Nguyên nhân chủ yếu là do đội ngũ cán bộ HTX về trình độ và năng lực quản lý còn hạn chế; Sự chỉ đạo của chính quyền địa phương chưa thường xuyên và đồng bộ; Điều kiện về kinh tế xã hội
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THỊ THU HƯƠNG
PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP KIỂU MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LƯƠNG SƠN,
TỈNH HÒA BÌNH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Mai Thanh Cúc
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hương
Trang 3đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Phòng - Ban của huyện Lương Sơn, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới hợp tác xã, hộ nông dân, cá nhân đã cung cấp số liệu thông tin, trả lời phỏng vấn, đóng góp ý kiến quý giá đề luận văn được hoàn thiện
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời chúc sức khoẻ và chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hương
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục .iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ, hình ảnh viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Đóng góp mới của luận văn 4
1.5.1 Về lý thuyết 4
1.5.2 Về thực tiễn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Các khái niệm có liên quan 5
2.1.2 Đă ̣c điểm và vai trò của HTXNN kiểu mới 14
2.1.3 Nội dung phát triển HTXNN kiểu mới 23
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển HTXNN kiểu mới 26
2.2 Cơ sở thực tiễn 28
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển của HTXNN trên thế giới 28
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển HTXNN ở một số địa phương trong nước 33
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển HTXNN kiểu mới cho huyện Lương Sơn 37
Phân 3 Phương phap nghiên cưu 38
3.1 Đăc điểm địa bàn nghiên cứu 38
Trang 53.1.1 Đă ̣c điểm tự nhiên 38
3.1.2 Đă ̣c điểm Kinh tế - Xã hội 41
3.2 Phương pháp nghiên cứu 47
3.2.1 Phương pháp cho ̣n điểm 47
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 47
3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 50
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 51
Phần 4 Kết quả nghiên cưu và thảo luận 52
4.1 Thực trạng phát triển htx nông nghiệp kiểu mới huyện lương sơn, tỉnh hòa bình 52
4.1.1 Khái quát chung về các HTXNN trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 52
4.1.2 Kết quả phát triển HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 59
4.1.3 Đánh giá chung về chất lượng phát triển HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 75
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phát triển HTXNN kiểu mới huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 77
4.2.1 Cơ chế chính sách ảnh hưởng đến phát triển HTXNN kiểu mới 77
4.2.2 Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý trong HTXNN kiểu mới 79
4.2.3 Trình độ, ý thức của thành viên trong HTXNN kiểu mới 83
4.2.4 Sự quan tâm của chính quyền địa phương 86
4.3 Giải pháp phát triển htxnn kiểu mới huyện lương sơn, tỉnh hòa bình 88
4.3.1 Định hướng phát triển HTXNN kiểu mới 88
4.3.2 Các giải pháp phát triển HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 93
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 103
5.1 Kết luận 103
5.2 Kiến nghị 104
5.2.1 Đối với cấp ủy Đảng, Nhà nước 104
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 104
Tài liệu tham khảo 106
Trang 6CQĐP Chính quyền địa phương
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 So sánh HTXNN kiểu cũ và HTXNN kiểu mới 18
Bảng 3.1 Tình hình đất đai huyện Lương Sơn qua các năm 2016-2018 40
Bảng 3.2 Tình hình dân số huyện Lương Sơn năm 2016- 2018 42
Bảng 3.3 Tình hình lao động huyện Lương Sơn năm 2018 43
Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các năm của Lương Sơn 44
Bảng 3.5 Thu thập số liệu thứ cấp 48
Bảng 3.6 Thu thập số liệu sơ cấp 48
Bảng 4.1 Số lượng hợp tác xã trên địa bàn huyện Lương Sơn giai đoạn 2016 – 2018 54
Bảng 4.2 Tình hình chuyển đổi sang HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn giai đoạn 2016 – 2018 55
Bảng 4.3 Phân loại HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn năm 2018 58
Bảng 4.4 Đánh giá của thành viên về việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của các bộ phận trong HTXNN kiểu mới 61
Bảng 4.5 Tình hình cơ bản về các HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyê ̣n Lương Sơn năm 2018 62
Bảng 4.6 Tình hình cơ sở vật chất bình quân của HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn năm 2018 63
Bảng 4.7 Tình hình vốn tài sản của các HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyê ̣n Lương Sơn giai đoạn 2016-2018 65
Bảng 4.8 Kết quả kinh doanh bình quân theo từng loại hình dịch vụ của HTXNN kiểu mới 69
Bảng 4.9 Mức tiêu thụ bình quân của một số sản phẩm chính của HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn giai đoan 2016- 2018 71
Bảng 4.10 Kết quả kinh doanh theo từng sản phẩm của HTXNN kiểu mới về sản xuất và tiêu thụ RAT 72
Bảng 4.11 Thu nhập của hộ thành viên sau khi HTXNN chuyển đổi mô hình kiểu mới 74
Bảng 4.12 Đánh giá của hộ về cơ chế chính sách ảnh hưởng đến phát triển HTXNN kiểu mới 78
Trang 8Bảng 4.13 Trình độ cán bộ quản lý các HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyện
Lương Sơn 80
Bảng 4.14 Mức độ quan trọng của việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý HTXNN kiểu mới 82 Bảng 4.15 Đánh giá về nội dung chương trình bồi dưỡng cán bộ HTXNN kiểu
mới 83
Bảng 4.16 Trình độ học vấn, chuyên môn của thành viên 84
Bảng 4.17 Nhu cầu của thành viên về mở rộng các hoạt động dịch vụ của
HTXNN kiểu mới trên địa bàn 85
Bảng 4.18 Mong muốn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp 86
Bảng 4.19 Mối quan hệ trong công tác quản lý của HTXNN kiểu mới với
chính quyền địa phương 87
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ mô hình hoạt động hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới 21
Sơ đồ 4.1 Tổ chức bộ máy quản lý HTXNN kiểu mới ở huyê ̣n Lương Sơn 59 Hộp 4.1 Ý kiến của cán bộ về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát HTXNN kiểu
mới ở huyện Lương Sơn 66
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Lê Thị Thu Hương
Tên luận văn: “Phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới trên địa bàn huyện Lương
Sơn, tỉnh Hòa Bình”
Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 8340410 Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển HTXNN kiểu mới, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyê ̣n Lương Sơn, tı̉nh Hòa Bı̀nh trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu đã công bố như các báo cáo, niên giám thống kê của tỉnh, các báo cáo tóm tắt của các phòng, ban liên quan đến phát triển hợp tác xã nông nghiệp Số liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn các HTX và xã viên
Phương pháp phân tích số liệu: Nghiên cứu sử dụng một số phương pháp phân
tích số liệu như phương pháp phân tích mô tả, phân tổ thống kê và phân tích so sánh
Kết quả chính và kết luận
Luận văn đã phân tích thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình: Tính đến 31/12/2018, trên đi ̣a bàn huyê ̣n Lương Sơn có 28 HTX, trong đó có 23 HTXNN và 5 HTXTMDV, thuô ̣c 19 xã, thi ̣ trấn.Tổng giá trị tài sản của HTXNN huyê ̣n Lương Sơn tại thời điểm 31/12/2018 là 20.470 triệu đồng, trong đó tài sản cố định là 16.330 triệu đồng chiếm 79,78% và tài sản lưu động (chủ yếu nằm trong khoản mục nợ phải thu và tiền mặt) là 4.140 triệu đồng chiếm 20,22% điều này cho thấy HTX điều chỉnh vốn chưa hợp lý dẫn đến việc sử dụng vốn không hiệu quả Qua 3 năm, chúng ta thấy rằng tổng giá trị tài sản của HTX có xu hướng tăng dần, tài sản lưu động tăng nhẹ với tốc độ (109,5%/năm) Qua điều tra 45 hộ thành viên thì kinh tế các hộ thành viên phần nhiều đã tăng lên sau khi HTXNN chuyển đổi sang mô hình kiểu mới Cụ thể có 33,33% hộ thành viên có kinh tế tăng lên và 37,78% hộ cho thấy kinh tế tăng lên một chút Phần nào đó thấy được hiệu quả của HTXNN, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn đối với hộ thành viên Song bên cạnh đó, có 22,22% hộ cho rằng kinh tế không thay đổi và đặc biệt 6,67% hộ nhận định kinh tế giảm đi sau khi HTXNN chuyển đổi mô hình mới Có thể thấy HTXNN kiểu mới cần có
Trang 11những biện pháp, những kế hoạch phát triền kinh tế phù hợp hơn đối với toàn thể các hộ thành viên trong HTX Tuy nhiên cũng còn nhiều hạn chế trong phát triển HTXNN kiểu mới Nguyên nhân chủ yếu là do đội ngũ cán bộ HTX về trình độ và năng lực quản lý còn hạn chế; Sự chỉ đạo của chính quyền địa phương chưa thường xuyên và đồng bộ; Điều kiện
