Một số virus gây ức chế miễn dịch đang được quan tâm hiện nay, trong đó có virus gây bệnh thiếu máu truyền nhiễm ở gà Chicken Infectious Anemia virus- CIAV.Chúng tôi thực hiện đề tài “Ng
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN QUỐC DOANH
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VIRUS GÂY BỆNH
THIẾU MÁU TRUYỀN NHIỄM Ở GÀ
(CHICKEN INFECTIOUS ANEMIA VIRUS - CIAV)
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Doanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc PGS.TS Huỳnh Thị Mỹ Lệ và TS Nguyễn Thị Thu Hằng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Vi sinh vật – Truyền nhiễm, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo Đội Kiểm Dịch Động Vật Lưu Động – Chi Cục Thú Y Hà Nộiđã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài và học tập
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Doanh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract ix
Phần 1 Đặt vấn đề 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình nghiên cứu về virus gây ức chế miễn dịch 3
2.2 Hiểu biết về ciav và bệnh do ciav gây ra 4
2.2.1 Lịch sử và địa dư bệnh 5
2.2.2 Căn bệnh 5
2.2.3 Đặc điểm dịch tễ học 7
2.2.4 Triệu chứng 11
2.2.5 Bệnh tích 13
2.2.6 Chẩn đoán bệnh 15
2.2.7 Biện pháp kiểm soát bệnh 18
2.2.8 Điều trị 19
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 20
3.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.2 Nội dung nghiên cứu 20
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
3.4 Vật liệu nghiên cứu 20
3.5 Phương pháp nghiên cứu 21
3.5.1 Phương pháp lấy mẫu 21
3.5.2 Phương pháp tách chiết ADN 21
Trang 53.5.3 Phương pháp tối ưu hóa phản ứng PCR chẩn đoán CIAV 22
3.5.4 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử 24
Phần 4 Kết quả và thảo luận 25
4.1 Kết quả xác định sự lưu hành ciav ở đàn gà nuôi tại hà nội và vùng phụ cận 25
4.1.1 Kết quả tối ưu hóa phản ứng PCR để xác định CIAV 25
4.2.2 Sự lưu hành CIAV ở đàn gà nuôi tại Hà Nội và vùng phụ cận 26
4.2.2 Kết quả PCR phát hiện CIAV trong mẫu bệnh phẩm 29
4.2 Kết quả giải trình tự gen ciav 32
4.3 Kết quả phan tíchmột số đặc điểm dịch tễ học phân tử của ciav 38
4.3.1 Kết quả phân loại genotype của CIAV 38
4.3.2 Kết quả so sánh trình tự animo acid giữa các nhóm di truyền của CIAV 39
4.3.3 Kết quả nghiên cứu quá trình biến đổi aminoacid của protein VP1 41
Phần 5 Kết luận và đề nghị 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề nghị 43
Tài liệu tham khảo 44
Phụ lục 49
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Trình tự mồi đặc hiệu phát hiện và giải trình tự gen VP1 22
Bảng 3.2 Chu trình nhiệt của phản ứng PCR 23
Bảng 3.3 Bố trí thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ mồi 23
Bảng 3.4 Trình tự gen tham chiếu 24
Bảng 4.1 Tổng hợp tình hình thu thập mẫu gà theo lứa tuổi 27
Bảng 4.2 Kết quả PCR phát hiện CIAV trong mẫu bệnh phẩm 30
Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra CIAV ở các lứa tuổi gà 32
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Gà bệnh bị xuất huyết ở cánh, ngực; mào nhợt nhạt do thiếu máu 12
Hình 2.2 Bệnh tích xuất huyết đặc trưng 14
Hình 2.3 Gan, thận nhạt màu 14
Hình 3.1 Sơ đồ các vùng gen của CIAV được nhân lên bởi mồi CAVVP3F/CAV2 22
Hình 4.1 Tối ưu hóa nhiệt độ bắt mồi của phản ứng PCR 25
Hình 4.2 Tối ưu nồng độ mồi của phản ứng PCR 26
Hình 4.3 Gà bị xuất huyết ở cánh, dưới da, cơ 27
Hình 4.4 Gan sưng, tụ huyết hoặc xuất huyết 28
Hình 4.5 Thận sưng to, nhạt màu 28
Hình 4.6 Tuyến ức bị teo, xuất huyết 29
Hình 4.7 Minh họa kết quả phản ứng PCR phát hiện CIAV 29
Hình 4.8 Kết quả PCR giải trình tự gencủa chủng phân lập C20 33
Hình 4.9 Trình tự gen của 26 chủng CIAV từ vị trí 1- 110 33
Hình 4.10 Trình tự gen của 26 chủng CIAV từ vị trí 111- 440 34
Hình 4.11 Trình tự gen của 26 chủng CIAV từ vị trí 141- 609 35
Hình 4.12 Kết quả so sánh mức tương đồng nucleotide giữa 26 chủng CIAV 37
Hình 4.13 Cây phát sinh chủng loại của CIAV 38
Hình 4.14 Trình tự amino acid protein VP1 của CIAV 40
Hình 4.15 Trình tự amino acid protein VP1 của CIAV 40
Hình 4.16 Sự thay đổi amino acid của VP1 ở các nút dẫn tới nhánh CIAV lưu hành ở Việt Nam 42
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Quốc Doanh
Tên Luận văn: “Nghiên cứu sự lưu hành của virus gây bệnh thiếu máu truyền nhiễm ở gà (Chicken Infectious Anemia Virus - CIAV) tại Hà Nội và vùng phụ cận” Ngành: Thú y Mã số: 60.64.01.01
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu:
- Xác định được có hay không có sự lưu hành của CIAV ở đàn gà thuộc địa bàn nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của CIAV
Nội dung nghiên cứu
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thực hiện các nội dung sau:
- Xác định sự lưu hành CIAV ở đàn gà nuôi tại Hà Nội và vùng phụ cận
- Giải trình tự gen mã hóa protein VP1 của CIAV
- Phân tích một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của CIAV
Phương pháp:
Phương pháp lấy mẫu;
Phương pháp tách chiết ADN;
Phương pháp tối ưu hóa phản ứng PCR chẩn đoán CIAV;
Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử
- Các chủng CIAV lưu hành có sự đa dạng tương đối về mặt di truyền
- Các chủng này nằm ở nhánh di truyền khác với các chủng virus vacxin.
