1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam

110 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại, hạn chế sau: Công tác chấp hành thực hiện quy hoạch của các hộ chăn nuôi còn hạn chế; Do tình hình giá cả thị trường nhiều biến động ảnh hưởng đến giá sữ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN TÂN AN

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI

BÒ SỮA TẠI HUYỆN DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Ngô Thị Thuận

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn cho luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng….năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Tân An

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc PGS.TS.Ngô Thị Thuận đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,

Bộ môn Phân tích định lượng, Khoa Quản lý kinh tế - Học viện Nông nghiệp Việt Nam

đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND huyện Duy Tiên đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng….năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Tân An

Trang 4

M ỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục biểu đồ vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

P hần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.1 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

P hần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5

2.1 Lý luận về phát triển chăn nuôi bò sữa 5

2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5

2.1.2 Vai trò của phát triển chăn nuôi bò sữa 6

2.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chăn nuôi bò sữa 7

2.1.4 Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi bò sữa 10

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi bò sữa 21

2.2 Cơ sở thực tiễn 24

2.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa trên thế giới 24

2.2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam 27

P hần 3 Phương pháp nghiên cứu 31

3.1 Đặc điểm cơ bản huyện Duy Tiên 31

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 31

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 35

Trang 5

3.1.3 Kết quả phát triển kinh tế, xã hội 39

3.2 Phương pháp nghiên cứu 42

3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 42

3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 42

3.2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu và phân tích thông tin 43

3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 45

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 46

4.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa ở huyện Duy Tiên 46

4.1.1 Xây dựng đề án, quy hoạch và kế hoạch phát triển chăn nuôi bò sữa 46

4.1.2 Hình thức tổ chức chăn nuôi bò sữa 49

4.1.3 Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật 51

4.1.4 Tổ chức hệ thống thu gom và tiêu thụ sữa 55

4.1.5 Kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò sữa 59

4.1.6 Đánh giá kết quả phát triển chăn nuôi bò sữa huyện Duy Tiên 63

4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện Duy Tiên 70

4.2.1 Thị trường và tiêu thụ sản phẩm 70

4.2.2 Năng lực hộ chăn nuôi bò sữa 70

4.2.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 75

4.2.4 Về vai trò của các cơ quan quản lý ngành ở Duy Tiên 78

4.2.5 Cơ chế thực hiện chính sách của nhà nước và liên kết 79

4.3 Các giải pháp phát triển ổn định chăn nuôi bò sữa tại huyện Duy Tiên 80

4.3.1 Căn cứ đề xuất 80

4.3.2 Định hướng phát triên chăn nuôi bò sữa của huyện Duy Tiên 82

4.3.3 Các giải pháp 84

P hần 5 Kết luận và kiến nghị 90

5.1 Kết luận 90

5.2 Kiến nghị 91

5.2.1 Kiến nghị Bộ Nông nghiệp & PTNT 91

5.2.2 Kiến nghị với UBND tỉnh Hà Nam 91

5.2.3 Kiến nghị với huyện Duy Tiên 91

Tài liệu tham khảo 92

Phụ lục 95

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất huyện Duy Tiên gia đoạn 2015 - 2017 35

Bảng 3.2 Dân số và cơ cấu dân số huyện Duy Tiên giai đoạn 2012 - 2016 37

Bảng 3.3 Cơ cấu kinh tế huyện Duy Tiên giai đoạn 2012 – 2016 39

Bảng 3.4 Ma trận phân tích SWOT 44

Bảng 4.1 Hoạch mở rộng và lập mới quy hoạch khu chăn nuôi bò sữa tập trung 47

Bảng 4.2 Quy hoạch vùng nguyên liệu chăn nuôi bò sữa 48

Bảng 4.3 Kế hoạch số lượng đàn bò sữa huyện Duy Tiên 48

Bảng 4.4 Kế hoạch diện tích trồng cỏ cho bò sữa huyện Duy Tiên 49

Bảng 4.5 Số hộ chăn nuôi bò sữa huyện Duy Tiên 50

Bảng 4.6 Quy mô chăn nuôi bò sữa ở nhóm hộ điều tra 51

Bảng 4.7 Số hộ nuôi bò sữa theo nguồn gốc ở huyện Duy Tiên 52

Bảng 4.8 Số hộ chăn nuôi bò sữa có chuồng trại và trang thiết bị ở huyện Duy Tiên 55

Bảng 4.9 Sản lượng sữa tiêu thụ của các hộ chăn nuôi bò sữa huyện Duy Tiên 57

Bảng 4.10 Giá thu mua sữa của các hộ chăn nuôi bò sữa huyện Duy Tiên 58

Bảng 4.11 Số con bò sữa, năng suất, sản lượng sữa hằng năm của hộ chăn nuôi 60

Bảng 4.12 Chi phí chăn nuôi bò sữa hằng năm của các hộ chăn nuôi ở các xã huyện Duy Tiên 61

Bảng 4.13 Một số chỉ tiêu thể hiện kết quả và hiệu quả chăn nuôi bò sữa của hộ nông dân 62

Bảng 4.14 Kết quả chăn nuôi bò sữa tại huyện Duy Tiên 64

Bảng 4.15 Quy định chất lượng sản phẩm sữa tươi và chất lượng sữa đã đạt theo đánh giá của nhà máy Vinamilk 65

Bảng 4.16 Thực trạng trình độ của chủ hộ chăn nuôi bò sữa ở các hộ điều tra huyện Duy Tiên 71

Bảng 4.17 Tình hình nhân khẩu, lao động của nhóm hộ điều tra 73

Bảng 4.18 Nhiệt độ, ẩm độ và chỉ số nhiệt ẩm (THI) trung bình của một số địa phương 76

Bảng 4.19 Ma trận SWOT thể hiện các yếu tố ảnh hưởng chăn nuôi bò sữa ở huyện Duy Tiên 81

Trang 8

Hình 2.1 Bảng chỉ số nhiệt ẩm (THI: Temperature Humidity Index) dùng để dự

đoán stress nhiệt ở bò sữa 23 Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Duy Tiên 32

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Trần Tân An

Tên luận văn: “Phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam”

Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 8340410

Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Duy Tiên là một huyện nông nghiệp thuộc tỉnh Hà Nam Trong những năm qua phát triển chăn nuôi bò sữa được tỉnh chú trọng và triển khai ở một số huyện có điều kiện thích hợp, trong đó Duy Tiên là nơi phát triển mạnh mẽ nhất Huyện đã có nhiều hoạt động hỗ trợ cho hoạt động phát triển chăn nuôi bò sữa Kết quả phát triển chăn nuôi của huyện đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, toàn huyện tính đến hết năm

2017 có 1874 con bò sữa cho sản lượng sữa 4755 tấn Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì cũng còn nhiều hạn chế, khó khăn trong phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện Duy Tiên Để phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện một cách hiệu quả thì cần phải có những nghiên cứu, đánh giá nguyên nhân, hạn chế để tìm ra các giải pháp cần thiết nhằm tạo điều kiện cho phát triển chăn nuôi bò sữa một cách ổn định Xuất phát từ những khó khăn, hạn chế trong quá trình phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện Duy Tiên, tôi lựa chọn đề tài: “ Phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam” làm báo cáo luận văn tốt nghiệp cao học

Mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài là đánh giá thực trạng, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, từ đó đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển chăn nuôi bò sữa ổn định tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Nghiên cứu đã bàn luận những khái niệm về chăn nuôi, chăn nuôi bò sữa và phát triển chăn nuôi bò sữa Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi bò sữa gồm: Xác định tình cấp thiết của phát triển CNBS; Lý luận về phát triển chăn nuôi bò sữa; Vai trò của phát triển CNBS; Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của CNBS; Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi bò sữa; Các nhân tố ảnh hưởng đến CNBS; Cơ sở thực tiễn về tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa trên thế giới và Việt Nam

Địa bàn nghiên cứu là huyện Duy Tiên, có các đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh

tế - xã hội ảnh hưởng đến việc phát triển chăn nuôi bò sữa ở huyện Để tiến hành nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp: chọn điểm nghiên cứu, thu thập số liệu, phân tích số liệu; xử lý số liệu, chuyên gia, dự tính dự báo Hệ thống chỉ tiêu thể hiện kết quả phát triển chăn nuôi bò sữa theo chiều rộng và chiều sâu

