Hồ Ngọc Ninh Người thực hiện: Nguyễn Văn Hải Ngành đào tạo: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60 62 01 15 Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam Mục tiêu nghiên cứu chung: Trên cơ sở
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN HẢI
PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN THỊT THEO MÔ HÌNH LIÊN KẾT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS Ho* Ngọc Ninh
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hải
Trang 3Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS Hồ Ngọc Ninh, giảng viên Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các hộ chăn nuôi, hợp tác xã Dịch vụ
và chăn nuôi Cổ Đông, công ty Cổ phần tập đoàn Dabaco, công ty cổ phần CP Việt Nam và cán bộ, nhân dân thị xã Sơn Tây, cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Kinh tế, phòng lao động thương binh và xã hội, phòng Thống kê thị xã Sơn Tây Thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hải
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hộp ix
Danh mục đồ thị ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Đóng góp mới của luận văn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chăn lợn thịt theo mô hình liên kết 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến nghiên cứu 5
2.1.2 Lý luận về phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết 7
2.1.3 Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết 12
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết 14
2.2 Cơ sở thực tiễn 17
2.2.1 Chính sách phát triển chăn nuôi lợn thịt củaViệt Nam 17
2.2.2 Một số chính sách phát triển chăn lợn thịt của thành phố Hà Nội 19
2.2.3 Kinh nghiệm phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết của một số địa phương ở Việt Nam 20
Trang 52.2.4 Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết ở thành phố
Hà Nội 24
2.2.5 Bài học kinh nghiệm cho sự phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết ở Sơn Tây 25
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 27
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29
3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 32
3.2 Phương pháp nghiên cứu 33
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 33
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 34
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 34
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 37
4.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết ở thị xã Sơn Tây 37
4.1.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt ở thị xã Sơn Tây 37
4.1.2 Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết ở thị xã Sơn Tây 38
4.1.3 Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết của các hộ điều tra ở thị xã Sơn Tây 43
4.1.4 Kết quả và hiệu quả khi tham gia mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn thịt của các hộ điều tra 58
4.1.5 Đánh giá về lợi ích của các hộ chăn nuôi lơn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây 62
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây 65
Trang 64.2.1 Vốn và cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi lợn thịt của các hộ 65
4.2.2 Chất lượng nguồn lao động và trình độ quản lí của chủ hộ chăn nuôi 68
4.2.3 Quỹ đất và khả năng mở rộng đất 69
4.2.4 Chính sách của nhà nước và chính quyền địa phương 70
4.2.5 Sự chia sẽ lợi ích và rủi ro trong tham gia liên kết giữa công ty và các hộ/trang trại chăn nuôi lợn thịt 72
4.2.6 Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn trong phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây 73
4.3 Giải pháp thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kếtở thị xã Sơn Tây 76
4.3.1 Phương hướng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trong giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2030 76
4.3.2 Các giải pháp đẩy mạnh phát triển chăn nuôilợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây 76
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 80
5.1 Kết luận 80
5.2 Kiến nghị 81
Tài liệu tham khảo 83
Phục lục 84
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CN-TTCN-XDCB Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng cơ bản
dinh dưỡng
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Biến động về số trang trại chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn TP Hà Nội 25
Bảng 3.1 Sự biến động số lượng đất đai qua các năm của thị xã Sơn Tây 29
Bảng 3.2 Sự biến động về tình hình dân số và lao động của thị xã Sơn Tây 30
Bảng 3.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của thị xã Sơn Tây 31
Bảng 4.1 Số lợn thịtcủa Sơn Tây qua các năm 37
Bảng 4.2 Số hộ chăn nuôi lợn thịt qua các năm 37
Bảng 4.3 Số trại chăn nuôi lợn thịt qua các năm 38
Bảng 4.4 Nội dung liên kết của các mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn thịt ở thị xã Sơn Tây 39
Bảng 4.5 Một số thông tin về điều kiện khi tham gia liên kết chăn nuôi lợn thịt của ba công ty 40
Bảng 4.6 Biến động về số hộ tham gia các mô hình liên kết qua các năm 42
Bảng 4.7 Một số thông tin chung về các hộ điều tra 43
Bảng 4.8 Tình hình sử dụng đất đai của các hộ điều tra năm 2015 45
Bảng 4.9 Tình hình vốn đầu tư phát triển chăn nuôi lợn thịt của các hộ có quy mô lớn thuộc 3 xã điều tra 47
Bảng 4.10 Tình hình vốn đầu tư phát triển chăn nuôi lợn thịt của các hộ có quy mô vừa 47
Bảng 4.11 Tình hình vốn đầu tư phát triển chăn nuôi lợn thịt của các hộ có quy mô chăn nuôi nhỏ 48
Bảng 4.12 Số lượng máy móc, thiết bị phục vụ chăn nuôi lợn thịt của các hộ điều tra 48
Bảng 4.13 Số lần khử trùng và thời gian để trống chuồng trại sau mỗi lứa nuôi 49
Bảng 4.14 Nguồn thông tin tham khảo về giá bán thịt lợn các hộ điều tra 52
Bảng 4.15 Thông tin về việc ra quyết định tiêu thụ lợn thịt của các hộ điều tra 52
Bảng 4.16 Thông tin về việc định hướng tham gia liên kết trong chăn nuôi lợn thịt của các hộ chưa liên kết 55
Bảng 4.17 Kỳ vọng của hộ khi được tham gia liên kết để chăn nuôi lợn thịt 55
Bảng 4.18 Những nguyên nhân dẫn đến hộ không muốn tham gia liên kết 55
Trang 9Bảng 4.19 Kết quả chăn nuôi thịttheo các mô hình liên kết của các hộ 58 Bảng 4.20 Hiệu quả kinh tế chăn nuôi thịt theo các mô hình liên kết của các hộ
điều tra năm 2015 59 Bảng 4.21 Lựa chọn công ty để liên kết của một số hộ điều tra 61 Bảng 4.22 Đánh giá của người chăn nuôi về các lợi ích của các mô hình liên kết
trong chăn nuôi lợn thịt ở thị xã Sơn Tây 63 Bảng 4.23 Nguồn vốn vay lưu động để chăn nuôi lợn thịt của các hộ 66 Bảng 4.24 Một số thông tin của hộ khi tiếp cận vay vốn tín dụng 67 Bảng 4.25 Tình hình tham gia tập huấn, đào tạo về kỹ thuật chăn nuôi lợn của
các chủ hộ điều tra 68
Trang 10DANH MỤC HỘP
Hộp 4.1 Ý kiến của hộ về chi phí khi tham gia liên kết với công ty 41
Hộp 4.2 Ý kiến của người chăn nuôi về những bất cập của các mô hình liên kết 54
Hộp 4.3 Ý kiến của hộ về cách tính khoản tiền chi trả cho hộ chăn nuôicủa
phía công ty liên kết 60
Hộp 4.4 Ý kiến của hộ về hiệu quả chăn nuôi lợn 61
Hộp 4.5 Ý kiến của công ty về những lợi ích khi chăn nuôi lợn thịt theo mô
hình liên kết 65
Hộp 4.6 Ý kiến của hộ về nguyên nhân tiếp cận vốn khó của các hộ không
tham gia liên kết 67
Hộp 4.7 Ý kiến cán bộ kỹ thuật công ty về tầm quan trọng đối với trình độ kỹ
thuật của chủ hộ chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết 69
Hộp 4.8 Ý kiến của các hộ chăn nuôi về ảnh hưởng của đất đai đến sự phát
triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết 70
Hộp 4.9 Ý kiến của hộ về những bất cập của chính sách đất đai hiện nay 71 Hộp 4.10 Ý kiến của hộ về những bất cập của chính sách vốn tín dụng 72
Hộp 4.11 Ý kiến của Chủ nhiệm HTX Dịch vụ Chăn nuôi Cổ Đông về tình
trạng phá vỡ hợp đồng liên kết 73
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1 Số hộ/trang trại tham gia liên kết với công ty năm 2015 53
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài: Phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn thị xã
Sơn Tây, thành phố Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS Hồ Ngọc Ninh
Người thực hiện: Nguyễn Văn Hải
Ngành đào tạo: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60 62 01 15
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu chung: Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo các mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội từ đó
đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi lợn thịt theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả trong thời gian tới
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu gồm: Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp; phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu; phương pháp phân tích (thống kê mô tả, so sánh, hạch toán chi phí và kết quả sản xuất)
Qua quá trình khảo sát, phân tích và đánh giá về phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây, một số kết quả và kết luận chính của luận văn như sau:
Chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn đã có những bước khởi sắc, quy mô chăn nuôi có xu hướng tăng lên đáng kể qua các năm Nếu như năm 2011cả thị
xã Sơn Tây chỉ có 48 trang trại chăn nuôi lợn theo kiểu công nghiệp và năm ngoài khu dân cư, nhưng đến năm 2015 đã tăng lên 88 hộ Bên cạnh đó số hộ chăn nuôi lợn thịt theo kiểu truyền thống nhỏ lẻ trong khu dân cư có xu hướng ngày càng giảm xuống nhưng tổng số đàn lợn thịt của Sơn Tây qua các năm có xu hướng tăng lên Song song với
sự tăng lên về số lượng thì năng suất và sản lượng thịt lợn trên địa bàn ngày càng được nâng cao Chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết đã và đang trở thành nguồn thu chính của các hộ gia đình trên địa bàn Quy mô chăn nuôi càng lớn thì kết quả thu được càng lớn và hiệu quả sử dụng các nguồn lực đất đai, lao động càng được sử dụng đầy đủ hiệu quả càng cao hơn Đối với mỗi hộ chăn nuôi theo kiểu liên kết dọc có quy mô 500 con/lứa, bình quân mỗi năm nuôi được 2,2 lứa có thu nhập trên 300 triệu/năm, những hộ
có quy mô trên 1.000 con có thu nhập bình quân trên 700 triệu Đối với những hộ chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết ngang được điều tra trong năm 2015 do được giá nên thu nhập của những hộ chăn nuôi có quy mô trên 500 con/lứa lên đến hàng tỷ đồng Đây
là một trong rất ít lĩnh vực chăn nuôi của nước ta bước đầu xây dựng mối liên kết, ký hợp đồng với các doanh nghiệp, công ty chế biến, hệ thống thu gom được tổ chức khá đầy đủ
Trang 12Hiện nay, trên địa bàn thị xã Sơn Tây có một số mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn thịt như liên kết giữa hộ/trang trại chăn nuôi với công ty Dabaco, công ty CP, công
ty RTD Trong các mô hình liên kết này thì Dabaco hiện nay đang được người chăn nuôi đón nhận nhiều hơn với một số những ưu thế trong việc xử lý linh hoạt các điều khoản ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế Vì vậy, phát triển chăn nuôi lợn thịt theo
mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây đang có xu hướng phát triển và nhân rộng trong thời gian qua nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và nâng cao hiệu quả, giá trị gia tăng trong ngành chăn nuôi lợn
