sản phẩm; Có những chính sách cụ thể phù hợp với mức bình ổn giá thức ăn chăn nuôi; xây dựng cơ sở sản xuất chăn nuôi con giống đảm bảo cung cấp cho người chăn nuôi nhỏ lẻ có con giống ổ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG HÀ NINH
PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN GIỐNG TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Ngọc Hướng
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Hà Ninh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn cao học này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, truyền thụ về kiến thức, sự quan tâm, hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của các tổ chức và cá nhân Cho phép tôi được dành lời cảm ơn sâu sắc và chân thành đến TS Lê Ngọc Hướng người hướng dẫn, truyền thụ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn;
Các thầy cô giáo bộ môn Phân tích định lượng, Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã đào tạo kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình 2 năm học tập tại trường;
Ban lãnh đạo, đội ngũ cán bộ trong UBND huyện Sóc Sơn, Trung tâm nghiên cứu Lợn Thụy Phương và những hộ nông dân nơi tôi trực tiếp nghiên cứu, điều tra, phỏng vấn đã tạo điều kiện giúp đỡ, đóng góp ý kiến, cung cấp thông tin để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Hà Ninh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn vii
Thesis abtract ix
Phấn 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Những đóng góp mới của luận văn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 6
2.1 Cơ sở lý luận 6
2.1.1 Một số khái niệm 6
2.1.2 Đặc điểm một số giống lợn, cách chọn lợn giống và năng suất sinh sản của lợn giống 9
2.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật và nhu cầu dinh dưỡng trong chăn nuôi lợn giống 14
2.1.4 Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi lợn giống 18
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn giống 20
2.2 Cơ sở thực tiễn 31
2.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn giống trên Thế giới 31
2.2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi lợn giống tại Việt Nam 33
2.2.3 Các phương thức chăn nuôi lợn giống trên thế giới và Việt Nam 38
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 43
Trang 53.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 43
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 43
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 47
3.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu 51
3.2 Phương pháp nghiên cứu 52
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 52
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 53
3.2.3 Phương pháp phân tích 54
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 55
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 58
4.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn giống trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 58
4.1.1 Phát triển quy mô chăn nuôi lợn giống 58
4.1.2 Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn giống ở các hộ điều tra 61
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn giống 85
4.2.1 Yếu tố khách quan 85
4.2.2 Yếu tố chủ quan 92
4.2.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn của hộ trong chăn nuôi lợn 93
4.3 Một số giải pháp phát triển chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Sóc Sơn 94
4.3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 94
4.3.2 Hệ thống các giải pháp 94
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 104
5.1 Kết luận 104
5.2 Kiến nghị 105
5.2.1 Đối với Nhà nước 105
5.2.2 Đối với TP Hà Nội, huyện Sóc Sơn 105
Tài liệu tham khảo 106
Phụ lục 109
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
TTCN-XD Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn cho lợn nái sinh sản giống nội 16
Bảng 2.2 Tình hình nhập khẩu con giống và sản phẩm thịt của Việt Nam 34
Bảng 3.1 Cơ cấu sử dụng đất huyện Sóc Sơn qua ba năm 2014 - 2016 46
Bảng 3.2 Cơ cấu đất nông - lâm nghiệp phân theo vùng 46
Bảng 3.3 Cơ cấu dân số và lao động của huyện qua ba năm 2014 - 2016 47
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện qua 3 năm 2014 - 2016 50
Bảng 3.5 Thu thập thông tin thứ cấp 53
Bảng 3.6 Số lượng mẫu điều tra 54
Bảng 4.1 Quy mô và cơ cấu tổng đàn lợn huyện Sóc Sơn giai đoạn 2014 – 2016 59
Bảng 4.2 Số lượng lợn giống ở một số xã trên địa bàn huyện Sóc Sơn giai đoạn 2014 - 2016 60
Bảng 4.3 Số hộ chăn nuôi lợn giống trên địa bàn huyện Sóc Sơn giai đoạn 2014 - 2016 61
Bảng 4.4 Thông tin chung về hộ chăn nuôi lợn giống điều tra 62
Bảng 4.5 Điều kiện đất đai, diện tích chuồng trại, lao động và vốn của hộ chăn nuôi lợn giống 63
Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu trong chăn nuôi lợn đực giống của hộ điều tra 66
Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu trong công tác phối giống cho đàn lợn nái của hộ điều tra 69
Bảng 4.8 Khối lượng thức ăn cho lợn nái và lợn con 71
Bảng 4.9 Công tác thú y của các hộ chăn nuôi lợn giống 74
Bảng 4.10 Một số chỉ tiêu trong chăn nuôi lợn nái ở các hộ điều tra 75
Bảng 4.11 Chi phí đầu tư trong chăn nuôi lợn nái của hộ điều tra 76
Bảng 4.12 Chi phí đầu tư trong chăn nuôi lợn đực giống 77
Bảng 4.13 Kết quả chăn nuôi lợn nái của hộ điều tra 78
Bảng 4.14 Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn đực giống 79
Bảng 4.15 Số lượng lợn con cung cấp ra thị trường ở các hộ điều tra trong năm 2016 80
Bảng 4.16 Tình hình tham gia tập huấn kỹ thuật và thăm quan mô hình của hộ điều tra năm 2016 83
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của kỹ thuật chăn nuôi lợn sinh sản đến năng suất 89
Bảng 4.18 Mức độ sử dụng dịch vụ thú y của hộ điều tra 90
Bảng 4.19 Thuận lợi, khó khăn và dự kiến của hộ chăn nuôi lợn trong thời gian tới 94
Trang 8TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Hoàng Hà Ninh
Tên luận văn: Phát triển chăn nuôi lợn giống của các hộ nông dân trên địa bàn huyện
Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Tên cở sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
- Góp phần hệ thống hóa một phần cơ sở lý luận và thực tiễn về chăn nuôi lợn giống;
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn giống trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội;
- Đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi lợn giống trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu như sau: Tìm hiểu đặc điểm địa bàn nghiên cứu, phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập thông thứ cấp và sơ cấp, phương pháp phân tích bao gồm phương pháp thống kê
mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia; Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Kết quả chính và kết luận
Chăn nuôi lợn giống đặc biệt phát triển mạnh mẽ tại 3 xã Bắc Phú, Bắc Sơn và Hiền Ninh, huyện Sóc Sơn Mức tăng bình quân trong 3 năm từ năm 2015 – 2017 đạt 6,02%, trong đó tổng số nái giống là 620 con, tốc độ tăng trưởng bình quân 12% , tốc độ phát triển bình quân số hộ chăn nuôi là 103,5% Tại các địa phương chăn nuôi lợn chiếm phần lớn trong tổng thu nhập Mức thu nhập tỷ lệ thuận với quy mô chăn nuôi Bên cạnh sự phát triển sự phát triển, chăn nuôi lợn tại địa phương cũng gặp không ít khó khăn và tồn đọng cần giải quyết như: chưa kiểm soát được dịch bệnh, chăn nuôi còn manh mún chưa có sự tập trung, trình độ người chăn nuôi còn chưa cao….đặc biệt là thị trường tiêu thụ còn chưa ổn định, giá cả lên xuống thất thường
Các yếu tố ảnh hưởng chính đến chăn nuôi lợn giống gồm quy mô trang trại, khoa học kỹ thuật, chất lượng giống lợn
Để đẩy mạnh công tác chăn nuôi lợn giống trên địa bàn huyện Sóc Sơn cần thực hiện những biện pháp sau: Xây dựng mạng lưới về thông tin giá cả thị trường tiêu thụ
Trang 9sản phẩm; Có những chính sách cụ thể phù hợp với mức bình ổn giá thức ăn chăn nuôi; xây dựng cơ sở sản xuất chăn nuôi con giống đảm bảo cung cấp cho người chăn nuôi nhỏ lẻ có con giống ổn định; Tăng cường công tác khuyến nông tuyên truyền những kiến thức chăn nuôi cũng như chuyển giao kỹ thuật chăm sóc lợn; Có chính sách hỗ trợ cho người chăn nuôi phát triển theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu
Trang 10THESIS ABTRACT
Master candidate: Hoang Ha Minh
Thesis title: Development of breeding pigs of farmers in Soc Son district, Hanoi city Major: Economic management Code: 8340410
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
Materials and Methods
Topics used the following research methods: learn the characteristics of research terrain; method of collection secondary and primary data; method of data analysis include descriptive statistics method, comparative method, professional method, systematization
of research indicators
Main findings and conclusions