Nghiên cứu phân tích, đánh giá phát triển chăn nuôi bò sữa ở huyện Duy Tiên

Trang 10

nhận thấy những kết quả đạt được: Chăn nuôi bò sữa mở ra một hướng đi mới cho nông dân huyện Duy Tiên về sản xuất nông nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Đời sống nhân dân từng bước đi lên, diện mạo quê hương có nhiều thay đổi tích cực Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại, hạn chế sau: Công tác chấp hành thực hiện quy hoạch của các hộ chăn nuôi còn hạn chế; Do tình hình giá cả thị trường nhiều biến động ảnh hưởng đến giá sữa; Công tác tập huấn nâng cao năng lực cho các hộ chăn nuôi vẫn cón ít; Đội ngũ cán bộ thú y

cơ sở còn thiếu và yếu; Các điều kiện cần thiết về cơ sở hạ tầng như điện, nước, đường giao thông chưa được đầu tư một cách đầy đủ…

Nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện Duy Tiên: Thị trường và tiêu thụ sản phẩm; Điều kiện tự nhiên, kinh

tế xã hội; Năng lực của hộ chăn nuôi bò sữa; Vai trò của các cơ quan quản lý chuyên môn ở huyện Duy Tiên; Cơ chế thực hiện chính sách của nhà nước và liên kết

Qua phân tích, đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò sữa huyện Duy Tiên tôi đề xuất một số giải pháp như: Giải pháp về quy hoạch; Giải pháp về khoa học công nghệ; Tăng cường liên kết trong chăn nuôi bò sữa; Nâng

cao năng lực cho các hộ chăn nuôi; Giải pháp về chính sách; Giải pháp về tiêu thụ sản phẩm Từ đó kết luận và kiến nghị đến Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; UBND tỉnh Hà Nam và chính quyền huyện Duy Tiên nhằm hướng tới mục tiêu phát triển chăn nuôi bò sữa huyện Duy Tiên một cách ổn định và bền vững

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Tran Tan An

Thesis title: Development of cow production in Duy Tien district, Ha Nam province Major: Economic Management Code: 8340410 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Duy Tien is an agricultural district of Ha Nam province In recent years, development of cow production has been paid attention to by Ha Nam province in some districts with favored conditions including Duy Tien district, which has the most rapid development The district has provided many supports for cow production activities Therefore, the district has achieved significant results By the end of 2017, the district has totally 1874 cows producing 4755 tons of milk However, besides of achievements, there have been remaining limitations, difficulties in cow production development in Duy Tien district In order to develop cow production efficiently in the district, it needs

to have a study on reasons for weaknesses for identifying measures for stably cow development Basing on difficulties and limitations in cow production development in Duy Tien district, I conducted the study: “Development of cow production in Duy Tien district, Ha Nam province” for my master thesis

The general objective of the study is to evaluate situation, identify factors affecting cow production development in Duy Tien district, Ha Nam province, then propose measures for pushing up stable cow production development in Duy Tien district, Ha Nam province

The study discuss basic concept about animal husbandry, cow production and cow production development The contents of the study for cow production development include identifying the rationale for cow production; theories on cow production; roles

of cow production development; technical and economic characteristics of cow production; factors affecting cow production development; practical basis on cow production in the world and in Vietnam

The coverage area of this study is Duy Tien district, with natural, social economic conditions that influence the development of cow production in the district In order to implement the study, the study used methods: site selection method, data collection, data processing and analysis, experts, and forecasting Research indicators presents results of cow production development in both intensive and extension ways

The study on cow production development in Duy Tien district gained the following results: Cow production has opened the door for farmers in Duy Tien district

Trang 12

on agricultural production, contributing to transform economic structure following industrialization and modernization of rural agriculture Living of people has been gradually improved, making positive change of the district However, there have been remaining issues as follows: Household production have not been well according to the planning of the district; unstable markets affecting milk price; limited access of households to technical trainings; local veterinary staff is limited and weak; inadequate investment of basic infrastructure such as electricity, water and transportation systems for cow production

The study indicates factors affecting cow production development in Duy Tien district, Ha Nam province: market and product selling; natural and social economic conditions, capacity of cow production households; roles of technical management units

in Duy Tien district, mechanism for the implementation of State polices and linkages Through the analysis of cow production situation and factors affecting cow production development in Duy Tien district, Ha Nam province, I recommend the following measures: Measure on planning; measure on science and technologies; strengthening linkages in cow production; enhancing capacity for cow production households; measures on policies; measure for selling products This is basis for making proposal to Ministry of Agriculture and Rural Development; Ha Nam people committee; and the government of Duy Tien district towards achieving the objectives for stable and sustainable cow production in this district

Trang 13

P HẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng và đang dần trở thành ngành chính trong sản xuất nông nghiệp Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp của nước ta chiếm trên 27 % vào năm 2014 và định hướng sẽ tăng lên 42% vào năm 2020 (Cục Chăn nuôi, 2008) Tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp của Hà Nam hiện nay là 55%(UBND tỉnh Hà Nam, 2016)

Trong chăn nuôi, chăn nuôi bò sữa nước ta mới phát triển nhưng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông hộ và cung cấp sản phẩm sữa, là sản phẩm có giá trị và ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe con người Thu nhập từ chăn nuôi bò sữa đã trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều nông hộ Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của đàn bò sữa trong giai đoạn 2001 - 2009 khoảng 30% Chăn nuôi bò sữa đã phát triển mạnh ở hầu hết các tỉnh, thành trong toàn quốc Đến đầu năm 2006, tổng đàn bò sữa đạt gần 104.000 con gấp 3 lần tổng đàn năm 2000; tổng sản lượng sữa đạt trên 215.000 tấn, gấp 4 lần năm

2000 Tuy nhiên, hiện nay chăn nuôi bò sữa của Việt Nam còn nhỏ lẻ, phân tán, chưa tập trung do vậy việc phát triển chưa bền vững, hiệu quả chưa cao Trên 80% tổng đàn bò sữa của cả nước được nuôi trong các hộ gia đình Phần lớn các

hộ chăn nuôi bò sữa với quy mô nhỏ Trong tổng số 19.639 trang trại chăn nuôi

bò sữa của cả nước thì có đến 17.676 trang trại (90,4%) chỉ chăn nuôi từ 1- 5 con

bò sữa Do vậy Phát triển chăn nuôi bò sữa tập trung là xu thế cũng là hướng đi tất yếu giúp cho chăn nuôi bò sữa phát triển bền vững, cung cấp sản phẩm đạt chất lượng cao cho thị trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao thu nhập cho nông dân(Cục Chăn nuôi, 2016)

Tuy nhiên, phát triển chăn nuôi bò sữa đòi hỏi có điều kiện về đất, địa điểm

và trang thiết bị phù hợp theo quy trình chăn nuôi bò sữa của Viện chăn nuôi,

thức ăn thô xanh Địa điểm chăn nuôi bò sữa gắn với trạm thu gom và bảo quản sữa (Cục chăn nuôi, 2016) Vì vậy chăn nuôi bò sữa bò sữa cần có quy mô lớn và tập trung vì ngành chăn nuôi bò sữa mang tính công nghiệp lại đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao và dịch vụ tốt, do vậy chăn nuôi bò sữa không thể phát triển một cách

Trang 14

tràn lan, chăn nuôi theo kiểu phân tán, tận dụng, thủ công nên phát triển chăn nuôi bò sữa theo vùng là vấn đề tối quan trọng để đảm bảo chăn nuôi phát triển

ổn định bền vững, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội

ít những khó khăn trở ngại như phát triển thiếu định hướng mạnh ai nấy làm, khó dồn điền đổi thửa, thiếu quy hoạch, vấn đề xử lý môi trường chăn nuôi; sản xuất và chế biến thức ăn còn hạn chế, ngoài ra vai trò của hệ thống chính quyền các cấp chưa được xác định rõ dẫn đến lúng túng khi triển khai, tổ chức sản xuất

và sự liên kết trong sản xuất của nông dân còn rời rạc, thị trường tiêu thụ sản phẩm thuận lợi xong chưa tổ chức được chặt chẽ chuỗi sản phẩm từ sản xuất đến thị trường tiêu thụ nên sản xuất bấp bênh thiếu ổn định, rất cần nghiên cứu tổng kết thực tiễn để đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm thực hiện thành công chủ trương của tỉnh (Cục chăn nuôi, 2016)