Trang 10THESIS ABSTRACT
Name of Master student: Nguyen Quoc Doanh
Thesis title: “Researchthe prevalence of Chicken Infectious Anemia Virus - CIAVof chicken in Hanoi and surrounding areas”
Major:Veterinary Medicine Code:60.64.01.01
Name of Institute: Vietnam National University of Agriculture
- Sequencingprotein VP1 geneof CIAV
- Researching molecular epidemiological characteristics of CIAV
Methodology
- Sampling method;
- DNA extraction method;
- PCR for identifying CIAV;
- Methods for researching molecular epidemiological characteristics of CIAV Results:
(1) By using PCR,13 farms (92.86%)of tested 14 farms were CIAV positive; there was only one farm (7.14%) was CIAVnegative;
In total124 samples of chickenwhich had clinical symptoms,there were 63 CIAV positive samples (50.81%);
(2) 26 sequencing of VP1gene of CIAVin this study sharedfrom 96.8% to 100% nucleotide identity
(3) By phylogenetic analysis based on nucleotide sequences of VP1 gene of CIAV showed that:
- CIAV strains in this study have geneticvariation;
- These strains were located in different branches of phylogenetic tree with vaccine virus strains
Trang 11PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trước diễn biến phức tạp của bệnh, dịch gia cầm trên thế giới và ở Việt Nam, rất nhiều các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu các vấn đề mới.Sự xuất hiện của một số bệnh mới và ảnh hưởng của chúng tới khả năng miễn dịch của vật nuôi đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi và đang trở thành vấn đề gây quan tâm cho những nhà khoa học làm việc trong ngành Thú y trên thế giới và ở Việt Nam
Một loạt câu hỏi được đưa ra cần có câu trả lời: nguyên nhân nào dẫn tới sự suy giảm miễn dịch? Cơ chế nào gây suy giảm miễn dịch? Những dấu hiệu hay phương pháp chẩn đoán sự suy giảm miễn dịch? Biện pháp kiểm soát và giảm thiểu ảnh hưởng của sự suy giảm miễn dịch? Câu trả lời nằm ở những yếu tố gây
ức chế miễn dịch, trong đó có vai trò của một số virus
Theo “chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020” đã được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg, định hướng phát triển đến năm
2020 tổng đàn gà tăng bình quân trên 5% năm, đạt khoảng 300 triệu con, trong
đó đàn gà công nghiệp chiếm khoảng 33% Tăng trưởng về quy mô đàn gia cầm cũng làm gia tăng áp lực dịch bệnh, kéo theo nguy cơ xuất hiện nhiều dịch bệnh mới Nhận thức được tính nguy hiểm của nhóm virus gây ức chế miễn dịch như:
ức chế miễn dịch mở đường cho nhiều bệnh kế phát xảy ra (Subler et al., 2006), làm giảm hiệu lực của vacxin (Sun et al., 2009), v.v nên việc làm sáng tỏ câu hỏi có những virus gây ức chế miễn dịch nào lưu hành ở đàn gà ở Việt Nam là hết sức cần thiết
Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra một số nguyên nhân gây ức chế miễn dịch, có thể do: môi trường thay đổi, độc tố hoặc sự xuất hiện của virus gây ức chế miễn dịch Một số virus gây ức chế miễn dịch đang được quan tâm hiện nay, trong đó có virus gây bệnh thiếu máu truyền nhiễm ở gà (Chicken Infectious Anemia virus- CIAV).Chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự lưu hành của virus gây bệnh thiếu máu truyền nhiễm ở gà (Chicken Infectious Anemia Virus - CIAV) tại Hà Nội và vùng phụ cận” Nghiên cứu này được thực hiện là nghiên cứu đầu tiên về sự lưu hành của CIAV ở đàn gà, nhằm bước đầu cung cấp thông tin, xác định được sự có mặt và một số đặc điểm sinh học phân tử của
Trang 12CIAV ở đàn gà nuôi tại Hà Nội và vùng phụ cận Kết quả nghiên cứu sẽ là nền tảng, là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về CIAV nói riêng và các virus gây suy giảm miễn dịch ở gà nói chung tại Việt Nam
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xác định được có hay không có sự lưu hành của CIAV ở đàn gà thuộc địa bàn nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của CIAV
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Đây là nghiên cứu đầu tiên về CIAV ở đàn gà tại Việt Nam;
- Nhận biết được một số đặc điểm lâm sàng để chẩn đoán bệnh do CIAV gây ra;
- Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra những định hướng góp phần hạn chế dịch bệnh do CIAV và bệnh kế phát ở đàn gà tại khu vực nghiên cứu
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VIRUS GÂY ỨC CHẾ MIỄN DỊCH
Ức chế miễn dịch (immunosuppression) là trạng thái tạm thời hoặc lâu dài, trong đó đáp ứng miễn dịch của cơ thể không hoạt động do tổn thương hệ miễn dịch, làm gia tăng tính mẫn cảm với bệnh tật (Dohms et al., 1984) Ở gà, có hai nhóm nguyên nhân dẫn tới hiện tượng ức chế miễn dịch, đó là: (i) nhóm nguyên nhân không truyền nhiễm như chăm sóc và nuôi dưỡng kém, độc tố nấm mốc trong thức ăn, v.v và (ii) nhóm nguyên nhân truyền nhiễm virus: Chicken Infectious Anemia Virus (CIAV), Infectious Bursal Disease Virus (IBDV), Marek’s Disease Virus (MDV), Fowl Adenovirus serotype 4 (FAdV4), Avian Reovirus (ARV), Avian Leucosis Virus (ALV), Reticuloendotheliosis Virus (REV) (Hoerr, 2000; Islam et al., 2002;Balamurugan and Kataria, 2006; Schonewille et al., 2008)
Nhóm virus ức chế miễn dịchlà một trong nhiều nguyên nhân gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng đối với ngành chăn nuôi gà trên thế giới Tính riêng thiệt hại do bệnh Marek’s gây ra, ngành chăn nuôi gà của nước Mỹ chịu tổn thất khoảng 1- 2 tỉ USD mỗi năm (Morrow and Fehler, 2004) Nhóm virus nàygây thiệt hại cho ngành chăn nuôi gia cầm dưới nhiều khía cạnh: (i) ảnh hưởng trực tiếp như làm tăng tỷ lệ chết, giảm sức tăng trọng, giảm tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (McNulty et al., 1991); (ii) ảnh hưởng gián tiếp như gây ức chế miễn dịch dẫn tới nhiều bệnh kế phát dễ xảy ra (Subler et al., 2006), giảm hiệu lực của vacxin(Sun
et al., 2009) Ngoài ra, hiện tượng đồng nhiễm hai hoặc nhiều virus thuộc nhóm
ức chế miễn dịch cũng được biết đến, gây ra những hậu quả nghiêm trọng hơn so với trường hợp nhiễm đơn (McNeilly et al., 1995;Imai 1999;Cui et al., 2009;Vaziry et al., 2013)
Ở Việt Nam, các công trình mới chỉ tập trung nghiên cứu hai loại virus thuộc nhóm ức chế miễn dịch đó là virus gây bệnh Gumboro và virus gây bệnh Marek’s Các công bố này chủ yếu làm rõ về tình hình bệnh, đặc điểm biến đổi bệnh lý, đặc điểm di truyền của virus và vacxin phòng bệnh.Theo hiểu biết của chúng tôi, tính đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu một cách toàn diện nào về sự lưu hành của nhóm virus gây ức chế miễn dịch ở đàn gà (Nguyễn Bá Tiếp 2015; Trần Ngọc Bích và cs., 2016)
Trang 142.2 HIỂU BIẾT VỀ CIAV VÀ BỆNH DO CIAV GÂY RA
Bệnh thiếu máu truyền nhiễm gà (Chicken Infectious Anemia - CIA) được ghi nhận là một bệnh mới ở gà do một loại virus mới gây ra Đặc trưng của bệnh