Breeding pigs is particularly developed in Bac Phu, Bac Son and Hien Ninh communes, Soc Son district The average growth rate for the three years from 2015 to
2017 is 6.02%, therein the total number of sows is 620 ones, average growth rate of 12%, the average growth rate of livestock households is 103.5% At the local, breeding pigs accounts for a large portion of total income Income level is proportional to the scale of livestock In addition to the development, breeding pigs in the local has many difficulties and backlogs that need to be addressed such as: not control the disease, livestock is still fragmented with no focus, the level of farmers is not high,…especially, the consumption market is still unstable, the prices go up and down erratically
The main factors influencing breeding pigs are: farm size, science and technology, pig quality
In order to promote breeding pigs in Soc Son district, the following measures should be taken: Establish a network of market price information for consuming
Trang 11products; there are specific policies that fit with price stabilization of feed; build breeding animal livestock production basis which ensure supply to small farmers stable breeds; Strengthen agricultural extension activities to propagate knowledge of breeding
as well as technical transfer of pig care; adopt policies to support farmers in both width and depth
Trang 12PHẤN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã phê duyệt Quy hoạch phát triển chăn nuôi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Quy hoạch thể hiện phát triển chăn nuôi sẽ tập trung vào đàn lợn, bò thịt chất lượng cao, bò sữa và gia cầm theo hướng tăng dần sản lượng con giống; từng bước đưa sản xuất con giống
là sản phẩm chủ lực của ngành chăn nuôi, đem lại giá trị gia tăng cao cho ngành Thành phố đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi giai đoạn 2012 – 2020 đạt khoảng 1,6%/năm, giai đoạn 2021 – 2030 đạt 1,4%/năm Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong toàn ngành nông nghiệp chiếm khoảng 54% (năm 2020) và 58% (năm 2030) Ngay trong nội bộ ngành, giá trị sản xuất nhóm chăn nuôi gia súc vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng giảm dần (61% vào năm 2020 và 50% vào năm 2030) Phát triển các loại gia súc, gia cầm theo hướng chăn nuôi trang trại, công nghiệp, bán công nghiệp, chăn nuôi tập trung ngoài khu dân cư gắn với các cơ sở giết mổ, chế biến và xử lý chất thải, đảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường Tổng đàn lợn đến năm
2015 đạt khoảng 1,4 đến 1,5 triệu con và ổn định tổng đàn đến năm 2020 Sản lượng lợn thịt hơi xuất chuồng năm 2015 dự kiến đạt 330 nghìn tấn (tăng bình quân 1,5%/năm) Từng bước đưa chăn nuôi lợn trên địa bàn Hà Nội theo hướng xản xuất giống và cũng là nơi cung cấp cho các tỉnh (đạt trên 6 triệu con giống/năm); giảm tình trạng chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư từ 70% xuống 40% trong năm 2015 và tiếp tục giảm vào năm 2020 Phát triển chăn nuôi vùng tập trung những vùng xa khu trung cư tại các huyện có điều kiện về đất đai như:
Mỹ Đức, Ứng Hòa, Thanh Oai, Chương Mỹ, Sơn Tây, Thạch Thất, Ba Vì, Sóc Sơn, Phú Xuyên, Đông Anh (QĐ số 17/2012 UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt quy hoạch phát triển nông nghiệp thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng 2030)
Chăn nuôi lợn ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp Những năm qua, chăn nuôi lợn giống đã có những bước chuyển biến rõ rệt về tốc độ tăng trưởng lợn giống ngày càng cao Với mức sống ngày càng nâng cao, nhu cầu tiêu dùng thịt lợn ở nước ta và trên thế giới này càng tăng về số lượng và chất lượng Do vậy việc phát triển chăn nuôi lợn giống cũng tăng lên theo hướng sản xuất hàng hóa có vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng Chăn nuôi
Trang 13lợn giống để sản xuất lợn thương phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa để cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước, mà nó còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, hàng hóa cho xuất khẩu, phân bón cho trồng trọt Bên cạnh đó chăn nuôi lợn giống với mục đích cung ứng thêm thịt mang bán ra thị trường để thu về lợi nhuận đã mang lại thu nhập cho người chăn nuôi, tạo ra công ăn việc làm cho dân cư nông thôn góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn nói riêng và sự phát triển kinh tế của đất nước nói chung
Với tình hình hiện tại việc phát triển chăn nuôi như hiện nay, để phát triển
ổn định cần có sự rà soát lại ổn định và quy hoạch đất đai Cần hình thành các khu chăn nuôi riêng biệt tách với khu dân cư, tránh ô nhiễm môi trường và có sự độc lập, tránh những hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán cùng với kỹ thuật lạc hậu Cần có những chính sách mới để đảm bảo nguồn cung ứng sản phẩm luôn luôn đầy đủ, có chế độ cải tiến nâng cao trình độ, để đời sống người nông dân được cải thiện và có sự gắn bó lâu dài với nghề chăn nuôi nói chung và nghề nuôi lợn nói riêng Cung ứng đảm bảo các điều kiện về an toàn vệ sinh thú y có nguồn thực phẩm sạch
Sóc Sơn là một trong ba tiểu vùng (vùng gò đồi) được thành phố Hà Nội định hướng phát triển chăn nuôi chủ lực như nuôi bò sữa, bò thịt, lợn giống, lợn thịt Chăn nuôi đang được xác định là ngành sản xuất chính của huyện, trong đó
chủ yếu là chăn nuôi lợn giống tại các hộ nông dân trong huyện Sự phát triển
không ngừng của xã hội cùng với kinh tế thị trường mở cửa đã kéo theo sự phát triển ngành sản xuất chăn nuôi lợn giống ở huyện theo hướng hàng hoá Những năm qua chăn nuôi lợn giống để cung cấp lợn thịt theo hướng sản xuất hàng hóa
ở huyện đã đạt được những thành tựu đáng kể Sản phẩm lợn giống không những cung cấp đủ cho nhu cầu tiêu dùng toàn huyện, mà còn bán ra ngoài huyện, ngày càng xuất hiện nhiều hộ chăn nuôi quy mô lớn theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp Chăn nuôi lợn giống thực sự đã mang lại nguồn thu nhập lớn cho nhiều
hộ nông dân, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thực tế chăn nuôi lợn giống theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện hiện nay chưa tương xứng với tiềm năng của huyện, chưa thực sự trở thành hoạt động kinh tế mũi nhọn trong ngành nông nghiệp của huyện, chăn nuôi lợn giống còn mang tính chất nhỏ lẻ, phân tán Việc áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất còn rất hạn chế Vì vậy hiệu quả kinh tế chưa
Trang 14cao, lợi nhuận thu được thấp, chưa có tính chất chuyên môn hoá và sản xuất hàng hoá quy mô lớn
Thời gian qua, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về phát triển chăn nuôi lợn như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thắm (2004) về "Thực trạng và một số giải pháp phát triển chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây”, đã mô tả thực trạng chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ nói riêng, tỉnh Hà Tây nói chung
và đề xuất một số giải pháp phát triển đàn lợn, có thể áp dụng cho một số vùng tương tự Hay nghiên cứu của tác giả Phạm Xuân Thanh (2015) về "Phát triển chăn nuôi lợn thịt ở tỉnh Thanh Hóa” đã đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi lợn thịt ở tỉnh Thanh Hóa và đề xuất các giải pháp để phát triển chăn nuôi lợn thịt Tuy nhiên chưa có bất cứ đề tài nào nghiên cứu về sự phát triển chăn nuôi lợn giống cụ thể trong các huyện trong toàn tỉnh trên cả nước
Xuất phát từ những lý do nêu trên nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Phát triển chăn nuôi lợn giống trên địa bàn huyện Sóc Sơn, Thành phố
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển chăn nuôi lợn giống
Trang 15Đối tượng khảo sát tập trung chủ yếu là các hộ nông dân chăn nuôi lợn giống bố mẹ với mục đích để sản xuất ra lợn thương phẩm
- Đề tài tập trung nghiên cứu lợn giống bố mẹ được nuôi tại huyện Sóc Sơn,
TP Hà Nội(tức là lợn nái để sản sinh ra lợn con nuôi lấy thịt và lợn đực giống)
- Đề tài được thực hiện từ ngày 20/04/2016 đến ngày 1/4/2017
- Số liệu, thông tin phục vụ đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn giống tại huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội
- Số liệu sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu thu thập vào các năm 2014 đến 2016
- Giải pháp đề xuất sẽ áp dụng từ năm 2017 - 2020
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng chăn nuôi lợn giống tại huyện Sóc Sơn trong thời gian qua như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới phát triển chăn nuôi lợn giống trên địa bàn nghiên cứu? Yếu tố nào đóng vai trò quan trọng nhất?
- Những giải pháp nào cần đề xuất để phát triển chăn nuôi lợn giống trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới?