Với đặc điểm vốn có của mình, tỉnh Hà Nam đặc biệt quan tâm chỉ đạo phát triển chăn nuôi bò sữa, với chính sách như Quyết định số 167/2001/Qđ- TTg về các chính sách và giải pháp phát triển chăn nuôi bò sữa được ban

địa điểm các khu chăn nuôi tập trung tỉnh Hà Nam giai đoạn 2008 - 2015

Các Quyết định phê duyệt dự toán thực hiện Chương trình phát triển chăn nuôi hàng năm trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong đó có nội dung phát triển vùng chăn nuôi bò sữa trên địa bàn hai huyện là huyện Duy Tiên và Lý Nhân Đặc biệt ngày 12 tháng 10 năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam ban hành Quyết định số: 1600/QĐ-UBND về việc Phê duyệt Đề án Phát triển chăn nuôi bò sữa tỉnh Hà Nam giai đoạn 2016 - 2020 Sau khi đề án được phê duyệt, việc phát triển chăn nuôi bò sữa đã tăng cao tại 3 xã của huyện Duy Tiên

là Mộc Bắc, Trác Văn và Chuyên Ngoại

Những vấn đề đặt ra cho phát triển chăn nuôi bò sữa là phát triển chăn nuôi

nuôi bò sữa là gì Nắm bắt biến động đàn bò sữa, sản lượng sữa, số hộ chăn nuôi, quy mô chăn nuôi và các tác nhân tác động đến các yếu tố đó Trên cơ sở đó nghiên cứu đưa ra các giải pháp phát triển chăn nuôi bò sữa theo hướng ổn định thì chưa có nhiều các công trình nghiên cứu, nhất là trên địa bàn huyện Duy Tiên

Xuất phát từ những lý do và sự cần thiết trên, chúng tôi chọn và thực hiện

đề tài “Phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam"

Trang 15

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp nhằm

1.2.1 Mục tiêu cụ thể

bò sữa trên địa bàn huyện;

tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam những năm qua;

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện;

Đối tượng khảo sát chính của đề tài là:

chăn nuôi và tiêu thụ

phòng nông nghiệp; Trạm thú y…

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

theo các hình thức tổ chức khác nhau, các giống bò sữa; các yếu tố ảnh hưởng; các giải pháp kinh tế kỹ thuật… đã, đang và sẽ thực hiện

Trang 16

-Phạm vi về thời gian:

+ Các dữ liệu thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu này được thu thập ở 3 năm gần đây (2014-2016)

+ Các dữ liệu sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu này được thu thập ở năm 2017

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

huyện Duy Tiên giai đoạn 2014 – 2017 điều mà chưa từng luận văn nào trước đây đã từng làm

nuôi bò sữa tại huyện Duy Tiên từ đó đưa ra được các giải pháp khắc phục

huyện Duy Tiên phù hợp với tình hình của huyện qua đó cho ngành chăn nuôi bò sữa của huyện phát triển một cách ổn định và bền vững

Trang 17

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ SỮA

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1.1 C hăn nuôi, chăn nuôi bò sữa

Chăn nuôi là một ngành quan trọng của nông nghiệp hiện đại, nuôi lớn vật nuôi để sản xuất những sản phẩm như: thực phẩm, lông, và sức lao động Sản phẩm từ chăn nuôi nhằm cung cấp lợi nhuận và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của con người Chăn nuôi xuất hiện lâu đời trong nhiều nền văn hóa kể từ khi loài người chuyển đổi từ lối sống săn bắn hái lượm sang định canh định cư (Đinh Văn Cải và cs., 1995)

Khái niệm về chăn nuôi: Chăn nuôi là những công việc tác động lên vật nuôi để chúng có thể sống, phát triển bình thường, sinh sản và tạo ra thú sản một

Từ khái niệm trên ta có thể định nghĩa Chăn nuôi bò sữa như sau: Chăn nuôi

bò sữa là quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc bò sữa theo quy trình kỹ thuật nhằm mục đích thu sữa đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và các ngành kinh tế khác

Quy trình kỹ thuật chăn nuôi bò sữa được các nhà kỹ thuật nghiên cứu bổ sung

và áp dụng vào chăn nuôi bò sữa tùy thuộc vào điều kiện nhất định

2.1.1.2 P hát triển, phát triển chăn nuôi bò sữa

trình là tăng thêm năng lực của con người hoặc môi trường để đáp ứng nhu cầu của con người hoặc nâng cao chất lượng cuộc sống con người Sản phẩm của sự phát triển là con người được khỏe mạnh, được chăm sóc sức khỏe tốt, có nhà ở

và tiện nghi sinh hoạt, được tham gia vào hoạt động sản xuất theo chuyên môn đào tạo và được hưởng thụ các thành qủa của quá trình phát triển Như vậy phát triển không chỉ bao hàm việc khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua và bán sản phẩm mà còn bao gồm các hoạt động không

con người, bản tồn thiên nhiên,… phát triển là một tổ hợp các hoạt động, một số mục tiêu xã hội, một số mục tiêu kinh tế, dựa trên tài nguyên thiên nhiên, vật chất, trí tuệ nhằm phát huy hết khả năng của con người, được hưởng một cuộc

Trang 18

sống tốt đẹp hơn Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tựu trung lại các ý kiến đều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quyền

tự do công dân của mọi người dân (Mai Thùy Dung, 2014)

Hiểu một cách đơn giản hóa “Phát triển” được hiểu là quá trình vận động,

tiến triển theo hướng tăng lên, tăng lên ở đây cả về lượng và chất Quá trình biến đổi về lượng là sự gia tăng về tổng mức thu nhập, số lượng Quá trình biến đổi về chất là sự biến đổi theo đúng xu thế, biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề

xã hội

Từ các khái niệm trên ta có thể rút ra Phát triển chăn nuôi bò sữa là

Phát triển chăn nuôi bò sữa là sự gia tăng về số lượng bò sữa, số đơn vị chăn nuôi, chi phí đầu tư… , sự hoàn thiện về cơ cấu chất lượng sản phẩm trên

cơ sở thực hiện các hoạt động kinh tế - kỹ thuật nhằm nâng cao kết quả, hiệu quả kinh tế ổn định của sản phẩm và bảo vệ môi trường

2.1.2 Vai trò của phát triển chăn nuôi bò sữa

Sữa là nguồn thức uống quan trọng không chỉ trong nước ta mà còn trên cả thế giới Các sản phẩm chăn nuôi như thịt, trứng, sữa là sản phẩm có hàm lượng protein cao nó rất cần cho đời sống con người, làm tăng thể lực, tăng sức làm việc cho con người Khi xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng phát triển, dân số ngày càng đông thì phát triển chăn nuôi bò sữa là một sự lựa chọn quan trọng để đáp ứng nhu cầu protein cho xã hội Như vậy đẩy mạnh phát triển

của con người là hết sức cần thiết (Đinh Văn Cải và cs., 1995)

xuất hàng hóa

Chăn nuôi bò sữa cung cấp nguyên liệu hết sức quan trọng cho ngành công nghiệp sữa của nước ta hiện nay Các sản phẩm từ sữa qua chế biến hết sức đa dạng, là các hàng hóa có giá trị cho xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước( Viện chăn nuôi quốc gia, 1999)

Trang 19

Trong trồng trọt sản phẩm phụ rất lớn nó là nguồn thức ăn rất lớn phục vụ cho chăn nuôi vì vậy:

Ngoài thu nhập từ trồng trọt chăn nuôi sẽ giúp người nông dân nâng cao thu nhập của mình, bởi chăn nuôi không phụ thuộc vào mùa vụ có thể thực hiện quanh năm xen cùng các ngành khác mà vẫn đạt năng suất và hiệu quả cao( Viện chăn nuôi quốc gia, 2000)

triển toàn diện mạnh mẽ và vững chắc

Việc sử dụng tốt các yếu tố cơ bản của sản xuất nông nghiệp cùng việc kết hợp gắn bó chặt chẽ của các ngành trong nông nghiệp là điều quyết định cho sản xuất nông nghiệp phát triển tốt Thực tế cho thấy các vùng có điều kiện thuận lợi

về tự nhiên, kinh tế mới chỉ chú ý đến phát triển trồng trọt, chăn nuôi chỉ mang tính chất nhỏ lẻ, tự cung cấp nhu cầu bản thân họ, còn thừa mới đem bán hoặc nuôi để kinh doanh nhưng quy mô nhỏ và phân tán, như vậy sẽ gây lãng phí trong việc sử dụng nguồn lực Phát triển chăn nuôi tạo nên sự phát triển cân đối trong nông nghiệp, làm cho nông nghiệp phát triển toàn diện, vững chắc (Viện chăn nuôi quốc gia, 2000)