về kinh tế xã hội và hạ tầng của Hòa Bình còn khó khăn, đất đai manh mún;…
Đưa ra các giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới đó là: Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; Nhóm giải pháp tăng cường hoạt động của HTXNN trong nền kinh tế thị trường; Nhóm giải pháp thu hút liên kết đầu tư với các doanh nghiệp; Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTXNN; Nhóm giải pháp về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của các cấp ủy, chính quyền địa phương; Đổi mới và nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân về vai trò, bản chất của HTXNN;
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Le Thi Thu Huong
Thesis title: Develop new model agricultural co-operatives in Luong Son district, Hoa
Methods
Data collection method: Secondary data is collected through proclaimed documents such as reports, statistical yearbook of the province; summary reports of the departments,
committees Primary data is gathered from co-operatives, co-operatives members
Method of analysis: there are several methods of analysis using in this study
such as descriptive analysis, partial analysis, comparative analysis
Main findings and conclusions
Analyzing the situation of developing new model agricultural co-operatives in Luong Son district, Hoa Binh province: December 31, 2018, there are 28 co-operatives Total asset value is 20.470 million dong in 2018, including fixed assets are 16,330 million dong, accounting for 79.78% and current assets (mainly in the accounts of receivables and cash) are 4,140 million dong, accounting for 20.22% Later 3 years, the total asset value
of co-operatives tends to increase, current assets was slightly increased (109.5% / year) Through the survey of 45 households, the economy of households has increased after the cooperatives transformed into new models Specifically, 33.33% was rapid increase and 37.78% was slight increase in the economy However, the number of household have not change was 22.22% and especially 6.67% of households perceived that the economy decreased after the cooperative changed the new model Therefore, new model co-operatives need measures and plans for all members of the co-operative However, there are many limitations in developing new model co-operatives The main
Trang 13reason is that the cooperative staff in terms of qualifications and management capacity is limited; The direction of authorities is not regular and synchronous
Main solutions to develop new model agricultural co-operatives in Luong Son district, Hoa Binh province: Group of solutions on mechanisms and policies; Group of solutions to strengthen the operation of agricultural cooperatives in the market economy; Group of solutions to attract investment links with businesses; Renovating and improving the effectiveness of training and retraining of agricultural cooperative officials; Group of solutions to strengthen leadership, direction and coordination of the committees, local authorities; Raising awareness of people about the role of agricultural cooperatives;
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hợp tác xã (HTX) là loại hình hoạt động kinh tế “sinh sau, đẻ muộn” so với loại hình kinh tế cá thể, kinh tế hộ và loại hình doanh nghiệp tư bản và đang tiếp tục phát triển Trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, bản chất của HTX không phải là sự phủ định, sự thay thế kinh tế hộ, mà làm cho việc sản xuất cá thể của các xã viên có sức cạnh tranh cao hơn, thu nhập của xã viên cao hơn trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, thông qua việc HTX cung cấp các dịch
vụ đầu vào với giá thấp, chất lượng cao cho các hộ xã viên, qua việc phối hợp kế hoạch sản xuất, kinh doanh của các hộ và tổ chức tiêu thụ sản phẩm của các hộ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đã khẳng định “Phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã là vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Chuyển đổi HTX kiểu cũ theo luật HTX đạt hiệu quả thiết thực, phát triển HTX kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành để sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù hợp với quá trình CNH - HĐH”
Là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, điều kiện tự nhiên của tỉnh Hòa Bình về tài nguyên thiên nhiên mang lại nhiều tiềm năng phát triển trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp Trong những năm qua, hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở Hòa Bình đã đạt được một số kết quả nhất định như tổ chức bộ máy quản lý chặt chẽ, gọn nhẹ hơn trước; hoạt động trong các ngành, lĩnh vực đã có chuyển biến và tạo ra bước phát triển mới; từng HTX Nông nghiệp có điều lệ phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ riêng Tình hình tài chính của các HTX Nông nghiệp cũng đã có sự phân định rõ ràng; thu hút, giải quyết việc làm và thu nhập ổn định cho hàng trăm ngàn xã viên và lao động; tham gia thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và từng bước tham gia các chương trình
xã hội hóa trong phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Hoàn Bình Tuy nhiên, trên thực
tế cho thấy các HTX Nông nghiệp vẫn chưa khai thác hết lợi thế phát triển của mình Nhiều HTX Nông nghiệp đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thậm chí ngừng hoạt động chờ giải thể Đến hết tháng 12/2018, tổng số HTX trên địa bàn tỉnh
là 277 HTX; trong đó có 163 HTX Nông nghiệp (chiếm 58,63% tổng số HTX),
nhưng có đến 47.27% trong tổng số HTX Nông nghiệp hiện đang ngừng hoạt động,
Trang 15chờ giải thể (Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình, 2018) Không ít các HTX Nông nghiệp
đã chuyển đổi theo Luật HTX 2012 nhưng còn trì trệ, chưa hoạt động đúng theo bản
chất của Luật HTX 2012 mà mới chỉ trên danh nghĩa "Bình mới rượu cũ", tổ chức
sản xuất nông nghiệp và liên kết trong sản xuất theo chuỗi giá trị hầu như chưa có, HTX chưa thực sự làm cầu nối dẫn dắt thành viên tiếp cận với những kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp bộc lộ nhiều khuyết điểm như thiếu sự đồng nhất về chất lượng, tính bền vững chưa cao, tổ chức sản xuất và liên kết sản xuất còn hạn chế trong nền kinh tế thị trường, thường xuyên xảy ra tình trạng được mùa mất giá, giá trị gia tăng của sản phẩm tập trung chủ yếu ở khâu tiêu thụ do thương lái thao túng Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngừng hoạt động, thu hẹp sản xuất và sản xuất kém hiệu quả của các HTX Nông nghiệp và nền sản xuất nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình? Phải chăng nguyên nhân chính là do phương thức sản xuất nông nghiệp và năng lực hoạt động, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả của các HTX Nông nghiệp hiện nay?
Từ khi triển khai thực hiện Luật HTX năm 2012 cho đến nay, HTXNN ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình có những bước phát triển mới, đã đáp ứng được một phần nhu cầu của nông dân, của hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa bàn Các HTX đã và đang cố gắng chuyển đổi hoạt động theo Luật, hỗ trợ kinh tế hộ phát triển Tuy vậy, HTXNN ở Hòa Bình cũng còn tồn tại một số yếu kém như: một
số HTX chuyển đổi còn mang tính hình thức, năng lực nội tại của HTX còn hạn chế, số HTX làm ăn hiệu quả còn ít, lợi ích đem lại cho các xã viên chưa nhiều, HTXNN phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và vai trò kinh tế - xã hội vốn
có của nó Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề
tài “Phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới trên địa bàn huyện Lương
Trang 161.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- HTX Nông nghiệp kiểu mới ảnh hưởng như thế nào đến việc phát triển chung của huyê ̣n Lương Sơn?
- Thực trạng phát triển HTX Nông nghiệp kiểu mới tại huyê ̣n Lương Sơn như thế nào?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển của HTX Nông nghiệp kiểu mới tại huyê ̣n Lương Sơn là gì?
- Để pháp phát triển HTX Nông nghiệp kiểu mới tại huyê ̣n Lương Sơn cần phải thực hiện những giải pháp gì?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tươ ̣ng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là HTXNN kiểu mới ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các hoạt động của HTXNN kiểu mới gồm có cơ cấu tổ chức, điều hành của bộ máy quản lý, tình hình tài sản, tình hình thu nhập các lao động và kết quả các hoạt động chủ yếu của HTXNN ở huyện Lương Sơn
1.4.2.2 Phạm vi không gian