Ngoài ra, phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh trong nông nghiệp và nông thôn của các xã ven của thị xã, tạo điều kiện cho nhiều hộ vươn lên thành các hộ khá, giàu Góp phần thúc đẩy các ngành như kinh doanh buôn bán dịch vụ đầu vào và đầu ra cho lợn thịt hình thành
và phát triển, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động trên địa bàn Đồng thời góp phần bảo vệ, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, môi trường không khí, môi trường nước Bên cạnh mặt đã đạt được, chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún do vậy cơ sở vật chất chưa được đầu tư quy mô, bài bản nên trong quá trình chăn nuôi xảy ra một số bệnh trên đàn lợn gây ảnh hưởng tới chất lượng, sản lượng thịt lợn Đất đai, vốn, khoa học kỹ thuật, năng lực chủ trang trại, thị trường và yếu tố chính sách của Đảng và nhà nước là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn
Để thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp như thực hiện quy hoạch vùng chăn nuôi lợn tập trung;tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho các hộ chăn nuôi; tăng cường đào tạo, tập huấn và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người chăn nuôi và hoàn thiện cơ chế liên kết trong chăn nuôi lợn thịt giữa các hộ và công ty/doanh nghiệp liên kết
Trang 13THESIS ABSTRACT
Name of thesis: Development ofhog production applyinglinkage model in Son
Tay town, Hanoi city
Name of supervisor: Dr Ho Ngoc Ninh
Name of author: Nguyen Van Hai
Specialization: Agricultural Economics Code: 60 62 01 15
Training Organization: Vietnam National University of Agriculture
General objective: Regarding situation evaluation of development of hog production applying linkage model in Son Tay town, Hanoi city, proposing measures to enlarge hog production industry through value added and effectiveness in the future This thesis employs research methods included: Primary and secondary data collection; synthetizingand processing data method; data analysis (descriptive analysis, cost accumulation, production outcome)
According to surveying, analyzing and evaluating development of hog production applying linkage model in Son Tay town, some results and conclusion of the thesis are synthetized:
Hog production applying linkage model in surveyed area was getting better, scale
of hog breeding tended to grow yearly In 2011, in Son Tay town, there was 48 industrialized hog breeding farms and outside of residential district, but in 2015, there was 88 sorts of hog farms Besides, the number of traditional hog breeding households decreased significantly but total herds of hog tended to rise steadily year-by-year Along with growth of hog quantity, productivity and production of more and more increased Hog production applying linkage model was becoming main source of surveyed household income The larger scale of hogproduction, the higher outcome and uses of land, labor sources were better utilized Vertical integrationhog farming households had scale of hog production about 500 hogs at one farrow, raising average 2,2 farrows per year hog farming households received about 300 million VND/year, households having hog production scale over 1000 hogs got about 700 million VND per year Because of high price of pork, surveyed horizontal integrationhog farming households having scale
of hog production about 500 hogs at one farrow received income up to billions VND There is one of the first linkage model of hog production in Vietnam which well cooperates and signs contracts between hog breeding households and enterprises, manufacture companies and trading system
Trang 14Recently, in Son Tay town, there are linkage models of hog production like linkage between breeding farms and companies as Dabaco, CP, RTD In this sort of linkage, Dabaco company are now preferable by surveyed hog breeding farmers because of advantages in flexible solving terms of contract and implementing economic contract Therefore, development ofhog production applying linkage model in Son Tay town has an upward trend in order to provide high quality products satisfying customer demand and enhancing effectiveness, value added in hog production industry
Moreover, development ofhog production applying linkage model partly contribute to process of transferring economic structure in Agriculture and Rural area of suburban communes in Son Tay town, create good conditions for income growth; contribute to encourage performances of input or output trading activities established and developed; contribute to reduce unemployment rate in surveyed area; contribute to reserve natural resources, air and water environment
Besides, hog production applying linkage model is still small and scatter, thus infrastructure is not fully invested so that some hog diseases occur affecting on quality and productivity of pork Land, capital, technology, ability of hog farm owner, market and regulatory factors of Social Party and government are the biggest factors influencing to development ability of hog production applying linkage model in surveyed area
To motivate development ofhog production applying linkage model in Son Tay town in the future, some measures need to be implemented such as gathering hog farming area; enhancing ability to approach capital; enhancing training, education and technology transferring to hog breeding households and accomplish linkage mechanism
in hog production between households and linkage companies
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi là một trong những ngành sản xuất có lịch sử phát triển lâu đời nhất của xã hội loài người Các sản phẩm của chăn nuôi có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của con người, cung cấp phần lớn năng lượng cho hoạt động sống của chúng ta
Hầu hết các nước phát triển trên thế giới đều trải qua giai đoạn phát triển nông nghiệp và từ tích lũy của nông nghiệp mới tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất Việt Nam là nước đang phát triển, do vậy việc phát triển nông nghiệp nói chung trong đó có ngành chăn nuôi là việc bắt buộc phải thực hiện để tích lũy và phát triển kinh tế, rồi từ đó tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, nền nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng đã đạt được những thành tựu nhất định: Sản lượng lương thực, thực phẩm tăng nhanh, ngoài đảm bảo an ninh lương thực trong nước
mà còn xuất khẩu Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch đáng kể, tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp ngày một tăng từ 20% năm 2000 tăng lên 25% năm 2013 (Niên giám thống kê, 2000; 2013) Hình thức chăn nuôi công nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao xuất hiện và ngày càng phát triển Những năm qua ngành chăn nuôi, đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn thịt đã có những tiến bộ vượt bậc nhờ áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ như: công nghệ lai tạo, chọn lọc giống, chế biến, bảo quản thức ăn, các kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến, kỹ thuật bảo quản và chế biến sản phẩm từ thịt lợn đã được áp dụng, chính vì đó số lượng lợn thịt và sản lượng thịt lợn hơi của nước ta không ngừng được nâng cao Bên cạnh những thành tựu đạt được cũng còn nhiều hạn chế trong chăn nuôi của nước ta như: Tỷ lệ chăn nuôi nông hộ với quy mô nhỏ còn chiếm tỷ trọng cao; chăn nuôi phân tán, mang tính tự phát và không theo quy hoạch; ô nhiễm môi trường tại khu chăn nuôi ngày càng trầm trọng hơn; giá thành phẩm cao; chất lượng thực phẩm chưa cao đặc biệt còn có nhiều hộ chăn nuôi do thiếu hiểu biết và chạy theo lợi ích trước mắt nên đã
sử dụng chất kích thích tăng trưởng, chất cấm trong quá trình chăn nuôi; công tác kiểm soát dịch bệnh kém hiệu quả, giá sản phẩm đầu ra phụ thuộc nhiều vào thương lái; phần lớn các chủ hộ chăn nuôi lợn thịt chưa có kinh nghiệm trong việc thương thảo, ký kết hợp đồng; thông tin về tiến bộ kỹ thuật cũng như giá cả biến động trên thị trường chưa đến với người chăn nuôi kịp thời;…
Trang 16Sơn Tây là thị xã nhỏ cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 40 km
về phía Tây nên có vị trí thuận tiện cho phát triển chăn nuôi lợn thịt và cung cấp cho khu vực nội thành cũng như những địa phương lân cận Theo số liệu thống kê của thị xã Sơn Tây năm 2014: tổng đàn lợn 129.871 con, trong đó lợn thịt 118.057 con; tổng số hộ chăn nuôi 5.811 hộ; có 03 vùng chăn nuôi tập trung tại 03 xã Cổ Đông, Kim Sơn và Sơn Đông với tổng đàn 70.278 con (trong đó 21.549 lợn nái, 48.729 lợn thịt và 70 lợn đực) Sơn Tây có 84 trại chăn nuôi ngoài khu dân cư, trong đó 2 trại nái, 38 trại lợn thịt và 44 trại nuôi tổng hợp (trại nái từ 10 nái trở lên và lợn thịt từ 100 con trở lên) Chăn nuôi lợn thịt ở Sơn Tây giai đoạn gần đây chủ yếu ở nông trại, gia trại và trang trại nhưng sự liên kết các khâu trong toàn bộ quy trình chăn nuôi còn rất nhiều bất cập và hạn chế như giá vật tư đầu vào cao; giống chưa kiểm soát được chất lượng và nguồn gốc giống; công tác vệ sinh, phòng chống dịch bệnh chưa được đầu tư đúng mức; chưa có nhiều thông tin về thị trường trong cũng như ngoài nước; giá cả sản phẩm đầu ra bếp bênh, phụ thuộc nhiều vào thương lái nên hiệu quả chăn nuôi chưa cao
Cũng theo số liệu thống kê của thị xã Sơn Tây năm 2015, hiện nay Sơn Tây có một số cơ sở chăn nuôi đã và đang chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết tại 03 vùng chăn nuôi tập trung thuộc 03 xã Cổ Đông, Kim Sơn và Sơn Đông, trong đó nổi lên là hợp tác xã chăn nuôi Cổ Đông Tuy đã có một số hộ chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết nhưng trong thực tế quá trình triển khai nhân rộng còn gặp khó khăn, bất cập như chưa có quỹ đất để xây dựng chuồng trại, thiếu vốn để đầu tư sản xuất chăn nuôi và xây dựng chuồng trại, mức lợi nhuận của những hộ chăn nuôi khi tham gia liên kết còn ở mức khiêm tốn, tính tuỳ tiện trong sản xuất chăn nuôi của các chủ hộ, … nên số cơ sở chăn nuôi lợn thịt theo
mô hình liên kết vẫn ở mức khá khiêm tốn (40/5.812 hộ).Xuất phát từ những lý do
trên chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên
địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo các mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi lợn thịt theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả trong thời gian tới
Trang 17- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển chăn nuôi lợn thịt theo
mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây
- Đề xuất định hướng và các giải pháp đẩy mạnh phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết góp phần nâng cao hiệu quả và giá trị của ngành chăn nuôi trên địa bàn thị xã Sơn Tây
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng ngành chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn thị xã Sơn Tây đang diễn ra như thế nào?
- Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây? Có gì khác biệt giữa chăn nuôi lợn thịt truyền thống với chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết? Các lợi ích mang lại cho các bên tham gia chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết là gì?
- Hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) mang lại cho người chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết ở thị xã Sơn Tây đang đạt ở mức nào?
- Đâu là những yếu tố có ảnh hướng đến phát triển chăn nuôi lợn thịt theo
mô hình liên kết ở địa phương?
- Các giải pháp nào cần đưa ra để thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết tại thị xã Sơn Tây trong thời gian tới?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội Đối tượng khảo sát phục vụ nghiên cứu là các tác nhân tham gia trong chăn nuôi lợn thịt theo các mô hình liên kết tại thị xã Sơn Tây gồm: hộ chăn nuôi, các công ty (công ty cung cấp đầu vào, các công ty chế biến và tiêu thụ sản phẩm từ thịt lợn), các hợp tác xã và chính quyền địa phương
Trang 181.4.2 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi nội dung
- Đánh giá thực trạng về phát triển chăn nuôi lợn thịt nói chung và chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây, từ đó đề xuất giải pháp về phát triển chăn nuôi lợn thịt góp phần nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả của ngành chăn nuôi ở thị xã Sơn Tây
- Tuy nhiên, nghiên cứu dự kiến sẽ tập trung các nội dung phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết ở đối tượng là người chăn nuôi
b Phạm vi không gian
Nghiên cứu được thực thực hiện trên địa bàn thị xã Sơn Tây của thành phố
Hà Nội
c Phạm vi thời gian
Số liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu được thu thập trong 5 năm trở lại đây
để đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết của thị
xã Sơn Tây giai đoạn 2011-2015 Ngoài ra số liệu sơ cấp được điều tra năm 2015 các đối tượng liên quan nhằm phục vụ nghiên cứu
Thới gian thực hiện nghiên cứu từ: 7/2015 - 5/2016
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận về phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết, kinh nghiệm phát triển chăn nuôi lợn thịt theo các
mô hình liên kết ở một số địa phương trong nước và quốc tế để làm bài học cho thị xã Sơn Tây
Luận văn đã đánh giá được thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo các mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội trong thời gian qua; và đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn thị xã Sơn Tây như cơ chế chính sách, các yếu
tố thuộc về các hộ chăn nuôi và các yếu tố thuộc về các công ty/doanh nghiệp liên kết để làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển trong thời gian tới
Luận văn đã đề xuất định hướng và các giải pháp đẩy mạnh phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết góp phần nâng cao hiệu quả và giá trị của ngành chăn nuôi trên địa bàn thị xã Sơn Tây trong thời gian tới Nhìn chung các giải pháp này có cơ sở thực tiễn và là nguồn thông tin quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách ở thị xã Sơn Tây trong việc thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi lợn thịt thời gian tới
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
CHĂN LỢN THỊT THEO MÔ HÌNH LIÊN KẾT
và tinh thần của con người bằng mở rộng sản xuất Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội,tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ (Đặng Trung Thuận và Trương Quang Hải, 1999)
Cũng theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát
triển: Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng
thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người
hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia
tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào phát triển kinh tế – xã hội Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái
niệm phát triển kinh tế đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn
diện nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội… Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự phát triển của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phức tạp, nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như: môi trường sống,
Trang 20thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Từ đó đòi hỏi sự phát triển của mỗi quốc gia, lãnh thổ và cả thế giới phải được nâng lên tầm cao mới cả về chiều rộng
và chiều sâu của sự hợp tác, phát triển (Trần Anh Phương 2008)
b Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai Phát triển bền vững đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia Mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hoá…riêng của mình để hoạch định chiến lược phù hợp nhất Ngày nay khái niệm bền vững phải nhằm hướng tới: bền vững về kinh tế, bền vững về chính trị, xã hội và bền vững về môi trường Nó phản ánh xu thế của thời đại và định hướng tương lai của loài người Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về sự phát triển bền vững, trong đó định nghĩa được nhắc đến nhiều nhất là định nghĩa của Uỷ ban Thế giới (WCED - World Commission on the Environment and Development, 1987) về Môi trường & Phát triển đưa ra năm
1987: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai” (Nguyễn Văn
Song và Vũ Thị Phương Thụy, 2006)
- Khái niệm của Herman Daly, 1973 (World Bank):
Một thế giới bền vững là một thế giới không sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo như nước, thổ nhưỡng, sinh vật nhanh hơn sự tái tạo của chúng Một xã hội bền vững cũng không sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo như nhiên liệu hoá thạch, khoáng sản…nhanh hơn quá trình tìm ra loại thay thế chúng và không thải ra môi trường các chất độc hại nhanh hơn quá trình trái đất hấp thụ và vô hiệu hoá chúng” (Nguyễn Văn Song và Vũ Thị Phương Thụy, 2006)
- Khái niệm của Bruntland:
“Phát triển bền vững là một loại phát triển lành mạnh vừa dáp ứng nhu cầu hiện tại đồng thời không xâm phạm đến lợi ích của thế hệ tương lai” (Nguyễn Văn Song và Vũ Thị Phương Thụy, 2006)
- Khái niệm của Pearce và Turner:
“Sự phát triển bền vững được xem như là sự tối đa hoá lợi ích của việc phát triển kinh tế trên cơ sở rang buộc việc duy trì chất lượng của nguồn lực tự nhiên theo thời gian và tuân thủ các quy luật trong sử dụng từng loại tài nguyên tái tạo hoặc không tái tạo” (Nguyễn Văn Song và Vũ Thị Phương Thụy, 2006)
Trang 21- Luật bảo vệ môi trường Việt Nam, sửa đổi năm 2005:
“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kếp hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tiến
bộ xã hội và bảo vệ môi trường” (Nguyễn Thị Phương Loan, 2008)
Như vậy, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển về 3 mục tiêu: Kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Vì vậy
để đạt được sự phát triển bền vững cho đất nước nói chung và thế giới nói riêng đòi hỏi các nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường
c Phát triển chăn nuôi lợn
Phát triển chăn nuôi lợn là việc phát triển đàn lợn trên cả hai phương diện là
số lượng (tổng đàn và quy mô) và chất lượng đàn lợn (chất lượng giống, chất lượng thịt, thời gian nuôi, khả năng chống chịu bênh tật, tỉ lệ tiêu tốn thức ăn/1kg tăng trọng, tỉ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, số con đẻ lúc sơ sinh, số con cai sữa/ổ, tổng khối lượng xuất bán/ổ, thời gian cai sữa, )
Như vậy có thể nói việc phát triển chăn nuôi lợn nói chung không phải chỉ
là tăng về số lượng tổng đàn hay quy mô đàn mà còn phải chú ý đến các chỉ tiêu
về chất lượng Do vậy để phát triển chăn nuôi lợn thì chúng ta phải chú ý và quan tâm đến rất nhiều khía cạnh, đó là công nghệ áp dụng cho chăn nuôi, cải tiến chất lượng giống, chất lượng thức ăn chăn nuôi, … từ đó có được sản phẩm đầu ra là thịt lợn với chất lượng cao hơn và có lợi thế cạnh tranh
2.1.2 Lý luận về phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
2.1.2.1 Khái niệm phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
a Khái niệm mô hình
Mô hình là công cụ giúp ta thể hiện một sự vật, hiện tượng, quá trình… nào đó, phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu, sản xuất và các sinh hoạt tinh thần của con người (Ngô Thế Bính, 2011)
b Khái niệm mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn thịt
Mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn thịt của các hộ và trạng trại với các doanh nghiệp được thực hiện trong điều kiện các doanh nghiệp cung ứng con giống, thức ăn, hỗ trợ kỹ thuật, thuốc thú y và bao tiêu toàn bộ sản phẩm; người chăn nuôi xây dựng chuồng trại, hệ thống xử lý chất thải theo yêu cầu kỹ thuật
Trang 22của doanh nghiệp, tổ chức sản xuất và nhận tiền công theo hợp đồng ký kết Các doanh nghiệp điển hình triển khai mô hình này là: Công ty C.P Việt Nam, Công
ty CP Tập đoàn DABACO, Công ty TNHH Thái Dương, Công ty Emivest, Tổng công ty Khoáng sản Thương mại Hà Tĩnh
Hiện tại, có hai hình thức liên kết đặc trưng trong chăn nuôi hiện nay, đó