Giống như các gia súc, gia cầm khác bò đóng góp một nguồn phân bón được dẫn trực tiếp từ trại nuôi bò ra đồng giúp nâng cao độ màu mỡ cho đất Chăn nuôi bò sữa không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm cho xã hội mà còn cung cấp một lượng phân bón rất quan trọng cho cây trồng Trên các diện tích đất canh tác hằng năm, cây trồng lấy đi một phần chất dinh dưỡng trong đất Nếu đất đai không được bồi dưỡng thường xuyên thì độ phì trong đất sẽ giảm, nên cần phải

bổ sung các chất dinh dưỡng cho đất Mặt khác nếu chúng ta chỉ sử dung các chất

vô cơ để bón cho đất thì sẽ làm giảm mật độ tơi xốp của đất, làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và khả năng cho sản phẩm của cây trồng làm giảm năng suất các vụ sau Do đó bón phân hữu cơ sẽ cung cấp chất mùn cho đất có tác dụng cải tạo đất lâu dài (Viện chăn nuôi quốc gia, 2001)

2.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chăn nuôi bò sữa

2.1.3.1 Đặc điểm kỹ thuật

Bò sữa là một loại động vật có hệ thần kinh cao cấp, được con người thuần

Trang 20

hoá, chăm sóc, nuôi dưỡng lai tạo theo hướng cho sữa từ hàng nghìn năm nay, nó chịu tác động của nhiều yếu tố sinh thái môi trường Sự tạo sữa không phải là quá trình tích lũy vật chất đơn giản mà là quá trình sinh lý phức tạp diễn ra trong

tế bào tuyến sữa được tổng hợp từ các nguyên liệu trong máu Vì lý do kinh tế, người ta thường cho bò phối ngay sau khi có hiện tượng động dục trở lại (thường sau khi đẻ từ 2-3 tháng) Nếu phối giống có kết quả thì hơn 9 tháng sau ta lại có lứa đẻ mới Trong quá trình này, bò mẹ vừa mang thai vừa cho sữa Vì vậy, trước

tốt, vừa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt và không ảnh hưởng đến chu kỳ sau Năng suất sữa thường tăng dần sau khi bò đẻ và đạt cao nhất vào tháng thứ hai hoặc tháng thứ ba, sau đó lại cạn dần đến tháng thứ mười thì cạn sữa, còn chu kỳ cho sữa cao nhất của bò là chu kỳ thứ ba hoặc thứ tư, sau đó lại giảm dần, sau

từ 6-8 chu kỳ (từ 8-10 năm) khả năng cho sữa cũng giảm đi, lúc đó bò cần phải loại thải mới có hiệu quả (Viện chăn nuôi quốc gia , 1995)

Để phát triển chăn nuôi bò sữa trong các hộ gia đình, ngoài việc tổ chức tập huấn các vấn đề cơ bản cho người chăn nuôi để khai thác có hiệu quả đặc điểm trên còn cần tổ chức công tác dịch vụ về thú y, về thụ tinh nhân tạo

2.1.3.2 Đăc điểm kinh tế

Bò sữa là một loại tài sản đặc biệt có giá trị cao Trong sản xuất chăn nuôi

bò sữa thì bò vắt sữa được xác định đó là một loại tài sản cố định đặc biệt, có giá trị cao Muốn có được một con bò cái vắt sữa cần phải trải qua các giai đoạn nuôi dưỡng chăm sóc bê cái, tuyển chon bê tơ, lỡ hoặc là phải có vốn lớn để mua bò cái sinh sản Để thu hồi vốn đòi hỏi phải qua một thời gian nhất định, trung bình

từ 8- 10 năm (Nguyễn Xuân Trạch, 2005)

Đặc điểm về quy luật cho sữa Tất cả giống bò đều có một quy luật chung:

Bò cái sau khi đẻ thì bắt đầu cho sữa và tăng dần đến tháng thứ 2 hoặc tháng thứ

3 thì sản lượng sữa cao nhất, sau đó giảm dần đều từ tháng thứ 10 thì cạn sữa Như vâỵ, một chu kỳ vắt sữa khoảng 30 ngày (1 tháng) và thời gian cạn sữa khoảng 60 ngày (hơn 2 tháng) Sau khi đẻ được 3- 4 tháng, bò cái động dục trở lại, nếu cho phối giống kịp thời thì khoảng hơn 9 tháng sau bò lại để lứa tiếp theo khoảng cách giữa 2 lứa đẻ từ 13- 14 tháng Bò sữa có một đặc điểm đặc biệt là vừa mang thai vừa cho sữa Sản lượng sữa trong mét chu kỳ vắt sữa lại phụ thuộc vào tuổi của bò sữa - Quy luật chung là ở chu kỳ vắt sữa thứ 2 hoặc tháng thứ 3 thì sản

Trang 21

lượng sữa đạt cao nhất sau đó giảm dần Trong điều kiện sinh trưởng phát dục và nuôi dưỡng bình thường một bò cái vắt sữa từ 8- 10 năm (6- 8 chu kỳ vắt sữa)

Sản phẩm chính của bò sữa là sữa tươi Sữa tươi là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao nhưng rất dễ bị hư hỏng nếu không được bảo quản, chế biến kịp thời Trong sữa tươi có đủ các chất dinh dưỡng quan trọng đối với sự phát triển của cơ thể con người Từ sữa tươi, tuỳ theo nhu cầu tiêu dùng của các nước, các vùng khác nhau mà người ta chế biến ra nhiều loại sản phẩm khác nhau (có

có đường, sữa bánh, sữa chua, bơ, fomat tươi, fomat cứng, sữa tươi tuyệt trùng thanh trùng, cazein các chất protein trong sữa rất dễ tiêu lại có hầu hết các loại axit

lượng nh canxi, phốt pho, lưu huỳnh, sắt, cô ban Các kết quả nghiên cứu cho thấy

"trong sữa tươi có tới gần 10 chất khác nhau trong đó có đạm, mỡ, đường, vitamin, muối khoáng, men Sữa có 20 loại axit amin, 18 loại axit 11 béo, 25 loại muối khoáng, 12 loại vitamin, 10 loại men, 4 loại đường và một số nguyên tố vi lượng khác " Sữa tươi giàu chất dinh dưỡng như vậy nhưng lại rất dễ bị hư hỏng vì vậy trong chăn nuôi bò sữa vấn đề đặt ra là vắt sữa và chế biến cần phải có công nghệ phù hợp, bảo quản và vận chuyển phải được đặc biệt chú ý Kết quả thí nghiệm về bảo quản sữa cho thấy: Sữa tươi khi mới vắt sữa ra thường có độ chua khoảng 16- 170T (độ tencne) Nhưng nếu không được bảo quản thì với nhiệt độ không khí 30- 350C nó rất nhanh chóng bị chua và bị hư hỏng Độ chua của sữa sau thời gian bảo quản khác nhau, các loại vi sinh vật (vi trùng, men, mốc) có thể xâm nhập váo sữa thông qua: dụng cụ, thiết bị, thức ăn, tay chân quần áo của người vắt sữa và vú của

bò sữa Vì thế mà trong quá trình kỹ thuật vắt sữa bò bắt buộc phải đảm bảo các khâu vệ sinh cá nhân người vắt sữa, chuồng bò, vú bò trước khi vắt sữa và các dụng

cụ chứa sữa, thiết bị chế biến sữa Việc vận chuyển sữa là hết sữa quan trọng, nếu từ nơi chăn nuôi bò đến các cơ sở chế biến quá xa hoặc phương tiện, điều kiện giao thông không thuận lợi thì việc chăn nuôi bò sữa sẽ không có hiệu quả hoặc sẽ không thể phát triển được Ví dụ điều kiện khí hậu, đất đai, đồng cỏ thuận lợi nhưng xa nơi tiêu thụ cần có thị trường tiêu thụ sữa rộng lớn sát với khu vực sản xuất điều kiện phương tiện giao thông cho việc thu mua vận chuyển bảo quản sữa, cung ứng thức

ăn và chuyển giao kỹ thuật (Viện Chăn nuôi quốc gia, 2000)