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Nghiên cứu đã luận giải và phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi lợn giống, làm rõ các nội dung trong phát triển chăn nuôi lợn
Trang 16giống, bao gồm chăn nuôi lợn nái sinh sản và chăn nuôi lợn đực giống
Đánh giá thực trạng tình hình chăn nuôi lợn giống trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn giống của hộ điều tra; chỉ ra những thuận lợi, khó khăn của hộ trong việc đầu tư phát triển chăn nuôi lợn giống hiện nay trên địa bàn
Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi lợn giống trên địa bàn huyện Sóc Sơn trong thời gian tới, trong đó tập trung vào các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, khó khăn vướng mắc của hộ trong chăn nuôi lợn giống (nái sinh sản và lợn đực giống)
Trang 17PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm giống
Thuật ngữ giống (tiếng Latin: varietas; tiếng anh: variety) dùng để chỉ một quần thể các sinh vật cùng loài do con người tạo ra và có các đặc điểm di truyền xác định Tất cả các cá thể của cùng một giống đều có các đặc điểm di truyền xác định Tất cả các cá thể của cùng một giống đều có các tính trạng hay thường đựơc gọi là các đặc tính về hình thái - giải phẫu, sinh lý - sinh hoá, năng suất hầu như giống nhau và ổn định trong những điều kiện sinh thái và kỹ thuật sản xuất phù hợp (Hoàng Trọng Phán, 1998)
2.1.1.2 Khái niệm về giống, dòng vật nuôi
Có nhiều khái niệm về giống vật nuôi khác nhau dựa trên các quan điểm phân tích, so sánh khác nhau Hiện tại chúng ta thường hiểu khái niệm về giống vật nuôi như sau: Giống vật nuôi là một tập hợp các vật nuôi có chung nguồn gốc, được hình thành do quá trình chọn lọc và nhân giống của con người Các vật nuôi trong cùng một giống có đặc điểm về ngoại hình, tính năng sản xuất, lợi ích kinh tế, môi trường (Đặng Vũ Bình, 2008)
Giống vật nuôi là một tập hợp các vật nuôi có chung một nguồn gốc được hình thành trong quá trình chọn lọc giống và nhân giống của con người (Đặng Vũ Bình, 2008)
2.1.1.3 Khái niệm lợn giống
Theo Phùng Thị Vân (2007), trong “Chuyên đề xây dựng quy trình chọn giống và công thức giống lợn cho xuất khẩu” đã đưa ra một số khái niệm như sau:
- Giống lợn thuần chủng: là một quần thể lợn, giống nhau về ngoại hình, năng suất, ổn định về di truyền và đồng nhất về kiểu gen
- Giống lợn nền: những giống chính được quy hoạch tham gia vào cấu trúc tập đoàn giống lợn của một vùng, một quốc gia Giống lợn nền là lợn cái dùng sinh sản đại trà phục vụ cho kế hoạch sản xuất, có thể nằm trong hệ thống thuần chủng hoặc lai Ví dụ: lợn nái Móng Cái, Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu, lợn lai F1
Trang 18- Giống lợn địa phương: Những giống lợn được hình thành từ chọn lọc tự nhiên và tiếp tục tồn tại ở một số địa bàn nhất định Ví dụ: Giống lợn Cỏ, Mẹo, Mường Khương, lợn Lửng
- Giống dùng cải tiến: Giống có năng suất cao hơn hoặc có một tính trạng đặc biệt dùng để cải tiến một giống khác
- Giống lợn được cải tiến: Giống có năng suất cao hơn hoặc một tính trạng tốt hơn so với giống cũ trước lúc cải tiến
- Đàn hạt nhân: là đàn giống tốt nhất, có cùng nguồn gốc, được nuôi dưỡng và chọn lọc theo định hướng và theo một quy trình nhất định
- Lợn giống cụ kỵ: là lợn giống thuần chủng hoặc là dòng tổng hợp chọn tạo đã ổn định về di truyền để sản xuất ra giống lợn ông bà
- Lợn giống ông bà: là lợn giống được nhân từ lợn giống cụ kỵ để sản xuất lợn giống bố mẹ
- Lợn giống bố mẹ: là sản phẩm tạo ra từ đàn lợn giống ông bà, có chức năng sản xuất ra đàn lợn thương phẩm
- Đàn lợn thương phẩm: là sản phẩm được tạo ra từ đàn lợn bố mẹ, không dùng để nhân giống mà chỉ dùng để nuôi thịt
Trên địa bàn huyện Sóc Sơn chủ yếu là chăn nuôi lợn giống bố mẹ (lợn nái và lợn đực giống) nên đề tài tập trung nghiên cứu đối tượng này
2.1.1.4 Khái niệm về phát triển
Cho đến nay có nhiều nghiên cứu đã nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển đại diện cho mỗi cách đánh giá khác nhau về phát triển
Theo Ngân hàng thế giới (WB): phát triển là sự tăng trưởng về kinh tế, bao gồm những thuộc tính liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, tự
do về chính trị và các quyền tự do của con người (World Bank,1992)
Theo MalcomGills (1992): “Phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi
cơ bản trong cơ cấu nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân, sự đô thị hoá, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi trên”
Theo tác giả Raaman Weitz (1995): “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”
Trang 19Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân, không phân biệt nam, nữ, các dân tộc, các chủng tộc, các tôn giáo, các quốc gia Mục tiêu này không thay đổi nhiều kể từ đầu những năm 1950 khi mà đa số các nước đang phát triển thoát khỏi chủ nghĩa thực dân (Bùi Huy Đáp, 1967; Trần Đăng Khoa, 2010)
Có thể hiểu sự phát triển được hình thành bởi nhiều yếu tố, nó là một quá trình thay đổi phức tạp của tập hợp các phạm trù: vật chất, tinh thần, sống, niềm tin, các quan hệ xã hội khác… Tuy nhiên, phát triển kinh tế được hiểu là sự lớn lên
về mọi mặt như: tăng lên về số lượng, tốt hơn về chất lượng, cân đối, hiệu quả, công bằng, đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế Phát triển kinh tế không chỉ tạo ra nhiều hơn về số lượng của cải vật chất, tốt hơn về chất lượng mà còn bao gồm cả phân phối công bằng lợi ích xã hội Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ ) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực thô sơ, tăng tỷ trọng của khu vực chế biến và dịch vụ) Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về kinh tế,
xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định
Như vậy phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và
về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2006; Trần Đăng Khoa, 2010) Phát triển kinh tế bên cạnh tăng thu nhập bình quân đầu người, còn bao gồm cả các khía cạnh như nâng cao phúc lợi nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, cải thiện sức khoẻ và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân Phát triển kinh tế còn là sự tăng bền vững về các tiêu chuẩn sống, bao gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục, sức khoẻ và bảo vệ môi trường Phát triển kinh tế là những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và quyền tự do công dân của con người
2.1.1.5 Khái niệm và bản chất của hộ nông dân
* Khái niệm
Theo Đỗ Kim Chung (2009), hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống dựa trên ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình vào sản xuất luôn nằm
Trang 20trong hệ thống kinh tế rộng lớn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức độ không hoàn hảo
* Bản chất của hộ nông dân
- Hộ nông dân có phương tiện kiếm sống dựa trên ruộng đất, như vậy những hộ không có phương tiện kiếm sống nhờ vào ruộng đất thì không phải nông dân
- Hộ nông dân chủ yếu sử dụng lao động gia đình Như vậy, hộ nông dân không coi lao động thuê là nguồn lao động chính của gia đình Do đó thu nhập
mà nông dân nhận được còn có giá trị tiền công của lao động gia đình của chính
họ Trong trường hợp, giá trị thu nhập thấp, đồng nghĩa với việc họ tự bóc lột sức lao động của chính mình (Chaynov,1925)
- Hộ nông dân luôn trong hệ thống kinh tế rộng lớn Sản xuất nông nghiệp trong kinh tế nông hộ, tự nó chưa bao giờ là một phương thức sản xuất, nó luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nơi mà có một phương thức sản xuất khác phổ biến (Đỗ Kim Chung, 2009)
- Hộ nông dân tham gia từng phần vào thị trường ở mức độ không hoàn hảo Điều đó có nghĩa là hộ nông dân sử dụng nguồn lực của mình và một phần nguồn lực mua ở ngoài thị trường Sự tham gia vào thị trường cao hay thấp tùy thuộc vào trình độ phát triển thị trường cao hay thấp tùy thuộc vào trình độ phát triển thị trường trong nông nghiệp ở mỗi quốc gia, sự tham gia đó thường không hoàn hảo, thể hiện ở chỗ nông dân thường có sản phẩm trao đổi nhỏ, ít biết đầy
đủ về thông tin thị trường (Đỗ Kim Chung, 2009)
Tuy nhiên, trên quan điểm hiện đại về phát triển nông nghiệp và nông thôn, theo nghĩa tiếng việt, “nông dân” còn được hiểu rộng hơn là “những người dân sống ở nông thôn” Từ “nông” ở đây không phải chỉ là nông nghiệp
mà là “nông thôn” Do đó với cách nhìn này sẽ giúp cho chúng ta nhìn nhận
hộ nông dân với phạm vi nghề nghiệp, sinh kế rộng hơn, bao trùm cả kinh tế nông thôn
2.1.2 Đặc điểm một số giống lợn, cách chọn lợn giống và năng suất sinh sản của lợn giống