là virus tác động gây hiện tượng thiếu máu do tủy xương không sản sinh được tế bào máu (aplastic anemia) và teo các cơ quan lympho khiến cho cơ thể bị suy giảm miễn dịch và dễ mắc các bệnh kế phát do virus, vi khuẩn hoặc nấm Virus còn đóng vai trò chính gây hội chứng xuất huyết (hemorrhagic syndrome) và/hoặc aplastic anemia
Bệnh thiếu máu truyền nhiễm (CIA) là một bệnh do virus mới quan trọng ở gia cầm ảnh hưởng tới nền kinh tế, được báo cáo và mô tả chi tiết lần đầu tiên vào năm 1979 ở Nhật (Yuasa et al., 1979) Có tài liệu cho rằng nếu căn cứ vào bằng chứng huyết thanh thì CIAV đã xuất hiện ở nước Mỹ từ trước năm 1970, ít nhất là năm 1959 (Toro et al., 2006) Kể từ lần đầu tiên được phân lập ở Nhật Bản, virus đã lây lan và gây bệnh cho đàn gà khắp nơi trên thế giới
Các thuật ngữ được sử dụng để gọi nguyên nhân gây bệnh thay đổi trong nhiều năm Lúc đầu, dựa vào nguồn gốc phân lập, người ta gọi căn bệnh là tác nhân gây thiếu máu gà (chicken anemia agent - CAA); sau này, dựa vào kết quả nghiên cứu hình thái và đặc tính sinh học, mầm bệnh được gọi là virus gây bệnh thiếu máu gà (chicken anemia virus - CAV) Tuy nhiên, do tên gọi này thường được dùng để chỉ nguyên nhân gây bệnh thiếu máu truyền nhiễm gà nên căn bệnh được thống nhất gọi là Chicken Infectious Anemia virus (CIAV) - virus gây bệnh thiếu máu truyền nhiễm gà
CIA và các hội chứng có liên quan thường được biết đến với một số tên gọi như hội chứng xuất huyết (hemorrhagic syndrome), chứng viêm da - thiếu máu (anemia - dermatitis) và bệnh cánh xanh (blue wing disease)
* Thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra: bệnh thường xảy ra với đàn gà từ 2 - 4 tuần tuổi khiến cho gà bị chậm phát triển, tỷ lệ chết dao động từ 10 - 20%, có trường hợp lên đến 60% Với gà trên 6 tuần tuổi, bệnh thường liên quan đến hội chứng thiếu máu - xuất huyết (aplastic anemia - hemorrhagic syndrome), những thiệt hại do bệnh gây ra chưa được thống kê cụ thể
McIlroy et al (1992) cho biết bệnh thiếu máu truyền nhiễm gà gây thiệt hại kinh tế, giảm lợi nhuận khoảng 18,5% do giảm tăng trọng, tăng tỷ lệ chết của gà
từ 3 - 15 tuần tuổi Tuy nhiên, đối với ngành sản xuất trứng gà sạch bệnh, bệnh
Trang 15thường gây ra những khó khăn và ảnh hưởng lớn nhất Ủy ban Châu Âu yêu cầu trứng dùng để sản xuất vacxin dùng cho gà dưới 7 ngày tuổi phải không được có CIAV Tại Úc, Châu Âu, Mỹ, chỉ những trứng sạch CIAV mới được dùng để sản xuất vacxin phòng bệnh quai bị và sởi cho người
* Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng: CIAV chỉ phân lập được từ gà và chim cút, nhưng circovirus và các loại circo-like virus có khả năng gây bệnh cho nhiều loài gia cầm cũng như động vật có vú Kết quả kiểm tra huyết thanh học cho thấy CIAV không gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
2.2.1 Lịch sử và địa dư bệnh
CIAV (chủng Gifu-1) được Yuasa et al (1979), phân lập lần đầu tiên năm
1979 ở Nhật Bản Tuy nhiên, có thể virus đã có mặt ở đàn gà từ trước những năm
1970 khi mô tả hiện tượng sự hình thành máu bị ảnh hưởng trong bệnh Marek’s, sau đó người ta cũng đã phân lập được CIAV chủng ConnB từ bệnh phẩm của các gà bị bệnh này
Hội chứng thiếu máu (aplastic anemia syndrome), bao gồm cả viêm gan thể bao hàm đã được mô tả nhiều năm trước khi CIAV được phát hiện Mối liên hệ giữa nguyên nhân của hội chứng này với CIAV cũng đã được nhiều nghiên cứu
đề cập và thảo luận
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy khả năng gây bệnh của virus cũng như các đặc điểm dịch tễ học của bệnh Trong những năm 1990, thành tích nổi bật là những kết quả nghiên cứu về sinh học phân tử CIAV, giúp cho công tác chẩn đoán và sản xuất nhiều loại vacxin phòng bệnh
Kết quả kiểm tra huyết thanh học cho thấy CIAV có mặt ở khắp các nước
có nuôi gà trên thế giới và cũng đã được ghi nhận ở Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Nam Mỹ, Úc, New Zealand và Nam Phi
Trang 162.2.2.2 Hình thái, cấu trúc
CIAV là một ADN virus sợi đơn vòng, không có vỏ bọc, gồm có 20 mặt với đường kính trung bình từ 25 - 26,5 nm Virus được cấu tạo bởi 3 loại protein (VP1, VP2 và VP3) Rất nhiều công trình nghiên cứu khác đã chỉ ra cấu trúc phân tử của CIAV, nguồn gây bệnh là CIAV được xác định là một loại DNA virus có kích thước nhỏ, thuộc giống Gyrovirus, họ Circoviridae (Toddet al., 2002) CIAV là một ADN virus với hệ gen là sợi đơn, dạng vòng, có kích thước nhỏ (2,3 kb), đường kính 23- 25 nm gồm có 32 capsome, được tạo bởi 3 loại protein riêng biệt VP1, VP2 và VP3 (Dhama et al., 2008)
Khi sử dụng kháng thể đa dòng, giữa các chủng CIAV phân lập tại Nhật Bản, Châu Âu và Mỹ không có sự khác biệt về tính kháng nguyên; đều được xếp vào một serotyp Tuy nhiên, kết quả giải trình tự cho thấy có sự khác nhau ở trình tự amino acid từ 139 -151 của VP1 và tại các đầu carboxyl của VP2 và VP3 Dựa vào kết quả phản ứng khác nhau với kháng thể đơn dòng cũng như kết quả giải trình tự, các chủng virus khác nhau được dự báo sẽ khác nhau về tính gây bệnh
Khả năng thích ứng trên môi trường tế bào của các chủng virus rất khác nhau Việc nuôi cấy có thể phải trải qua 10 lần cấy chuyển, mỗi lần 2 - 4 ngày, cho đến khi quan sát thấy hiện tượng tế bào chết Người ta thấy rằng, để có thể phân biệt với hiện tượng thoái hóa của tế bào, bệnh tích tế bào (CPE) cần phải quan sát sau khi cấy chuyển 36 - 48 giờ Đồng thời, cần phải tiến hành phản ứng PCR để khẳng định sự nhân lên của virus
- Nuôi cấy trên phôi gà: có thể nuôi cấy CIAV bằng cách tiêm vào túi lòng
đỏ phôi gà Một số chủng không gây bệnh tích nhưng một số chủng có thể gây chết phôi với tỷ lệ lên đến 50% sau khi nuôi cấy 16 - 20 ngày Bệnh tích đặc trưng của phôi: còi cọc, xuất huyết và phù thũng
Trang 17- Nuôi cấy trên gà: khi tiêm cho gà 1 ngày tuổi (không có kháng thể thụ động), sau khi gây nhiễm 12 - 16 ngày, CIAV khiến cho gà có biểu hiện thiếu máu và các bệnh tích ở tổ chức lympho và tủy xương Gà chết sau khi gây nhiễm
12 - 28 ngày với tỷ lệ khoảng 30%
2.2.2.4 Sức đề kháng
CIAV có sức đề kháng tương đối cao Dung dịch phenol 50% có thể diệt virus sau 5 phút, nhưng phenol 5% sau 2 giờ ở 370C mới diệt được CIAV Ethyl ether và chloroform 50% chỉ có khả năng diệt virus sau 18 giờ và 15 phút, acetone 90% diệt virus sau 24 giờ Dung dịch NaOH 0,1N có khả năng làm bất hoạt virus sau khi tác động 2 giờ ở 370C và 24 giờ ở 150C Khi xử lý với glutaraldehyde 1% trong 10 phút ở nhiệt độ phòng, β-propiolactone 0,4% trong
24 giờ ở 40C hay formaldehyde 5% trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng virus bị bất hoạt hoàn toàn Các loại hóa chất sát trùng đã được thương mại như xà phòng (invert soap và amphoteric soap), orthodichlorobenzene không có khả năng diệt được virus Dung dịch iodine và hypochlorite có tác dụng diệt virus sau 2 giờ ở
370C, nhưng yêu cầu nồng độ lên đến 10%, thay cho nồng độ đã được thương mại hóa chỉ có 2% Xông hơi bằng formaldehyde và ethylene oxide trong 24 giờ không tiêu diệt hoàn toàn CIAV