Trang 22

c Thị trường

Chăn nuôi bò sữa là ngành kinh tế sản xuất hàng hoá trong sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm dùng để bán gọi là sản phẩm hàng hoá, còn việc sản xuất ra toàn bộ sản phẩm để bán ngay gọi là sản phẩm hàng hoá Sản xuất hàng hoá là một thuộc tính phổ biến của sự phát triển sản xuất nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng Sản xuất hàng hoá không phải chỉ là một hiện tượng kết hợp tạm thời bên ngoài hặc nó không chỉ là chủ nghĩa tư bản mà cần khẳng đinh dứt khoát nó là một yếu tố khách quan, nó trở thành thuộc tính bên trong, lâu dài của chính bản thân sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp theo định hướng XHCN Theo quan điểm trên thì chăn nuôi bò sữa là một ngành kinh tế sản xuất

phẩm của sữa được tiêu thụ rộng khắp trên thị trường trong và ngoài nước Đã là một ngành kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước như hiện nay thì tất yếu thị trường và giá cả có tác động trực tiếp quyết định đến ngành sản xuất này Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa rất cần có thị trường và giá cả ổn định Bởi vì sản phẩm của nó không phải là sản phẩm tự cung, tự cấp mà phải được tiêu thụ trên thị trường với giá cả đảm bảo đủ chi phí sản xuất và tái sản xuất mở rộng Bò sữa là một loại tài sản cố định có giá trị cần

có vốn đầu tư ban đầu lớn và được thu hồi trong cả một chu kỳ sản xuất dài từ 8-

10 năm Các nhà máy chế biến cũng cần phải có vốn đầu tư lớn để đầu tư xây dựng lắp đặt các thiết bị hiện đại và việc thu hồi toàn bộ số vốn đầu tư này đòi hỏi phải có một thời gian dài Do đó sản phẩm của ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa cần có thị trường tiêu thụ và giá cả ổn định (Trần Thị Toàn, 2007)

2.1.4 Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi bò sữa

Phát triển chăn nuôi bò sữa bao gồm phát triển theo chiều rộng và chiều sâu Phát triển theo chiều rộng tức là sự gia tăng về số lượng như số con, sản lượng, vốn đầu tư, tổng giá trị sản xuất hoặc tổng giá trị gia tăng hay đó là kết quả cho sự phát triển … Phát triển theo chiều sâu nghĩa là tăng chất lượng sản phẩm, hoàn thiện cơ cấu, hạ giá thành và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường đó là hoạt động cho sự phát triển Luận văn được tiếp cận theo hướng các

đoạt động cho sự phát triển chăn nuôi bò sữa, nội dung này bao gồm :

2.1.4.1 Xây dựng đề án và quy hoạch phát triển chăn nuôi bò sữa

Chăn nuôi bò sữa là một công việc khó đòi hỏi nhiều quy trình phức tạp nhất là đối với những vùng chưa từng phát triển ngành này, đây là một hướng chăn nuôi mới đối với những vùng này Vì vậy việc xây dựng một đề án cụ thể

Trang 23

về phát triển chăn nuôi bò sữa là hết sức cần thiết Qua việc xây dựng đề án sẽ giúp cho chúng ta có những bước đi đúng đắn để phát triển chăn nuôi bò sữa, tránh tình trạng phát triển một cách ồ ạt nằm ngoài tầm kiểm soát Về nội dung của đề án bao gồm: đưa ra được tình trạng hiện tại những khó khăn, thách thức ở địa phương khi phát triển chăn nuôi bò sữa; xác định được kết quả mong muốn

phải được cấp có thảm quyền phê duyệt và ra quyết Để thực hiện được đề án một trong những nội dung quan trọng đó là quy hoạch Quy hoạch phải trên cơ sở thực tế từ diện tích đất đai, số hộ có khả năng phát triển chăn nuôi, quy mô chăn nuôi của hộ, khả năng đầu tư mà xác định quy mô chăn nuôi của vùng qua từng giai đoạn (Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2000)

Việc quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa có tác động tốt tới tư tưởng yên tâm đầu tư của người chăn nuôi cũng như doanh nghiệp chế biến, mục tiêu và sự chỉ đạo của chính quyền địa phương được xác định rõ ràng Vì vậy quy hoạch phải lâu dài, ổn định, các địa phương phải xác định chăn nuôi bò sữa là mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương Tạo quỹ đất để phát triển chăn nuôi bò sữa lâu dài theo hướng đầu tư thâm canh, công nghiệp, quy

mô lớn, ngoài khu dân cư Có chính sách khuyến khích chuyển đổi, chuyển nhượng, dồn điền, đổi thửa tạo quỹ đất để giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư khả thi đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Chuyển đổi diện tích đất canh tác kém hiệu quả như các vùng trung du, đồi gò, bãi ven sông sang phát triển chăn nuôi trang trại (Tạ Văn Tường, 2011) Cần thực hiện tốt các chính sách cho từng trường hợp cụ thể như:

Ở vùng đất ít người có khả năng khai phá có thể giao đất theo khả năng người nhận để khuyến khích những người có nguồn lực (vốn, lao động, kỹ thuật ) đầu tư lập trang trại chăn nuôi bò sữa

quỹ đất cụ thể để đưa ra mức khoán hoặc cho thuê cụ thể

Đối với vùng đất có điều kiện thuận lợi nhưng quỹ đất hạn chế thì cần tổ chức đấu thầu công khai, đảm bảo dân chủ, minh bạch

Áp dụng chính sách linh hoạt trong giải phóng mặt bằng, dồn điền đổi thửa

để người dân có đất tự nguyện và chấp thuận mức đền bù theo tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp (Tạ Văn Tường, 2011)

Trang 24

Bên cạnh đó nội dung quy hoạch cũng cần có:

theo nông hộ, trang trại hay hình thức gia trại kết hợp liên kết theo chuỗi

Xác định được đối tượng phát triển chăn nuôi bò sữa phải là những người

có điều kiện về vốn, kỹ thuật…

Phải có hệ thống thu gom, bao tiêu và chế biến sản phẩm theo một chu trình khép kín vì sữa bò là một sản phẩm hết sức đặc trưng

Có những chính sách nào để hỗ trợ người nông dân phát triển chăn nuôi bò sữa: về khoa học kỹ thuật, về con giống, về hạ tầng cơ sở…(Tạ Văn Tường, 2011)

2.1.4.2 Tổ chức chăn nuôi bò sữa

Về mục đích đó là thực hiện quy hoạch chăn nuôi bò sữa theo hướng tập trung, quy mô lớn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thật tiến tiến vào trong sản xuất và thực hiện các liên kết trong chăn nuôi

Ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ có ngành chăn nuôi bò sữa theo hướng chuyên dụng Hệ thống chủ yếu là bãi chăn-chuồng nuôi với việc sử dụng rộng rãi đồng cỏ lâu năm, mùa hè chủ yếu dựa vào chăn thả trên đồng cỏ, còn mùa đông dùng nhiều thức ăn bổ sung tại chuồng (cỏ ủ xanh, cỏ khô, thức ăn tinh) Các nước phát triển ở châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương sản xuất tới 68% sản lượng sữa của thế giới với năng suất sữa bình quân cao hơn nhiều so với các nước đang phát

triển (Viện chăn nuôi, 1995)

Ở Việt Nam phần lớn ngành chăn nuôi bò sữa thuộc về các hộ gia đình chăn nuôi quy mô nhỏ Phương thức chăn nuôi này là nuôi nhốt tập trung, phương thức chuồng trại (farming) Thuận lợi của phương thức này là không tốn diện tích rộng, năng suất của đất nông nghiệp có thể tận dụng tối đa không có sự hao hụt do giẫm đạp và rơi vãi, phân có thể dễ dàng thu thập cho việc bón phân, việc quản lý và chăm sóc bê nghé tốt hơn và gia súc ít bị nhiễm ký sinh trùng Nhưng nó bất lợi là tốn thêm nhân công lao động để cắt cỏ, vận chuyển

Dựa trên tình hình thực tế ở Việt Nam thì hình thức chăn nuôi bò sữa thích hợp nhất đó là gia trại và có sự liên kết với các nhà thu gom để chế biến Cách liên kết tốt nhất đó là theo chiều dọc hoặc theo chuỗi giá trị (Nguyễn xuân

Trạch, 2004)