2.1.2.1 Lợn cái giống
Phùng Thị Vân (2004) đã chỉ ra đặc điểm một số giống lợn và các cách chọn lợn giống như sau:
Trang 21a Giống lợn Móng Cái
- Nguồn gốc và sự phân bố: Giống lợn được nuôi nhiều ở huyện Móng Cái tỉnh Quảng Ninh Về nguồn gốc lợn Móng Cái có nguồn gốc từ lợn Quảng Đông Trung Quốc, giống nay được người Hoa mang sang nước ta nuôi từ lâu, dần dần phát triển thành giống lợn của nước ta (Phùng Thị Vân, 2004)
- Đặc điểm ngoại hình: Lợn Móng Cái có 3 dòng: Dòng xương to, dòng xương nhỡ và dòng xương nhỏ Đầu đen giữa trán có một đốm trắng hình tam giác hoặc hình thoi mà đường chéo dài theo chiều dài của mặt lợn, mõm trắng, bụng và 4 chân trắng Phần trắng này có nối nhau bằng một vành trắng vắt qua vai, làm cho phần đen còn lại trên lưng và mông có hình dáng như cái yên ngựa còn được gọi là vết lang hình yên ngựa Ở chỗ tiếp giáp giữa lông đen và lông trắng có một khoảng mờ, rộng khoảng 2 – 3 cm trên đó da đen lông trắng Về kết cấu ngoại hình lợn Móng Cái có đặc điểm là đầu to, tai đúng hướng về phía trước, lưng võng, bụng xệ, chân yếu còn có hiện tượng đi bàn, có từ 12-14 vú (Phùng Thị Vân, 2004)
- Khả năng sinh sản: Là giống lợn thành thục sớm, lợn cái 3 tháng tuổi đã
có biểu hiện động dục, chu kỳ động dục bình quân là 21 ngày (18-25 ngày), thời gian động dục 3-4 ngày, thời gian chữa bình quân 144 ngày, thời gian động dục trở lại sau cai sữa 5-7 ngày, là giống lợn mắn đẻ, đẻ nhiều con và nuôi con khéo Có thể đẻ từ 10-12 con/lứa, khối lượng sơ sinh 0,5-0,7 kg/con, tỉ lệ nuôi sống đạt 80-90% So với các loại lợn lang khác thì các chỉ tiêu trên đều cao hơn từ 5-7% (Phùng Thị Vân, 2004)
b Giống lợn lai hai máu
Là con lợn lai F1giữa lợn Móng Cái x Yorkshire (cái Móng Cái và đực Yorkshire hoặc đực Landrace) (Phùng Thị Vân, 2004)
- Ngoại hình: Lợn có tầm vóc trung bình, màu lông trắng có rải rác bớt đen nhỏ trên mình và đốm đen nhỏ ở vùng quanh 2 mắt Thân dài vừa phải, lưng hơi võng, 4 chân chắc chắn (Phùng Thị Vân, 2004)
Loại lợn này khó nuôi, nếu được đầu tư tốt thì lớn nhanh, tỷ lệ nạc cao hơn giống nội và cho hiệu quả kinh tế cao hơn (Phùng Thị Vân, 2004)
Lợn lai hai máu mắn đẻ, nuôi con khéo, trung bình từ 11 đến 12 con trên lứa, con lai 1,5 tháng tuổi đạt từ 11 – 12kg Số lứa/nái/năm là 1,9 – 2,0 lứa (Phùng Thị Vân, 2004)
Trang 22c Cách chọn lợn cái giống
- Dựa vào tổ tiên: Chọn lợn cái giống từ những lợn bố mẹ có tính đẻ sai, con đồng đều, to mập, khéo nuôi con, trọng lượng cai sữa cao, chu kỳ động dục đều và sớm động dục sau khi cai sữa (Phùng Thị Vân, 2004)
- Dựa vào sức sinh trưởng: Sau khi cai sữa đến 6 tháng những lợn có tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn ít, khỏe mạnh ưu tiên chọn làm lợn cái giống (Phùng Thị Vân, 2004)
- Dựa vào ngoại hình: Chọn giống lợn nào thì lợn cái phải có đặc điểm đặc trưng của giống, căn bản dựa trên các chỉ tiêu sau:
+ Đặc điểm giống, thể chất, lông, da: Da bóng mượt, màu sắc đặc trưng theo giống, tình hình nhanh nhẹn nhưng không hung dữ
+ Đầu và cổ: Đầu to vừa phải, trán rộng, mắt lanh
+ Vai và ngực: Vai nở đầy đặn Ngực sâu, rộng Đầu và vai liên kết tốt + Lưng sườn và bụng: Lưng dài vừa phải, ít võng Sườn sâu, bụng tròn, không xệ Lương và bụng kết hợp chắc chắn
+ Bốn chân: Bốn chân chắc chắn Khoảng cách giữa 2 chân trước và chân sau rộng vừa phải Móng không tòe Đi đứng tự nhiên, không đi bàn
+ Vú và bộ phận sinh dục: Có 12 vú trở lên; khoảng cách giữa các núm vú đều, không có vú kẹ; các núm vú nổi rõ và cách đều nhau; khoảng cách giữa 2 hàng vú gần nhau
+ Dựa vào sự phát dục và thành tích sinh sản: Tuổi động dục lần đầu phù hợp đặc điểm giống (thường lợn cái ngoại động dục sớm từ 5 tháng tuổi, lợn cái mội khoảng 7 tháng tuổi)
c Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn giống
* Khả năng sinh sản
- Số con sơ sinh còn sống đến 24h/lứa đẻ: đây chỉ là chỉ tiêu nói lên khả năng đẻ nhiều hay ít con của con giống, kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chữa, kỹ thuật thu tinh nhân tạo, chất lượng tinh dịch (Phùng Thị Vân, 2004)
- Tỉ lệ sống (%) = (số con sinh sống đến 24h)/(số con đẻ ra)x 100
Số lợn con chết lúc sơ sinh, thai gỗ, thai non là nguyên nhân làm giảm số lợn con sơ sinh sống đến 24h/lứa đẻ
- Số lợn con cai sữa/ lứa: là số con được nuôi sống đến đến khi cai sữa
Trang 23mẹ, thời gian cai sữa dài hay ngắn tùy thuộc vào trình độ kỹ thuật và chế độ thức
ăn cho lợn con Đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng quyết định năng suất của nghề chăn nuôi lợn Chỉ tiêu này phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ, cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật của lợn con (Phùng Thị Vân, 2004)
- Số lợn con cai sữa/nái/năm
Chỉ tiêu này đánh giá tổng quát nhất đối với nghề chăn nuôi lợn nái, người nuôi lợn nái có lãi hay không là phụ thuộc rất nhiều vào số lợn con cai sữa/nái và khối lượng cai sữa/ổ Nếu tăng số lứa đẻ/nái/năm, tăng số lợn con cai sữa/năm (Phùng Thị Vân, 2004)
* Chất lượng đàn con
- Khối lượng sơ sinh toàn ổ: Là khối lượng cân sau khi lợn con được đẻ ra, cắt rốn lau khô và chưa cho bú lứa đầu Đây là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ,kỹ thuật chăm nuôi,chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa của cơ sở chăn nuôi Do đó thành tích này bao gồm chất lượng của lợn nái và nuôi dưỡng của con người Khối lượng toàn ổ sơ sinh là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống, khối lượng sơ sinh cao hay thấp ảnh hưởng tới các giai đoạn phát triển sau này (Phùng Thị Vân, 2004)
- Khối lượng toàn ổ khi cai sữa: dõ kỹ thuật chế biến thức ăn, điều kiện chuồng nuôi, kỹ thuật chăm sóc mà có thể cai sữa sớm,tuy nhiên khối lượng lợn con ở thời điểm cai sữa sớm có ý nghĩa trọng việc định mức dinh dưỡng cho chúng, còn thành tích sản xuất của lợn nái phải được xác định ở 60 ngày tuổi, khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ với khối lượng sơ sinh và là cơ sở cho khối lượng xuất chuồng (Phùng Thị Vân, 2004)
Tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con :nói lên khả năng nuôi con của lợn mẹ,kỹ thuật chăm sóc , phòng dịch cho lợn con.Tỷ lệ đồng đều được tính bằng tỷ lệ phần trămgiữa cá thể có khối lượng thấp nhất trong đàn so với cá thể có khối lượng cao nhất trong đàn, sự chênh lệch này ít thì tỉ lệ đồng đều càng cao
- Khoảng cách lứa đẻ: là thời gian để hình thành một chu kỳ sinh sản bao
gồm: Thời gian chữa + thời gian con nuôi + thời gian chờ động dục lại sau cai sữa và phối giống có chữa, khoảng cách lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ của nái/năm
- Khả năng tiết sữa: là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ, lợn
Trang 24mẹ tiết sữa cao nhất ở 21 ngày tuổi, vì vậy để tận dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ không nên cai sữa trước 21 ngày tuổi mà thường cai sữa ở 24 – 28 ngày tuổi
để đánh giá hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản thì phải tiến hành nâng cao số lợn cai sữa, khối lượng lợn con lúc cai sữa (Phùng Thị Vân, 2004)
Để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái tùy vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu mà có thể lựa chọn các chỉ tiêu khác nhau và các chỉ tiêu này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản
+ Tuổi phối giống và tuổi đẻ lần đầu là chỉ tiêu đánh giá khả năng đẻ sớm của lợn nái, vì tuổi đẻ lứa đầu ảnh hưởng đến thời gian sinh sản của lợn nái và những ảnh hưởng tới chi phí trong chăn nuôi lợn Tuổi đẻ lứa đầu, khối lượng con mẹ lúc phối giống và lứa đẻ có ảnh hưởng rõ rệt đến tình trạng số con sơ sinh/lứa và khối lượng sơ sinh trên lứa Nếu phối giống sớm cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc, cơ quan sinh sản chưa thật hoàn thiện Do vậy, số con đẻ
ra ít, còi cọc và ảnh hưởng tới sự phát triển của lợn mẹ, nếu phối muộn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế Thông thường người ta bỏ qua lần động dục đầu tiên
và phối vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3, vì lần động dục đầu tiên số lượng trứng rụng thường ít và chưa ổn định
Như vậy rút ngắn tuổi đẻ lứa đầu ở một chừng mực nào đó sẽ tăng thời gian sinh sản của lợn nái Lợn nái hậu bị có thể bắt đầu động dục ở 4 đến 5 tháng tuổi, nhưng tuổi phối giống thích hợp là từ 7 đến 8 tháng tuổi và như vậy tuổi đẻ lứa đầu ước tính 11 – 12 tháng tuổi Tuổi đẻ lứa đầu cao ảnh hưởng tới số con cai sữa/nái/năm vì thời gian sinh sản của lợn nái sẽ ngắn lại dẫn đến giảm số con cai sữa/nái/năm điều đó làm cho lợi nhuấn sẽ bị giảm xuống (Phùng Thị Vân, 2004)