Đề tài được nghiên cứu tại các HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình
Trang 171.4.2.3 Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu đề tài: Thông tin thứ cấp thu thập qua 3 năm (từ năm 2016- 2018); thông tin sơ cấp được tiến hành điều tra khảo sát trong năm 2018
Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 6/2018 – 6/2019
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
1.5.1 Về lý thuyết
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển HTXNN kiểu mới như: các khái niệm liên quan đến phát triển HTXNN kiểu mới; Đặc điểm và vai trò của HTXNN kiểu mới; Nội dung phát triển HTXNN kiểu mới; Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển HTXNN kiểu mới
1.5.2 Về thực tiễn
Ý nghĩa thực tiễn là nghiên cứu tình hình thực tiễn và kinh nghiệm phát triển của HTXNN trên thế giới, kinh nghiệm phát triển HTXNN ở Việt Nam và vận dụng vào phát triển HTXNN kiểu mới cho huyện Lương Sơn Đi sâu đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để tăng cường phát triển HTXNN kiểu mới trên địa bàn huyê ̣n
Lương Sơn, tı̉nh Hòa Bı̀nh trong thời gian tới
Trang 18PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Hợp tác, Kinh tế hợp tác
Hợp tác là hình thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh tế của con người Hợp tác bắt nguồn từ tính chất xã hội của hoạt động nói chung, của lao động sản xuất và hoạt động kinh tế nói riêng của con người Do vậy, sự phát triển của hợp tác gắn liền và bị quy định bởi tiến trình nâng cao trình độ xã hội hóa sản xuất và hoạt động kinh tế Trong lao động sản xuất, hợp tác có tác dụng làm tăng năng suất lao động Sự phát triển của các hình thức và tính chất thích hợp của hợp tác có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế (Nguyễn Minh Tú, 2014)
Hợp tác lao động được thực hiện từ khi loài người xuất hiện và ngày càng phát triển Cùng với tiến trình phát triển xã hội, phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu Do đó, nhu cầu về hợp tác lao động ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ và mở rộng Nó không bị giới hạn trong phạm vi từng đơn vị, từng ngành, từng địa phương trong một nước mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế (Nguyễn Minh Tú, 2014)
Hợp tác có nhiều hình thức với đặc điểm, tính chất, trình độ khác nhau: hợp tác ngẫu nhiên; hợp tác thường xuyên, ổn định; hợp tác lao động như Mác đã phân tích về ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp; hợp tác giữa các đợn vị, các ngành… (Lương Xuân Quỳ, 2012)
Kinh tế hợp tác là phạm trù hẹp của hợp tác, phản ánh một phạm vi hợp tác- hợp tác trong lĩnh vực kinh tế
Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế, hợp tác tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng thành viên với ưu thế và sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất- kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
và lợi ích của mỗi thành viên (Nguyễn Minh Tú, 2014)
Trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, thì kinh tế hợp tác là một hình thức kinh tế mà nhờ đó các chủ thể kinh tế tự chủ,
Trang 19có điều kiện phát triển Như vậy, quan hệ kinh tế hợp tác phải được xây dựng trên nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và tính tự chủ, độc lập của các thành viên tham gia
Hợp tác trong nông nghiệp là nhu cầu khách quan Từ thời xa xưa, các hộ nông dân đã có nhu cầu hợp tác với nhau để hỗ trợ, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, nâng cao hiệu quả sản xuất
Khi nền sản xuất còn mang nặng tính tự cung, tự cấp thì quá trình hợp tác mang tình chất hợp tác lao động theo màu vụ, đổi công, cùng làm giúp nhau… nhằm đáp ứng nhu cầu thời vụ, hoặc tăng thêm sức mạnh để giải quyết những công việc mà từng hộ gia đình không có khả năng thực hiện, hoặc làm việc riêng
rẽ không có hiệu quả như: phòng chống thiên tai, thú dữ, sâu bệnh… Đặc điểm
cơ bản của hợp tác kiểu này là hợp tác theo thời vụ, việc hợp tác ngẫu nhiên, không thường xuyên, chưa tính đến giá trị ngày công Đây là các hình thức hợp tác ở chế độ thấp (Lương Xuân Quỳ, 2012)
Khi nền nông nghiệp hàng hóa phát triển, nhu cầu dịch vụ cho quá trình tái sản xuất ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng, như dịch vụ về giống, phòng trừ sâu bệnh, chế biến và tiêu thụ nông sản… Trong điều kiện này, từng
hộ nông dân tự đảm nhiệm tất cả các khâu cho quá trình sản xuất sẽ gặp khó khăn, hoặc không đủ khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấp kém hơn so với hợp tác Từ đó, nảy sinh nhu cầu hợp tác ở trình độ cao hơn, đó là hợp tác thường xuyên, ổn định, có tính đến giá trị ngày công, giá trị dịch vụ, dẫn đến hình thành hợp tác xã
Như vậy, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, không phân biệt chế độ chính trị- xã hội, xuất phát từ mục tiêu kinh tế, nông dân đều có nhu cầu hợp tác
từ hình thức giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành Lực lượng sản xuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng Do đó, tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn, từ kinh tế hợp tác giản đơn như các tổ, hội nghề nghiệp; các tổ, nhóm hợp tác, đến các tổ kinh tế hợp tác và hợp tác phát triển ở trình độ cao là hợp tác xã (Lương Xuân Quỳ, 2012)
2.1.1.2 Hợp tác xã (HTX)
Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế,
Trang 20xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra dân chủ (Liên minh HTX Việt Nam, 2015)
"Hợp tác xã là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi
và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục
vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung" dẫn theo Nguyễn Anh Sơn, 2014 Hai khái niệm trên đều cho rằng HTX là một tổ chức được hình thành trên
cơ sở sự liên kết tự nguyện của các thành viên, được vận hành trên cơ sở bình đẳng về nghĩa vụ, quyền lợi và sự đồng thuận nhằm đạt mục tiêu mang lại lợi ích chung cho các thành viên Tuy vậy, khái niệm do Liên minh HTX quốc tế nhấn mạnh yếu tố hợp tác giữa các thành viên trong quá trình thành lập và điều hành các HTX để phục vụ lợi ích chung, còn với khái niệm HTX do Tổ chức Lao động quốc tế lại nhấn mạnh cơ sở của sự hợp tác giữa các thành viên là để khắc phục
sự khó khăn khi hoạt động riêng lẻ, và sự liên kết này đã mang lại lợi ích chung cho tập thể
Luật Hợp tác xã (2012) của Việt Nam đã định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ
chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên
tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở
tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”
Từ các khái niệm về HTX, có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản về HTX như sau:
Hợp tác xã là hình thức thực hiện các quá trình hợp tác trong hoạt động kinh tế Mục tiêu của HTX là đẩy mạnh khả năng sản xuất xã hội, tối ưu hóa lao động, tăng hiệu quả kinh tế, phải thích hợp với các mối quan hệ kinh tế mới trong điều kiện mới
Việc thành lập HTX không làm mất đi tính tự chủ vốn có của các bên tham gia, trái lại nó tăng thêm sức mạnh cộng đồng và phát triển được những ưu thế của phương thức HTX (Quốc hội, 2012)
Các HTX tạo ra đòn bẩy để phát triển kinh tế các chủ thể kinh tế tự chủ HTX là việc liên kết nhau lại giữa các chủ thể kinh tế tự chủ tạo ra sức mạnh
Trang 21mới, thông qua đó phát triển được kinh tế của mình Như vậy, khi thành lập HTX mới không phải là kinh tế HTX mà là sự phát triển kinh tế của các thành viên Do
đó, kinh tế HTX là tổ chức kinh tế tự nguyện của các chủ thể kinh tế tự chủ HTX trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và mô hình HTX kiểu mới Các HTX nằm trong sợi dây liên doanh, liên kết nhằm tăng sức mạnh, sức cạnh tranh, hoạt động hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa các loại hình HTX trong nhiều lĩnh vực khác nhau, thúc đẩy kinh tế hợp tác ổn định và phát triển bền vững, góp phần xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
Đối với nông nghiệp Việt Nam, HTX không chỉ đơn thuần phát triển kinh
tế mà còn giữ vững vai trò nòng cốt trong phát triển kinh tế tập thể, đồng thời mang nhiệm vụ chính trị về an ninh nông thôn, xây dựng, gìn giữ, phát huy tình đoàn kết, tính cộng đồng bao đời nay của cha ông ta
Như vậy có thể hiểu, HTX là tổ chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn
sâu sắc Hình thành HTX là một quá trình hoàn toàn tự nhiên từ những đỏi hỏi, nhu cầu thực tế của con người trong các hoạt động kinh tế
2.1.1.3 Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN)
a Khái niệm
Nhà kinh tế học A.V.Traianop đã nhấn mạnh: “Hợp tác nông nghiệp là sự