Để nâng quy mô chăn nuôi bò sữa trên hộ nhằm phát triển đàn bò sữa

Trang 25

đồng thời cũng là tăng hiệu quả chăn nuôi cho hộ nông dân rất cần sự thu hút doanh nghiệp liên quan đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, thu hút vốn để dân đầu tư và sự hỗ trợ một phần từ phía nhà nước Chọn những hộ có khả năng đầu

tư và tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật để đầu tư xây dựng trại chăn nuôi trình diễn làm hạt nhân để phát triển giống và là động lực phát triển chăn nuôi trong vùng Phát triển trang trại chăn nuôi ngoài khu dân cư, trên cơ sở những hộ có diện tích đất thầu khoán hoặc dồn điền đổi thửa có diện tích đất đủ lớn ngoài khu dân cư, có đủ điều kiện để phát triển chăn nuôi bò sữa quy mô lớn thì thu hút hộ phát triển chăn nuôi bò sữa và tạo điều kiện thuận lợi để hộ thu hút các nguồn lực từ các tổ chức, doanh nghiệp và chính sách đầu tư của nhà nước để phát triển chăn nuôi bò sữa Thu hút doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư trại chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô lớn áp dụng công nghệ cao trong chăn nuôi

Nông hộ là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong nền kinh tế thị trường nên việc hợp tác liên kết các hộ nông dân chăn nuôi bò sữa thành hội nghề nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã chăn nuôi là rất cần thiết và phù hợp với kinh tế hộ nông dân Đây là giải pháp nhằm tăng cường năng lực tổ chức sản xuất, khả năng thích ứng với các biến động từ thị trường và sự liên kết trong sản xuất kinh doanh của những hộ nông dân Đồng thời loại hình sản xuất này sẽ góp phần củng cố và thúc đẩy phát triển chăn nuôi bò sữa theo hướng trang trại, bền vững, có hiệu quả Mặt khác, các doanh nghiệp cũng không thể trực tiếp giao dịch làm việc trực tiếp được với tất cả các hộ nông dân một cách tốt nhất mà phải thông qua người đại diện của nông dân mới làm việc có hiệu quả được, đồng thời người nông dân cũng không có đủ sức mạnh để làm việc bình đẳng được với các doanh nghiệp nên phải thông qua đại diện của mình, đó là một thực tế không thể phủ nhận được Do vậy cần khuyến khích thành lập các hiệp hội chăn nuôi trang trại, hợp

chức này tiếp cận thuận lợi các nguồn vốn trong và ngoài nước để các tổ chức thực sự phát huy được vai trò đối với các thành viên của tổ chức Củng cố phát triển các hình thức liên kết chăn nuôi giữa các doanh nghiệp và trang trại, hộ chăn nuôi Khuyến khích hình thức chăn nuôi gia công giữa các chủ trang trại và các doanh nghiệp chăn nuôi, sản xuất thức ăn, chế biến sữa Tăng cường liên kết nhằm đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò sữa hiệu quả, tạo sự phát triển ổn định và bền vững Gắn kết phối hợp cùng với doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu, đào tạo

Trang 26

nghề và tiêu thụ sữa (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

2.1.4.3 Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò sữa

Những việc làm hướng tới hiệu quả nhằm mưu sinh cho con người, để kiếm sống chúng ta đều gọi đó là một nghề nghiệp, đã là nghề thì phải học nghề mới có thể làm nên nghề phục vụ mưu sinh, chăn nuôi bò sữa hoàn toàn gọi là một nghề thậm chí là một nghề đòi hỏi có trình độ cao về nhận thức và là một nghề có khả năng áp dụng khoa học công nghệ cao, khả năng áp dụng cơ giới hóa, công nghiệp hiện đại Chăn nuôi bò sữa cũng đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về con giống, chuồng trại, đồng cỏ, thiết bị và thức ăn chăn nuôi có chất lượng cao Vì vậy, để nâng cao hiệu quả chăn nuôi rất cần đầu tư cho công tác chuyển giáo tiến bộ khoa học kỹ thuật cho các nông hộ đồng thời để thay đổi thói quen tập quán cố hữu của nông

nuôi điển hình để chuyển giao kỹ thuật, xây dựng những hộ này trở thành cơ sở đào tạo cho nông dân trong vùng Cần có chính sách hỗ trợ đào tạo, các khoá tập huấn chuyên đề cho các chủ hộ về kỹ thuật cũng như nghiệp vụ quản lý trang trại; đồng thời các chủ trang trại lớn cần có biện pháp thu hút công nhân có trình

độ chuyên môn về làm việc lâu dài và ổn định cho các trang trại của mình (Viện

chăn nuôi, 1995)

Chuyển giao kỹ thuật về chuồng trại, hệ thống chống nóng, sử dụng thiết bị công nghiệp trong chăn nuôi, khai thác bảo quản sữa Thường xuyên chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, hiện đại phù hợp với điều kiện của từng vùng Đối với những lĩnh vực mới, nhà nước cần có sự đầu tư hỗ trợ để các hộ chăn nuôi, trang trại học tập theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm

Đưa những giống cỏ mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất như cỏ

biến cỏ nhằm thay đổi tập quán chăn nuôi Khuyến khích và có chính sách hỗ trợ cho người dân trong công tác áp dụng, sử dụng những phương pháp chế biến dự trữ thức ăn thô xanh như ủ chua, ủ rơm Ure, máy ép rơm, công nghệ chế biến thức ăn tổng hợp TMR (Total Mixed Ration) Các hộ hình thành những bộ phận chuyên

gian trong chăn nuôi bò sữa (bộ phận này có trách nhiệm chế biến thức ăn sau đó cung cấp cho các hộ trong vùng, tổ chức liên kết như vậy mới có sự đầu tư thiết bị,

Trang 27

Đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật tại cơ sở Xây dựng cơ chế điều hành và hoạt động của hệ thống cán bộ kỹ thuật tại cơ sở đảm bảo hoạt động

có hiệu quả

Hướng dẫn, khuyến cáo các hộ nông dân, trang trại sử dụng con giống có năng suất và chất lượng tốt hiện có ở trong nước, đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ trang trại nhập khẩu nguồn gen, giống bò sữa có năng suất và chất lượng cao hơn Cần có sự đầu tư trong công tác quản lý giống

không để xảy ra tình trạng đồng huyết, cận huyết (Nguyễn Xuân Trạch, 2005) Chăn nuôi bò sữa đòi hỏi phải có sự đầu tư thích hợp về chuồng trại và thiết

bị chăn nuôi Để khai thác tiềm năng con giống, người chăn nuôi cần xem xét đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của các mẫu chuồng trại, thiết bị chăn nuôi

đã và đang sử dụng để có hướng cải tiến và khắc phục, áp dụng những tiến bộ mới về chuồng trại, máng ăn, máng uống phù hợp với yêu cầu trong chăn nuôi bò sữa và phù hợp với đặc điểm khí hậu của từng vùng Áp dụng kỹ thuật chống nóng cho bò và hệ thống máng uống tự động Chuồng trại đảm bảo nguyên tắc

”ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè”, cũng như đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm (Nguyễn Xuân Trạch, 2003)

Ngoài ra khuyến khích các tổ chức, các nhân nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao giá trị và hiệu quả kinh tế Tăng cường công tác truyền thông về khoa học công nghệ trong chăn nuôi Xây dựng mô hình chăn nuôi, sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm ứng dụng khoa học công nghệ mới

Nguy cơ lớn nhất đe dọa tới sự thành bại trong chăn nuôi và năng xuất chất lượng sản phẩm chăn nuôi là vấn đề dịch bệnh, do vậy phải chuẩn bị tốt công tác thú y để bảo vệ thành quả chăn nuôi đặc biệt khi chăn nuôi phát triển theo vùng, mật độ chăn nuôi lớn

Tuyên truyền các hộ chăn nuôi bò sữa trong vùng quy hoạch làm tốt công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh thú y Chủ động công tác phòng chống dịch bệnh, tuân thủ nghiêm công tác tiêm phòng cho đàn bò sữa

Khuyến khích các hộ, trang trại chăn nuôi bò sữa ký hợp đồng dịch vụ với cán bộ kỹ thuật đảm bảo định kỳ được vệ sinh môi trường, tư vấn thú y phòng bệnh Khuyến cáo hộ nông dân sử dụng triệt để nguồn thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp

Trang 28

như rơm, thân, lá, bẹ ngô, lá sắn làm thức ăn ủ chua cho bò Khai thác nguồn thức

ăn từ phụ phẩm công nghiệp như bã bia, bã rượu, rỉ mật nhằm hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi Sử dụng các loại thức ăn công nghiệp chất lượng cao trong chăn nuôi để giảm thời gian nuôi, tăng trọng nhanh, giảm giá thành, tăng hiệu quả kinh tế Khuyến khích các địa phương dành đất cho trồng cỏ chăn nuôi bò đặc biệt là khu vực đất dốc không bằng phẳng tại các bãi ven sông, khu vực đồi gò (Nguyễn Xuân Trạch, 2003)

Có sự hỗ trợ của Nhà nước trong công tác vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh tầm vĩ mô, toàn vùng quy hoạch Ngân sách của nhà nước hỗ trợ các loại vacxin tiêm phòng như: Lở mồm long móng, tụ huyết trùng, phòng viêm vú, chống sót nhau, phòng bại liệt

Thực hiện tốt việc phòng dịch và đảm bảo vệ sinh môi trường; Tiến tới xây dựng vùng chăn nuôi, cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh

Các cơ sở chăn nuôi phải thực hiện nghiêm chỉnh luật bảo vệ môi trường, pháp lệnh thú y và pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm

Xây dựng các trại chăn nuôi theo tiêu chuẩn VIETGAHP (Vietnamese Good Agricultural Practices)

Hệ thống thú y giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, xử lý kịp thời không

để lây lan dịch bệnh Các biện pháp phòng trừ khi có dịch gây thiệt hại lớn đến chăn nuôi và ảnh hưởng đến đời sống nhân dân

Tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống Thú y, đặc biệt là vai trò của Ban chăn nuôi thú y cơ sở, quan tâm đến chế độ sinh hoạt phí của Trưởng ban và thú y các thôn, cụm dân cư

nuôi bò sữa Muốn có sản phẩm sạch thì trước hết phải có môi trường chăn nuôi

sạch và sản xuất sạch (Viện Chăn nuôi, 1995)

Hiện nay, các nông hộ chăn nuôi chủ yếu theo hình thức chăn nuôi nông hộ, nhỏ lẻ nên chất thải thường không được thu gom và xử lý đúng quy định Hầu như

chăn nuôi thường thải trực tiếp ra ngoài môi trường Hiệu quả sử dụng sản phẩm từ hầm Biogas ở hộ gia đình vẫn chưa thật sự hiệu quả, chủ yếu các nông hộ chỉ sử dụng khí gas vào hoạt động nấu nướng Lượng khí dư còn lại sẽ bị thải trực tiếp ra

Trang 29

không được xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sống của con người và môi trường chăn nuôi, gây dịch bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe con người và năng xuất vật nuôi, vệ sinh an toàn thực phẩm Với chăn nuôi bò sữa thì môi trường chăn nuôi còn quan trọng hơn

vì nó còn ảnh hưởng tới chất lượng sữa Do vậy muốn phát triển chăn nuôi không thể không đầu tư xử lý môi trường chăn nuôi Đưa các biện pháp xử lý môi trường chất thải trong chuồng nuôi và thu gom nước thải của các hộ để xử lý trước khi thải

ra môi trường Xử lý môi trường chăn nuôi cần đầu tư đồng bộ các công trình xử lý, đảm bảo xử lý nước thải, chất thải và khí thải (Thịnh Vinh, 2015)

2.1.4.4 Tổ chức tiêu thụ sản phẩm

Chăn nuôi bò sữa là ngành hết sức đặc trưng bên cạnh đó sữa là một sản phẩm cần phải được bảo quản tốt ngay sau khi được vắt ra cho tới lúc được chế biến thành thành phẩm Cách thức tổ chức tiêu thụ sản phẩm gồm có:

Về thu gom, bảo quản, vận chuyển và các yêu cầu: Chăn nuôi bò sữa cần phải ở gần trạm thu gom với đầy đủ các thiết bị bảo quản và kiểm tra chất lượng sữa, vì sữa ở môi trường bình thường nếu sau 2 giờ không được bảo quản ở nhiệt

dựng trạm dịch vụ kỹ thuật phát triển chăn nuôi trong vùng, là đầu mối tổ chức việc thu gom bảo quản sữa và dịch vụ kỹ thuật Trạm hoạt động xâu chuỗi với cán bộ kỹ thuật tại cơ sở, liên kết với các hộ chăn nuôi để tổ chức điểm thu gom sữa tại các khu vực đảm bảo thuận lợi cho hộ chăn nuôi nhập sữa Tại những khu vực có nhiều hộ chăn nuôi, lựa chọn hộ chăn nuôi để để tổ chức thu gom sữa theo hình thức liên kết hộ chăn nuôi với trạm dịch vụ kỹ thuật hoặc doanh nghiệp, hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã chăn nuôi (Đinh Văn Cải và cs., 1995)

Tổ chức các công ty thu mua sữa hoặc cung cấp dịch vụ đầu vào thông qua hợp đồng với hộ chăn nuôi, tổ hợp tác, hợp tác xã chăn nuôi và trạm dịch vụ kỹ thuật Việc thu gom sữa hiện nay còn gặp phải một số khó khăn như sau: Khâu thu mua rất quan trọng đối với chất lượng sản phẩm vì phải bảo quản sữa Sữa bò có hàm lượng dinh dưỡng cao, dễ bị vi khuẩn phân hủy Sữa được vắt từ bò mẹ với nhiệt độ trên 300C, nếu không bảo quản kịp thời, để quá 4h sữa bò sẽ lên men, không thể đưa vào chế biến các sản phẩm chất lượng cao Trong vòng 1h đầu phải

Các trang thiết bị của những cơ sở thu gom sữa còn lạc hậu, manh mún, tự

Trang 30

nhiều về công nghệ bảo quan nên đã làm giảm chất lượng sữa Việc thu mua sữa hiện nay còn qua quá nhiều người thu gom trung gian nên giá sữa người dân bán được thì thấp trong khi giá sữa đến nhà máy lại cao, người tiêu dùng là những người phải gánh chịu những thiệt thòi đó qua giá sử dụng sữa Như vậy việc tổ chức thu gom và bảo quản sữa là một việc làm cực kỳ cần thiết và quan trọng

Do đó, việc xây dựng trạm dịch vụ kỹ thuật phát triển chăn nuôi trong vùng làm đầu mối tổ chức việc thu gom bảo quản sữa và dịch vụ kỹ thuật Trạm hoạt động xâu chuỗi với cán bộ kỹ thuật tại cơ sở, liên kết với các hộ chăn nuôi để tổ chức điểm thu gom sữa tại các khu vực đảm bảo thuận lợi cho hộ chăn nuôi nhập sữa (Đinh Văn Cải và cs., 1995)

Ngoài ra, tại những khu vực có nhiều hộ chăn nuôi, lựa chọn hộ chăn nuôi

để để tổ chức thu gom sữa theo hình thức liên kết hộ chăn nuôi với trạm dịch vụ kỹ thuật hoặc doanh nghiệp, hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã chăn nuôi Tổ chức các công ty thu mua sữa hoặc cung cấp dịch vụ đầu vào thông qua hợp đồng với hộ chăn nuôi,

tổ hợp tác, hợp tác xã chăn nuôi và trạm dịch vụ kỹ thuật Những việc làm đó vừa đảm bảo chất lượng sữa vừa đảm bảo quyền lợi cho người bán sữa được giá cao và người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm sữa tốt mà giá thành lại hợp lý (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

Về tiêu thụ sản phẩm: Nền kinh tế thị trường sản xuất phải song hành với tiêu thụ được sản phẩm, sản phẩm phải có uy tín, được người tiêu dùng chấp thuận Để có được điều đó thì phải làm tốt công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm Để phát triển chăn nuôi theo vùng, xây dựng uy tín

và hình ảnh sản phẩm nhất là sản phẩm nông nghiệp cần xây dựng chỉ dẫn địa lý của vùng Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số các chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hóa học, vi sinh và các chỉ tiêu đó được kiểm tra bằng các phương tiện kỹ thuật hoặc các chuyên gia với các phương pháp kiểm tra phù hợp Khi có chỉ dẫn địa lý, thương hiệu được khẳng định và gắn liền với địa phương đó Do đó việc xây dựng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm sữa tại Duy Tiên là một việc làm cần thiết Hiện nay, việc xây dựng chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm chăn nuôi chưa được thực hiện nhiều, cũng có nhiều nguyên nhân do các giống vật nuôi bị pha tạp nên việc xác định nguồn gốc giống là khó khăn; các giống vật nuôi có thể thay đổi để thích nghi với điều kiện sống mới nhanh chóng và dễ dàng hơn; ngoài ra còn các chỉ tiêu