2.1.2.2 Lợn đực giống
Lợn đực giống là lợn dùng để khai thác tinh phối giống cho lợn nái sinh
Trang 25sản, yêu cầu của đực giống phải đạt tiêu chuẩn đặc cấp về ngoại hình và chất lượng tinh dịch, lợn đực giống luôn khỏe mạnh, không mắc các bệnh truyền nhiễm
* Đặc điểm của lợn đực giống
- Một con lợn đực giống tốt là một tài sản có giá trị đòi hỏi công chăm sóc lớn và đem lại lợi ích kinh tế cao cho người nuôi
- Đối với lợn đực giống, số lượng và phẩm chất tinh dịch rất quan trọng Khi đã chọn được giống tốt, số lượng và phẩm chất tinh dịch chịu ảnh hưởng của chế độ thức ăn, nuôi dưỡng và sử dụng đực giống
- Yếu chân và các bệnh về chân là nguyên nhân lớn nhất quyết định số phận của đực giống Cần quan sát kỹ để phát hiện những biểu hiện này
- Đực giống tốt có ảnh hưởng đến sức sản xuất của 40 - 50 nái sinh sản khi cho phối giống trực tiếp và 400 - 500 nái sinh sản khi cho thụ tinh nhân tạo
- Nếu sử dụng đực giống bị bệnh để phối giống cho nái sinh sản thì sẽ gieo rắc mầm bệnh lây lan trên diện rộng, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi
* Cách chọn đực giống
- Cần chọn đực giống có lý lịch rỏ ràng, là con của những căp ông bà, bố
mẹ có năng suất cao, là cá thể lớn nhất trong đàn
- Chọn đực giống làm 2 đợt: Lần I lúc lợn được 2 - 4 tháng tuổi và lần II trước khi bắt đầu cho phối giống
- Cần chọn những con đực có đặc điểm ngoại hình đặc trưng của giống
- Lợn đực khỏe mạnh, lưng thẳng, ngực nở, thể chất rắn chắc, không quá béo hoặc quá gầy, thân hình cân đối, hài hòa, chắc chắn, 4 chân thẳng, khỏe
- Lợn đực phàm ăn, tăng trọng tốt, hiền lành nhưng không chậm chạp, tính dục hăng nhưng không xuất tinh quá sớm
- Chọn con đực có hai hòn cà lộ rõ, nở, căng và đều nhau, không sệ lệch
- Lợn ít nhất có 12 vú trở lên, da có độ đàn hồi tốt
2.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật và nhu cầu dinh dưỡng trong chăn nuôi lợn giống
2.1.3.1 Đối với lợn cái giống
Phạm Văn Hùng (2006) đã đưa ra một số đặc điểm kỹ thuật và nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái sinh sản như sau:
Trang 26a Kỹ thuật nuôi dưỡng
Kỹ thuật nuôi lợn nái hậu bị: Lợn nái hậu bị là lợn cái từ khi cai sữa được chọn để làm cái giống, nuôi cho đến khi phối giống lần đầu Khi nuôi dưỡng lợn nái hậu bị sao cho đến tuổi phối giống trọng lượng phải đạt yêu cầu Lợn quá gầy, quá béo đều dẫn đến sức sinh sản kém, lợn quá béo sẽ khó động dục Vì vậy khẩu phần
ăn cho lợn cần phù hợp, Từ khi được chọn làm giống đến 6 tháng tuổi có thể cho lợn
ăn với khẩu phần ăn cho phép lợn bộc lộ đến mức tối đa tiềm năng di truyền về tốc
độ sinh trưởng và tích lũy mỡ của nó Sau đó khống chế thức ăn, nhất là những loại thức ăn giàu năng lượng để vừa tiết kiệm được thức ăn vừa tránh được tăng trọng không cần thiết Nhưng trước khi cho đi phối khoảng 10 – 14 ngày nên tăng mức ăn cho lợn cái với mục đích tăng số trứng rụng (Phạm Văn Hùng, 2006)
Lợn nái ở giai đoạn chờ phối: Mức dinh dưỡng được cung cấp theo tuổi, khối lượng, giống và thể trạng của lợn nái Lợn dưới 2 năm tuổi nên cung cấp nhiều protein Vitamin và khoáng hơn những lợn nái đã trên 2 năm tuổi Lợn ngoại nhu cầu dinh dưỡng cao hơn lợn nội, lợn gầy mức dinh dưỡng cần cung cấp cao hơn lợn béo Giai đoạn này với thời gian rất ngắn, thường chỉ 6 đến 7 ngày Trong nuôi dưỡng nên giũ cho lợn có độ béo vừa phải (mức ăn cho lợn ngoại 2 – 2.5kg TĂ/ngày) (Phạm Văn Hùng, 2006)
Lợn nái chửa: mức dinh dưỡng của lợn nái được cung cấp theo tuổi, giai đoạn có chữa và tùy theo giống Cần chú ý 2 giai đoạn quan trọng là 3 tuần đầu
có chữa và 3 tuần cuối (Phạm Văn Hùng, 2006)
+ Trong 3 tuần đầu không yêu cầu cao về số lượng thức ăn mà chủ yếu là về chất lượng thức ăn Giai đoạn này dễ sẩy thai, tiêu thai nếu cho lợn ăn thức ăn có chất lượng kém như bị thiu mốc, các axit amin không thay thế bị thiếu hay không cân đối
+ Vào giai đoạn 3 tuần cuối cần chú ý cả về số lượng và chất lượng thức
ăn Khối lượng thai ở giai đoạn này tăng rất nhanh nên cần nhiều dinh dưỡng, ở giai đoạn này dễ đẻ non nếu chấy lượng thức ăn không tốt Thức ăn cần được chế biến tốt để có thể tích nhỏ, tạo điều kiện cho lợn nái ăn được nhiều vì đường ruột của lợn bé lại do bị thai chèn
Lợn nái nuôi con: cần nhiều dinh dưỡng cho quá trình tạo sữa nuôi con Đặc biệt ở tháng đầu nuôi con, vì chất dinh dưỡng của lợn con chủ yếu dựa vào sữa mẹ nếu không cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng thì đàn con sẽ bị còi cọc
Trang 27và tỉ lệ hao hụt của lợn nái rất cao Nếu dùng khẩu phần cao năng lượng để nuôi lợn nái ở giai đoạn này để giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái trong quá trình nuôi co Tốt nhất dùng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh được sản xuất từ nhiều công ty khác nhau và có thể bổ sung dầu thực vật, mỡ lợn để nâng cao hàm lượng năng lượng trong khẩu phần (Phạm Văn Hùng, 2006)
Trước cai sữa con 3-4 ngày nên giảm mức ăn của lợn nái để tránh viêm
vú Sau khi cai sữa con 2-3 ngày mới cho ăn lại bình thường
b Nhu cầu dinh dưỡng
Nhu cầu dnh dưỡng của lợn cái hậu bị theo NRC năm 2000 có tỉ lệ tăng nạc khác nhau và cho ăn tự do với 90% vật chất khô
- Nhu cầu năng lượng:
+ Hậu bị, chờ phối, chữa kỹ I: 2800 – 2900kcal ME/1kg TĂ
+ Lợn nái chữa kỳ II: 3000 kcal ME/1kg TĂ
+ Lợn nái nuôi con: 3100 – 3200 kcal ME/1kg TĂ
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn dinh dưỡng thức ăn cho lợn nái sinh sản giống nội
(con/ngày đêm) Chỉ tiêu
Nguồn: Nguyễn Thiện và cs.(1996)
2.1.3.2 Đối với lợn đực giống
Đối với chăn nuôi lợn đực giống, yêu cầu lợn đực giống không được quá béo, quá gầy; số lượng và chất lượng tinh dịch tốt; lợn đực giống hoạt bát, nhanh nhẹn, phản xạ tốt, tính hăng cao
Trang 28* Chăm sóc, nuôi dưỡng lợn đực giống
- Lợn đực giống có thể bắt đầu được khai thác tinh dịch ở 7 - 8 tháng tuổi, tương ứng với khối lượng từ 90 - 100kg
- Khi mới bắt đầu phối giống, cho lợn đực giống phối với những con cái nhỏ hơn, già hơn, có tính nết hiền, lặng lẽ, không nên cho phối với những con nái
to, nái tơ vì đực giống dễ bị hoảng sợ do chưa có kinh nghiêm
+ Khoảng cách khai thác tinh phải phù hợp với tuổi và thể trạng heo Thời gian 3 tháng đầu có thể khai thác 1 - 2 lần/tuần, thời gian sau đó khai thác 2 - 3 lần /tuần
+ Sau mỗi lần khai thác tinh, cần vệ sinh đường sinh sản cho lợn đực giống + Không nên cho lợn vận động hoặc tắm (nước lạnh) trong vòng 1 giờ sau khi khai thác tinh
+ Thường xuyên kiểm tra bàn chân, cẳng chân, nếu có dấu hiệu bị què, bị đau cần cho lợn nghỉ đến khi khỏi hẳn
+ Không nên dùng lợn đực giống quá 5 năm tuổi
+ Thường xuyên tắm chải cho lợn đúng cách
+ Xoa nắn dịch hoàn cho lợn đực hậu bị, và đực làm việc mỗi ngày 1 lần, thời gian 10 - 15 phut
+ Hàng ngày cho lợn đực vận động 30 phút
+ Tuyệt đối không được đánh đập lợn đực giống có thể xua đuổi lợn bằng roi + Trước khi cho phối phải tác động kỹ thuật để lợn dạn người, hăng tính dục + Đối với lợn đực giống nhảy trực tiếp: địa điểm phối giống phải bằng phẳng không gồ gề, trơn 2 ngày 1 lần nhảy
+ Đối với lợn thụ tinh nhân tạo: Trước khi huấn luyện 15 - 20 ngày phải tác động kỹ thuật để heo dạn người, hăng tính dục (nuôi dưỡng tốt vận động hàng ngày, tắm chải, xoa kích thích vào phòng lấy tinh để làm quen) nơi lấy tinh phải
có nền chắc chắn, không trơn trượt, dễ vệ sinh sau khi lấy tinh
+ Phải ghi sổ theo dõi về các chỉ tiêu: Tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra còn sống, trọng lượng sơ sinh, số con cai sữa, trọng lượng cai sữa cho từng con đực giống + Định kỳ giám định, kiểm tra đực giống (ngoại hình và thể chất) phẩm chất tinh dịch (bằng V.A.C.R.pH.X) về tỷ lệ sống chết, màu, mùi, độ vẩn, kết quả
Trang 29sinh sản để có quyết định loại thải
* Thức ăn và tiêu chuẩn khẩu phần thức ăn
- Cho ăn thức ăn hổn hợp, phải đảm bảo năng lượng trao đổi và Protein
- Cung cấp đủ nước sạch cho lợn uống
- Ngày phối giống cho lợn ăn thêm 2 quả trứng và thóc mầm hoặc giá đỗ
- Phải cung cấp đúng khẩu phần thức ăn để tránh lợn đực quá béo hoặc quá gầy
* Phòng bệnh cho heo đực
Tiêm phòng vaccin định kỳ vào tháng 3 - 4 và tháng 8 - 9 với các loại vaccin phòng bệnh: Bệnh Tụ Huyết Trùng, Dịch Tả lợn FMD, PRRS
2.1.4 Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi lợn giống
2.1.4.1 Phát triển quy mô chăn nuôi (phát triển theo chiều rộng)
Nghiên cứu phát triển chăn nuôi lợn giống trước hết phải là việc phát triển quy mô chăn nuôi của hộ, được thể hiện thông qua:
- Sự phát triển về số lượng đàn lợn giống nuôi qua các thời kỳ: số lượng lợn giống bố mẹ và số lượng lợn con xuất bán ra thị trường
- Sự phát triển về số lượng hộ nuôi lợn giống;
- Sự mở rộng về phạm vi, vùng chăn nuôi lợn giống;
- Sự phát triển về các loại hình trong chăn nuôi lợn giống
Phát triển theo chiều rộng nghĩa là tăng quy mô chăn nuôi Quy mô của ngành chăn nuôi lợn thể hiện qua quy mô, số lượng và được phản ánh bằng tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng mà các hộ chăn nuôi tạo ra Bên cạnh đó còn thể hiện ở sự tăng số xã, phường chăn nuôi, tăng số hộ chăn nuôi trên địa bàn
Trang 30Phát triển chăn nuôi theo chiều rộng được nghiên cứu trên các khía cạnh: + Nghiên cứu thị trường:
Theo báo cáo thị trường thịt lợn Đông Nam Á và Trung Quốc cuối năm
2016 cho thấy: tiêu dùng thịt lợn tại Việt Nam đang tăng trưởng trung bình 4,9%/năm và hiện đạt 38,3kg/người/năm Khoảng 99,6% người Việt Nam tiêu dùng thịt lợn và thịt lợn vẫn luôn là loại thịt được ưa chuộng nhất Thị trường thịt lợn Viêt Nam chia cắt bởi khu vực: bắc, trung, nam cũng như giữa người tiêu dùng thành thị và nông thôn Phần lớn người dân vẫn sống tại nông thôn, chiếm 72% dân số và có sinh kế trong nông nghiệp và thủy sản Gần 50% tổng lao động hoạt động trong các ngành sản xuất cơ bản Tiêu dùng thực phẩm tại các đô thị cao hơn 30% về giá trị so với nông thôn và có thu nhập tăng nhanh hơn: người dân đô thị có tốc độ tăng thu nhập 16,1% so với 6% cho người dân nông thôn trong năm 2015 Các hệ thống bán lẻ hiện đại tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn: cao nhất là tại thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 18,6% doanh số ngành thực phẩm), theo sau là Hà Nội, Cần Thơ và Đà Nẵng Thị trường thực phẩm Việt Nam dự báo tăng trưởng 14% tại các khu vực thành thị trong giai đoạn 2015 –
2020 và 34% tại các khu vực nông thôn Các sản phẩm sữa, với nguồn cung nội địa ngày càng tăng, đang hưởng lợi từ khuynh hướng tăng tiêu dùng này Giống như nhiều nước châu Á khác, thị trường dịch vụ ăn uống tại Việt Nam rất lớn, ở mọi phân khúc Việt Nam có dân số trẻ và đang tăng: tổng dân số 93,4 triệu người, 60% dân số dưới 35 tuổi (Theo The Pig Site, 2016)
+ Quy hoạch vùng chăn nuôi
Ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam chủ yếu dựa trên chăn nuôi quy mô hộ gia đình với khoảng 7 triệu hộ có quy mô bình quân từ 1-10 con/hộ Đây cũng là ngành đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thu nhập cho khu vực nông thôn Các hộ chăn nuôi nhỏ là nguồn cung chủ đạo, cung cấp tới 90% lượng thịt lợn bán trên thị trường (Tisdell, 2009) Vì vậy nhu cầu về thịt lợn ngày một tăng cao đang tạo ra cơ hội cải thiện sinh kế cho những người có thu nhập thấp thông qua chăn nuôi, chế biến thương mại các sản phẩm từ chăn nuôi (Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, 2014)
Chất lượng thịt và an toàn thực phẩm là các chủ đề nóng tại Việt Nam, khi ngày càng nhiều công ty tham gia VietGAP để cải thiện tiêu chuẩn an toàn thực phẩm khu vực ngoại ô, VietGAP được xây dựng dựa trên GlobalGAP, đang đóng
Trang 31góp tích cực trong đưa các sản phẩm thịt được đóng dấu an toàn vào các siêu thị + Mở rộng quy mô, tăng số lượng trang trại và hộ chăn nuôi Mô hình kinh tế trang trại trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta đã hình thành và không ngừng được mở rộng, phát triển trong thời gian qua Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần giúp người dân phát huy được lợi thế so sánh, mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hoá, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường.Tạo điều kiện cho các trang trại chăn nuôi mở rộng quy mô sản xuất, tỉnh cũng đã khuyến khích, đầu tư và hỗ trợ phát triển chăn nuôi theo mô hình nông hộ theo hướng an toàn dịch bệnh Người chăn nuôi được tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi để mua con giống, cải tạo chuồng trại và xây dựng hầm bể biogas
2.1.4.2 Phát triển theo chiều sâu
Phát triển theo chiều sâu trong chăn nuôi lợn giống của các hộ được thể hiện thông qua:
- Làm tăng kết quả và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn giống của hộ;
- Nâng cao chất lượng con lợn giống cung cấp ra thị trường;
- Nâng cao năng suất sinh sản của lợn giống bố mẹ;
- Tăng thu nhập cho người chăn nuôi để có thể tái đầu tư trong chăn nuôi
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn giống
2.1.5.1 Yếu tố khách quan
a Yếu tố tự nhiên và cơ sở hạ tầng phục vụ chăn nuôi
- Yếu tố tự nhiên
Việc phát triển chăn nuôi lợn được dựa trên những điều kiện tự nhiên như
về thời tiết khí hậu, điều kiện môi trường như nếu như thời tiết quá hà khắc thì lợn cũng không có được môi trường thuận lợi chính vì vậy môi trường điều kiện
tự nhiên là nhiệt độ giao khoảng từ 22-330C, đây là thời điểm thuận lợi nhất và cũng là điều kiện mà lợn ít mắc dịch bệnh cũng như khả năng tăng trọng cao Điều kiện trên giúp cho lợn phát triển cả về thể trọng lẫn sức đề kháng, khi lợn không mắc bệnh sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân
Độ ẩm trong không khí cao cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng do
đó cần có sự kiểm tra giám sát kỹ vì độ ẩm trong không khí quá cao có thể làm giảm khả năng động dục của con giống Giảm chất lượng sơ sinh sống/ổ
Trang 32Điều kiện về diện tích đất cũng là yếu tố quan trọng giúp mở rộng quy mô diện tích đất để chăn nuôi
Yếu tố quan trọng trong điều kiện tự nhiên đó là nguồn nước vì nước không chỉ là nước uống hàng ngày cho lợn, mà nó còn là nhu cầu tắm cho lợn trong những ngày hè nóng, nguồn nước còn được dùng để vệ sinh chuồng trại đảm bảo vệ sinh thú y hạn chế dịch bệnh cho lợn giống, đặc biệt trong thời gian nái mẹ đang nuôi con
Qua những tác động trên cho thấy yếu tố tự nhiên về khí hậu, đất đai, nguồn nước là một trong những yếu tố quan trong cho sự phát triển của lợn Tạo điều kiện cho sự sinh trưởng cũng như khả năng sinh sản tạo ra con giống thương phẩm phục vụ cho tiêu thụ sản phẩm
Mỗi sự biến động của môi trường tự nhiên đều tác động và ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuất của con người, trong đó có hoạt động chăn nuôi lợn thịt
Vật nuôi là cơ thể sống, sự sinh trưởng phát triển và phát dục của chúng phụ thuộc vào những quy luật nhất định, các quy luật này lại chịu sự khống chế bởi điều kiện thiên nhiên phức tạp Nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng chủ yếu đến năng suất thịt, ngoài ra còn ảnh hưởng không nhỏ đến phẩm chất thịt khi lợn được nuôi ở nhiệt độ và độ ẩm không thích hợp (Vũ Đình Tôn, 2009) Chính vì vậy những yếu tố tác động bên ngoài như môi trường, thời tiết, nguồn nước có sự tác động rất lớn đến môi trường sống cũng như khả năng sinh sản và chất lượng con giống Tạo ra năng suất sinh sản cũng như chất lượng thịt đáp ứng nhu cầu
và nguồn thực phẩm được đảm bảo
- Giao thông và cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng là điều kiện để người nông dân được tiếp cận với những tin mới về tiến bộ khoa học cũng như tiếp cận những con giống có chất lượng Giúp cho những thương lái tiếp cận để thuận tiện buôn bán chuyển giao con giống, trao đổi kinh nghiệm chăn nuôi Tăng năng suất, nâng cao chất lượng con giống, tiếp cận với các phương pháp mới trong công tác thú
y, thức ăn chăn nuôi
b Yếu tố con giống
Tương tự như vậy, giống cũng ảnh hưởng tương đối lớn, nên hiệu quả trong chăn nuôi lợn tại các hộ nông dân của huyện Các giống vật nuôi khác nhau
Trang 33cho hiệu quả kinh tế khác nhau Tại địa bàn huyện thì hộ nông dân sử dụng chủ yếu hai giống lợn đó là giống lợn lai kinh tế và giống đực hướng nạc.Hiện nay, giống lợn đực hướng nạc đang được người chăn nuôi sử dụng trong chăn nuôi nhiều hơn cả vì nó đã thể hiện được ưu thế hơn về hiệu quả so với giống lợn lai kinh tế
Bên cạnh các con giống có trong nước một số cơ sở đã cải thiện và nhập những dòng giống mới của các nước tiên tiến như Đan Mạch, Anh, Pháp, Mỹ
để nâng cao chất lượng con giống
Bằng những phương pháp mới như thụ tinh nhân tạo để nâng cao hiệu quả năng suất cũng như đảm bảo nguồn gen Tạo ra những dòng có chất lượng và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Phát triển chăn nuôi Hà Nội, hiện tại đàn lợn sinh sản của Thành phố hiện có 182.000 con Hàng năm, đàn lợn sinh sản
bố mẹ bị loại thải là 52.000 con, trong khi đó sản xuất ông bà chỉ được có 16.000 con để thay thế, bằng khoảng 30% yêu cầu sản xuất trong nước Còn lại chiếm 70% là đang nhập từ các nước trên thế giới hoặc người dân tự cho sinh sản Chất lượng con giống không được kiểm soát từ năng suất đến hiệu quả kinh tế (Văn Thắng, 2014)
