế cao Nguồn nhân lực lao động cho trang trại phải luôn được cung ứng đầy đủ, kịp thời và có chất lượng cao, được đào tạo cơ bản về kỹ thuật canh tác, bảo quản sau thu hoạch Để sử dụng hợp lý nguồn lao động thuê mướn và thời vụ trong trang trại cần phải xây dựng cơ cấu hợp lý, phân bố và phân bố lại lao động hợp lý, kết hợp biện pháp thâm canh, khai hoang và tăng vụ, phát triển công nghiệp nông thôn, cải tiến tổ chức lao động (Viện kinh tế và phát triển, 2007)
Bên cạnh đó, Nhà nước cần khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho người lao động trong nông thôn Ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm Chủ tranng trại được thuê lao động không hạn chế số lượng, trả công lao động trên cơ sở thỏa thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động Để kinh tế trang trại phát triển một cách bền vững, ngoài việc giao đất lâu năm cho các hộ yên tâm sản xuất thì Nhà nước cũng như các địa phương cần phải mở các lớp đào tạo ngắn hạn hoặc trung hạn cho các chủ trang trại nhằm nâng cao trình độ kiến thức
c Quy mô diện tích, cơ sở hạ tầng của trang trại
Cơ sở hạ tầng nông thôn, kết cấu hạ tầng cơ sở nông nghiệp là yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển kinh tế trang trại Sự yếu kém của cơ sở hạ tầng
sẽ cản trở sự phát triển của trang trại trên các phương diện như: sự cung ứng các yếu tố đầu vào bị hạn chế, việc mua bán, tiêu thụ sản phẩm khó khăn, hạn chế việc tiếp cận thông tin và thị trường của các trang trại
Một trong những đặc trưng cơ bản của trang trại là có quy mô sản xuất lớn Đây là một ưu thế của kinh tế trang trại bời nếu có quy mô diện tích lớn thì rất thuận lợi cho canh tác trồng trọt, chăn nuôi hoặc xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó cơ sở hạ tầng tốt với sự cung ứng tốt về hạ tầng giao thông, điện lưới,
hệ thống cấp thoát nước sẽ là những điều kiện vô cùng tốt cho việc sản xuất kinh doanh cũng như phân phối của các trang trại (Viện kinh tế và phát triển, 2007)
Đầu tư cho KTTT vốn không cần lớn như sản xuất công nghiệp, đầu tư dần trong suốt quá trình sản xuất hoặc chu kỳ sản phẩm Điều này có thể giãn cách thời gian huy động vốn cũng như đầu tư vốn Hiện nay Đảng và Nhà nước đang huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển cở sở hạ tầng nông thôn
Trang 37thông qua các chương trình dự án phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn như các vốn chương trình dự án: 135; ODA; ADB; WB, đây cũng là một hình thức đầu tư gián tiếp và lâu dài
d Hội nhập kinh tế
Hội nhập kinh tế đang là cơ hội và cũng là thách thức đối với kinh tế trang trại Nhờ có hội nhập kinh tế mở ra cơ hội lớn cho kinh tế trang trại được mở rộng (Viện kinh tế và phát triển, 2007)
+ Nền nông nghiệp nước ta xuất phát từ nền kinh tế tự túc tự cấp chuyển sang nền sản xuất hàng hoá, hướng ra xuất khẩu, quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu
tư thiếu, không có khả năng đầu tư áp dụng các tiến bộ kỹ thuật
+ Công nghiệp chế biến và bảo quản nông lâm sản chưa đáp ứng tốc độ phát triển của sản xuất nông nghiệp; trong khi đó công nghệ, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, sản phẩm đơn điệu, mẫu mã và chất lượng chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế + Hạ tầng thương mại, lưu thông hàng nông sản chậm được phát triển Các hệ thống chợ bán buôn nông sản, kho cảng… còn nhiều bất cập Chi phí bến bãi, kho cảng và cước phí vận chuyển của nước ta thường cao hơn so với các nước trong khu vực Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cạnh tranh của các hàng hoá nông sản của nước ta
+ Thiếu thông tin về thị trường và sự am hiểu về luật pháp, chính sách thương mại của các nước trên thế giới
+ Chưa xây dựng được định hướng cũng như các chính sách thương mại
về hàng rào phi thuế quan đáp ứng hội nhập kinh tế thế giới (WTO)
e Nguồn vốn của trang trại