bổ sung cho kinh tế hộ nông dân, phục vụ cho nó và vì thế thiếu kinh tế hộ nông dân thì HTX không có ý nghĩa gì cả” và “chỉ những HTX do chính những người nông dân điều hành theo sáng kiến của họ và lợi ích của các HTX ấy được kiểm nghiệm trên thực tế mới có giá trị” Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập tới những vấn đề lý luận, mục đích, loại hình và cách tổ chức HTX và chỉ ra: “Hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau, vốn nhiều có sức mạnh thì khó nhọc ít và lợi ích nhiều” (Phạm Vân Đình, 2008)
Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể do nông dân, hộ gia đình nông dân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật HTX để phát huy sức mạnh tập thể các hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
(Nguyễn Minh Tú, 2014)
Các khái niệm trên cũng chỉ ra mối liên kết tự nguyện giữa các chủ thể
Trang 22kinh tế là nền tảng cơ bản hình thành HTX Sự liên kết được thực hiện ở tất cả các hoạt động sản xuất và kinh doanh Từ đó, hình thành HTX ở hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân trong đó phải kể đến sự liên kết tự nguyện trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và hình thành các hợp tác xã nông nghiệp
Cũng giống như bất cứ quá trình sản xuất nào trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất nông nghiệp đều diễn ra các khâu như: bắt đầu từ việc nghiên cứu xác định nhu cầu thị trường, đến việc chuẩn bị và kết hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất, kết thúc bằng việc phân phối sản phẩm để thu tiền về Chính vì thế là đơn vị sản xuất kinh doanh và độc lập, các HTXNN vẫn phải tiến hành đầy đủ các khâu trong quá trình kinh doanh nhằm mang lại lợi ích cho mình Tuy vậy, khi tham gia vào thị trường để nâng cao sức cạnh tranh thì HTX phải phát huy thế mạnh của mình từ sự liên kết và hợp tác Do đó, xét về mặt tổ chức sản xuất các HTX sẽ phân chia các khâu của quá trình sản xuất để tiến hành chuyên môn hóa sản xuất và kinh doanh Trên cơ sở chuyên môn hóa sẽ hình thành một hệ thống các HTXNN, trong đó bao gồm các HTX thực hiện một hoặc một số khâu hoặc toàn bộ quá trình sản xuất để tạo ra lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường Vì vậy, có thể có các HTX tiến hành nghiên cứu, dự báo thị trường nông sản – thực phẩm, HTX cung ứng các yếu tố phục vụ sản xuất như: vốn, máy móc, thiết bị, phân bón, thuốc trừ sâu…, HTX cung cấp các dịch
vụ nông nghiệp: tưới, tiêu, đánh chuột, cày, bừa… và các HTX phục vụ việc bán hàng và phân phối hàng hóa thậm chí cả các HTX cung cấp lao động
Như vậy có thể hiểu, Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tự chủ
được các thành viên thành lập trên cơ sở tự nguyện, tiến hành các hoạt động sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn để đáp ứng nhu cầu xã hội
Hợp tác xã nông nghiệp hiện nay phân theo hình thức hoạt động gồm: HTX dịch vụ nông nghiệp và HTX nông nghiệp chuyên ngành (Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình, 2018)
- HTX DVNN được hiểu là các HTX cung ứng các dịch vụ nông nghiệp theo yêu cầu của các xã viên
- HTXNN chuyên ngành được hiểu là các HTX ngoài việc làm các dịch
vụ hỗ trợ kinh tế hộ xã viên còn tổ chức sản xuất, kinh doanh và phát triển các ngành nghề khác phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống của hộ xã viên và cộng đồng (Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình, 2018)
Trang 23b Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển của HTXNN
Những hộ tiểu nông cá thể không thể không liên kết lại trước những diễn biến phức tạp của điều kiện tự nhiên; trước sự chèn ép của các cơ sở kinh doanh lớn trong lĩnh vực cung ứng vật tư kỹ thuật và tiêu thụ nông sản phẩm… Sự liên kết đó đã gắn bó những người sản xuất nhỏ trong các tổ chức kinh tế (được gọi là hợp tác xã) theo yêu cầu sản xuất của họ (Phạm Vân Đình, 2004)
C.Mác cho rằng đối với “nghề nông hợp lý” thì phải có “bàn tay của người tiểu nông sống bằng lao động của mình” hoặc phải có “sự kiểm soát của những người sản xuất có liên quan với nhau Khi nói về sự liên kết giữa những người nông dân, F Ănghen cũng chỉ rõ: “Liên hiệp kinh tế của nông dân với hiệp hội mà trong đó có thể ngày càng giảm bớt sự bóc lột lao động làm thuê, những hiệp hội
đó dần dần sẽ chiếm được đa số áp đảo những bộ phận cấu thành của hiệp hội sản xuất toàn xã hội…” Khi nói về tính tất yếu của sự hợp tác trong nông nghiệp, Cauki chỉ ra: Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, của nền nông hộ đã dẫn đến nhu cầu hợp tác phong phú, nhiều vẻ (Phạm Vân Đình, 2008)
Từ những luận điểm trên đã cho thấy hợp tác hóa trong nông nghiệp là một
xu hướng phát triển tất yếu xuất phát từ yêu cầu sản xuất của những người sản xuất tiểu nông Khi nền nông nghiệp hàng hoá phát triển, nhu cầu dịch vụ cho quá trình sản xuất ngày càng tăng cả về qui mô và chất lượng Nổi bật là các dịch vụ: giống, phòng trừ sâu bệnh, chế biến và tiêu thụ nông sản, thuỷ lợi Trong điều kiện này, từng hộ nông dân tự đảm nhiệm tất cả các khâu cho quá trình sản xuất sẽ gặp khó khăn, hoặc không đủ khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấp kém hơn so với hợp tác Từ đó nảy sinh nhu cầu hợp tác ở trình độ cao hơn, đó là hợp tác thường xuyên, ổn định, có tính đến giá trị ngày công – giá trị dịch vụ, dẫn đến hình thành HTX Như vậy, sự ra đời của HTX trong nông nghiệp là nhu cầu khách quan, gắn với quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá
c Vai trò của hợp tác xã nông nghiệp
- HTX góp phần thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, giúp nhau tăng sức cạnh tranh, khai thác các nguồn tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật để phát triển, góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất, thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa các hộ sản xuất, xã viên với Nhà nước và các tổ chức kinh tế Nhà nước
- HTX nông nghiệp góp phần đưa tiến bộ khoa học, công nghệ, thiết bị kỹ thuật hiện đại tới người nông dân trong các khâu sản xuất nông nghiệp và nông thôn; phát triển và mở rộng các hoạt động dịch vụ và hệ thống khuyến nông,
Trang 24khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công và khuyến thương; đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và thực hành nông nghiệp cho lao động nông nghiệp, nông thôn; tổ chức thực hiện việc phổ cập thông tin khoa học - kỹ thuật và thông tin thị trường đến các xã, thôn (Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình, 2018)
- HTX phát triển sẽ tạo ra nhiều chỗ làm việc, góp phần giải quyết công
ăn, việc làm, tăng thu nhập và bảo đảm đời sống ổn định cho xã viên và người lao động, giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội ở địa phương, là tiền đề quan trọng để thực hiện dân chủ hóa và nâng cao văn minh ở nông thôn; các HTX phát huy tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau để vượt nghèo, góp phần làm giảm bớt những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường và ổn định xã hội ở nông thôn
- HTX nông nghiệp góp phần quan trọng vào việc nâng cấp và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn: hệ thống điện, thuỷ lợi, giao thông nông thôn, các công trình phúc lợi xã hội, như nhà mẫu giáo, nhà trẻ, nhà văn hóa, trường học để phục vụ cho
xã viên và cộng đồng dân cư (Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình , 2018)
2.1.1.4 Khái niệm HTXNN kiểu mới
Theo Luật Hợp tác xã 2012 thì khái niệm này đã được thay đổi như sau:"Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có
tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng
và dân chủ trong quản lý hợp tác xã
HTXNN kiểu mới không đơn giản là sự thay đổi “từ chức danh ông chủ nhiệm HTX thành Chủ tịch hội đồng quản trị, Tổng giám đốc HTX, mà là sự thay đổi từ bản chất"; khẳng định kinh tế hộ gia đình không bị “thui chột, mất động lực” khi tham gia HTX mà HTX kiểu mới còn làm gia tăng giá trị kinh tế của hộ gia đình Vậy HTX kiểu cũ và HTX kiểu mới có điểm gì khác nhau (Quốc hội, 2012)
HTXNN kiểu mới là tổ chức kinh tế do những ngươı̀ nông dân tự nguyê ̣n thành lập lên nhằm mu ̣c đích trơ ̣ giúp các hoa ̣t đô ̣ng sản xuất nông nghiê ̣p của ho ̣ thông qua việc cung cấp các di ̣ch vụ giá rẻ do lợi thế về quy mô và chuyên môn hóa hoa ̣t đô ̣ng HTXNN kiểu mới ra đời dựa trên nền tảng kinh tế hô ̣ nông dân
So với Luật Hợp tác xã năm 2003 thì Luật hợp tác xã năm 2012 đã làm rõ