Virus có khả năng tồn tại ở pH = 3 trong 3 giờ, nhưng pH = 2 có thể diệt virus dễ dàng và có hiệu quả cao
Với nhiệt độ: CIAV có khả năng chịu được nhiệt độ 560C hoặc 700C trong vòng 1 giờ và 800C trong 15 phút Virus bị bất hoạt một phần sau khi đun ở 800C trong 30 phút và bất hoạt hoàn toàn sau 15 phút ở 1000C Vì vậy, sản phẩm của gà bị bệnh yêu cầu phải được xử lý ở 950C trong vòng 35 phút và 1000C trong 10 phút (Natesan et al., 2006)
2.2.3 Đặc điểm dịch tễ học
2.2.3.1 Loài vật mắc bệnh
Trong thiên nhiên, gà được coi là vật chủ duy nhất mắc bệnh Gà mắc bệnh ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên gà 1 ngày tuổi đến dưới 40 ngày tuổi (dưới 6 tuần tuổi), đặc biệt gà từ 1 - 3 tuần tuổi rất mẫn cảm với bệnh Một số chủng lại chỉ gây bệnh cho
gà 10 tuần tuổi
Kháng thể kháng CIAV còn được phát hiện trong huyết thanh của chim cút; nhưng không tìm thấy ở gà tây, bồ câu, quạ, vịt Gây bệnh thực nghiệm cho gà
Trang 18tây 1 ngày tuổi với liều virus lớn không gây được bệnh cũng như không sản sinh kháng thể đặc hiệu
Bệnh thiếu máu truyền nhiễm (CIA) hiện lưu hành ở nhiều nơi trên toàn thế giới Bệnh được thông báo xuất hiện ở hầu hết các nước chăn nuôi gà trên thế giới như: Nhật Bản, Đức, Thụy Điển, Anh, Thái Lan, Canada, Mỹ, Úc, Pháp, Braxin, Newzeland, Chile, Hungary, Trung Quốc, Mexico, Slovenia, Nigeria, Israel, Ai Cập, Ấn Độ, v.v (Toro et al., 2006; Bougiouklis et al., 2007; Oluwayelu, 2010)
Bệnh thiếu máu truyền nhiễm (CIA) được đặc trưng bởi sự thiếu máu không thể tái tạo và hiện tượng ức chế miễn dịch Bệnh sẽ phức tạp do nhiễm bệnh kế phát ở gia cầm non trước 4 tuần tuổi (Ledesma et al., 2001) Triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào nhiều nhân tố như tuổi của gia cầm, liều gây nhiễm, quá trình gây nhiễm, các yếu tố kế phát và sự tồn tại của kháng thể mẹ truyền (McNulty 1991; Miller and Schat, 2004) Nhân tố quan trọng khác là sự đồng nhiễm với các virus gây suy giảm miễn dịch khác như virus gây bệnh Marek (MDV- marek’s disease virus), virus gây bệnh Gumboro (IBDV- infectious bural disease virus), adenovirus và reovirus
2.2.3.2 Phương thức truyền lây
CIAV có thể lây lan theo đường truyền dọc và đường truyền ngang nhưng phương thức truyền dọc là quan trọng nhất, nó truyền từ bố mẹ qua trứng (Dhama et al., 2002).Sau khi nhiễm virus 5 - 7 tuần, số lượng virus có trong phân rất nhiều, là nguồn lây bệnh theo đường truyền ngang Bệnh có thể lây trực tiếp hoặc gián tiếp qua đường tiêu hóa, ngoài ra có thể lây qua đường hô hấp
Virus có thể lây lan rất nhanh chóng trong đàn Trong thực tế, đàn gà mắc bệnh tự nhiên sẽ mất 2 - 4 tuần để lây lan bệnh trong toàn đàn Việc cách ly có thể hạn chế được sự lây lan virus, ví dụ điển hình là có tới 70% đàn gà bố mẹ nhập khẩu vào Thụy Điển do được giữ ở chốt kiểm dịch nên kết quả huyết thanh
âm tính với virus cho đến 16 tuần tuổi
Đường truyền dọc chủ yếu là lây qua trứng trong quá trình ấp nở, xảy ra khi
gà mái bị bệnh hoặc con mái bị lây qua tinh dịch của con trống bệnh Khi gây bệnh thực nghiệm cho gà mái, virus lây qua trứng sau 8 - 14 ngày nhưng khi gà
mẹ có đáp ứng miễn dịch, không tìm thấy trứng nhiễm virus Người ta thấy rằng, đường truyền dọc chỉ làm lây lan virus trong 3 - 9 tuần sau khi mắc bệnh ở giai
Trang 19đoạn 1 - 3 tuần Thời gian truyền qua trứng phụ thuộc vào tốc độ lây lan của bệnh cũng như khả năng sản sinh đáp ứng miễn dịch chống lại CIAV của cơ thể
Ở gia cầm sinh sản, triệu chứng lâm sàng của bệnh không rõ ràng nhưng virus được truyền dọc cho đời con cái chúng (Ledesma et al., 2001).Sự phân bố
và sức bền vững của CIAV trong các mô sinh sản của gia cầm nhiễm đã được báo cáo, chỉ rõ sự lây truyền dọc của CIAV từ những gà mái bị bệnh Sự lây truyền ngang xuất hiện trực tiếp hoặc gián tiếp với virus trong môi trường sống của gia cầm Trong điều kiện thí nghiệm, CIAV được truyền bằng đường tiêm chủng cho gà một ngày tuổi, tiêm bắp hoặc phúc mạc (Dhama et al., 2002) 2.2.3.3 Cơ chế sinh bệnh
Cơ chế sinh bệnh của CIAV được làm sáng tỏ nhờ các nghiên cứu hóa mô miễn dịch, siêu cấu trúc cũng như mô bệnh học Giai đoạn đầu (6 - 8 ngày) sau khi gây nhiễm, đầu tiên là hiện tượng dung giải của tiền tế bào máu ở tủy xương và tế bào tiền lympho ở phần vỏ tuyến ức, khiến cho con vật bị thiếu máu nhanh chóng Bên cạnh các tế bào tiền hồng cầu bị trương phồng và tế bào hematopoitic bị phân hủy, đại thực bào tiêu nuốt tế bào hematopoitic bị phân hủy cũng được tìm thấy trong tủy xương Sự dung giải tế bào lympho và hiện tượng hoại tử của túi Fabricius, lách, hạch lympho chỉ quan sát được sau khi gây nhiễm 10 - 12 ngày Khoảng 16 ngày sau khi nhiễm, khi cơ thể sản sinh đáp ứng miễn dịch, các tiền tế bào của tuyến ức và tủy xương bắt đầu được hồi phục, con vật dần tự khỏi sau 32 - 36 ngày
Virus gây bệnh thiếu máu mạn tính ở gia cầm nhỏ là kết quả của việc phá hủy các tế bào hồng cầu, làm teo tuyến ức và gây ức chế miễn dịch dẫn đến làm cạn kiệt các tế bào miễn dịch của tuyến ức và gây xuất huyết trong cơ và các mô dưới da Đích tấn công chính của CIAV là các tế bào lympho của tuyến ức (CD4+ /CD8+ T-cells) và các tế bào máu (Adair, 2000; Dhama et al., 2002) Mặc dù CIAV có tính hướng với các mô lympho, đặc biệt là phần vỏ tuyến
ức nhưng độ mẫn cảm với bệnh của tế bào tuyến ức hoặc tế bào lách không phụ thuộc vào các tế bào như CD4 và CD8 Tuy nhiên, sự suy yếu tạm thời của các tế bào CD4+ và CD8+ hoặc sự giảm của tế bào T độc tế bào (cytotoxic T cell) có thể đóng vai trò quan trọng trong cơ chế gây suy giảm miễn dịch của CIAV
Tuổi đề kháng với bệnh tăng dần từ tuần đầu tiên và kết thúc ở tuần thứ 3, hoặc sớm hơn với những gà có miễn dịch tốt Mức độ đề kháng với bệnh có thể
Trang 20thay đổi tùy thuộc độc lực của virus, liều lượng và đường xâm nhập; đồng thời có liên hệ chặt chẽ với khả năng sản sinh kháng thể kháng CIAV của cơ thể gà Hình ảnh lâm sàng của bệnh được mô tả bởi sự thiếu máu không có khả năng tái tạo, teo cơ quan lympho, nhiều cơ quan xuất huyết, tăng tỷ lệ tử vong tăng, sự ức chế miễn dịch và những biến chứng kế phát khác CIAV ở gà làm gà gầy yếu, giảm ăn, xù lông, gà không lớn và da tím tái Chỉ số huyết sắc tố giảm (PCV<25%), máu loãng, khó đông và nhạt màu Tỷ lệ chết nói chung vào khoảng 5-10% (trong giai đoạn 2-4 tuần tuổi), tỷ lệ này cũng có thể tăng lên 60% nếu có bệnh kế phát (Balamurugan and Kataria, 2006)
Biến đổi bệnh lý gây ra bởi CIAV tập trung ở các mô và tế bào lympho, đặc biệt là của tuyến ức Gà bệnh thường có tủy xương có màu nhạt và có sự thâm nhiễm mỡ, đây là các tổn thương tiêu biểu nhất của bệnh (Pope, 1991) Tất cả các dấu hiệu bệnh lý kể trên có thể trở nên điển hình và trầm trọng ở những con gia cầm đồng nhiễm nhiều bệnh với các loại tế bào lympho dẫn đến làm chậm sự phục hồi và gia tăng tỷ lệ chết, đó là biểu hiện dễ nhận thấy ở các trường hợp mắc bệnh thực địa (Todd, 2000)