là liên kết theo đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng (gọi là liên kết dọc) và liên kết các đối tượng cùng tham gia trong quá trình sản xuất kinh doanh (gọi là liên kết ngang)
- Đối với mô hình liên kết dọc: doanh nghiệp đóng vai trò nhà đầu tư,
người tổ chức sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đảm bảo thị trường tiêu thụ Còn người chăn nuôi nhận khoán theo định mức chi phí và được hỗ trợ một phần chi phí xây dựng cơ bản ban đầu, chi phí lao động và sản xuất trên đất đai của họ
- Đối với mô hình liên kết ngang: người sản xuất và đơn vị kinh doanh
(điển hình là các hợp tác xã, tổ hợp tác…) liên kết lại nhằm hỗ trợ nhau đưa hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn, hỗ trợ tích cực cho kinh tế hộ gia đình xã viên phát triển Trong mô hình liên kết này, các đơn vị kinh doanh đảm nhận cung cấp các dịch vụ sản xuất bao gồm ở cả đầu vào, đầu ra cho các hộ xã viên như vật tư, thức ăn chăn nuôi… đồng thời đóng vai trò là “cầu nối” giữa bà con
xã viên với các doanh nghiệp giết mổ, chế biến, xuất khẩu
c Phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
Phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết là phát triển đàn lợn thịt
mà người chăn nuôi có thể chủ động được một phần hoặctoàn bộ các yếu tố đầu vào, đầu ra thông qua việc liên kết giữa hộ chăn nuôi với nhau và liên kết giữa các hộ chăn nuôi với cơ sở cung cấp vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm đầu ra Hình thức liên kết được thể hiện dưới dạng thoả thuận, hợp đồng kinh tế
Thứ nhất: Phát triển theo chiều rộng thể hiện ở việc quy mô sản xuất (số
lượng đàn lợn thịt, đất đai, vốn, lao đông ) được tăng lên không ngừng theo thời gian; số lượng các hộ chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết giữa người chăn nuôi, hợp tác xã, các cơ sở kinh doanh vật tư đầu vào và doanh nghiệp ngày càng được mở rộng
Thứ hai: Phát triển theo chiều sâu hay nói cách khác chính là chỉ tiêu hiệu
quả sản xuất kể cả về kinh tế, xã hội, môi trường của cơ sở chăn nuôi lợn thịt
Trang 23được nâng lên Phát triển mô hình liên kết còn được thể hiện trên khía cạnh cơ cấu của các mô hình liên kết, có nghĩa là những mô hình liên kết có hiệu quả và được người chăn nuôi đánh giá cao, đón nhận cũng như hướng tới sẽ có tỷ trọng tăng dần qua các năm Bên cạnh đó sức mạnh liên kết có xu hướng ngày một tăng lên
Tăng năng suất lợn thịt một cách ổn định và lâu dài: Để đáp ứng nhu cầu về thịt lợn ngày một tăng của con người Việc tăng năng suất lợn thịt phải được thực hiện một cách ổn định, bền vững Tăng năng suất lợn thịt trước hết phải tăng hiệu quả sử dụng đất làm chuồng trại, lao động và vốn sử dụng Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên Phát triển cân đối, đồng bộ giữa lĩnh vực sản xuất (chăn nuôi) với lĩnh vực chế biến
và tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở kết hợp và chia sẻ hài hòa giữa lợi ích và trách nhiệm của các bên
2.1.2.2 Đặc điểm và yêu cầu của chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
- Chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn:
Để có thể tham gia vào mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn thịt của các công ty thì trước hết phải đáp ứng được những điều kiện của các công ty đó đưa
ra, những điều kiện đó là quy mô của đàn lợn, cụ thể là công suất thiết kế của chồng nuôi lợn thịt, ứng với mỗi công ty khác nhau thì điều kiện này cũng khác nhau nhưng thường là phải đáp ứng ở mức tối thiểu nào đó (ví dụ Dabaco là 500 con lợn/lứa) Như vậy, để có được chuồng nuôi này thì đòi hỏi phải có lượng vốn
đủ lớn để đầu tư xây chuồng, bên cạnh đó cũng cần phải có vốn để chi trả tiền công cho người lao động làm thuê (nếu có), tiền điện, tiền nước,… trong quá trình chăn nuôi
Trong trường hợp các hộ liên kết ngang thì mức vốn này còn cao hơn nhiều vì các hộ chăn nuôi tự phải lo về con giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y,
… Bình quân mỗi con lợn tính đến thời điểm xuất chuồng hộ chăn nuôi phải đầu
tư tối thiểu 3,5 triệu đồng Như vậy, với hộ nuôi lợn thịt có quy mô 300 con/lứa thì riêng vốn để đầu tư để quay vòng cho 01 lứa đã lên đến cả tỷ đồng
- Chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các tác nhân trong toàn bộ quá trình chăn nuôi:
Chăn nuôi lợn thịt là ngành sản xuất khá đặc thù vì con lợn là động vật sống nên có có môi trường sống và quy luật phát triển riêng, chỉ khi nào tạo
Trang 24được môi trường sống thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sang, dinh dưỡng, …) thì
nó mới phát triển một cách tốt nhất Con lợn là động vật sống nên trong quá trình sinh trưởng, phát triển luôn có nguy cơ bị nhiễm các loại bệnh như: tai xanh, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, u đầu lợn, … vì vậy người chăn nuôi
và cán bộ kỹ thuật phải thường xuyên theo dõi và trao đổi thông tin để có thể phòng ngừa và điều trị khi có dịch bệnh xảy ra
Trong quá sản xuất chăn nuôi lợn thịt sẽ có giai đoạn chuyển tiếp về chăm sóc cho đàn lợn như: khi bắt đầu cai sữa và đưa vào cho ăn thức chăn nuôi, chuyển từ lợn con sang lợn choai, từ lợn choai sang giai đoạn võ béo, lúc
đó sẽ phải thay đổi khẩu phần ăn cho lợn nên lợn rất dễ bị sốc, đểtránh hiện tượng bị sốc cho lợn cần có kỹ thuật chăm sóc, do đó cán bộ kỹ thuật của các công ty cần hướng dẫn người chăn nuôi để có thể xử lý và chăm sóc cho lợn trong những giai đoạn này
Bên cạnh đó sự phát triển của con lợn cũng tuân theo quy luật giá trị cận biên giảm dần, nghĩa là tốc độ tăng trưởng đến một ngưỡng nào đó thì sẽ có xu hướng giẩm dần Vì vậy trong quá trình chăn nuôi cũng cần phải tính toán để có thể mang lại hiệu quả cao nhất
Bên cạnh đó để có được thịt lợn với chất lượng đảm bảo thì tất cả các khâu từ khi chọn giống, chăm sóc nuôi dưỡng, giết mổ, chế biến phải được thực hiện tốt Nếu một trong các khâu không được thực hiện tốt thì sẽtạo ra sản phẩm với chất lượng hạn chế, thậm chí không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Tất cả những yếu tố trên đòi hỏi người chăn nuôi và công ty liên kết phải
có sự liên kết với nhau một cách chặt chẽ, nếu không thì sẽ dẫn đến thất bại và thua lỗ cho cả hai người chăn nuôi và công ty liên kết
- Điểm yếu nhất trong các mối liên kết thể hiện sức mạnh liên kết của
mô hình:
Trong quá trình liên kết giữa hộ chăn nuôi và công ty, nếu chỉ cần một khâu yếu kém sẽ dẫn đến kết quả là sản phẩm đầu ra của toàn bộ quá trình liên kết kém chất lượng Như vậy, mô hình liên kết giữa người chăn nuôi với các hộ chăn nuôi chỉ có thể mang lại hiệu quả khi tất các khâu (mối liên lết) được thực hiện tốt
- Ngành chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết là ngành kinh tế sản xuấ thàng hoá:
Chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết là chăn nuôi lợn thịt theo hình thức công nghiệp, tập trung, tất cả các hộ/trang trại tham gia liên kết với một
Trang 25công ty nào đó sẽ phải tuân thủ theo các quy định của công ty này đặt ra Khi đó đầu ra sản phẩm của liên kết này tương đối đồng nhất về kích cỡ (trọng lượng) và chất lượng và có giá thành sản xuất tương đồng nhau
Bên cạnh đó do sản xuất lợn thịt với số lượng lớn nên các hộ/trang trại cũng như công ty kiên kết không thể tự tiêu dùng mà phải mang ra thị trường để bán và việc sản xuất thịt lợn này trở thành sản xuất hàng hoá
2.1.2.3 Vai trò của chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
- Vai trò tăng thu nhập cho người chăn nuôi:
Trong sản xuất nông nghiệp nếu tính trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác thì lĩnh vực sản xuất trồng trọt thường có thu nhập thấp hơn lĩnh vực chăn nuôi Trong lĩnh vực chăn nuôi thì chăn nuôi lợn thịt theo hình thức truyền thống đa số có thu nhập thấp hơn so với chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết, nguyên nhân của hiện tượng này là do chi phí công lao động tính trên 100kg tăng trọng của chăn nuôi theo hình thức truyền thống cao hơn rất nhiều ( nếu chăn nuôi theo mô hình liên kết chỉ cần 2 lao động có thể chăn nuôi đến cả nghìn con lợn, trong khi đó các hộ chăn nuôi truyền thống chỉ nuôi được một vài con lợn)
- Vai trò giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và ô nhiễm môi trường:
Khi chăn nuôi theo mô hình liên kết, các hộ/trang trại sẽ phải tuân thủ, áp dụng quy trình chăm sóc, phòng ngừa dịch bệnh của phía công ty liên kết đưa ra Các quy trình này được công ty nghiên cứu và ứng dụng những công nghệ mới, hiện đại nên sẽ giảm được rủi ro về dịch bệnh trong quá trình sản xuất chăn nuôi Bên cạnh đó, để được tham gia liên kết với công ty thì một yêu cầu bắt buộc
là phía hộ/trang trại phải có bản cam kết bảo vệ môi trường với chính quyền sở tại Trong bản cam kết này các hộ phải đưa ra được phương án xử lý chất thải do quá trình sản xuất chăn nuôi lợn tạo ra Định kỳ cơ quan chức năng quản lý về môi trường sẽ kiểm tra việc thực hiện cam kết của hộ/trang trại, nếu phát hiện vi phạm
sẽ xử lý, trong trường hợp vi phạm nặng có thể tạm đình chỉ hoạt động chăn nuôi của hộ/trang trại, khi đó thiệt hại xảy ra là rất lớn
- Vai trò tăng chất lượng thịt lợn cung cấp cho người tiêu dùng:
Do toàn bộ quá trình sản xuất chăn nuôi được kiểm soát chặt chẽ và áp dụng những công nghệ hiện đại về phối trộn dinh dưỡng trong thức ăn chăn nuôi
và nguồn giống có chất lượng tốt nên sản phẩm đầu ra là thịt lợn luôn có chất lượng đảm bảo
Trang 26Với chăn nuôi truyền thống do sử dụng thức ăn truyền thống nên tỷ lệ dinh dưỡng chưa cân đối, hơn nữa chất lượng giống hạn chế (tỷ lệ mỡ cao) và việc sử dụng thuốc kháng sinh không đúng hướng dẫn (do các hộ tự đi mua thuốc về và điều trị) nên dư lượng thuốc kháng sinh cao, khâu phòng ngừa dịch bênh chưa được kiểm soát chặt nên trong thịt lợn chứa một số mầm bệnh,… Tất cả những yếu tố trên dẫn đến chất lượng thịt lợn không cao, thậm chí không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Trong giai đoạn hiện nay việc một số cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ, do thiếu hiểu biết về vấn đề an toàn thực phẩm nên đã sử dụng một số chất kích thích tăng trưởng, chất cấm trong quá trình sản xuất chăn nuôi lợn thịt nhằm mang lại lợi nhuận trước mắt nên đã gây tâm lý e ngại khi sử dụng thịt lợn và làm ảnh hưởng đến việc sản xuất chăn nuôi lợn thịt trong nước
- Vai trò xây dựng thương hiệu sản phẩm cho các địa phương, doanh nhiệp: Đối với các doanh nghiệp khi thực liên kết với các hộ/trang trại để chăn nuôi lợn thịt thì các công ty này phải phu trách khâu tiêu thụ sản phẩm đầu ra Để có thể tiêu thụ mọt lượng lớn thịt lợn thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có thị trường tiêu thụ cũng như việc phải xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình Ngày nay, nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng rất phong phú và đa dạng, không chỉ tiêu dùng thịt lợn mà còn đòi hỏi các sản phẩm đã qua chế biến như thịt khô, thịt xông khói, xúc xích, lạp xườn, giò, chả, thịt hộp, … chính vì vậy các công ty phải chế biến thịt lợn của mình thành những sản phẩm nói trên, đồng nghĩa với nó là phải xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm đó khi đưa ra thị trường
Đối với các địa phương khi hình thành vùng chăn nuôi lợn thịt lớn, tập trung
sẽ hình thành khu chế biến để chế biến lợn thịt (với các hộ liên kết ngang), khi đó
sẽ hình thành chuỗi thực phẩm mang thương hiệu của các địa phương như chuỗi GreenFood của Hà Nội
2.1.3 Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
2.1.3.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
Nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt; phân tích các loại mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn thịt; đánh giá xu hướng phát triển các mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn thịt của các hộ và trang trại với các công ty/doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu Ngoài ra, luận văn sẽ tập trung so sánh những ưu, nhược điểm của các mô hình liên kết đang tồn tại ở địa bàn nghiên cứu và tiềm năng phát triển
Trang 27của nó trong tương lai Phát triển chăn nuôi theo các mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn thịt được đề cập và phân tích trên cả khía cạnh phát triển theo chiều rộng (số hộ/trang trại tham gia, năng suất, sản lượng chăn nuôi) và phát triển theo chiều sâu phản ánh thông qua đánh giá kết quả và hiệu quả của việc tham gia phát triển các mô hình liên kết
2.1.3.2 Phân tích điều kiện tham gia các mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn thịt
Việc nhân rộng các mô hình liên kết đòi hỏi người chăn nuôi (hộ chăn nuôi và trang trại chăn nuôi) phải đáp ứng được các yêu cầu tối thiểu của các nhà đầu tư (công ty, doanh nghiệp) để phát triển chăn nuôi lợn thịt theo đúng yêu cầu
kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi Vì vậy, phân tích các điều kiện tham gia các mô hình liên kết khác nhau (liên kết với công ty CP, công ty Dabaco, RTD )để đánh giá thực trạng và tiềm năng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết trên địa bàn nghiên cứu là cần thiết Các doanh nghiệp thường đưa ra các điều kiện cơ bản như: có nằm trong vùng được quy hoạch để sản xuất chăn nuôi lợn, có bản cam kết bảo vệ môi trường, diện tích chuồng trại, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị tối thiểu, lượng vốn tối thiểu phục vụ chăn nuôi, và một số yêu cầu khác để xác định các hộ/trang trại có khả năng tham gia liên kết
Phân tích điều kiện tham gia các mô hình liên kết và đánh giá thực trạng các nguồn lực hiện tại của người chăn nuôi trên địa bàn nghiên cứu sẽ giúp cho việc chỉ ra những tiềm năng và cản trở trong phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết để làm cơ sở tìm ra các giải pháp tháo gỡ
2.1.3.3 Đánh giá kết quả và hiệu quả của phát triển chăn nuôi lợn thịt theo
mô hình liên kết
Để đánh giá kết quả của quá trình phát triển theo chiều sâu, nghiên cứu tập trung đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế trong phát triển các mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn thịt của người chăn nuôi Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả như thu nhập ròng, tỷ suất sử dụng chi phí và lao động được tính toán
và so sánh giữa các mô hình liên kết để chỉ ra các ưu thế của từng mô hình liên kết và có thể đưa ra các khuyến cáo cho người chăn nuôi, đặc biệt là các hộ chăn nuôi tự do (chưa tham gia liên kết) có thể tiếp cận và xác định loại mô hình liên kết cho riêng mình
2.1.3.4 Đánh giá lợi ích của phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
Nghiên cứu tập trung đánh giá lợi ích của người chăn nuôi và các nhà đầu
tư khi tham gia các mô hình liên kết trong chăn nuôi lợn trên cả ba khái cạnh như
Trang 28lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích về môi trường Kết quả khảo sát các doanh nghiệp tham gia liên kết và người chăn nuôi tham gia liên kết để đánh giá các lợi ích này nhằm có cách nhìn tổng thể và có các khuyến nghị cho người chăn nuôi có nên tham gia vào các mô hình liên kết không và nếu tham gia thì nên tham gia vào mô hình liên kết nào để nâng cao hiệu quả và thu thập trong chăn nuôi
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
2.1.4.1 Các yếu tố thuộc về các đơn vị chăn nuôi
Thứ nhất: Đất đai trong nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt
và không thể thay thế Muốn xây dựng và mở rộng sản xuất trước hết cần có đất,
có một diện tích đất cần thiết và đủ lớn để xây dựng hệ thống chuồng trại, kho chứa, hệ thống xử lý chất thải Vai trò của đất đai đối với các hộ chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết lại càng được thể hiện rõ nét hơn khi cần một lượng lớn diện tích để làm chuồng trại, hầm Biogas và tách biệt với khu dân cư sinh sống Chính vì vậy đất đai là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của các đơn vị chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
Thứ hai: Vốn là yêu cầu không thể thiếu đối với bất kỳ đơn vị kinh tế nào
và đơn vị chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết cũng vậy Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh Có vốn các đơn vị kinh tế mới có thể mua sắm các các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất như sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Có vốn các đơn vị kinh tế mới có điều kiện đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư trang thiết bị phù hợp để nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản phẩm Người có vốn nhiều sẽ đầu tư một cách tổng thể hơn và nhanh chóng đạt được hiệu quả trong sản xuất, có khả năng đứng vững trước những biến động thị trường Những vấn đề liên quan đến vốn như quy mô đầu tư,
cơ cấu sử dụng, cơ cấu nguồn vốn, khả năng huy động vốn… Là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của bất kỳ đơn vị kinh tế nào, và nó còn có ý nghĩa to lớn hơn khi chăn nuôi lợn thịt theo quy trình khép kín là một ngành chăn nuôi đòi hỏi một lượng vốn rất lớn
Ngoài ra, khả năng huy động vốn cũng có ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế Việc huy động vốn phụ thuộc vào khả năng và sự hiểu biết của đơn vị kinh tế, các chính sách hỗ trợ vay vốn của nhà nước cũng như của các tổ chức tín dụng
Trang 29Thứ ba:Nguồn nhân lực của hộ là yếu tố quyết định trong quá trình sản
xuất kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp tới phương hướng, hiệu quả và quy mô sản xuất của hộ Đặc biệt là tuổi, giới tính, số năm kinh nghiệm, năng lực quản lý, trình độ của chủ đơn vị kinh tế, quyết định đến việc tiếp thu tiến bộ kỹ thuật, khả năng chấp nhận rủi ro, mức độ mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh, khả năng phát triển đơn vị kinh tế trong thời kỳ hội nhập Vì vậy, có thể nói nguồn nhân lực là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển của các đơn vị chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
Chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết là ngành chăn nuôi đòi hỏi lao động cho ngành này phải là lao động có trình độ kỹ thuật nhất định, nhất là ở các khâu chăm sóc
2.1.4.2 Các yếu tố khách quan
Là những yếu tố trên bình diện xã hội rộng hơn, nó tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ trong toàn ngành, thậm chí trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân và do đó tác động đến quyết định của các đơn vị chăn nuôi khi sử dụng