Trang 25được bản chất của HTX là một tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể thành lập trên tinh thần tự nguyện,nhằm lợi ích chung của các thành viên Luật hợp tác xã năm 2012 đã bỏ quy định “HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp”, quy định này đã gây ra hai luồng ý kiến Đa số ý kiến cho rằng, hợp tác
xã là tổ chức kinh tế tự chủ do các thành viên tự nguyện thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu chung của mình mà từng thành viên đơn lẻ không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả hơn Một số ít ý kiến khác cho rằng: Cần khẳng định
“Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp” như được quy định tại Luật Hợp tác xã năm 2003 vì thực chất hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp đặc thù, cần được bảo đảm hoạt động bình đẳng với mọi loại hình doanh nghiệp khác và có quyền kinh doanh một số ngành nghề mà pháp luật không cấm (Hoàng Văn Long, 2013)
Với đă ̣c điểm của sản xuất nông nghiê ̣p, HTXNN kiểu mới có thể tổ chức theo các hình thức sau:
- HTXNN làm di ̣ch vu ̣: về mă ̣t hı̀nh thức, đây là tổ chức kinh tế trong nông nghiê ̣p đươ ̣c tách hẳn để làm chức năng di ̣ch vu ̣ nông nghiê ̣p, bao gồm:
di ̣ch vu ̣ các yếu tố đầu vào các HTX cung ứng vâ ̣t tư), di ̣ch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp các HTX làm đất, tưới nước, bảo vê ̣ thực vâ ̣t…), di ̣ch vu ̣ quá trı̀nh tiếp theo của sản xuất nông nghiệp các HTX bảo quản tiêu thu ̣ sản phẩm) Tuy nhiên, theo tính chất của từng ngành, từng mức đô ̣, yêu cầu của hợp tác và phân công lao động để lựa cho ̣n các hình thức HTX cho thı́ch hợp Bởi vı̀, ngay
mô hı̀nh HTX di ̣ch vu ̣ cũng được phân thành nhiều hı̀nh thức: dịch vu ̣ chuyên khâu và dịch vu ̣ tổng hợp
- HTX sản xuất kết hợp với di ̣ch vu ̣: Các HTXNN loa ̣i này thường dưới
da ̣ng các HTX chuyên môn hóa theo sản phẩm Đó là các HTX di ̣ch vụ chuyên ngành gắn sản xuất với chế biến và tiêu thu ̣ Trong đó, trực tiếp sản xuất là hô ̣ nông dân, HTX hợp đồng bao tiêu chế biến và tiêu thu ̣ Trong đó, trực tiếp sản xuất là hộ nông dân, HTX hợp đồng bao tiêu chế biến và tiêu thu ̣ sản phẩm Vı́
du ̣: các HTX sản xuất rau, HTX sản xuất sữa… (Hoàng Văn Long, 2013)
- HTX sản xuất nông nghiê ̣p thuần túy: HTX loa ̣i này giống như các HTXNN ở nước ta trước khi đổi mới Tức là, những người sản xuất liên kết với nhau ở khâu sinh ho ̣c của sản xuất nông nghiê ̣p với mu ̣c đı́ch ta ̣o ra quy mô sản xuất thı́ch hợp, nhằm chống la ̣i sự chèn ép của tư thương, ta ̣o ra những ưu thế mới ở những ngành khó tách riêng như chăn nuôi cá ở các hồ, đầm lớn…
Trang 26Căn cứ vào những hı̀nh thức HTXNN kiểu mới, có thể thấy được các đă ̣c điểm đặc thù của chúng như sau:
- HTXNN là một tổ chức kinh tế tâ ̣p hợp đông đảo nông dân ở nông thôn- lực lượng lao đô ̣ng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong xã hội ở các nước đang phát triển,
do đó, có ưu thế về số lượng lao động Lực lượng lao đô ̣ng ở HTXNN nếu được bồi dưỡng, tập huấn và đào ta ̣o về khoa học, kỹ thuâ ̣t và công nghê ̣, sẽ là yếu tố cơ bản cho sự phát triển sản xuất nông nghiê ̣p và kinh tế- xã hô ̣i nông thôn
- HTXNN là mô ̣t tổ chức kinh tế của những người còn nhiều ha ̣n chế về trı̀nh đô ̣ dân trı́, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật so với các loa ̣i hı̀nh doanh nghiệp khác Điều này được biểu hiê ̣n ở các nước đang phát triển Đây là ha ̣n chế lớn nhất về kinh doanh của loa ̣i hı̀nh tổ chức kinh tế này Do đó, vai trò của Nhà nước đối với HTXNN là tất yếu về các mă ̣t: quản lý nhà nước, giúp đỡ, hỗ trợ và quản lý HTX, HTXNN cũng không thể không liên kết, kinh doanh với các tổ chức kinh tế, xã hô ̣i khác trong quá trı̀nh phát triển
- Đối tươ ̣ng của sản xuất nông nghiê ̣p là cây trồng , vâ ̣t nuôi nên trong quá trı̀nh hoa ̣t động kinh doanh của mình, HTXNN vừa bi ̣ chi phối bởi các quy luâ ̣t kinh
tế, vừa bị chi phối bởi các quy luâ ̣t tự nhiên Đă ̣c điểm này thường làm cho các HTXNN phải chi ̣u rủi ro lớn, hiê ̣u quả kinh tế thấp tích lũy ı́t Tuy nhiên, nếu được đầu tư tốt và HTXNN năng động, sáng tạo thì sẽ có nhiều lợi thế trong viê ̣c tung ra thị trường những loại hàng hóa đă ̣c sản có chất lượng cao và sức ca ̣nh tranh lớn cũng như chuyên môn hóa, đa dạng sản phẩm (Hoàng Văn Long, 2013)
2.1.1.5 Phát triển HTXNN kiểu mới
Phát triển HTXNN kiểu mới nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, mà hoạt động của HTX còn gắn với quá trình triển khai thực hiện những chương trình, dự án phát triển cộng đồng, như xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo, dạy nghề,… góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương (Nguyễn Minh Tú, 2014)
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của các HTX còn gặp nhiều khó khăn, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Một phần do cơ chế chính sách ban hành nhưng chưa thật sự đi vào cuộc sống; sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương đối với khu vực này còn hạn chế Mặt khác vẫn tồn tại nhiều HTX yếu kém cả về cơ sở vật chất và năng lực quản lý Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
Trang 27thôn) cho biết, cả nước hiện có khoảng 11.688 HTX nông nghiệp, nhưng chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tổng hợp và chỉ có 33% số HTX hoạt động hiệu quả, 193 HTX nông nghiệp có ứng dụng công nghệ cao
Do đó, để khắc phục những tồn tại, hạn chế, tiến đến xây dựng các HTX nông nghiệp kiểu mới, các bộ, ngành, địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn về Luật Hợp tác xã năm 2012; Nghị định số 193/2013/NÐ-CP và Nghị định số 107/2017/NÐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã Triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ
ưu đãi phát triển HTX theo Chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn
2015 - 2020 theo Quyết định số 2261/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tập trung nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định của một số luật, như Luật Ðất đai về tích tụ ruộng đất, quyền sử dụng đất nông nghiệp lâu dài nhằm tạo hành lang pháp lý để HTX vận động thành viên dồn điền, đổi thửa tạo diện tích canh tác lớn , cũng như một số luật khác có liên quan đến ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ trong nông nghiệp; các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với HTX, Liên hiệp hợp tác xã nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng (Nguyễn Minh Tú, 2014)
2.1.2 Đă ̣c điểm và vai trò của HTXNN kiểu mới
2.1.2.1 Đặc điểm phát triển HTXNN kiểu mới
Từ những nội dung đươ ̣c quy đi ̣nh trong luật HTX năm 2012 và các quan điểm có tı́nh nguyên tắc trong xây dựng kinh tế tâ ̣p thể đã nêu trong kỳ ho ̣p thứ
4, Quốc hô ̣i khóa XIII về “tiếp tu ̣c đổi mới, phát triển và nâng cao hiê ̣u quả kinh
tế tâ ̣p thể”, có thể nêu lên những đă ̣c trưng cơ bản và ưu thế của mô hı̀nh HTX kiểu mới như sau:
Thứ nhất, về thành viên tham gia HTX
Khác với HTX kiểu cũ, thành viên HTX chı̉ gồm các cá nhân, HTX kiểu mới là mô ̣t tổ chức kinh tế do các thành viên bao gồm cá nhân, hô ̣ gia đı̀nh và pháp nhân (người lao đô ̣ng, cán bô ̣, công chức, các hô ̣ sản xuất kinh doanh, trang tra ̣i, doanh nghiê ̣p nhỏ thuô ̣c các thành phần kinh tế…), cả người có ı́t vốn lẫn người có nhiều vốn có nhu cầu tự nguyê ̣n cùng nhau góp vốn hoă ̣c có thể góp sức
lâ ̣p ra và tự chi ̣u trách nhiê ̣m về các hoa ̣t đô ̣ng của mı̀nh theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về HTX, HTX không thủ tiêu tı́nh tự chủ sản xuất, kinh doanh của các thành viên mà chı̉ làm những gı̀ mỗi thành viên riêng lẻ không làm được hoă ̣c làm
Trang 28không có hiê ̣u quả để hỗ trợ cho các thành viên phát triển Thành viên tham gia HTX vẫn là những “đơn vi ̣ kinh tế tự chủ” (Quốc hội, 2012)
Thứ hai, HTX tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc tự nguyê ̣n:
Mo ̣i các nhân, hô ̣ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy đi ̣nh của luâ ̣t HTX, tán thành điều lệ HTX đều có quyền ra nhâ ̣ HTX Thành viên có quyền ra khỏi HTX theo quy đi ̣nh của điều lệ HTX Nguyê ̣n vo ̣ng của ho ̣ được tôn trọng, không bị cưỡng bức, gò ép Đây là nguyên tắc quan tro ̣ng, đảm bảo
đô ̣ng viên được sự nhiệt tı̀nh của các đối tượng tham gia (Quốc hội, 2012)
- Nguyên tắc dân chủ, bı̀nh đẳng và công khai:
Thành viên có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát HTX Những vấn đề lớn trong sản xuất kinh doanh của HTX đều phải được đa ̣i hô ̣i thành viên thảo luâ ̣n dân chủ và thông qua Các thành viên đều có quyền ngang nhau trong biểu quyết theo hình thức mỗi người một phiếu bầu, giá trị mỗi phiếu như nhau, không phụ thuô ̣c vào mức vốn góp Đồng thời, HTX phải thực hiê ̣n tốt viê ̣c công khai cho thành viên biết theo đi ̣nh kỳ về phương thức, kế hoa ̣ch sản xuất kinh doanh, công khai tài chính, phân phối thu nhập của HTX Đây là nguyên tắc đặc biệt quan tro ̣ng, có tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phương hướng phát triển lành ma ̣nh của HTX (Quốc hội, 2012)