Để bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh, các trang trại luôn cần phải có vốn Vốn là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, kết cấu hạ tầng và kỹ thuật, Vốn của trang trại có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: vốn tự có, vốn vay ngân hàng, vốn vay của người thân… Vốn
là yếu tố vô cùng quan trọng Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm giá trị sản lượng hàng hóa còn phụ thuôc vào nhiều yếu tó khác nữa, chẳng hạn như chất lượng lao động, trình độ kỹ thuật, Đặc biệt, đối với phát triển kinh tế trang trại, vốn là nhân tố có tính quyết định tới việc hình thành và phát triển KTTT, bởi trang trại cần nhiều vốn để đầu tư cho cơ sở hạ tầng, mua vật tư, con giống, (Viện kinh tế và phát triển, 2007)
Trang 38f Khả năng áp dụng khoa học công nghệ
Khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế trang trại Đây là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng đối với một nền kinh tế sản xuất hàng hóa với quy mô lớn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Bởi
vì, chỉ có ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào sản xuất thì mới giảm được giá thành để cạnh tranh với hàng hóa của các nước trên thế giới (Viện kinh tế và phát triển, 2007)
g Công nghiệp chế biến sản phẩm
Đây là một vấn đề rất lớn có tác động đến phát triển KTTT, sản phẩm sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, thu hoạch ồ ạt trong thời gian ngắn nên số lượng rất lớn, dẫn đến việc đầu tư vào công nghệ chế biến rất tốn kém và hiệu quả lại không cao, vì đặc thù công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp mang tính đơn nhất, tức là một dây truyền thì chỉ chế biến một vài loại sản phẩm của nông nghiệp Chính điều này gây không ít khó khăn cho nhà đầu tư, vì với một lượng vốn đầu tư rất lớn, nhưng chỉ sản xuất được trong một thời gian rất ngắn trong năm (Viện kinh tế và phát triển, 2007)
2.1.7 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh tế trong sản xuất trang trại
Theo tác giả Trần Lê Thị Bích Hồng, 2007 có đề cập đến kết quả sản xuất trong trang trại và hiệu quả sản xuất kinh tế, xã hội môi trường của trang trại cụ thể: Năng suất, sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi, các loại sản phẩm ngành nghề dịch vụ trong trang trại ngày càng tăng lên Giá trị sản lượng, giá trị sản lượng hàng hóa, doanh thu, thu nhập của trang trại là những chỉ tiêu kết quả nói lên sự phát triển của kinh tế trang trại Phát triển kinh tế trang trại là quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại như lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, mức tích lũy hàng năm của trang trại, mức sống và thu nhập của các thành viên trong trang trại, tạo ra ngày càng nhiều việc làm xã hội
Nâng cao hiệu quả kinh tế: Bộ mặt đời sống vật chất của nhân dân nông thôn hiện nay ngày càng được nâng cao, giá trị sản xuất từ trang trại mang lại đóng góp một phần không nhỏ vào cơ cáu GDP của ngành nông nghiệp Đặc biệt đóng góp lớn vào công cuổi đổi mới đất nước góp phần thực hiện mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới
Nâng cao hiệu quả xã hội: Kinh tế trang trại phát triển tạo công ăn việc làm và thu nhập thường xuyên cho nhiều lao động trên địa bàn huyện, thông qua
Trang 39đó góp phần giúp đỡ những hộ nghèo trong huyện có lao độngtìm được công ăn việc làm ổn định Đồng thời khai thác có hiệu quả các quỹ đất để phát triển sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hóa cho xã hội
Nâng cao hiệu quả môi trường: Việc khai thác tự nhiên có ý thức, đất đai được cải tạo tốt lên, chăm sóc tốt hơn, môi trường nước, không khí ít bị ô nhiễm, khí hậu vì thế mà trong lành hơn
Giải quyết bất hòa lợi ích: Thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước, đảm bảo lợi ích chủ trang trại, người lao động, của cộng đồng, chú trọng đến bảo vệ môi trường và những vấn đề kinh tế xã hội khác trong nông thôn
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại tại một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại tại một số nước Châu Âu