nguồn lực của mình
Thứ nhất: Chính sách của Nhà Nước và của địa phương như chính sách về
đất đai, chính sách tín dụng, chính sách thuế, chính sách phát triển kinh tế xã hội,
cơ chế liên kết hộ sản xuất và các cơ sở chế biến… là một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi lợn thịt ra đời và phát triển Đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì chính sách của nhà nước lại có vai trò quan trọng hơn hộ nào, trang trại nào, doanh nghiệp nào nắm bắt được các chính sách, sự nhảy cảm của thị trường thế giới thì có thể tồn tại và phát triển nhanh, còn nếu không sẽ bị đào thải ra khỏi sân chơi này
Thứ hai: Yếu tố thị trường: Chăn nuôi lợn thịt là đơn vị sản xuất hàng hóa,
trong quá trình sản xuất kinh doanh các đơn vị kinh tế mua đầu vào từ thị trường
tư liệu sản xuất và bán sản phẩm của mình ra thị trường sản phẩm nông nghiệp
do vậy, thị trường là yếu tố có tính chất quyết định đến sự phát triển của ngành chăn nuôi lợn thịt
Đối với thị trường đầu vào khi đó chủ đơn vị chăn nuôi lợn thịt với tư cách
là người mua, có nhu cầu về các loại tư liệu sản xuất phục vụ sản xuất kinh doanh đơn vị của mình Tại thị trường này có nhiều yếu tố tác động đến giá cả như: Quy mô thị trường, chất lượng, tính đa dạng, phong phú của hàng hóa và dịch vụ, mức độ cạnh tranh của các chủ thể tham gia thị trường, các kênh tiêu thụ
Trang 30… trong thị trường này trước đây nhà nước can thiệp nhiều nhằm hỗ trợ các đơn
vị kinh tế nhưng từ khi gia nhập kinh tế thế giới sự hỗ trợ của nhà nước vào thị trường này ngày càng phải cắt bỏ vì vậy các đơn vị chăn nuôi lợn thịt nên cân nhắc lựa chọn những đầu vào nào? Sự kết hợp các yếu tố này ra sao? Vì nó có vai trò quyết định đến hiệu quả của các đơn vị chăn nuôi lợn thịt và nó phụ thuộc rất lớn vào năng lực, kiến thức, sự am hiểu của người mua tức là chủ các hộ chăn nuôi lợn thịt
Đối với thị trường đầu ra trong thị trường này chủ các đơn vị chăn nuôi lợn thịt đóng vai trò là người bán, người cung ứng khi đó họ chịu tác động ảnh hưởng của các yếu tố thị trường đầu ra như quy mô sản phẩm, xu hướng nhu cầu, giá cả, mức độ canh tranh, độ co giãn của cầu, các chính sách của nhà nước và áp lực từ
sự hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Khi nền nông nghiệp phát triển theo
hướng hàng hóa thì phải xuất phát từ nhu cầu thị trường tức là “sản xuất những
gì khách hàng cần”
Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập, cơ chế cạnh tranh khốc liệt, doanh nghiệp hay hộ sản xuất kinh doanh muốn tồn tại không những chỉ đáp ứng nhu cầu thị
trường mà còn phải chứng tỏ “mình không phải là duy nhất nhưng mình phải là
số một” tức là mình không phải là người duy nhất cung cấp sản phẩm (cùng chất
lượng) này cho thị trường mà phải là người có khả năng cạnh tranh cao và chiếm lĩnh thị trường tốt nhất
Thứ ba: Các yếu tố về khoa học công nghệ Nhóm các yếu tố về khoa học,
kỹ thuật và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của các đơn vị chăn nuôi lợn thịt Khác với ngành chăn nuôi khác, ngành chăn nuôi lợn thịt theo
mô hình liên kết đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa các tác nhân tham gia vào mô hình và áp dụng một lượng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất để tăng năng suất lao động, tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa với chất lượng cao, giá thành hạ Nhờ có tiến bộ kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào quá trình sản xuất đã tạo ra những thay đổi lớn theo hướng hiệu quả hơn về trình độ sản xuất, tổ chức quản lý điều hành sản xuất kinh doanh các cơ sở chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
Con giống là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển chăn nuôi
Do đó, nó đòi hỏi phải chọn lọc sao cho phù hợp với mục đích phát triển sản xuất Việc chọn lọc con giống trong chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết
Trang 31ngoài yêu cầu về tăng trọng còn đòi hỏi các chỉ tiêu kỹ thuật khác như tỷ lệ nạc, FCR thấp, ít bệnh dịch Với giống nhập nội, ưu thế của nó là khả năng thích nghi môi trường tốt nhưng tỉ lệ nạc thấp, FCR cao, tăng trọng chậm,
Thức ăn là nền tảng cho việc phát triển chăn nuôi Với lợn thịt thức ăn là yếu tố cơ bản tạo nên sự tăng trọng Nếu cho lợn ăn không cân đối dinh dưỡng sẽ làm cho con lợn kém phát triển, khả năng chống chịu bệnh giảm và dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế ngày càng sâu như hiện nay của nước ta có thể nói KHKT& CN là một con giao hai lưỡi nếu đơn vị kinh tế nào nắm bắt và
áp dụng nhanh chóng thành công các khoa học công nghệ mới thì Hộ Chăn nuôi lợn thịt đó sẽ thành công và ngày càng phát triển nhanh chóng (ví dụ như hộ gia đình ông Chiến ở Cổ Đông, ông Như ở Kim Sơn) Nhưng ngược lại KHKT& CN cũng chính là yếu tố đã làm cho nhiều đơn vị chăn nuôi lợn thịt bị loại ra khỏi cuộc chiến của thị trường vì không nắm bắt và áp dụng được những tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi
Thứ tư: Sự yếu kém của cơ sở hạ tầng sẽ cản trở sự phát triển của chăn nuôi
lợn thịt trên cả 3 phương diện: sự cung ứng các yếu tố đầu vào bị hạn chế, việc mua bán, tiêu thụ sản phẩm khó khăn
Thứ năm: nhóm các yếu tố tự nhiên Lợn thịt là động vật rất mẫn cảm với
môi trường, nhất là nhiệt độ và độ ẩm Khí hậu và thời tiết ảnh hưởng tới khả năng thích nghi và khả năng tăng trọng của lợn thịt Đối với thịt lợn khí hậu và thời tiêt còn ảnh hưởng tới việc tiêu thụ và bảo quản thịt, vào mùa hè thịt được tiêu thụ ít hơn và khó bảo quản hơn mùa đông
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Chính sách phát triển chăn nuôi lợn thịt củaViệt Nam
Hiện nay, Nhà nước có rất nhiều chính sách để hỗ trợ phát triển chăn nuôi lợn thịt như: Chiến lược phát triển chăn nuôi được phê duyệt tại Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16 tháng 1 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát triển Chăn nuôi đến năm 2020; Nghị định số 210/NĐ-CP/2013 của Chính phủ ban hành ngày 19 tháng 12 năm 2013 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ,… Trong đó có một số nội dung như sau:
Trang 32Tại Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg có quy định
- Mục tiêu phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020 cơ bản chuyển sang sản xuất phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảo chất lượng cho tiêu dùng và xuất khẩu; tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp năm 2020 đạt trên 42%; đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm, khống chế có hiệu quả các bệnh nguy hiểm trong chăn nuôi; các
cơ sở chăn nuôi, nhất là chăn nuôi theo phương thức trang trại, công nghiệp và cơ
sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm phải có hệ thống xử lý chất thải, bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường
- Định hướng phát triển chăn nuôi lợn đến năm 2020: phát triển nhanh đàn lợn ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường; duy trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một số vùng Tổng đàn lợn tăng bình quân 2,0% năm, đạt khoảng 35 triệu con, trong đó đàn lợn ngoại nuôi trang trại, công nghiệp 37%
- Trong Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg cũng đưa ra các giải pháp để thúc đẩy chăn nuôi phát triển, những giải pháp đó là: giải pháp về quy hoạch; giải pháp về khoa học và công nghệ; giải pháp về tài chính và tín dụng; giải pháp về đất đai; giải pháp về thương mại; giải pháp về thức ăn và kiểm soát chất lượng thức ăn chăn nuôi; giải pháp về phòng chống dịch bệnh; giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực; giải pháp về tổ chức sản xuất;
sở hạ tầng về điện, nước, nhà xưởng, xử lý chất thải và mua thiết bị, trường hợp
dự án chưa có dường giao thông, hệ thống điện, cấp thoát nước đến hàng ràodự
án thì ngoài mức hỗ trợ trên sẽ được hỗ trợ thêm 70% chi phí (không quá 5 tỷ đồng) để xây dựng các hạng mục trên;
- Nhà đầu tư có dự án đầu tư cơ sở chăn nuôi gia súc có quy mô tập trung được ngân sách nhà nước hỗ trợ 3 tỷ đồng/dự án để xây dựng cơ sở hạ tầng về điện, nước, chuồng trại, xử lý chất thải và mua thiết bị, trường hợp dự án chưa có đường giao thông, hệ thống điện, cấp thoát nước đến hàng rào dự án thì ngoài
Trang 33mức hỗ trợ trên sẽ được hỗ trợ thêm 70% chi phí (không quá 5 tỷ đồng) để xây dựng các hạng mục trên;
Tại Quyết định số 50 có quy định
- Hỗ trợ 100% kinh phí về liều tinh cho các hộ chăn nuôi để thực hiện phối giống cho lợn nái Mức hỗ trợ không quá 02 liều tinh cho một lần phối giống và không quá 05 liều tinh cho một lợnnái/năm;
- Hỗ trợ một lần đến 50% giá trị con lợn đực giống cho các hộ chăn nuôi ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn để thực hiện phối giống dịch vụ (Mức hỗ trợ không quá 5.000.000 đồng /1 con đối với lợn đực giống từ 06 tháng tuổi trở lên; mỗi hộ được hỗ trợ mua không quá 03 con lợn đực giống);