- Nguyên tắc tự chủ, tự chi ̣u trách nhiê ̣m và cùng có lợi:
HTX là tổ chức kinh tế hoa ̣t đô ̣ng với mu ̣c đı́ch lấy lợi ı́ch kinh tế làm chı́nh, bao gồm lợi ı́ch các thành viên và lợi ı́ch tâ ̣p thể, đồng thời coi tro ̣ng lợi ı́ch xã hô ̣i của các thành viên Trong thành lâ ̣p và hoa ̣t đô ̣ng, HTX có quyền được lựa cho ̣n ngành nghề sản xuất- kinh doanh phù hợp mà pháp luâ ̣t không cấm theo ý chı́ và nguyê ̣n vo ̣ng của thành viên; hoàn toàn tự chủ trong hoa ̣t đô ̣ng sản xuất- kinh doanh và tự chi ̣u trách nhiê ̣m trong cơ chế thi ̣ trường; liên doanh, liên kết với các đơn vi ̣ thuô ̣c mo ̣i thành phần kinh tế Trong phân phối lợi ı́ch và giải quyết những vấn đề có liên quan đến nghı̃a vu ̣ và quyền lợi, phải tuân thủ nguyên tắc cùng có lợi, hài hòa giữa thành viên với nhau, giữa thành viên với HTX, HTX với lợi ı́ch cô ̣ng đồng Nguyên tắc này đã xác đi ̣nh rõ điều kiê ̣n tồn ta ̣i và phát triển của HTX chı́nh là ở vai trò, trách nhiê ̣m làm chủ của các thành viên đối với HTX; chủ đô ̣ng phát huy các nguồn lực, nhất là nguồn lực có sẵn của các thành
Trang 29viên; HTX năng đô ̣ng tı̀m kiếm cơ hô ̣i kinh doanh và ca ̣nh tranh để tồn ta ̣i và phát triển (Quốc hội, 2012)
- Hơ ̣p tác và phát triển cô ̣ng đồng:
Là nguyên tắc và tiêu chı́ mang tı̀nh đă ̣c trưng của HTX kiểu mới, gắn kết lợi ı́ch kinh tế của các thành viên HTX với với i ̣ch xã hô ̣i và phát triển cô ̣ng đồng HTX là tổ chức kinh tế tâ ̣p thể, mo ̣i hoa ̣t đô ̣ng kinh tế của các thành viên tham gia với phương châm hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua khó khăn, tăng thu nhâ ̣p, cải thiê ̣n đời sống vâ ̣t chất và tinh thần của các thành viên tham gia Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao vai trò, tính chất xã hô ̣i của HTX để giải quyết các vấn đề xã hô ̣i, góp phần tı́ch cực thực hiê ̣n chủ chương giải quyết công
ăn viê ̣c làm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ tầng xã hô ̣i, tăng cường tı̀nh làng nghı̃a xóm, đoàn kết cô ̣ng đồng Đó là nhân tố quan tro ̣ng để HTX phát triển bền vững (Quốc hội, 2012)
Thứ ba, về quan hê ̣ sở hữu, quản lý và phân phối trong HTX
- Về quan hê ̣ sở hữu: Trong mô hình HTX kiểu cũ, một đặc điểm quan trọng nhất quyết định các quan hệ khác là chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất Người nông dân khi vào HTX phải góp ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất chru yếu; xóa bỏ sở hữu của hộ gia đình, sở hữu không được thừa nhận Chính điều này đã làm nảy sinh tình trạng vô chủ và thiếu trách nhiệm của nhiều thành viên đối với tài sản của HTX Trong HTX kiểu mới, sở hữu của HTX là sở hữu đan xen, đa dạng và linh hoạt, phù hợp với yêu cầu, đặc điểm của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, "dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể" (Quốc hội, 2012)
Sở hữu của tập thể thành viên (sở hữu của HTX) là nguồn tích lũy tái đầu
tư, các tài sản do tập thể mua sắm để dùng cho hoạt động của HTX và các quỹ không chia Những vốn, quỹ, tài sản thuộc sở hữu tập thể được khuyến khích tăng thêm cùng với sự phát triển của HTX nhằm tạo điều kiện củng cố, phát triển HTX Sở hữu thuộc cá nhân xã viên được tôn trọng, xã viên có toàn quyền sử dụng vốn, các phương tiện sản xuất đó, thì phải thuê của thành viên Vốn góp của thành viên khi nào HTX được sử dụng cho hoạt động chung của HTX và sẽ trả lại cho thành viên khi ra khỏi HTX Như vậy, HTX không tập thể hóa mọi tư liệu sản xuất của các thành viên, tôn trọng sở hữu của các thành viên HTX kiểu mới làm cho thành viên thực sự là chủ nhân của HTX thông qua quy định về góp vốn,
Trang 30góp sức xây dựng HTX; quyền lợi, trách nhiệm của xã viên gắn liền với kết quả hoạt động sản xuất- kinh doanh của HTX (Quốc hội, 2012)
- Về quan hệ quản lý: Trong cơ chế quản lý HTX kiểu cũ, quan hệ giữa thành viên với HTX là quan hệ phụ thuộc, thành viên bị tách khỏi tư liệu sản xuất, trở thành người làm công theo dự điều hành tập trung của HTX; tính chất hợp tác đích thực trong HTX không còn, người lao động phụ thuộc, bị đọng, thiếu chủ động sáng tạo Đặc trưng của HTX kiểu mới là hoạt động sản xuất- kinh doanh của HTX không bao trùm toàn bộ hoạt động sản xuất- kinh doanh của thành viên, mà chỉ diễn ra ở công đoạn, khâu công việc nhằm bổ trợ, phát huy thế mạnh của từng thành viên Do đó, HTX kiểu mới phát huy được quyền làm chru của họ Thành viên trực tiếp tham gia quản lý, giám sát hoạt động của HTX theo nguyên tắc quản lý dân chủ, thành viên quyết định các công việc quan trọng của HTX một cách bình đẳng, không phân biệt vốn góp ít hay góp nhiều Bộ máy quản lý HTX được tổ chức gọn nhẹ, hiệu quả, tách rõ chức năng quản lý với chức năng điều hành Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu trình độ phát triển của HTX mà có thể thành lập bộ máy vừa quản lý, vừa điều hành hoặc thành lập riêng bộ máy quản lý với bộ máy điều hành Trường hợp HTX không tổ chức riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành thì người đứng đầu bộ máy quản lý và bộ máy điều hành là giám đốc HTX, đồng thời là Chủ tịch HĐQT và phải là thành viên HTX,
do đại hội thành viên bầu Trường hợp HTX tổ chức riêng bộ máy quản lý và điều hành thì người đứng đầu bộ máy quản lý là Chủ tịch HĐQT và người đứng đầu bộ máy điều hành là giám đốc HTX; ở trường hợp này, giám độc HTX có thể
là người được thuê ngoài, không phải là thành viên HTX (Quốc hội, 2012)
- Về quan hệ phân phối: Trong HTX kiểu cũ, chế độ phân phối mang nặng tính bình quân, bao cấp, không khuyến khích thành viên tích cự, hăng say lao động; thành viên thiếu gắn bó với HXT, giành công sức làm kinh tế gia đình HTX kiểu mới "thực hiện phân phối theo nguyên tắc công bằng, cùng có lợi", người lao động ngoài tiền công được nhận theo số lượng và chất lượng lao động, còn được nhận lãi chia theo mức độ tham gia dịch vụ và lợi tức cố phần theo vốn góp Lợi nhuận HTX càng cao, lợi tức cố phần càng lớn, thu nhập của thành viên càng nhiều Đây là động lực khuyến khích thành viên tham gia hăng say làm việc, gắn bó với HTX Trong quá trình phân phối, HTX còn tạo ra các quỹ không chia; một mặt để mở rộng sản xuất kinh doanh; mặt khác, tạo nên phúc lợi công cộng cho các thành viên trong HTX; kết hợp chặt chẽ lợi ích cá nhân và lợi ích
Trang 31tập thể, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài (Quốc hội, 2012)
Thứ tư, tổ chức và hoạt động của HTX không bị giới hạn về quy mô, lĩnh
vực và địa bàn (trừ một số lĩnh vực có quy định riêng) với mô hình linh hoạt, đa dạng về hình thức, phú hợp với đặc điểm từng ngành, từng vùng, với nhiều trình
độ phát triển từ thấp đến cao
Có những HTX chỉ hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu chung về một hay một số dịch vụ đầu vào, đầu ra, dịch vụ chuyên ngành, dịch vụ tổng hợp đa chức năng; HTX sản xuất kết hợp dịch vụ, HTX sản xuất kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện; từ HTX phát triển thành các liên hiệp HTX
Thứ năm, HTX và kinh tế hộ tự chủ có mối quan hệ gắn bó, tác động tương
hỗ cùng nhau phát triển
Nếu như trong HTX kiểu cũ, kinh tế các thể, hộ gia đình không được chấp nhận hoặc chỉ được coi là kinh tế phụ và bị hạn chế trong một giới hạn nhất định, thì HTX kiểu mới được hình thành phát triển trên cơ sở kinh tế hộ HTX kiểu mới không thủ tiêu tính tự chủ sản xuất- kinh doanh của các thành viên, HTX chỉ làm những gì mà mỗi thành viên riêng lẻ không làm được hoặc làm không hiệu quả để hỗ trợ các thành viên phát triển Trong nông nghiệp, hộ nông dân vừa là đơn vị kinh tế tự chủ, vừa là người chủ của HTX, là người tiêu dùng các dịch vụ đầu vào và bán sản phẩm cho các HTX; do đó, kinh tế hộ càng phát triển, càng tạo ra những tiền đề kinh tế thuận lợ cho sự phát triển HTX; ngược lại, HTX phát triển để hỗ trợ, bổ xung cho kinh tế hộ phát huy hết khả năng của mình trong sản xuất- kinh doanh (Nguyễn Minh Tú, 2014)
Có thể khái quát đặc trưng mô hình HTXNN kiểu mới so với HTXNN kiểu
cũ (bảng 2.1)
Bảng 2.1 So sánh HTXNN kiểu cũ và HTXNN kiểu mới
Nội dung HTX kiểu cũ HTX kiểu mới
Trang 323 Thành viên
tham gia Cá nhân
Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân
và theo kế hoạch của Nhà nước
Quan hệ kinh tế đầu vào, đầu ra của HTX chủ yếu thông qua các