Hiện tại trên cả nước mới có hai Trung tâm lớn về cung cấp giống đó là: Trung tâm nghiên cứu Lợn Thụy Phương (Hà Nội) và Trung tâm nghiên cứu phát triển chăn nuôi gia súc lớn – Phân viện chăn nuôi Nam Bộ (Bình Dương – TPHCM) cả hai Trung tâm trên đều thuộc Viện chăn nuôi và một số công ty lớn như CP, Dabaco Việc cung ứng trong những năm gần đây có sự phát triển mạnh nhưng con giống sản xuất ra không kịp dẫn đến tình trạng thiếu lợn giống cung ứng cho người nông dân
Nhà nước đã có những chính sách đẩy mạnh phát triển con giống, như tăng quy mô đàn lợn giống và mở thêm trạm cho Trung tâm nghiên cứu Lợn Thụy Phương để đẩy mạnh việc cung ứng cho đàn lợn giống cung ứng hơn cho người chăn nuôi Bên cạnh đó Trung tâm đã mở rộng và tăng quy mô nái lên gần 2000 nái tại Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp – Ninh Bình và nhập mới gần 1000 giống cụ kỵ từ các nước Anh, Mỹ, Đan Mạch để tăng chất lượng con giống cũng như cung ứng thêm nhu cầu con giống cho hộ nông dân
Trang 34Trung tâm cũng đã có chủ trương sản xuất tinh để phục vụ bà con nhân dân trong việc phối giống tránh bị cận huyết, phối trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng con giống
c Việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ngành chăn nuôi năm 2015 có những bước chuyển dịch rõ ràng, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế Giá thức ăn chăn nuôi trong năm có xu hướng giảm nhưng chưa nhiều Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi có mức tăng khá đạt 4,3% so với cùng kỳ năm ngoái Chăn nuôi lợn phát triển khá thuận lợi và ở mức có lợi cho người chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2015)
Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng giới thiệu các tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng cho mô hình trang trại chăn nuôi lợn như: sử dụng đệm lót sinh học để đảm bảo khả năng sinh sản cũng như đảm bảo con con khi sinh ra; ứng dụng quy trình chăn nuôi; quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh, dùng đệm lót sinh học trong chăm sóc lợn giống
Áp dụng mô hình thụ tinh nhân tạo cho lợn giống nhằm cải tạo đàn lợn trong nước, lai tạo lợn ngoại, tăng khả năng tăng trọng trong chăn nuôi lợn
Hỗ trợ cung ứng lợn giống cho hộ nông dân nhằm tăng đầu lợn giống cung cấp lợn thương phẩm, nâng cao hiệu quả sinh sản và tỷ lệ nạc, nâng cao giá thành cho người nông dân
Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào thực tế nâng cao năng suất sinh sản của lợn giống (heo nái) đang được đặc biệt quan tâm như: chế độ nuôi dưỡng, chế độ sinh sản, môi trường điều kiện thích nghi
d Công tác khuyến nông
Khuyến nông là hoạt động chuyển giao công nghệ khoa học, hay thị trường tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao trình độ cho người chăn nuôi, cũng như tiếp cận những tiến bộ khoa học mới và những phương pháp chăm sóc một cách hiệu quả Tiếp cận cũng như cập nhật giá cả tránh bị ép giá
Chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới trong chăn nuôi lợn giống là: tiếp cận những giống mới có khả năng sinh sản cao, số sơ sinh sống trên ổ cao hơn so với lợn nái truyền thống như Landrace, Yorshire có nguồn gốc
Trang 35Anh, Mỹ, Pháp, Canada ; dòng siêu sinh sản mới được Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương đưa về và nhân giống với số sơ sinh sống đạt 15-17con/ổ là dòng Meshan
Về dòng lợn đực có dòng Landrace, Yorkshire, Duroc, Pidu thúc đẩy việc lai tạo giống đạt hiệu quả chất lượng nạc
Chuyển giao công nghệ chăn nuôi mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chế
độ thức ăn cho từng giai đoạn phát triển, kiểm tra và khuyến khích các hộ nông dân chú ý đến công tác vệ sinh thú y, chuồng trại chăn nuôi
e Công tác thú y
Việt Nam là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đây là thời tiết khí hậu thích hợp cho sự phát triển của dịch bênh, nhất là thời gian chuyển mùa và thời điểm thời điểm có độ ẩm cao Dịch bệnh không những ảnh hưởng đến sự phát triển của con giống mà còn làm giảm chất lượng cong giống cũng như gây thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi suy giảm số lượng gia súc, gia cầm gây ảnh hưởng đến giá thành và sức khỏe người tiêu dùng dễ mắc các loại bệnh như: Lở mồm long móng, viêm phổi, dịch tả, nhiễm trùng da và tiêu chảy(đối với lợn con sau cai sữa)
Cần có những biện pháp phòng và chữa bệnh cũng như có những thông báo của ban thú y huyện, dự báo và đề phòng dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm, cần có công tác kiểm dịch động vật
Hạn chế những rủi ro trong quá trình chăn nuôi và cho cả người chăn nuôi được nắm những thông tin cập nhật mới Tránh những tổn thất không đáng có cho người chăn nuôi Ngoài ra cần kiểm soát dịch bệnh thì việc vệ sinh chuồng trại cũng như việc tiêm phòng vacxin theo đúng quy định từng giai đoạn chăn nuôi, có những chính sách tuyên truyền tích cực đến người chăn nuôi, thông báo trước thời điểm trước thời gian sảy ra dịch bệnh để người chăn nuôi kịp thời phòng và chữa trị Với hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, theo tính chất tự phát thì việc tuyên truyền là chủ yếu nên cần chú trọng vào việc tuyên truyền, công tác thông tin đảm bảo đến người chăn nuôi, vì người chăn nuôi chỉ thực sự quan tâm khi dịch bệnh đã xảy ra chứ rất ít hộ có khái niệm phòng hơn chữa Dẫn đến việc bùng phát dịch bệnh lây lan nhanh chóng và ảnh hưởng đến môi trường một cách nghiêm trọng
f Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng
Quy luật sinh trưởng và phát triển chăn nuôi lợn giống được phát triển
Trang 36theo các giai đoạn sau:
* Chế độ nuôi dưỡng
Lợn giống (heo nái) được nuôi theo chế độ tiêu chuẩn cho từng giai đoạn: giai đoạn đậu thai, giai đoạn đẻ, giai đoạn sau đẻ sẽ có chế độ giảm ăn dần cho tới khi cai sữa cho heo con
Do vậy ở giai đoạn này cần nuôi theo một yêu cầu tỷ lệ nhất định, chế độ
ăn cũng theo từng giai đoạn khác nhau, các giai đoạn phát triển
Môi trường có ảnh hưởng nhiều đến tính thèm ăn của lợn giống (lợn nái giống) nhiệt độ thích hợp nhất là từ 160C Nếu tăng 10C thì lượng thức ăn giảm 140-120gr/ngày Vì vậy cần giảm nhiệt độ chuồng nuôi lợn giống (heo nái) nuôi con bằng quạt gió, trồng cây xanh phun mưa trên mái chuồng (Vũ Đình Tôn, 2009) Các loại giống khác nhau có khả năng cho thịt khác nhau Vì vậy, giống
là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất thịt Thông thường các loại lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những giống nhập ngoại Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt 60kg trong khi đó lợn ngoại (Landrace, Yorkshire ) nuôi tại Việt Nam có thể đạt 60-90kg lúc 6 tháng tuổi (Vũ Đình Tôn, 2009)
Lợn đực giống khi cho ăn cầm đảm bảo đúng giờ, thức ăn cần chọn loại thức ăn phù hợp với khẩu phần ăn, hạt nhỏ, không được pha loãng Cho lợn đực
ăn đúng tiêu chuẩn trọng lượng, không được ăn quá no hay để bị đói đối với những con lợn đực đang trong giai đoạn làm việc
Luôn luôn theo dõi chế độ ăn của lợn để tránh tình trạng lợn bỏ ăn, hay ăn quá ít để có sự điều chỉnh hợp lý Lắp van xả nước tự động để đảm bảo nguồn nước luôn luôn sạch sẽ
Có chế độ chăm sóc riêng cho từng con, với những hộ gia đình nuôi nhiều lợn đực thì cần tách từng ô đối với từng con một Để có sự chăm sóc riêng và cung cấp lượng protein đối với những con phải làm việc nhiều hơn
Muốn nâng cao chất lượng tinh của lợn đực ngoài chế độ nuôi dưỡng tốt, cần phải có chế độ chăm sóc hợp lý cụ thể như sau:
- Chuồng trại phải thật khô ráo, sạch sẽ, ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè Mặt khác chuồng nuôi lợn đực cần được xây dựng ở xa khu lợn nái và khu riêng biệt Xây dựng chuồng theo đúng quy định 1 đực một ô với diện tích là 4-6m2 và 6-9m2
Trang 37Vận động rất quan trọng đối với lợn đực giống, vận động giúp lợn đực có thân hình chắc khỏe và khả năng nhảy giá tốt Vận động để tăng tính hăng, nâng cao quá trình trao đổi chất, bụng gọn, tránh tình trạng béo dẫn đến ì và lười làm việc
Vệ sinh tắm, cọ rửa chuồng thường xuyên để đảm bảo cho khu chuồng đực luôn được sạch sẽ, vì nó ảnh hưởng rất lớn đến sự bài tiết, trao đổi chất, tăng cường các hoạt động về tính dục, tính thèm ăn ngoài ra còn tránh được một số bệnh ngoài da, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp xúc giữa lợn đực và con người, qua đó dễ dàng làm quen và huấn luyện và sử dụng chúng