Trang trại có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá của các nước Kinh tế trang trại gắn liền quá trình công nghiệp hoá của các nước từ thấp đến cao, chính công nghiệp hoá đặt ra yêu cầu khách quan để phát triển trang trại, cơ chế thị trường tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển Vào cuối thế kỷ XVII, cuộc cách mạng tư sản đã phá bỏ triệt để các bãi chăn thả gia súc công và các cơ chế có lợi cho nông dân nghèo nên thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất và làm phá sản các nông trại nhỏ Sau chiến tranh thế giới thứ 2, khi diện tích bình quân một nông trại tăng lên 36 ha nhưng các nông trại nhỏ có diện tích dưới 5 ha vẫn chiếm đa số (Trần Đức, 1995)
Hiện nay ở Mỹ có khoảng 2,2 triệu trang trại, trong đó có 1,54 triệu trang trại gia đình chiếm 87% Lực lượng này đã sản xuất hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của thế giới, xuất khẩu 40 - 50 triệu tấn lúa mỳ, 50 triệu tấn ngô, đậu tương, Diện tích đất đai bình quân ở Mỹ hiện nay là 10ha/trang trại Lao động làm thuê trong các trang trại ở Mỹ rất ít Loại trang trại nhỏ thu nhập dưới 100.000 USD/năm không thuê lao động Các trang trại có thu nhập từ 100.000 -500.000 USD/năm cũng chỉ thuê 1 - 2,5 lao động Các trang trại gia đình ở Mỹ nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên sản lượng nông sản làm
ra của một lao động nông nghiệp năm 1990 đủ nuôi 80 người (Trần Đức, 1995)
Ở Pháp khối lượng nông sản hàng năm gấp 2,2 lần nhu cầu nội địa đã được cung cấp bởi 980.000 trang trại ở Pháp hiện nay Tỷ suất hàng hoá và hạt ngũ cốc là 95%, thịt sữa 70 - 80% Quy mô diện tích bình quân của trang trại ở
Trang 40Pháp là 29,2 ha, 42% thu nhập của trang trại là từ ngoài nông nghiệp Năm 1990
có 70% trang trại gia đình có ruộng đất, 30% trang trại phải lĩnh canh một phần hay toàn bộ (Đào Thế Tuấn, 1997)
Nhìn chung đối với các nước Châu âu việc phát triển kinh tế trang trại có những bước tiến đáng kể và được hình thành từ rất sớm qua đó đem lại những bài học cho việc phát triển kinh tế trang trại tại các nước đang phát triển
+ Kinh tế trang trại có nhiều loại hình khác nhau, nhưng phổ biến nhất là trang trại gia đình vì nó phát huy thế mạnh vốn có của hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp
+ Thực tế phát triển trang trại tại nhiều quốc gia trên thế giới lại cho phép
đi đến kết luận: chính các trang trại gia đình quy mô nhỏ mới thực sự là chìa khóa để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, lâu dài
+ Trong các giai đoạn ban đầu kinh tế trang trại phát triển theo hướng kinh doanh tổng hợp bằng cách đa dạng hoá sản phẩm, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường sẽ từng bước đi vào chuyên môn hoá
+ Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai ở các nước châu Á như Nhật bản, Hàn quốc, Đài loan diện tích các trang trại nhỏ nhưng hiệu quả sản xuất lại rất lớn
2.2.1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại tại một số nước Châu Á
Tại các nước Châu á kinh tế trang trại chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, dân số nên có những đặc điểm khác với trang trại ở các nước Châu Âu về quy mô và số lượng trang trại
Ở Nhật Bản, trang trại có vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp, bảo đảm lương thực, thực phẩm cho xã hội Nhật Bản có xu hướng mở rộng quy mô trang trại lên từ 10-20 ha, nhưng vẫn chưa thực hiện được Năm 1970 Nhật Bản
có 5.342 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 1,1 ha/trang trại, đến 1993 còn 3.691 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 1.38 ha/trang trại (Nguyễn Điền và Trần Đức, 1993)
Ở Đài Loan năm 1970 có 916.000 trang trại với diện tích bình quân là 0,38 ha/trang trại, đến năm 1998 còn 739 nghìn trang trại với diện tích bình quân
là 1,21 ha/ trang trại Ở Hàn Quốc năm 1965 có 2.507.000 trang trại có diện tích bình quân là 0,90 ha/trang trại, đến năm 1979 còn 1.772.000 trang trại có diện