tổ chức kinh tế nhà nước (công ty
vật tư nông nghiệp, công ty lương thực, công ty giống ) tức
là được độc quyền hóa và hành chính hóa
HTX là tổ chức kinh tế độc lập,
tự chủ, có tư cách pháp nhân, bình đẳng với cac loại hình doanh nghiệp, tự quyết định và
tự chịu trách nhiệm, tự bù đắp, bảo toàn và phát triển vốn, phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế nhiều thành phần, giao lưu kinh tế, từng bước phát triển trên cơ sở pháp luật của Nhà nước Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của HTX
6 Sở hữu
Sở hữu cá nhân không được thừa nhận, chỉ thừa nhận sở hữu tập
thể về tư liệu sản xuất (người
nông dân vào HTX phải góp ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất chủ yếu)
Đan xen giữa sở hữu tập thể
và sở hữu cá nhân của thành viên Sở hữu tập thể gồm: Các nguồn vốn tích lũy tái đầu tư; các tài sản trước đây được giao lại cho tập thể sử dụng; tài sản do nhà nước, tổ chức trong và ngoài nước tài trợ làm tài sản không chia; các
Trang 33quỹ không chia Sở hữu cá nhân gồm: ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất chủ yếu của các hộ thành viên
Ban quản trị, Ban kiểm soát, Trưởng ban quản trị kiêm Chủ nhiệm HTX Công tác cán bộ HTX được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy và chính quyền địa phương, các chức danh chủ chốt trong HTX do Đảng ủy chỉ định và người trong nội bộ HTX nắm giữ
Chức năng quản lý và điều hành HTX được tách biệt, rõ ràng Bộ máy quản lý của HTX bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban giám đốc Giám đốc HTX có thể do Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm nhiệm hoặc là
do HTX thuê HTX được quyền tự chủ trong công tác cán bộ của mình, các chức danh chủ chốt không nhất thiết phải do Đảng viên hay người trong nội bộ HTX nắm giữ
8 Phân phối
Mang nặng tính bình quân, bao cấp, chủ yếu phân phối theo công lao động
Thu nhập được trích lập các quỹ theo Luật HTX Phần còn lại chi cho thành viên theo mức độ sử dụng dịch vụ và vốn góp của thành viên
9 Nội dung
hoạt động
Trực tiếp tổ chức sản xuất, lao động tập trung, thủ tiêu sự độc lập của kinh tế hộ
Nội dung hoạt động đa dạng, tập trung làm dịch vụ đầu vào, đầu ra cho các hộ thành viên với quy mô, lĩnh vực hoạt động linh hoạt tùy theo trình độ phát triển, đặc điểm của từng vùng ngành, song đều hướng vào hỗ trợ kinh tế hộ tự chủ phát triển, không triệt tiêu kinh tế hộ
Trang 34Có thể khái quát mô hình HTXNN kiểu mới theo lược đồ như sau:
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ mô hình hoạt động hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới
Nguồn: Nguyễn Minh Tú (2014)
2.1.2.2 Vai trò của HTXNN kiểu mới
Kinh tế hợp tác trong lịch sử được phát triển nhiều hình thức từ thấp đến cao: từ tổ vần công, đổi công đến tố đoàn kết sản xuất, chuyển sang các hình thức HTX dịch vụ, các HTX sản xuất hoặc các HTX vừa sản xuất vừa làm dịch vụ Kinh tế hợp tác, HTXNN nói chung và HTX nông nghiệp kiểu mới nói riêng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội
HTX chỉ cung cấp cho xã viên hoặc
có một phần cung cấp cả cho thị trường bên ngoài xã viên Góp vốn
Thành viên Thành viên
Hợp
tác xã
Thị trường
Trang 35HTXNN kiểu mới thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp HTXNN làm đc những việc mà từng người, từng hộ không làm được hoặc làm không có hiệu quả HTXNN thúc đẩy phát triển kinh tế hộ phát trển, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ liên kết, hợp tác, thành lập HTX, HTXNN góp phần nâng cao năng xuất lao động, tiết kiệm được nhiều khoản chi phí trong đầu tư cho sản xuất, kinh doanh; huy động được nhiều vốn, nhiều nhân lực, chế ngự được thiên tai, đáp ứng kịp thời yêu cầu sản xuất, kinh doanh; cung cấp sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế, góp phần váo ngân sách nhà nước HTXNN khai thác được tiềm năng trong dân cư để mở mang ngành nghề, phát triển sản xuất, tăng nguồn hàng xuất khẩu, đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội (Nguyễn Minh Tú, 2014) HTXNN hỗ trợ người ngèo, giúp đỡ họ cùng phát triển Bởi lẽ HTXNN không chỉ gắn bó các thành viên về kinh tế mà còn được hình thành và phát triển trên cơ sở tình làng nghĩa xóm, góp phần thực hiện các chính sách xã hội trên địa bàn như cung ứng các mặt hàng chính sách cho vùng miền núi, vùng thiên tai bão lụt, tham gia xóa đói giảm nghèo, khắc phục bần cùng hóa; phòng chống tệ nạ xã hội Kinh tế hợp tác và HTXNN còn tạo điều kiện cho những lao động, những người sản xuất nhỏ phát triển marketing nhờ đó những khả năng mở rộng được thị trường trong và ngoài nước đảm bảo sự cân bằng và chẳng những có thể trụ vững trong thị trường cạnh tranh mà còn không ngừng phát triển, không bị phá sản trở thành gánh nặng lao động thất nghiệp cho xã hội (Hồ Văn Vĩnh, 2012) HTXNN là mô hình tổ chức sản xuất có tính xã hội chủ nghĩa Trước hết,
đó là các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, vệ tinh của các doanh nghiệp nhà nước; là đơn vị liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác và có thể là đơn vị xuất nhập khẩu Tính xã hội của các HTXNN được thể hiện ở chỗ là một
tổ chức kinh tế của những người lao động, tập hợp được đông đảo mọi người tham gia nhằm giúp đỡ lẫn nhau, tăng thêm sức mạnh trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ, góp phần tạo công ăn việc làm, thu nhập chính đáng ở việc hỗ trợ người nghèo Trong mọi hoạt động của mình, HTX còn có nghĩa vụ giáo dục tinh thần hợp tác cho xã viên, khuyến khích sự hợp tác không chỉ trong nội bộ thành viên của HTX mà còn giữa các HTX Ngoài chăm lo về mặt kinh tế, HTX còn chăm
lo cả về mặt tinh thần cho thành viên thông qua các hoạt động chung của HTX Tuy nhiên tất cả những hoạt động xã hội phải được tiến hành trên cơ sở hoạt động kinh tế có hiệu quả Những hoạt động này sẽ góp phần nâng cao trình độ dân trí của cộng đồng, góp phần dân chủ hóa đời sống xã hội, ổn định chính trị,
Trang 36đảm bảo an ninh quốc phòng (Hồ Văn Vĩnh, 2012)
Ngoài ra, HTXNN còn có vai trò tạo điều kiện thuận lợi đưa tiến bộ khoa học
kỹ thuật quản lý, công nghệ mới vào sản xuất Tiến hành chuyên môn hóa, tập trung hóa, phát triển hợp lý các ngành sản xuất, dịch vụ và thâm canh khoa học Khai thác tiềm năng về vốn, lao động và công nghệ, đảm bảo môi trường sinh thái, có khả năng đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ quản trị kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường (Hồ Văn Vĩnh, 2012)
2.1.3 Nội dung phát triển HTXNN kiểu mới
2.1.3.1 Bộ máy tổ chức của HTXNN kiểu mới
Theo Luật HTX năm 2012, cơ cấu tổ chức hợp tác xã bao gồm:
1/ Đại hội thành viên
- Đại hội thành viên có quyền quyết định cao nhất của HTX Đại hội thành viên gồm: Đại hội thành viên thường niên và đại hội thành viên bất thường Đại hội thành viên được tổ chức dưới hình thức đại hội toàn thể hoặc đại hội đại biểu HTX, liên hiệp HTX có 100 thành viên, hợp tác xã thành viên trở lên có thể tổ chức đại hội đại biểu thành viên
2/ Hội đồng quản trị - cơ quan quản lý
Hội đồng quản trị HTX là cơ quan quản lý HTX do hội nghị thành lập hoặc đại hội thành viên bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo thể thức bỏ phiếu kín Hội đồng quản trị gồm chủ tịch và thành viên, số lượng thành viên hội đồng quản trị do điều lệ quy định nhưng tối thiểu là 03 người, tối đa là 15 người Nhiệm kỳ của hội đồng quản trị HTX do điều lệ HTX quy định, tối thiểu là 02 năm, tối đa
là 05 năm
3/ Giám đốc (tổng giám đốc) – cơ quan điều hành
Giám đốc (tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động của HTX
4/ Ban kiểm soát, kiểm soát viên
Ban kiểm soát, kiểm soát viên hoạt động độc lập, kiểm tra và giám sát hoạt động của HTX theo quy định của pháp luật và điều lệ Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên do đại hội thành viên bầu trực tiếp trong số thành viên, đại diện hợp tác xã thành viên theo thể thức bỏ phiếu kín Số lượng thành viên ban kiểm soát do đại hội thành viên quyết định nhưng không quá 07 người
Trang 372.1.3.2 Khai thác các nguồn lực để phát triển HTXNN kiểu mới
Thứ nhất, là yếu tố đất đai: Sau quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
quy mô diện tích đất của HTXNN ngày càng được mở rộng phát triển thêm về mặt diện tích, đồng thời chất lượng các loại đất đai không ngừng được cải thiện,
độ màu mỡ của đất đai ngày càng được tăng lên Ruộng đất được tập trung, tích
tụ lại theo hướng mỗi hộ một thửa, xóa bỏ sự manh mún, nhỏ lẻ về ruộng đất, tạo điều kiện đưa cơ giới vào sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm phát triển sản phẩm hàng hóa trong nông nghiệp (Nguyễn Minh Tú, 2014)