- Hỗ trợ một lần đến 50% giá trị xây công trình khí sinh học xử lý chất thải chăn nuôi Mức hỗ trợ không quá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/1 công trình/1 hộ;
- Hỗ trợ một lần đến 50% giá trị làm đệm lót sinh học xử lý chất thải chăn nuôi Mức hỗ trợ không quá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/1 hộ
- Hỗ trợ một lần đến 100% kinh phí đào tạo, tập huấn cho các cá nhân về kỹ thuật phối giống nhân tạo gia súc Mức hỗ trợ không quá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng)/1 người
- Hỗ trợ 1 lần đến 100% giá trị bình chứa Nitơ lỏng từ 1,0 đến 3,7 lít cho người làm dịch vụ phối giống nhân tạo gia súc Mức hỗ trợ không quá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/1 bình/1 người
2.2.2 Một số chính sách phát triển chăn lợn thịt của thành phố Hà Nội
Để phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn thịt, Hà Nội có khá nhiều chính sách để khuyến khích phát triển chăn nuôi lợn thịt, một số chính sách đó là:
- Quyết định số 16/2012/QĐ-UBND ngày 06/7/2012 của UBND Thành
phố về việc phê duyệt danh sách các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm được hưởng
Trang 34Hà Nội về phát triển chăn nuôi theo vùng, xã trọng điểm, chăn nuôi quy mô lớn ngoài khu dân cư giai đoạn 2011 – 2015
- Quyết định số 5791/QĐ-UBND ngày 12/12/2012 của UBND Thành phố
về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống cơ sở giết mổ và chế biến gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020;
- Quyết định 1835/QĐ-UBND ngày 25/2/2013 của UBND Thành phố về việc phê duyệt quy hoạch phát triển chăn nuôi thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
2.2.3 Kinh nghiệm phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết của một số địa phương ở Việt Nam
Hiện nay, chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết ở Việt Nam đã được triển khai khá phổ biến tại các địa phương như khu vực Đông Nam Bộ (điển hình là tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh), khu vực Bắc Trung Bộ (Thanh Hoá, Nghệ An,
Hà Tĩnh), đồng bằng Sông Hồng (Hà Nam, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh) và khu vực Miền núi Phía Bắc (Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang, Yên Bái, …) Nhìn chung tại các tỉnh có thể phát triển chăn nuôi lợn thịt theo
mô hình liên kết đều là các địa phương có lợi thế thuận tiện về giao thông, có quỹ đất và quy hoạch phát triển chăn nuôi và đặc biệt là tình hình KTXH khá phát triển
Để phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết, tỉnh Hà Nam đã chỉ đạo một số ngân hàng phối hợp với các công ty sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn trên địa bàn tỉnh tiên hành hỗ trợ cho những người chăn nuôi lợn thịt theo hướng trang trại công nghiệp (trong đó có các hộ chăn nuôi theo mô hình liên kết) bằng cách hỗ trợ phần lãi suất ngân hàng khi mua TACN của các công ty này Khi người chăn nuôi lợn thịt mua TACN của một công ty thì sẽ ký xác nhận vào hoá đơn bán hàng, sau đó phía công ty mang hoá đơn đến ngân hang và được ngân hàng thanh toán, số tiền này chính là phần vốn ngân hàng cho người chăn nuôi đó vay, tiền lãi suất của khoản vay này được chính quyền tỉnh hỗ trợ một phần
Đây là một cách làm hay để hỗ trợ cho phát triển chăn nuôi lợn thịt bởi
những lý do sau: một là người chăn nuôi được vay vốn một cách nhanh chóng và thuận tiện, đúng thời điểm khi cần; hai là việc sử dụng vốn vay hiệu quả, đúng mục đích; ba là giảm gánh nặng về vốn cho những người chăn nuôi lợn thịt; bốn là do
mua trực tiếp của công ty nên giá mua TACN hạ hơn vì không thông qua các tác
nhân trung gian trong kênh phân phối; năm là nhanh chóng chuyển dịch từ chăn
nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi theo kiểu công nghiệp, trang trại tập trung từ đó giảm thiểu ô nhiễm môi trường, kiểm soát dịch bệnh và thuận tiện trong quản lý
Trang 35Với các tỉnh vùng Đông Nam Bộ lại thành lập Hiệp hội chăn nuôi lợn Đông Nam Bộ, người chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp ở khu vực này tham gia và trở thành thành viên của Hiệp hội, họ đóng góp kinh phí để duy trì hoạt động của Hiệp hội, họ được chia sẻ các thông tin về chăn nuôi mà Hiệp hội có như: dự báo về sản lượng và giá cả trong nước và khu vực; các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất chăn nuôi lợn, … Hiệp hội thay mặt các thành viên để dàm phán
ký kết các thoả thuận, hợp đồng mua bán lớn về đầu vào và đầu ra Một điểm khá quan trọng là khi thị trường xảy ra hiện tượng bán phá giá thì Hiệp hội có trách nhiệm tìm hiểu thông tin và đứng ra khởi kiện đơn vị bán phá giá
Với Hà Tĩnh thì tỉnh hỗ trợ phát triển chăn nuôi lợn thịt thông qua việc hỗ trợ về đào tạo kỹ thuật cho người chăn nuôi, xây dựng hạ tầng phục vụ các khu chăn nuôi tập trung (như điện, đường gia thông, nước, cơ sở giết mổ tập trung, xử
lý chất thải), hỗ trợ việc xây dựng thị trường tiêu thụ thông qua các chuỗi sản phẩm và hỗ trợ thông tin cho người chăn nuôi Hà Tĩnh được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đánh giá là tỉnh đứng đầu cả nước trong việc hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp nói chung trong đó có chăn nuôi lợn thịt, chính vì vậy một vài năm trở lại đây sản xuất chăn nuôi tại Hà Tĩnh có được những thành công đáng kể Nhìn chung, các địa phương phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết đa số có sự thuân tiện về giao thông, có thị trường tiêu thụ, có tiềm lực
về tài chính để hỗ trợ cho người chăn nuôi và trình độ kỹ thuật của người chăn nuôi khá cao vì chăn nuôi theo hướng công nghiệp (trang trại tập trung)
Thực tiễn sản xuất cho thấy hiện nay đang tồn tại một số hình thức liên kết theo chuỗi giá trị trong chăn nuôi lợn thịt cụ thể như sau:
- Liên kết với doanh nghiệp (chăn nuôi gia công): với hình thức liên kết
này các doanh nghiệp cung ứng con giống, thức ăn, hỗ trợ kỹ thuật, thuốc thú y và bao tiêu toàn bộ sản phẩm; người chăn nuôi xây dựng chuồng trại, hệ thống xử lý chất thải theo yêu cầu kỹ thuật của doanh nghiệp, tổ chức sản xuất và nhận tiền công theo hợp đồng ký kết Các doanh nghiệp điển hình triển khai mô hình này là: Công ty C.P Việt Nam, Công ty CP Tập đoàn DABACO, Công ty TNHH Thái Dương, Công ty Emivest, Tổng công ty Khoáng sản Thương mại Hà Tĩnh… Hình thức liên kết này được triển khai ở một số địa phương như: Hà Nội, Yên Bái, Bắc Ninh, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước…
Trang 36Với liên kết chăn nuôi gia công, các chủ trang trại hầu hết đều có lãi do không phải lo về đầu ra và giá cả, sau một thời gian các chủ trang trại chăn nuôi đều học hỏi và tiếp cận được với các kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến áp dụng trong sản xuất khi hết hợp đồng gia công
- Liên kết chăn nuôi - tiêu thụ: liên kết giữa các trang trại chăn nuôi và
thị trường tiêu thụ là các siêu thị, nhà hàng, chợ và các bếp ăn tập thể
Chuỗi liên kết này được phát triển nhiều tại các tỉnh, thành như Hà Nội,
TP Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Nam Định…
- Liên kết chăn nuôi - tiêu thụ thực phẩm sạch, truy xuất nguồn gốc:
Đây là chuỗi điển hình nhất hiện nay và được triển khai tại các tỉnh tham gia dự án LIFSAP tại các tỉnh/TP như Hà Nội, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Cao Bằng, Thanh Hoá, Nghệ An, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An và Lâm Đồng Liên kết được xây dựng bao gồm các hộ chăn nuôi theo quy trình GAHP, các cơ sở giết mổ và các chợ Sản phẩm sản xuất đảm bảo về an toàn vệ sinh thực phẩm và truy xuất nguồn gốc
Bên cạnh đó Hà Nội cũng đã xây dựng thành công chuỗi liên kết chăn nuôi tiêu thụ thực phẩm sạch, truy xuất nguồn gốc GreenFood Hà Nội: chuỗi liên kết có 6 đơn vị tham gia, gồm Công ty CP sản xuất và thương mại Hoàn Dương với nhà máy thức ăn Thái Way, Công ty TNHH sản xuất giống gia cầm Thuỵ Phương, Công ty CP chăn nuôi Tiên Phương, Hợp tác xã chăn nuôi và dịch vụ
Cổ Đông - Sơn Tây; Công ty thực phẩm giết mổ, chế biến Vinh Anh; Công ty thực phẩm giết mổ chế biến gia cầm Lan Vinh Sáu đơn vị này góp vốn thành lập Công ty Cổ phần cộng đồng GreenFood Hà Nội Đây là mô hình chuỗi khép kín cung cấp đầy đủ cho các trại chăn nuôi từ thức ăn có chất lượng, giá hợp lý, cung cấp con giống, các cơ sở giết mổ công nghiệp và hệ thống cửa hàng tiện ích Hiện có 50 trại chăn nuôi lợn với tổng đàn 1.500 lợn nái và 15.000 lợn thịt/lứa Sản phẩm của chuỗi được phân phối tại 8 cửa hàng, 5 siêu thị, 12 trường học và bệnh viện, 25 bếp ăn tập thể trên địa bàn Thủ đô
Chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch 3F được tổ chức bởi Công ty Cổ phần thực phẩm sạch 3F với tiêu chí xây dựng thương hiệu thực phẩm sạch dựa trên
hệ thống khép kín từ chăn nuôi trang trại- sơ chế- chế biến đến bàn ăn Các trang trại vệ tinh thành viên của Công ty gồm 200 trang trại gà lớn nhỏ và hệ thống 15 trang trại lợn rừng và trại giống gốc 750 nái (6.000 đến 10.000 con lợn thương phẩm) kết hợp khu chế biến thực phẩm đóng gói thực phẩm sống (đã qua sơ chế)