CIAV tái tạo chính trong các tế bào máu tiền thân ở trong tủy xương và các tế bào tuyến ức tiền thân ở vùng vỏ của tuyến ức- nơi mà nó dẫn đến sự nhiễm trùng tiêu tế bào và gây chết tế bào bằng cơ chế gây chết tế bào tự nhiên (Adair, 2000)
Sự nhiễm trùng tế bào tuyến ức là nguyên nhân gây ra sự tập hợp các sợi nhiễm sắc, sự phân chia DNA của tế bào thành các mảnh phân tử oligonucleosomes, karyorrhexis và gây chết tế bào thông qua cơ chế apoptosis (gây chết tự nhiên), với sự xuất hiện của VP3- sản phẩm của quá trình apoptosis tạo ra (Dhama et al., 2002) Cho đến nay, các nghiên cứu về khả năng gây bệnh của CIAV cho thấy khả năng gây thiếu máu của CIAV phụ thuộc trực tiếp vào liều virus nhiễm, tuổi gia cầm nhiễm và sự kế phát của yếu tố gây bệnh khác (Yuasaet al., 1988;Dhama et al., 2002).Tình trạng phục hồi bệnh tương ứng với
sự tăng mức kháng thể và khả năng phục hồi của gia cầm sau quá trình nhiễm bệnh, thường là 4-5 tuần Khối lượng cơ thể tăng dần trở lại bình thường sau 5-6 tuần, nhưng chúng vẫn còi cọc Sau khi nhiễm CIAV, chúng có thể bị đồng nhiễm bởi các virus khác như MDV, IBDV, FAV (IBH/HPS), reovirus, REV và NDV được đánh dấu bởi sự SGMD dẫn tới các ảnh hưởng hiệp đồng của các nguồn bệnh (Todd, 2000;Dhama et al., 2002)
Trang 212.2.3.4 Cơ chế gây ức chế miễn dịch
CIAV là nguyên nhân gây ức chế miễn dịch và làm teo cơ quan sinh miễn dịch ở gia cầm nhỏ, đặc biệt là gây giảm đáng kể tế bào lympho (CD4+) và (CD8+) của tuyến ức Chức năng miễn dịch và tạo máu bị giảm được đánh giá tương ứng với thu nhỏ chu vi của cơ quan miễn dịch dẫn đến hiệu quả miễn dịch
bị giảm CIAV gây ảnh hưởng có hại đến chức năng trung gian của tế bào lympho T; ảnh hưởng xấu đến phản ứng biến đổi tế bào lympho thành các yếu tố gây độc tế bào, sản xuất ra các lymphokin (IL-2, TCGF, IFN); làm giảm chức năng của các đại thực bào của IL-1, giảm các đại thực bào, làm tăng các hoạt động của vi khuẩn (Adair, 2000; Millerand Schat, 2004; Balamurugan and Kataria, 2006) Sự ức chế của IL-1, IL-2 là ví dụ và sự sản xuất IFN ảnh hưởng xấu đến những phản ứng miễn dịch phân tử thông qua những hoạt động gây độc của các đại thực bào, tế bào lympho T (CTL), các tế bào diệt tự nhiên (NK), và
sự xuất hiện của các thụ thể bề mặt
Hậu quả của ức chế miễn dịch là làm cho gia cầm mẫn cảm với các nhiễm trùng kế phát của virus, vi khuẩn hoặc các gốc nấm; hạ thấp đáp ứng miễn dịch chống lại các yếu tố gây bệnh như MD, ND, FP, ILT,…gây ra các phản ứng vacxin như đã được quan sát đối với ND và MD; làm tăng khả năng gây bệnh của virus có trong vacxin và thậm chí có thể dẫn tới việc nổ ra bệnh do virus trong vacxin gây ra do việc sử dụng vacxin bị thất bại (Todd, 2000;Balamurugan and Kataria, 2006) Nếu có các biến chứng kế phát với các yếu tố gây bệnh cho gia cầm xuất hiện, khi đó hiện tượng ức chế miễn dịch sẽ trầm trọng, nó thậm chí vượt qua lứa tuổi hay nhiễm và chống lại kháng thể mẹ truyền; tăng thêm sự bền vững và nhạy cảm với bệnh của những cá thể bị ức chế miễn dịch, tăng khả năng nhiễm bệnh: các triệu chứng và tổn thương thêm trầm trọng, tăng tỷ lệ tử vong và làm chậm sự phục hồi Trong điều kiện gây bệnh thực nghiệm của CIAV chỉ gây
ra vài triệu chứng của bệnh, tuy nhiên sự lây nhiễm theo cách thứ hai (nhiễm kế phát) sẽ trầm trọng hơn
2.2.4 Triệu chứng
Thời kỳ nung bệnh: bằng thực nghiệm, thời gian nung bệnh và xuất hiện biến đổi bệnh lý xuất hiện ở ngày thứ 8 sau khi gây nhiễm Triệu chứng lâm sàng thường tiến triển sau 10 - 14 ngày, gà chết bắt đầu từ ngày thứ 12 - 14 Tuy nhiên, có thể sau 14 - 21 ngày gà mới xuất hiện hiện tượng thiếu máu, tùy thuộc vào đặc tính di truyền của chủng virus gây bệnh, đường xâm nhập Trong thực
Trang 22tế, gà bị bệnh thường biểu hiện triệu chứng lâm sàng và chết ở ngày tuổi 10 - 12, đạt đỉnh cao lúc 17 - 24 ngày tuổi Với những đàn bị bệnh nặng (có thể do đường truyền ngang), tỷ lệ chết còn đạt đỉnh khi gà được 30 - 34 ngày tuổi
Triệu chứng đặc trưng của bệnh CIA là hiện tượng thiếu máu, rõ nhất khi
gà được 14 - 16 ngày tuổi Thiếu máu thể hiện ở giá trị hematocrit chỉ dao động
từ 6 - 27% Gà bệnh thường mệt mỏi, trở nên nhợt nhạt Khả năng tăng trọng giảm từ ngày 10 - 20 sau khi gây nhiễm thực nghiệm Nếu gà chết, thường tỷ lệ chết không vượt quá 30% Những gà sống sót thường hồi phục dần, không còn yếu ớt và thiếu máu khoảng 20 - 28 ngày sau khi gây nhiễm Nếu có nhiễm trùng
kế phát, thời gian hồi phục sẽ lâu hơn và tỷ lệ chết có thể cao hơn Hiện tượng nhiễm trùng kế phát cũng sẽ khiến cho triệu chứng lâm sàng thêm trầm trọng, rất hay gặp trong thực tế hoặc một số trường hợp gây bệnh thực nghiệm
Hình 2.1 Gà bệnh bị xuất huyết ở cánh, ngực; mào nhợt nhạt do thiếu máu
- 20 và thậm chí có thể xuống dưới 6% ở những gà gần chết Ở những gà hồi phục, sau 6 - 21 ngày chỉ số hemocrit bắt đầu tăng trở lại, đạt mức bình thường (29 - 35%) sau khi nhiễm 28 - 35 ngày
Nguyên nhân dẫn đến chỉ số hemocrit giảm là do hiện tượng giảm tế bào máu, bao gồm giảm số lượng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu - hậu quả khi các
Trang 23tiền tế bào máu bị dung giải rất sớm (3 - 4 ngày sau khi gây nhiễm) Hiện tượng anisocytosis (hồng cầu có kích thước không đều nhau) xảy ra ở ngày thứ 8 sau khi gây nhiễm Các loại tế bào hồng cầu, bạch cầu hạt và tiểu cầu chưa thành thục xuất hiện trong các mạch máu ngoại vi ở ngày thứ 16 sau nhiễm và duy trì trong một vài ngày, tỷ lệ hồng cầu chưa thành thục có thể lên đến 30% Khi gà qua khỏi, công thức máu sẽ trở lại bình thường sau 40 ngày
Thời gian đông máu kéo dài do hậu quả của giảm số lượng hồng cầu, dẫn đến hiện tượng xuất huyết liên quan đến CIA Một số trường hợp nhiễm trùng kế phát sẽ khiến cho hiện tượng giảm số lượng hồng cầu thêm trầm trọng Khi bị bệnh CIA gây hiện tượng suy giảm miễn dịch nên gà có nguy cơ dễ mắc một số bệnh do vi khuẩn và nấm, cũng như bệnh do adenovirus và reovirus gây ra
Tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết: hậu quả của bệnh do CIAV gây ra tùy thuộc vào virus, vật chủ, điều kiện môi trường và một số yếu tố khác Trong trường hợp bị thiếu máu đơn thuần, đặc biệt nếu mắc bệnh do truyền ngang, tỷ lệ chết thường thấp, thiệt hại không đáng kể nên có thể bị bỏ qua trong chăn nuôi công nghiệp Khi gà bị bệnh ghép giữa CIAV và MDV (Marek’s disease virus), reticuloendotheliosis virus (REV) hoặc IBDV (Infectious Bursal Disease Virus), reovirus và một số vi khuẩn sẽ làm cho tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết tăng cao
2.2.5 Bệnh tích
2.2.5.1 Bệnh tích đại thể
Bệnh tích thay đổi tùy thuộc vào đường xâm nhập, tuổi của con vật, số lượng virus xâm nhập và sức đề kháng của cơ thể Vì CIAV thường bị ghép với một số căn nguyên khác nên bệnh tích rất phức tạp Dựa vào kết quả gây bệnh thực nghiệm, bệnh tích của bệnh được mô tả như sau:
- Hầu hết các trường hợp quan sát thấy tuyến ức bị teo khiến cho các thùy gần như bị biến mất, phần tuyến ức còn lại có màu đỏ sẫm
- Tủy xương bị teo nhỏ (quan sát rõ nhất ở xương đùi), bị nhiễm mỡ và chuyển màu vàng hoặc hồng Trong một số trường hợp, tủy xương chuyển màu đỏ sẫm
- Túi Fabricius bị teo nhỏ cũng có thể quan sát thấy trong bệnh CIA Nhiều trường hợp bề mặt túi Fabricius trở nên trong suốt, có thể quan sát được cả các nếp gấp bên trong
- Những trường hợp thiếu máu nặng, niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết, cơ
và dưới da cũng xuất huyết nặng
Trang 24- Nếu bị nhiễm trùng kế phát còn thấy hiện tượng gan sưng to, hoại tử; túi Fabricius bị teo, xuất huyết, có các điểm hoại tử nhỏ
*Hội chứng thiếu máu - xuất huyết (hemorrhagic - aplastic anemia syndrome):
Trong thực tế, một vụ dịch thiếu máu truyền nhiễm xảy ra thường liên quan đến hội chứng thiếu máu - xuất huyết, thường được gọi là hội chứng xuất huyết (hemorrhagic syndrome), có hoặc không xảy ra đồng thời với hội chứng viêm da hoại thư (gangrenous dermatitis) CIAV cũng được coi là căn nguyên gây thiếu máu liên quan đến một số bệnh như bệnh Viêm gan thể bao hàm (inclusion body hepatitis - IBH), hội chứng Viêm gan thể bao hàm/tích nước ngoại tâm mạc hoặc bệnh Gumboro Theo Pope (1991), trong hầu hết các trường hợp, hiện tượng xuất huyết quan sát được trong bệnh Gumboro là hậu quả của CIAV gây ra hơn là của IBDV Bệnh tích đặc trưng quan sát được trong hội chứng xuất huyết là xuất huyết dưới da, trong da và xuất huyết cơ Nốt xuất huyết thậm chí có thể quan sát được
ở dạ dày tuyến Hiện tượng xuất huyết trong da cánh thường kèm theo phù thũng
và viêm da hoại thư (bệnh cánh xanh) do nhiễm trùng kế phát Xuất huyết dưới
da chân có thể hình thành nên các nốt loét
m
Hình 2.2 Bệnh tích xuất huyết đặc trưng
Hình 2.3 Gan, thận nhạt màu
Nguồn: www.poultrysite.com
Trang 252.2.5.2 Bệnh tích vi thể
Có rất ít nghiên cứu về bệnh tích vi thể của gà mắc CIA Sau 6 - 8 ngày gây bệnh thực nghiệm, có sự thay đổi của tế bào tạo máu và tuyến ức, quan sát thấy tiểu thể bao hàm và có các vùng tập trung điện tử trong tế bào chất Ngoài ra, màng nguyên sinh chất không bình thường, hình thành không bào Từ ngày 12 -
16, nhiều tế bào bị phá hủy, đồng thời nhiều tế bào làm nhiệm vụ thực bào hoạt động Sau 20 ngày, quá trình hồi phục bắt đầu
2.2.6 Chẩn đoán bệnh
2.2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng
Gà mắc bệnh thiếu máu truyền nhiễm thể lâm sàng có vẻ bên ngoài xanh xao và ủ rũ Các bệnh tích thường gặp là hiện tượng gan sưng to, thận nhạt màu, tuyến ức bị teo nhỏ, tủy xương nhạt màu (Balamurugan and Kataria, 2006) Các mẫu bệnh tích thu được từ mổ khám lâm sàng được giữ vô trùng trong môi trường nước muối 10% gồm có gan, lách, tuyến ức, xương đùi, tế bào bursa để phục vụ cho việc kiểm tra mô bệnh học, và bảo quản trong môi trường đệm glycerol để phân lập virus Sau đó các nguyên liệu này cần đưa vào trong điều kiện bảo quản đông lạnh trong đá để phân lập virus Các mẫu huyết thanh nên được thu giữ để chứng minh có kháng thể CIAV trong các mẫu bệnh tương ứng
Do CIAV có mặt hầu khắp trong đàn gà, nên các tiêu chuẩn để chẩn đoán khẳng định bệnh rất hạn chế Ở những đàn gà dưới 6 tuần tuổi, khi chẩn đoán cần kết hợp giữa triệu chứng lâm sàng, những thay đổi chỉ số máu, bệnh tích đại thể
và vi thể và tiền sử bệnh trong đàn Không có bệnh tích đơn thuần nào có thể được sử dụng để kết luận bệnh CIA
Cần phân biệt với một số bệnh như:
- Hiện tượng thiếu máu (anaplastic anemia): đồng thời tuyến ức và túi Fabricius bị teo nhỏ, hệ miễn dịch của cơ thể bị giảm sút do osteopetrosis virus gây ra
- Hiện tượng thiếu máu do erythroblastosis virus (virus gây hiện tượng có các tiền tế bào hồng cầu erythroblast trong máu), có thể phân biệt với CIA bằng cách kiểm tra tiêu bản máu dưới kính hiển vi
- MDV gây teo túi Fabricius và tuyến ức, đặc biệt khi nhiễm chủng virus có độc lực rất cao
Trang 26- IBDV gây teo các cơ quan lympho, với các bệnh tích vi thể đặc trưng, nhưng tuyến ức ít khi bị ảnh hưởng Tuy nhiên, cả MDV và IBDV ít khi gây hiện tượng thiếu máu
- Adenovirus gây hội chứng viêm gan thể bao hàm - thiếu máu aplastic, thường xảy ra ở gà từ 5 - 10 tuần tuổi Khi chỉ gây bệnh thực nghiệm cho gà với adenovirus, chúng không gây hiện tượng thiếu máu aplastic
Khi trúng độc sulfonamid liều cao hoặc aflatoxin có thể gây thiếu máu aplastic và hội chứng xuất huyết Aflatoxin cũng ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của
cơ thể Trong thực tế, gà ít khi bị trúng độc aflatoxin và sulfonamid thể cấp tính; tuy nhiên, trúng độc các chất này sẽ khiến nguy cơ gà mắc CIAV thêm trầm trọng 2.2.6.2 Chẩn đoán virus học
Virus có thể nhân lên khi gây nhiễm cho gà, phôi trứng và môi trường nuôi cấy tế bào (Dhama et al., 2002;Balamurugan and Kataria, 2006)
Bệnh phẩm: có thể phân lập được virus trong hầu hết các mô bào của cơ thể, từ thành phần buffy coat của máu (gồm tiểu cầu và bạch cầu) và trong chất chứa trực tràng của gà bệnh; hiệu giá virus đạt cao nhất sau khi nhiễm 7 ngày Khi hàm lượng kháng thể tăng cao, hiệu giá virus cũng dần giảm xuống; tuy nhiên, vẫn có thể phát hiện tượng virus trong máu toàn phần hoặc trong buffy coat sau khi nhiễm 14 ngày, khi trong cơ thể đã xuất hiện kháng thể trung hòa Ngoài ra, gan và lách cũng được sử dụng để phân lập virus
Huyễn dịch bệnh phẩm sau khi lọc có thể xử lý nhiệt trong 5 phút ở 700C hoặc chloroform để loại bỏ hoặc bất hoạt những thành phần tạp nhiễm trước khi đem nuôi cấy tế bào
- Có thể nuôi cấy CIAV trên môi trường tế bào: thích hợp nhất là tế bào MDCC-MSB1 và MDCC-CU147 CIAV không phát triển trong môi trường nuôi cấy thông thường nhưng nó phát triển trong các dòng tế bào lympho hình thành
từ virus Marek và các u lympho do leukovirus gây ra Loại tế bào sử dụng phổ biến nhất là MDCC-MSB1 được phân lập từ mô lympho trong khối u của bệnh Marek Sự nhân lên của virus trên môi trường tế bào sau đó cần phải được khẳng định bằng phản ứng PCR
- Gây bệnh cho gà 1 ngày tuổi: bằng cách tiêm bắp hoặc tiêm vào xoang bụng, rất đặc hiệu cho việc phân lập virus từ bệnh phẩm; đặc biệt thích hợp trong trường hợp nghi ngờ bệnh do CIAV nhưng không phân lập được virus Phương
Trang 27pháp này có độ nhạy gấp 100 lần so với phương pháp nuôi cấy trên môi trường tế bào Sau 14 - 21 ngày gây nhiễm, kiểm tra chỉ số hemocrit, nếu xuống dưới 27%
có thể kết luận bệnh do CIAV Mổ khám gà kiểm tra hiện tượng teo nhỏ của tủy xương nếu gà không biểu hiện thiếu máu Sau đó khẳng định sự có mặt của virus bằng phản ứng PCR hoặc phương pháp hóa mô miễn dịch
Thực tế lâm sàng cho thấy tuổi gà mẫn cảm nhất là 12-16 ngày tuổi Virus nhân lên trong phôi gà sau khi nhân lên trong túi noãn hoàng nhưng nó không đạt mức cao đủ để gây chết phôi hoặc tạo ra các bệnh tích điển hình của bệnh Tuy nhiên con gia cầm đó nở ra sẽ có các dấu hiệu của bệnh