Thứ hai, là yếu tố lao động: Mô hình HTXNN kiểu mới đòi hỏi phải sử
dụng nhiều lao động hơn Chính vì vậy số lượng lao động trang các HTXNN kiểu mới được tăng lên tạo công ăn, việc làm cho nhiều người lao động; nó phản ánh phát triển HTXNN kiểu mới (Nguyễn Minh Tú, 2014)
Thứ ba, là vốn đầu tư, vốn là yếu tố vật chất hết sức quan trọng cho phát
triển HTXNN kiểu mới Sau mỗi chu kì kinh doanh, HTXNN kiểu mới có vốn tích lũy nhiều hơn, mức độ đầu tư sản xuất ngày càng lớn hơn chứng tỏ phát triển HTXNN kiểu mới càng rõ rệt Vốn đầu tư ngày càng lớn thể hiện sức mạnh kinh
tế của HTXNN kiểu mới (Nguyễn Minh Tú, 2014)
Thứ tư, là trình độ công nghệ và các biện pháp kỹ thuật mới được ứng
dụng vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của HTXNN kiểu mới Mức
độ sử dụng công nghệ hiện đại ngày càng được nhiều HTXNN kiểu mới đưa vào
buổi hội thảo phổ biến kỹ thuật, các mô hình trình diễn cụ thể cho hội viên để họ
có thể học hỏi, làm theo (Nguyễn Minh Tú, 2014)
Thứ năm, là cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản xuất, mức độ chuyên
môn hóa, trình độ sản xuất hàng hóa Việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong HTXNN kiểu mới giúp cho HTXNN có phương án sản xuất hiệu quả nhất (Nguyễn Minh Tú, 2014)
2.1.3.3 Xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển HTXNN kiểu mới
Cơ sở hạ tầng là yếu tố có tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ, đảm bảo chất lượng thì việc sản xuất kinh doanh thuận lợi Nghiên cứu tình hình đầu tư cơ sở hạ tầng cho phát triển HTXNN kiểu mới theo hướng bền vững chính là việc đi tìm hiểu việc quy hoạch
Trang 38đầu tư, cơ sở hạ tầng, trang bị cho vùng có HTXNN kiểu mới như đường, điện, địa điểm xử lý chất thải, số lượng và chất lượng chuồng trại, đầu tư rào quây khu chăn nuôi, dịch vụ về phục vụ chăn nuôi, khoa học kỹ thuật, hệ thống thủy lợi (Hồ Văn Vĩnh, 2012)
2.1.3.4 Các hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXNN kiểu mới
Hiện nay các HTXNN kiểu mới đang phát triển mạnh, việc đầu tư mở rộng sản xuất của các hộ mang tính dàn trải, ở nhiều nơi HTXNN kiểu mới phát triển tự phát, bên cạnh đócòn cung cấp nhiều dịch vụ HTXNN như:
- Dịch vụ tưới tiêu, thủy lợi nô ̣i đồng
- Di ̣ch vu ̣ làm đất theo thời vu ̣
- Dịch vu ̣ bảo vê ̣ thực vâ ̣t - khuyến nông
- Công tác ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
-
2.1.3.5 Kết quả, hiệu quả phát triển HTXNN kiểu mới
Năng suất, sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi, các loại sản phẩm ngành nghề, dịch vụ ngày càng tăng lên Giá trị sản lượng, giá trị sản lượng hàng hóa, doanh thu, thu nhập của HTXNN kiểu mới là những chỉ tiêu kết quả nói lên sự phát triển của HTXNN kiểu mới
Phát triển HTXNN kiểu mới là quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các HTXNN kiểu mới như lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, mức tích lũy hàng năm của HTXNN kiểu mới, mức sống và thu nhập của các thành viên HTXNN kiểu mới, tạo ra ngày càng nhiều việc làm xã hội (Nguyễn Minh
Tú, 2014)
Nâng cao hiệu quả kinh tế: Đời sống vật chất của cư dân nông thôn ngày càng được nâng cao, giá trị sản xuất từ HTXNN kiểu mới mang lại đóng góp một phần không nhỏ vào cơ cấu GDP của ngành nông nghiệp
Nâng cao hiệu quả xã hội: HTXNN kiểu mới phát triển tạo công ăn việc làm và thu nhập thường xuyên cho nhiều lao động trên địa bàn huyện, thông qua
đó góp phần giúp đỡ những hộ nghèo trong huyện có lao động tìm được công ăn việc làm ổn định Đồng thời khai thác có hiệu quả các quỹ đất để phát triển sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hóa cho xã hội
Nâng cao hiệu quả môi trường: Việc khai thác tự nhiên có ý thức, đất đai được cải tạo tốt lên, cây rừng được bảo vệ, chăm sóc tốt hơn, môi trường nước,
Trang 39không khí ít bị ô nhiễm, khí hậu vì thế mà trong lành hơn, độ che phủ rừng cũng được tăng lên làm giảm thiểu rủi ro từ thiên tai gây ra như lũ quét, hạn hán (Nguyễn Minh Tú, 2014)
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển HTXNN kiểu mới
2.1.4.1 Yếu tố cơ chế chính sách
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Luật HTX sửa đổi đã được Quốc hội khóa
XI thơng qua tại kỳ họp thứ 4 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm
2004 Luật đã có nhiều thay đổi tích cực so với Luật của năm 1996, tạo ra nhiều thuận lợi và thông thóang hơn cho các HTX phát triển Theo Luật, HTX có được khung khổ pháp lý hồn chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường và các chuẩn mực quốc tế
Phạm vi hoạt động của các HTX đã được mở rộng, không chỉ giới hạn trong ngành nông nghiệp mà đã lan rộng sang các ngành và các lĩnh vực kinh tế khác trong nền kinh tế
"Nếu chỉ xét riêng lĩnh vực nông nghiệp, khu vực có nhiều HTX nhất đang hoạt động, thì hầu hết các HTX đã đảm nhiệm nhiều dịch vụ nông nghiệp phục vụ các hộ thành viên và cạnh tranh với các cơ sở dịch vụ khác trên cùng địa bàn Bên cạnh đó, các HTX đã không chỉ giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong nội bộ ngành mà đã mở rộng sang cung cấp dịch vụ tổng hợp cho các thành viên của mình và cho thị trường " dẫn theo Thạch Phú Thành, 2010
Mở rộng liên kết kinh tế theo cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường Hầu hết các HTX hiện đại ngày nay đã và đang hình thành những mối liên kết mới mà trước đây chưa có hoặc mới chỉ manh nha xuất hiện trong diện hẹp Mối liên kết giữa các hộ thành viên với doanh nghiệp nhà nước, với các trang trại và với các hộ thành viên thuộc các HTX khác nhau ngày một mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả của dịch vụ Sự liên kết giữa các HTX với các thành phần khác trong nền kinh tế được xuất phát từ nhu cầu của nền sản xuất hàng hóa
Các HTX đã góp phần giải quyết các vấn đề xã hội theo hướng tích cực Nhiều HTX đã phát huy được tinh thần tương thân tương ái trong việc hỗ trợ các hộ thành viên tạo việc làm, xố đói, giảm nghèo ở khu vực nông thôn Góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động tại khu vực nông thôn, nâng cao thu thập và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn Cải thiện tình trạng xuống cấp và không ngừng phát triển hệ thống kết cấu
Trang 40hạ tầng nông thôn như điện, đường, trường, trạm, nhà trẻ và nhiều công trình phúc lợi xã hội khác
"Đa dạng hóa các dịch vụ phục vụ cộng đồng người dân nông thôn, phòng chống tệ nạn xã hội và tăng cường khối đại đòan kết dân tộc Nâng cao tình làng, nghĩa xóm và tinh thần tương trợ nhau những lúc khó khăn" dẫn theo Thạch Phú Thành, 2010
2.1.4.2 Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý
- "Nhận thức về việc chuyển đổi hợp tác xã: Sau khi Luật hợp tác xã mới
ban hành, nhiều hợp tác xã đã thực hiện đổi mới về phương thức tổ chức quản lý
và hoạt động tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập Hiện nay việc chuyển đổi và thành lập mới hợp tác xã còn mang nặng tính hình thức và và thiếu những mô hình hoạt động có hiệu quả Một số hợp tác xã nông nghiệp tiến tiến, năng động và kinh doanh có hiệu quả, nhưng đại bộ phận hợp tác xã nông nghiệp còn lại vẫn hoạt động theo nếp cũ, chưa quan tâm nhiều đến hiệu quả kinh tế, mà nặng về mặt chính trị - xã hội" dẫn theo Chu Hoàng Hiệp, 2015
- Cán bộ quản lý, điều hành hoạt động của hợp tác xã: Cơ cấu tổ chức của
đại bộ phận hợp tác xã sau khi chuyển đổi vẫn còn nhiều bất cập so với cơ chế quản
lý mới Sau chuyển đổi, bộ máy quản lý hợp tác xã được tinh giảm gọn nhẹ hơn, nhưng nhìn chung đội ngũ cán bộ quản lý hầu hết hoạt động theo kinh nghiệm thực
tế, không được đào tạo cơ bản, ít được bồi dưỡng tập huấn Mặt khác năng lực nắm bắt thông tin và khả năng dự báo thị trường, sự nhạy cảm linh hoạt để đáp ứng được yêu cầu đa dạng của cơ chế thị trường còn hạn chế Đội ngũ cán bộ quản lý HTX nông nghiệp thường xuyên thay đổi nên họ không yên tâm công tác Thiếu những cán bộ quản lý có năng lực, kinh nghiệm và có tâm huyết vì lợi ích của hợp tác xã
"Trình độ năng lực của phần lớn cán bộ quản lý HTX còn nhiều yếu kém, bất cập lúng túng trong việc xây dựng và triển khai phương án sản xuất kinh doanh, chưa đủ năng lực trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm cần thiết để gánh vác trọng trách phát triển HTX một cách hiệu quả và khả năng dự đóan nhu cầu thị trường một cách chính xác Bên cạnh những HTX hoạt động tốt, có hiệu quả thì còn nhiều HTX yếu kém trong tổ chức nhân sự, lúng túng trong quản trị kinh doanh, khó khăn trong việc dự đoán nhu cầu của thị trường" dẫn theo Chu Hoàng Hiệp, 2015