Trang 37và thực phẩm chín (đã qua chế biến) với công suất 3 tấn lợn/ngày + 2.000 con gà/ngày + 100.000 quả trứng/ngày Hệ thống phân phối tại hơn 100 siêu thị, 250 cửa hàng bán lẻ tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định… Mới đây, Công ty đang mở rộng hệ thống tiêu thụ tại Đà Nẵng, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh… và đã được nhận chứng chỉ ISO 9001-2000 và HACCP của tổ chức TQSI (Úc) Các sản phẩm thực phẩm được sản xuất trên quy trình khép kín, sử dụng thức ăn có nguồn gốc tự nhiên, tự canh tác theo tiềm năng vùng miền, sử dụng công nghệ vi sinh trong nâng cao chất lượng thức ăn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường Đặc biệt là đưa vào ứng dụng các sản phẩm thảo dược dùng để nâng cao sức đề kháng, cải tạo chất lượng thịt, trứng thơm ngon dần thay thế hoàn toàn việc sử dụng kháng sinh (không sử dụng kháng sinh trong quá trình chăn nuôi) Kiểm soát chặt chẽ toàn bộ hệ thống từ con giống, thức ăn, vệ sinh thú y, giết mổ chế biến và đặc biệt là tổ chức hệ thống phân phối (nhà hàng, siêu thị, đại lý, trường học) và hệ thống bán lẻ trực tiếp Quê Việt
Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng liên kết giữa Vissan và hộ chăn nuôi lợn theo VietGAHP, chuỗi khép kín từ sản xuất chăn nuôi lợn GAHP đến giết mổ sạch và tiêu thụ thịt lợn có chứng nhận GAHP đến tay người tiêu dùng
Các chuỗi liên kết theo hướng này sẽ tạo ra sự khác biệt của sản phẩm chăn nuôi GAHP đối với các sản phẩm thông thường khác, người tiêu dùng dễ nhận biết và lựa chọn các sản phẩm mong muốn, thông qua hình thức tuyên truyền đối với sản phẩm an toàn cũng góp phần nâng cao nhận thức của người tiêu dùng Giá cả sản phẩm cũng sẽ có sự khác biệt đối với các sản phẩm thông thường nên góp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm
- Liên kết chăn nuôi 4 nhà (Cơ quan quản lý nhà nước, Ngân hàng Nông
nghiệp, Doanh nghiệp sản xuất thức ăn, người chăn nuôi và doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm): chuỗi liên kết này đang được thực hiện tại Hà Nam với hình thức
hoạt động cụ thể: Cơ quan quản lý nhà nước sẽ quản lý mọi hoạt động của chuỗi; người chăn nuôi sử dụng thức ăn chăn nuôi giá ưu đãi của doanh nghiệp và vay vốn ưu đãi của ngân hàng; ngân hàng cho người chăn nuôi vay vốn ưu đãi hoặc bảo lãnh cho người chăn nuôi mua thức ăn chăn nuôi trả chậm của doanh nghiệp; doanh nghiệp cung ứng thức ăn cho người chăn nuôi theo giá đại lý và tiêu thụ sản phẩm chất lượng cho người chăn nuôi Hình thức tiêu thụ sản phẩm vừa là bán buôn, bán lẻ và bao tiêu theo hợp đồng
Trang 38- Liên kết Chăn nuôi – Giết mổ - Bán buôn: Loại hình liên kết sản xuất
theo chuỗi Chăn nuôi – Giết mổ - Bán buôn được triển khai tại Long An Đây là chuỗi trong một huyện, liên xã và phục vụ tiêu dùng trong huyện Trại chăn nuôi liên kết với cơ sở giết mổ và hộ bán buôn để tiêu dùng sản phẩm lợn thịt với quy
mô 1.500 con lợn thịt/năm (năm 2015)
2.2.4 Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết ở thành phố Hà Nội
Ở Hà Nội, việc chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết đã được hình thành từ những năm cuối của thế kỷ 20, sau đó phát triển mạnh cho đến nay
Đi tiên phong trong việc liên kết chăn nuôi lợn thịt phải nói đến Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam (một công ty của Thái Lan), hình thức liên kết được công ty này áp dụng là liên kết dọc, sau đó xuất hiện thêm Công ty Cổ phầnTập đoàn Dabaco, công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam, Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Thái Dương, Công ty Cổ phần Phát triển Công nghệ Nông thôn (RTD) … cũng thực hiện việc liên kết trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn Hà Nội
Nhìn chung những địa phương có chăn nuôi lợn thịt theo hướng trang trại, công nghiệp phát triển thường là các vùng ngoại thành, trung du có quỹ đất rộng, bên cạnh đó phải được quy hoạch của cấp có thẩm quyền và vận dụng tốt cơ chế chính sách như huyện Thạch Thất, Ứng Hoà, Ba Vì, Sơn Tây, Phúc Thọ, Sóc Sơn, Đông Anh, …
Hà Nội là thành phố phát triển mạnh về chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn thịt, với số trang trại chăn nuôi tập trung ngoài khu dân cư lên đến 835 trại, chính
vì vậy Hà Nội là địa phương duy nhất trong cả nước thành lập Trung tâm Phát triển chăn nuôi của thành phố (trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội) để giúp lãnh đạo thành phố tư vấn phát triển lĩnh vực chăn nuôi cũng như thay mặt thành phố quản lý về lĩnh vực này
Trong những năm gần đây tốc độ phát triển trang trại chăn nuôi ngoài khu dân cư của thành phố Hà Nội tăng rất nhanh, điều này được thể hiện qua bảng
2.1 dưới đây
Trang 39Bảng 2.1 Biến động về số trang trại chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn TP Hà Nội
Nguồn: Trung tâm phát triển chăn nuôi Hà Nội
Qua bảng 2.1 cho thấy số trang trại chăn nuôi lợn thịt tập trung ngoài khu dân cư của thành phố Hà Nội có xu hướng tăng lên qua các năm, từ 558 trại năm
2011 lên 835 tại năm 2015.Như vậy, tốc độ phát triển chăn nuôitheo hướngtrang trại, công nghiệp ngày một chiếm ưu thế, điều này hoàn toàn phù hợp với Chiến lược phát triển chăn nuôi nói chung cũng như định hướng phát triển chăn nuôi của Hà Nội nói riêng Song song với sự gia tăng của trang trại chăn nuôi lợn tập trung ngoài khu dân cư thì số lượng các trang trại tham gia vào mô hình liên kết của các hộ cũng tăng lên qua các năm, cụ thể năm 2011 toàn thành phố Hà Nội chỉ có 98 trại nhưng đến năm 2015 đã có 151 trại, điều này cho thấy phát triển chăn nuôi lợn thịt ở thành phố Hà Nội đang trong giai đoạn phát triển mạnh
Cũng qua bảng 2.1 cho thấy công ty Cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam có
số trang trại liên kết theo xu hướng giảm dần, ngược lại với xu thế của công ty
CP thì Công ty Cổ phầnTập đoàn Dabaco, Công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam, Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Thái Dương, Công ty Cổ phần Phát triển Công nghệ Nông thôn (RTD)lại có xu hướng tăng lên Tuy nhiên trong cơ cấu thị trường này thị phần của công ty CP vẫn là cao nhất
2.2.5 Bài học kinh nghiệm cho sự phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết ở Sơn Tây
Qua cơ sở thực tiễn và kinh nghiệm từ sự phát triển chăn nuôi lợn thịt từ các địa phương có thể rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho sự phát triển chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết củ Sơn Tây như sau:
Một là, Sơn Tây cần phải có quy hoạch để phát triển chăn nuôi, trong đó
Trang 40có quy hoạch những vùng phát triển chăn nuôi lợn tập trung.Điều này đã được
Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội phê duyệt tại Quyết định số 2801/QĐ-UBND ngày 17 tháng 6 năm 2011 Tại Quyết định này đã chỉ rõ thị xã Sơn Tây có 3 vùng chăn nuôi tập trung đó là xã Cổ Đông, xã Sơn Đông và xã Kim Sơn
Hai là, Sơn Tây có quỹ đất và hạ tầngđể phát triển chăn nuôi lợn thịt theo
mô hình liên kết Hiện tại Sơn Tây đang thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, trong đó có công tác dồn điền đổi thửa, đây là cơ hội để người chăn nuôi dòn đất xây dựng trang trại chăn nuôi, hơn nữa Sơn Tây còn có một số quỹ đất chưa sử dụng có thể chuyển sang cho sản xuất chăn nuôi lợn thị Bên cạnh đó trong xây dựng nông thôn mới sẽ xây dựng hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp nói chung trong đó có chăn nuôi lợn
Balà, để thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn theo mô hình liên kết cần một lượng vốn khá lớn để đầu tư cho sản xuất chăn nuôi.Sơn Tây là đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc thành phố Hà Nội, đây là địa phương có tiềm lực rất lớn về tài chính nên việc thực hiện các chính sách hỗ trợ cho phát triển chăn nuôi lợn thịt rất thuận lợi, có thể áp dụng hình thức hỗ trợ lãi suất vốn vay như tỉnh Hà Nam đã làm hay hỗ trợ hạ tầng và xử lý chất thải, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như tỉnh Hà Tĩnh đang triển khai
Bốn là, chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kết là ngành sản xuất hàng hoá, do vậy cần phải có thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra Với vị trí cách trung tâm thành phố Hà Nội không xa (42 km), đây là thị trường tiêu thụ thịt lợn rất lớn nên việc tiêu thụ thịt lợn của Sơn Tây rất thuận tiện, hơn thế nữa Sơn Tây là đầu mối giao thông nói liền Hà Nội với các tỉnh phía Tây Bắc, Đông bắc có các cửa khẩu xuất lợn thịt sang thị trường Trung Quốc
Năm là, chăn nuôi lợn thịt theo mô hình liên kếtđòi hỏi người chăn nuôi phải có kiến thức, am hiểu kỹ thuật chăn nuôi lợn theo kiểu trang trại công nghiệp.Như vậy, để người chăn nuôi lợn thịt của Sơn Tây có kỹ thuật chăn nuôi theo mô hình liên kết thì chính quyền thị xã cần tìm hiểu, tổng kết các mô hình liên kết có hiệu quả thích ứng với điều kiện chăn nuôi của Sơn Tây, từ đó tuyên truyền, phổ biến và nhân rộng nhằm thúc đẩy sự phát triển chăn nuôi lợn thịt của địa phương Hiện tại Sơn Tây đã có những mô hình liên kết của những công ty phát triển chăn nuôi mạnh nhất của Việt Nam, do vậy việc phổ biến nhân rộng những mô hình này là giải pháp hiệu quả nhất