- Chẩn đoán CIAV dựa vào ADN: sử dụng phản ứng PCR để xác định sự
có mặt của CIAV trong môi trường nuôi cấy tế bào, mô bào của gà bệnh hoặc trong vacxin, với độ nhạy và độ đặc hiệu cao
- Xác định CIAV bằng kháng thể: sử dụng phương pháp nhuộm miễn dịch huỳnh quang (immunofluorescent) hoặc immunoperoxydase có thể phát hiện CIAV trong mô bào của gà bệnh Thường bệnh phẩm là tuyến ức, được lấy sau khi nhiễm virus từ 7 - 12 ngày
- Sử dụng kính hiển vi điện tử: có thể sử dụng để xác định CIAV nhưng độ nhạy thường không cao
2.2.6.3 Chẩn đoán huyết thanh học
Có ba phản ứng huyết thanh học thường được sử dụng để chẩn đoán bệnh CIA gồm: phản ứng ELISA, phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp và phản ứng trung hòa virus Tùy thuộc vào mục đích chẩn đoán và kinh phí để có thể lựa chọn phương pháp thích hợp
- Phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp: sử dụng tế bào MSB1 hoặc CU147 bị nhiễm CIAV (36 - 42 giờ) làm kháng nguyên chuẩn để xác định kháng thể có trong mẫu huyết thanh
- Phản ứng ELISA: có nhiều kit ELISA đã được thương mại hóa dùng để chẩn đoán bệnh CIA, xác định kháng thể trong huyết thanh Phương pháp này thường được sử dụng để sàng lọc bệnh ở đàn gà broiler đã tiêm vacxin, nhưng có thể cho kết quả dương tính giả Kháng nguyên là CIAV được tinh khiết sau khi nuôi cấy trên môi trường tế bào MSB1
- Phản ứng trung hòa virus: phản ứng này có độ nhạy cao hơn hai phản ứng trên Cách tiến hành: trộn huyết thanh hoặc lòng đỏ trứng đã pha loãng
Trang 28(theo cơ số 2) với hỗn dịch CIAV có chứa 200 - 500 TCID50/ml, ủ ở 370C trong 60 phút hoặc ủ qua đêm ở 40C rồi gây nhiễm vào môi trường tế bào Phản ứng được tiến hành trên khay nhựa 96 giếng, có thể phải tiến hành trong
5 tuần, qua 8 - 9 lần cấy chuyển, cứ sau 2 - 3 ngày cấy chuyển phải kiểm tra CPE đặc hiệu do CIAV gây ra Trong trường hợp kiểm tra hiệu giá virus lên đến 105,0 -105,5 TCID50/ml, không cần cấy chuyển mà đọc kết quả ngay
Phản ứng trung hòa có thể sử dụng để định lượng bằng cách pha loãng huyết thanh từ nồng độ 1:80 đến 1:100 và tiến hành như đã mô tả
Đối với các mẫu huyết thanh thì các phương pháp như ELISA, VNT và FAT là những kỹ thuật được sử dụng phổ biến (Dhama et al., 2002;Tannock et al., 2003) Các kít chẩn đoán bằng phương pháp ELISA hiện nay dùng để phát hiện kháng thể rất phù hợp cho việc sàng lọc các đàn nghi mắc Các kỹ thuật DNA tái tổ hợp đã cung cấp nền tảng cho thế hệ nghiên cứu mới sử dụng protein của virus, như là VP1, VP2 và VP3 dựa trên nền tảng kết hợp protein đã được phát minh hiện nay
2.2.7 Biện pháp kiểm soát bệnh
2.2.7.1 Vệ sinh phòng bệnh
Cần chú ý trong công tác quản lý và vệ sinh đàn gà giúp phòng hiện tượng suy giảm miễn dịch do các yếu tố môi trường và bệnh truyền nhiễm, đồng thời phòng bệnh do CIAV gây ra Vì trong thực tế, việc loại bỏ hoàn toàn bệnh là việc làm rất khó khăn nên cần cải thiện vệ sinh chuồng nuôi sẽ làm giảm nguy cơ phơi nhiễm với virus
Kiểm tra huyết thanh định kỳ rất quan trọng để kiểm soát được bệnh do CIAV gây ra trên đàn giống để ngăn chặn bệnh nổ ra và những ảnh hưởng của việc dùng vacxin Tăng cường khả năng miễn dịch trên đàn giống bố mẹ là việc
ưu tiên cần phải làm trong mọi phương pháp Chiến lược sử dụng vacxin bao gồm vacxin sống nhược độc, vacxin vô hoạt và vacxin tái tổ hợp (r)- DNA vacxin đang được nghiên cứu (Dhama et al., 2002)
Biện pháp kiểm soát trực tiếp nhất và hạn chế được sự lây truyền dọc của bệnh là sử dụng vacxin cho đàn bố mẹ trước khi vào giai đoạn khai thác trứng khoảng vài tuần Bên cạnh đó, việc chăm sóc tốt đàn giống, nắm bắt được những thay đổi nhỏ trong đàn, đảm bảo vệ sinh và thực hiện nghiêm các biện pháp đảm bảo an toàn sinh học là những biện pháp tổng hợp giúp ngăn chặn bệnh xảy ra trên
Trang 29đàn gà con cũng như ngăn chặn ảnh hưởng của một số bệnh gây ức chế miễn dịch khác như bệnh do IBDV, MDV
2.2.7.2 Phòng bệnh bằng vacxin
Hiện nay, chương trình sử dụng vacxin cho đàn gà bố mẹ tương đối hiệu quả, giúp ngăn chặn đường truyền dọc, giảm nguy cơ mắc bệnh cho gà con Vacxin được sử dụng vào thời điểm 13 - 15 tuần tuổi, không được muộn quá 3 tuần trước khi gà bắt đầu đẻ bói để tránh nguy cơ virus vacxin có thể truyền qua trứng Vacxin được sử dụng bằng cách cho uống hoặc tiêm (nếu có bổ trợ dầu)
2.2.8 Điều trị
Không có thuốc điều trị đặc hiệu Khi gà bị bệnh CIA, sử dụng các loại kháng sinh có hoạt phổ rộng giúp ngăn chặn một số vi khuẩn kế phát gây bệnh
Trang 30PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Chicken anemia infectious virus (CIAV) lưu hành ở đàn gà nuôi tại Hà Nội và vùng phụ cận
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thực hiện các nội dung sau:
- Xác định tỷ lệ lưu hành vius CIAV ở đàn gà nuôi tại Hà Nội và vùng phụ cận
- Phân tích đặc điểm dịch tễ học phân tử của vius CIAV
3.3 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Mẫu được thu thập ở một các đàn gà nuôi tại Hà Nội và vùng phụ cận
- Thí nghiệm được thực hiện tại Bộ môn Vi sinh vật- Truyền nhiễm, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Thời gian thực hiện từ tháng 12/2015 đến 10/2017
3.4 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
- Gà bệnh ở các lứa tuổi được thu thập ở các địa phương tiến hành nghiên cứu
- Cặp mồi đặc hiệu dùng để phát hiện và giải trình tự CIAV
- Kít PCR (Maxime PCR PreMix i-Taq, iNtRON, Hàn Quốc)
- Hóa chất dùng tách chiết ADN tổng số gồm:
(i)dung dịch ly giải mẫu có chứa 27% sucrose, 15 mM trisodium citrate, 0,15 M NaCl, 1 mM ethylene diaminetetraacetic acid, 1% sodium dodecyl sulphate, 200 µg/ml proteinase K;
(ii) phenol-chloroform-isoamyl alcohol (25:24:1);
(iii) isopropyl ;
(iv) cồn 70% ;
(v) dung dịch đệm TE (pH=8)
- Hóa chất dùng phân tích sản phẩm PCR gồm:
(i) agarose (Agarose EP Master, Biosesang, Hàn Quốc);
(ii) RedSafe Nucleic Acid Staining Solution (20,000x);
(iii) 100bp DNA ladder (GeneDirex)
Trang 31- Bộ dụng cụ lấy mẫu, ống lấy mẫu
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp lấy mẫu
Mẫu được lấy ngẫu nhiên từ đàn gà bệnh: bệnh phẩm của gà có thể biểu hiện triệu chứng lâm sàng như ủ rũ, mệt mỏi, giảm ăn, kém ăn, kém vận động, khó thở, ỉa chảy Tiến hành mổ khám lấy bệnh phẩm gồm gan, lách, ruột, tuyến
ức, tuyến harder, túi fabricius, tủy xương Đồng nhất mẫu, chuẩn bị huyễn dịch mẫu bệnh phẩm 10% và bảo quản ở -200C cho đến khi xét nghiệm
3.5.2 Phương pháp tách chiết ADN
Tinh sạch ADN tổng số được thực hiện theo các bước như sau:
(1) Ly giải mẫu
- 250 µl huyễn dịch mẫu bệnh phẩm được trộn đều trong 500 µl dung dịch sucrose/proteinase K,
- Ủ ở 56oC/90 phút hoặc 37oC/12giờ,
(2) Tách pha ADN bằng phenol-chloroform-isoamyl (25:24:1)
- Bổ sung 200 µl dung dịch PCI vào ống mẫu sau khi ly giải
- Vortex hỗn hợp
- Ly tâm 12.000 vòng/phút/15 phút, ở nhiệt độ 4oC
(3) Tủa and
Trang 32- Dùng ống Eppendorf mới, trộn 450μl isopropyl + 450μl dịch nổi phía trên, trộn đều