Thời tiết có yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc sản xuất tinh dịch, thời tiết giao động từ tháng 1 đến tháng 4 thì nhiệt độ rơi vào khoảng 25oC chính vì vậy mà đây là thời điểm lý tưởng cho chất lượng tinh, cũng như tỷ lệ thụ thai được cao hơn
Đối với mùa hè đây là thời gian nắng nóng, thì khả năng vận động cũng như cho tinh thấp cần hạn chế thụ tinh cũng như lấy tinh từ lợn đực Và cần tắm cho lợn đực ngày 2 lần
Cần kiểm tra định kỳ lượng tinh dịch, thể trạng cũng như sức khỏe của lợn đực từ đó có sự điều chỉnh về chế độ chăm sóc cũng như khẩu phần ăn cho lơn đực sao cho hợp lý và hiệu quả nhất có thể Đối với lợn đực đã trưởng thành thì trọng lực gần như không thay đổi nên cần duy trì đảm bảo chế độ ăn uống hợp lý
Bổ xung đúng cách theo quy trình
Kiểm tra các chỉ tiêu sinh lý của chaasrt lượng tinh hàng ngày để phát hiện kịp thời những thay đổi về thể tích (V ml); màu sắc, hình dạng tinh trùng
Định kỳ theo dõi hàng tuần và kiểm tra các chỉ tiêu phẩm chất tinh bảo gồm các chỉ tiêu thể tích mỗi lần xuất tinh, nồng độ (C, triệu/ml) hay mật độ tinh trùng (D triệu/ml); hoạt lực (A), sức kháng sinh tinh trùng (R), tỷ lệ tinh trùng hình (%); tổng số tinh trùng sống trong một lần xuất tinh (VAC,tỷ)
Khẩu phần ăn cho lợn đực mà giá trị dinh dưỡng thấp thì dẫn đến có ngoại hình xấu, sản xuất tinh kém Như vậy rất cần chú ý đến khẩu phần ặn cũng như cách chăm sóc sao cho hợp lý nhất
Việc sử dụng lợn đực phụ thuộc về tuổi và thành thục về tính Các giống lợn đực nội địa trong nước thường có tuổi trưởng thành sớm hơn so với lợn đực ngoại rất nhiều Đối với lợn đực nhập khẩu thì độ tuổi giao động từ 9 đến 10 tháng và khi đạt 90kg đến 100kg trở lên
Trang 38* Chế độ chăm sóc
Cần có chế độ chăm sóc đặc biệt đối với lợn giống vì trong quá trình sinh sản lợn giống(heo nái) có thể mắc một số bệnh như: Viêm tử cung, tắc truyến sữa gây khó khăn trong thời gian nuôi con
Chế độ ăn của lợn giống(heo nái) cũng cần được chú ý hơn để tránh ảnh hưởng đến tình trạng lợn con bị tiêu chảy, viêm da Do đó cần có những biện pháp về vệ sinh thú y, đảm bảo vệ sinh môi trường, chú ý công tác làm sạch chuồng trại và thông thoáng cho các chuồng nái
Cung cấp đủ nước sạch cho lợn giống (heo nái) và đảm bảo nhiệt độ nước uống thích hợp Thường xuyên sát trùng chuồng trại để giảm lượng vi sinh vật trong chuồng nuôi
Trong chăn nuôi, thức ăn được coi là biện pháp hàng đầu quyết định sự tồn tại và phát triển của đàn gia súc Có con giống tốt mà yếu tố thức ăn không coi trọng thì vật nuôi không thể phát triển và sinh sản tốt Thức ăn là điều kiện nuôi dưỡng, là cơ sở nâng cao năng lực sản xuất của gia súc Tốc độ tái sản xuất đàn và hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi phụ thuộc trực tiếp vào mức độ đảm bảo thức ăn Mức độ cho ăn cao sẽ làm tăng tốc độ sinh trưởng và chất lượng thịt
xẻ khi khi lợn đạt khối lượng 90kg Bên cạnh đó, nhóm lợn ăn khối lượng khẩu phần ăn bằng 70% định mức thì mức tăng khối lượng/ngày giảm từ 638 xuống
513 gam, tiêu tốn thức ăn giảm từ 0.11kg (Vũ Đình Tôn, 2009)
Trong chăn nuôi lợn và đặc biệt là chăn nuôi lợn giống yêu cầu người chăn nuôi có trình độ nhất định, kinh nghiệm chăn nuôi cao và phải có một nguồn vốn vững để đầu tư chuồng trại, các thiết bị khu chăn nuôi đảm bảo cho quy trình chăn nuôi lợn giống
Có thể nói chăn nuôi lợn là một trong những ngành kinh tế được Đảng và Nhà nước chú trọng đẩy mạnh phát triển Việc nhân giống tạo ra con thương phẩm cung cấp lợn thịt ra thị trường, đáp ứng thêm nguồn hàng hóa cho người tiêu dùng
Công tác dịch bệnh và thú y đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, người chăn nuôi đã được tiếp cận với những loại thuốc, được đi học tại các lớp khuyến nông đẩy mạnh công tác chăm sóc giống được tốt hơn
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn ở Việt nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong nước cũng như một phần phục vụ xuất khẩu Tuy nhiên, chăn nuôi lợn phải đối mặt với tình hình
Trang 39dịch bệnh diễn ra phức tạp và làm thiệt hại lớn về kinh tế, đặc biệt là chăn nuôi theo quy mô công nghiệp với mật độ chăn nuôi dày (Vũ Đình Tôn, 2009)
Hiện nay quy mô chăn nuôi ngày càng tăng, tốc độ vòng quay chăn nuôi ngày càng cao dẫn đến việc chu chuyển đàn lợn ngày càng lớn Đây là vấn đề gây ảnh hưởng đến việc xuất hiện cũng như lây lan dịch bệnh Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ thú y cơ sở còn yếu, nguồn thuốc thú y quá đa dạng, công tác kiểm soát yếu kém, có những loại vacxin phải nhập giá cao chưa được người sản xuất chấp nhận (Vũ Đình Tôn, 2009)
g Các chính sách Kinh tế - xã hội của nhà nước
Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trường, sự điều tiết vĩ mô của nhà nước là hết sức quan trọng Nó có thể khuyến khích sự phát triển của ngành đó hoặc ngược lại, kìm hãm sự phát triển của ngành đó Chăn nuôi lợn giống tuy đã có nhiều chuyển biến song vẫn rất cần sự can thiệp của Nhà nước theo hướng thúc đẩy phát triển
Ở nước ta, theo cấp quốc gia hoạt động chăn nuôi lợn giống được giao cho
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cục nông nghiệp được thành lập năm
2003 theo sự cải tổ của Bộ, chịu trách nhiệm khởi thảo các chính sách về ngành chăn nuôi Theo các địa phương (cấp tỉnh và thấp hơn), nhờ quá trình phân cấp quản lý, các tỉnh có thể ban hành chỉ thị và quyết định về hoạt động chăn nuôi lợn giống trong phạm vi tỉnh và xuống tận người chăn nuôi
2.1.5.2 Yếu tố chủ quan
a Vốn đầu tư trong chăn nuôi
Là một trong những yếu tố quan trọng trong công tác phát triển lợn giống Vốn được sử dụng trong mục đích mua con giống, đầu tư tái tạo đàn, thuê nhân công chăm sóc và nuôi dưỡng lợn giống, mở rộng quy mô chăn nuôi (Nguyễn Ngọc Anh, 2015)
Vốn đầu tư để mua con giống bố mẹ là tương đối lớn vì một số công ty áp dụng hình thức đó là: Tiền giống (cái hậu bị bố mẹ) + khối lượng * giá lợn thịt tại thời điểm xuất bán Do đó chi phí tiền giống cao Thời gian thu hồi vốn chậm
vì một năm lợn giống bố mẹ chỉ sinh sản có 2 lứa nên khâu chăm sóc cần rất nhiều kỹ thuật, để đảm bảo số con sơ sinh sống/1 ổ
Chính vì vậy việc mở mộng chăn nuôi lợn giống bố mẹ theo phương thức công nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn
Trang 40Thông qua những chính sách cũng như những tác động trực tiếp của chính phủ và có nhiều văn bản được đưa đến từng địa phương, có hộ chăn nuôi lớn để cho người dân kịp thời nắm bắt những chính sách mới của Nhà nước
Do vị trí đặc biệt quan trọng của ngành chăn nuôi lợn nên Chính phủ đã
có những chính sách cụ thể hướng tới sự phát triển của ngành này: Nghị quyết 257/CP do Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 10/7/1979 được coi là văn bản pháp luật đầu tiên định hướng trực tiếp cho sự phát triển của ngành chăn nuôi lợn
ở Việt Nam Cùng với sự phát triển và đổi mới cơ cấu kinh tế và hình thức sản xuất, các văn bản quy phạm pháp luật sau này đã có những quy định hết sức cụ thể và bao phủ nhiều đối tượng liên quan, đồng thời bám sát thực trạng phát triển chăn nuôi của ngành chăn nuôi lợn
b Nguồn lao động
Người lao động trong công tác chăn nuôi lợn giống đòi hỏi phải có trình
độ nhất định, được đào tạo qua trường lớp ít nhất là hệ trung cấp chuyên trong lĩnh vực chăn nuôi hoặc chăn nuôi – thú y Qua đó cần có một đội ngũ lao động được đào tạo chuyên sâu và có hiểu biết về lợn giống và cách chăm sóc đòi hỏi kỹ thuật cao hơn (Nguyễn Ngọc Anh, 2015)
Nguồn lao động trong chăn nuôi chủ yếu là những lao động có sẵn trong gia đình, chưa được đào tạo một cách bài bản qua các lớp tập huấn Những lao động này chỉ thích hợp cho phương thức chăn nuôi truyền thống do vậy mà những yêu cầu mới về tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới chưa được áp dụng vào trong chăn nuôi (Nguyễn Ngọc Anh, 2015)
c Điều kiện chuồng trại
Được thiết kế, xây dựng theo quy định, khoảng cách giữa các chuồng, các
ô nái với nhau Xây dựng sàn cho nái giống vào thời kỳ phối đẻ, khô ráo thoáng mát, không được ứ đọng nước, dư thừa thức ăn, tháo bạt căng để tránh nóng vào mùa hè hạ bạt để tránh gió rét vào mùa đông Đặc biệt cần có chế độ chăm sóc riêng biệt cho những con lợn nái trong thời kì mang thai cũng như sắp đẻ có khu chuồng nuôi nhốt riêng, cũng như được cung cấp chế độ thức ăn riêng cho đến khi chuyển sang khâu cai sữa xuất chuồng (Nguyễn Ngọc Anh, 2015)
Máng ăn được bố trí và xây dựng cho phù hợp với từng giai đoạn nuôi khác nhau Tránh tình trạng tồn đọng thức ăn, làm ầm mốc con vật ăn sẽ gây bệnh Để nuôi lợn giống đảm bảo vệ sinh người chăn nuôi cần về sinh chuồng