- Tủa ADN ở -20oC/15 phút
- Ly tâm, 12.000 vòng/phút/15 phút, ở nhiệt độ 4oC
(4) Rửa tủa and
- Rửa mẫu bằng 1ml cồn 70% (pha trong nước cất đã xử lý DEPC)
- Ly tâm, 12.000 vòng/phút/15 phút, ở nhiệt độ 4oC
- Loại bỏ hết cồn Hong khô ở nhiệt độ phòng trong 15 phút
(5) Hòa tan tủa and
- Tủa ADN được hòa tan trong 30µl dung dịch đệm TE (pH = 8,0)
3.5.3.Phương pháp tối ưu hóa phản ứng PCR chẩn đoán CIAV
Cặp mồi đặc hiệu dùng phát hiện CIAV được lựa chọn dựa theo nghiên cứu
đã công bố (van Santen et al., 2001), trình tự được trình bày ở bảng 3.1 và hình 3.1 Do thành phần của phản ứng PCR dùng trong nghiên cứu này và nghiên cứu trước đây có sự thay đổi, nên việc tối ưu lại phản ứng PCR là cần thiết
Bảng 3.1 Trình tự mồi đặc hiệu phát hiện và giải trình tự gen VP1
Tên mồi xuôi/
protein VP1 và VP2 của CIAV
Trang 333.5.3.1 Tối ưu hóa nhiệt độ bắt mồi
Nhiệt độ bắt mồi được thiết lập biến thiên từ 45,0oC đến 65,5oC sử dụng máy gradient PCR Các điều kiện khác của phản ứng PCR như: nồng độ mồi, nồng độ sợi khuôn được đảm bảo đồng đều giữa các phản ứng PCR Chu trình nhiệt của phản ứng PCR được trình bày ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Chu trình nhiệt của phản ứng PCR
Ghi chú: Gradient bao gồm 12 nhiệt độ ( o C) gắn mồi khác nhau: 45,0; 45,3; 46,4; 48,2; 50, 4; 53,0; 55,8;
3.5.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng củanồng độ mồi
Nồng độ cuối cùng (final concentration) của mồi trong phản ứng PCR thường biến thiên trong khoảng 0,05-1 µM Trong nghiên cứu này, nồng độ mồi cuối cùng được thiết lập biến thiên trong khoảng 0,5 µM đến 0,125 µM Sự phối trộn giữa mồi xuôi- mồi ngược của phản ứng PCR được trình bày ở bảng 3.3 Bảng 3.3 Bố trí thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ mồi
Mồi xuôi (nồng độ cuối cùng, µM) Mồi ngược
Trang 34Staining Solution 1x Nồng độ mồi ở đó cho vạch sản phẩm đặc hiệu sáng rõ nhất
sẽ được lựa chọn để thực hiện các phản ứng PCR xác định CIAV
3.5.4 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử
Mối quan hệ di truyền của CIAV (phylogenetic tree) được xây dựng dựa trên một phần trình tự gen mã hóa protein VP1 (từ codon số 1 đến codon số 203, bao gồm trình tự mã hóa vùng siêu biến đổi từ amino acid thứ 139 đến amino acid thứ 151) Phần mềm MEGA6 (Tamura et al., 2013) được dùng để xây dựng cây phát sinh chủng loại với các tham số đầu vào như sau: (i) phương pháp suy diễn cây phát sinh chủng loại là Neighbor-Joining; (ii) mô phỏng sự thay đổi nucleotide giữa các trình tự gen dựa vào mô hình Tajima-Nei và có hiệu chỉnh sự biến động giữa các nucleotide; (iii) mức tin cậy ở các nhánh của cây phát sinh chủng loại được ước tính bằng phép thử bootstrap lặp lại 1000 lần Các trình tự tham chiếu (để xác định nhóm di truyền) dựa theo công bố trước đây (Olszewska-Tomczyk et al., 2016) Các trình tự gen dùng trong nghiên cứu này được trình bày ở bảng 3.4
Bảng 3.4 Trình tự gen tham chiếu
Ghi chú: (a) các trình tự tham chiếu dựa theo công bố trước đây (Olszewska-Tomczyk et al., 2016)
Trang 35PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH SỰ LƯU HÀNH CIAV Ở ĐÀN GÀ NUÔI TẠI
HÀ NỘI VÀ VÙNG PHỤ CẬN
4.1.1 Kết quả tối ưu hóa phản ứng PCR để xác định CIAV
Nghiên cứu này đã tìm được điều kiện phù hợp nhất của phản ứng PCR trong việc phát hiện CIAV bằng cách tối ưu nhiệt độ bắt mồi (hình 4.1) và nồng
độ mồi phù hợp (hình 4.2)
Hình 4.1 Tối ưu hóa nhiệt độ bắt mồi của phản ứng PCR
Nhiệt độ bắt mồi được thiết lập biến thiên từ 45,0 o C đến 65,6 o C M: 100 bp DNA ladder Ký hiệu vạch số
1 là các sản phẩm PCR đặc hiệu; vạch số 2 là sản phẩm PCR không đặc hiệu
Ở dải nhiệt độ từ 45,0oC đến 55,8oC luôn quan sát được hai vạch sản phẩm PCR (ký hiệu số 1 và số 2, hình 4.1) Trong đó vạch số 1 có kích thước khoảng 1038bp là vạch đặc hiệu, vạch số 2 có kích thước khoảng 300bp là vạch không đặc hiệu (có kích thước không đúng với thiết kế) Ở dải nhiệt độ bắt mồi từ 58,5oC đến 65,6oC chỉ quan sát được vạch sản phẩm PCR số 1 (đặc hiệu, kích thước ~1038bp)
Về đậm độ của sản phẩm PCR đặc hiệu (vạch số 1), dễ dàng nhận thấy sự tăng dần về độ dày của vạch sản phẩm PCR từ khoảng 45,0oC đến 58,5oC Nói cách khác, ở nhiệt độ bắt mồi thấp, lượng sản phẩm PCR ít hơn ở nhiệt độ bắt mồi cao
Với hai nhận xét kể trên, chúng tôi chọn nhiệt độ bắt mồi phù hợp là 58,5oC để thực hiện phản ứng PCR Qua đó cũng thấy rằng việc tối ưu nhiệt độ bắt mồi là vô cùng cần thiết để cho sản phẩm PCR đặc hiêu, với hiệu suất cao nhất
Trang 36Phản ứng PCR tiếp tục được tối ưu bằng việc điều chỉnh nồng độ mồi xuôi
và nồng độ mồi ngược (hình 4.2)
Hình 4.2 Tối ưu nồng độ mồi của phản ứng PCR Nồng độ mồi và sự kết hợp nồng độ mồi xuôi và mồi ngược được trình bày ở bảng đi kèm M là thang
ADN chuẩn với khoảng cách giữa các vạch của thang là 100bp
Dễ dàng nhận thấy chỉ có giếng số 1 và giếng số 2 (tương ứng với công thức 0,5 µM mồi xuôi/ 0,5 µM mồi ngược và 0,25 µM mồi xuôi/ 0,5 µM mồi ngược) cho vạch sản phẩm Các công thức kết hợp mồi khác đều không cho vạch sản phẩm PCR
Qua kết quả trình bày ở hình 4.1 và 4.2, chúng tôi rút ra điều kiện tối ưu của phản ứng PCR phát hiện CIAV bằng cặp mồi CAVVP3F/ CAV2 là: (i) nhiệt độ bắt mồi 58,5oC; (ii)nồng độ mồi cuối cùng là 0,5 µM cho mỗi loại
4.2.2 Sự lưu hành CIAV ở đàn gà nuôi tại Hà Nội và vùng phụ cận
4.2.2.1 Tổng hợp tình hình thu thập mẫu phục vụ nghiên cứu
Trên thế giới đã có nhiều công bố về sự lưu hành và gây bệnh của các chủng CIAV.Tại Việt Nam cho đến thời điểm này vẫn chưa có công bố nào về sự lưu hành của virus này Do CIAV thường gây bệnh thể cận lâm sàng, nên có thể không biểu hiện triệu chứng điển hình Cũng do đây là nghiên cứu đầu tiên để xác định sự có mặt của virus CIAV ở đàn gà nuôi tại Hà Nội và vùng phụ cận,
Trang 37chúng tôi đặt vấn đề lấy mẫu ở gà tất cả các lứa tuổi, các giống gà,khi có biểu hiện triệu chứng lâm sàng ủ rũ, mệt mỏi, v.v Bảng 4.1 tổng hợp tình hình thu thập mẫu trong nghiên cứu này
Bảng 4.1 Tổng hợp tình hình thu thập mẫu gà theo lứa tuổi
Lứa tuổi (tuần)
và gà từ 6 tuần tuổi trở lên Cơ sở của việc phân loại lứa tuổi trên là dựa vào đặc điểm dịch tễ của bệnh theo tài liệu tham khảo của các nghiên cứu trên thế giới (Eregae, 2014) Một số bệnh tích đặc trưng của gà khi mổ khám được thể hiện ở hình 4.3-4.6
Hình 4.3 Gà bị xuất huyết ở cánh, dưới da, cơ
Trang 38Hình 4.4 Gan sưng, tụ huyết hoặc xuất huyết
Hình 4.5 Thận sưng to, nhạt màu
Trang 39Hình 4.6 Tuyến ức bị teo, xuất huyết 4.2.2 Kết quả PCR phát hiện CIAV trong mẫu bệnh phẩm
Thực hiện phản ứng PCR để xác định sự có mặt của CIAV trong các mẫu bệnh phẩm thu thập được chúng tôi có kết quả minh họa ở hình 4.7 và tổng hợp ở bảng 4.2
Hình 4.7 Minh họa kết quả phản ứng PCR phát hiện CIAV
M là thang ADN chuẩn với khoảng cách giữa các vạch là 100bp Giếng 1-5 là 5 mẫu bệnh
phẩm thu thập ở trang trại 1