Trang 31

khác như định tính và định lượng thì cần nhiều thời gian để phân tích và đánh giá So với các sản phẩm từ ngành chăn nuôi, rất nhiều chỉ dẫn địa lý với các

loại nông sản đã được đăng ký như: Chỉ dẫn địa lý “Vinh” Có ba giống cam quả

ở tỉnh Nghệ An được mang chỉ dẫn địa lý “Vinh” Đó là cam Xã Đoài, cam Vân

huyện Nghi Lộc), Hưng Trung (thuộc huyện Hưng Nguyên), Nghĩa Bình, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Hồng, Nghĩa Lâm, Nghĩa Sơn (thuộc huyện Nghĩa Đàn), Minh Hợp (thuộc huyện Quỳ Hợp) và Tân An, Tân Long, Tân Phú (thuộc huyện Tân Kỳ); Chỉ dẫn địa lý “Văn Yên” cho sản phẩm quế; chỉ dẫn địa lý “Mộc Châu” cho chè Shan tuyết; “Bắc Kạn” cho hồng không hạt; “Hòa Lộc” cho sản phẩm xoài

2.1.4.5 Đánh giá kết quả và hiệu quả chăn nuôi bò sữa

hiện qua các chỉ số : Sự gia tăng về lượng như số bò sữa, số hộ chăn nuôi, sản lượng sữa, giá trị sản xuất, tổng vốn đầu tư cho chăn nuôi bò sữa, số lao động có việc làm, các yếu tố đầu vào của quá trình phát triển chăn nuôi bò sữa, chi phí cho chăn nuôi bò sữa qua các năm (Đinh Văn Cải và cs., 1995)

Về cơ cấu trong chăn nuôi bò sữa: Trang trại như thế nào là hợp lý, thức săn trong chăn nuôi bò sữa, con giống , các kỹ thuật trong chăn nuôi bò sữa

Về chất lượng sữa: Theo quy định về chất lượng sữa của nhà máy sữa, sữa đạt tiêu chuẩn phải đáp ứng đủ các điều kiện như về cảm quan, đảm bảo chất khô, chất béo, độ tươi, độ axit, chỉ tiêu visinh, có còn tồn dư thuốc trừ sâu, thuốc

Đánh giá hiệu quả chăn nuôi bò sữa nghĩa là tính toán và so sánh các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò sữa giữa các giống, mức đầu tư, quy mô chăn nuôi Ngoài ra còn đánh giá sự đóng góp của chăn nuôi bò sữa cho xã hội, cộng đồng và môi trường

Hiệu quả kinh tế là kết quả quan trọng đánh giá tính bền vững của loại hình sản xuất kinh doanh Trong chăn nuôi bò sữa cũng vậy, ngành chăn nuôi này đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, từ tan vỡ đến duy trì và phát triển Hiệu quả

Trang 32

kinh tế được thể hiện ở việc mức sử dụng tài chính hiệu quả một đồng vốn bỏ ra

so với chi phí về lao động, thức ăn, thú y…(Viện chăn nuôi quốc gia, 1999)

Bên cạnh hiệu quả kinh tế thì hiệu quả xã hội từ việc phát triển chăn nuôi

bò sữa cũng hết sức quan trọng, đó là: Tạo ra công ăn việc làm cho người dân địa phương, thúc đẩy thương mại dịch vụ phát triển, tăng thu nhập cho người nông dân giúp xóa đói giảm nghèo, cảnh quan nông thôn từng bước thay đổi

Một vấn đề đặt ra trong chăn nuôi bò sữa đó là mâu thuẫn càng phát triển chăn nuôi bò sữa thì nguy cơ ô nhiêm môi trường càng cao do vậy cần có các biện pháp để bảo vệ môi trường (Viện chăn nuôi quốc gia, 1999)

Qua kết quả và hiệu quả thực tế có được giúp cho cho người chăn nuôi đưa

ra các giải pháp phát triển trong tương lai Giúp họ đưa ra các giải pháp bền vững, mang lại hiệu quả tốt nhất

Để phát triển được hộ chăn nuôi bò sữa rất cần sự xúc tiến đầu tư tới các

hộ có đủ điều kiện thông qua hội nghị hội thảo, thăm quan giới thiệu, đào tạo tập huấn để hộ tự quyết định đi tới chăn nuôi bò sữa(Nguyễn Xuân Trạch, 2004) Giúp nông dân tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức, hỗ trợ từ chính sách, đầu tư trang thiết bị công nghiệp phục vụ chăn nuôi và xử lý môi trường

Để nâng quy mô chăn nuôi bò sữa/hộ, nhằm phát triển đàn bò sữa, tăng hiệu quả chăn nuôi cho hộ nông dân, rất cần sự thu hút doanh nghiệp liên quan đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, thu hút vốn để dân đầu tư và sự hỗ trợ một phần từ phía nhà nước (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

Chọn những hộ có khả năng đầu tư và tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật để đầu tư xây dựng trại chăn nuôi trình diễn làm hạt nhân để phát triển giống và là động lực để phát triển chăn nuôi trong vùng

Phát triển trang trại chăn nuôi ngoài khu dân cư, trên cơ sở những hộ có diện tích đất thầu khoán hoặc dồn điền đổi thửa có diện tích đất đủ lớn ngoài khu dân cư, có đủ điều kiện để phát triển chăn nuôi bò sữa quy mô lớn Cần có chính sách ưu đãi đầu tư đối với các tổ chức, cá nhân tại các vùng quy hoạch chăn nuôi

bò sữa nhằm tăng quy mô và hộ chăn (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

Nghiên cứu tình hình phát triển về đàn bò sữa về số lượng và chất lượng,

số lượng đàn bò là yếu tố đánh giá sự phát triển lớn nhỏ của, tăng giảm trong chăn nuôi

Trang 33

Quy mô đàn bò sữa đánh giá bước phát triển nhanh chậm, bởi lẽ khi quy

mô đàn bò sữa tăng chỉ ra một thực tế rằng giá trị kinh tế nói cụ thể là lợi nhuân được đẩy lên cao thì người chăn nuôi sản xuất mới sẵn sàng tăng quy mô để đẩy mạnh sản lượng sữa Ngược lại nếu số lượng đàn bò có dấu hiệu giảm chỉ ra rằng người chăn nuôi sản xuất không muốn phát triển đàn bò mà thậm trí chuyển đổi sang hướng chăn nuôi khác

Sự khác biệt về quy mô, số lượng đàn bò là yếu tố chỉ ra sự phát triển, sự tiến bộ của chăn nuôi bò sữa

Số lượng và chất lượng đàn bò sữa tăng lên do quá trình chọn lọc đàn tốt, những bò không đủ chất lượng được loại thải, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng

và chế độ dinh dưỡng được cải thiện, sản lượng sữa trên chu kỳ tăng lên Qua đây cũng chỉ ra các thời kỳ, giai đoạn phát triển tốt nhất của đàn bò sữa Người chăn nuôi có thể tăng hoặc giảm chu kỳ vắt sữa căn cứ vào lượng sữa

họ khai thác được (Nguyễn Xuân Trạch và Đinh Văn Cải, 2007)

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi bò sữa

2.1.5.1 Thị trường và tiêu thụ sản phẩm

Ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò sữa thông qua nguồn cung cấp đầu

chăn nuôi bò sữa (Tạ Văn Tường, 2011)

Thị trường là một trong các mắt xích quan trọng quyết đính ản xuất chăn nuôi

bò sữa, sự ổn định của thị trường sữa bò là động lực giúp cho chăn nuôi bò sữa phát triển Chỉ tiêu quan trọng nhất để xem xét đánh giá là nhu cầu của sữa bò trên thị trường, nhà chăn nuôi cần nắm vững các quy luật về cung cầu của sữa bò và các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến cầu sữa bò và độ co giãn của cầu sữa bò (Tạ Văn Tường, 2011)

2.1.5.2 Năng lực của người chăn nuôi bò sữa

Chăn nuôi bò sữa là một ngành chăn nuôi đặc thù, ngoài yêu cầu người chăn nuôi có kỹ thuật chăn nuôi cao; diện tích đất rộng mà còn cần phải có nguồn vốn đầu tư vào chăn nuôi lớn

Trang 34

Khác với những ngành chăn nuôi khác, các nông hộ muốn chăn nuôi bò sữa đều phải trải qua các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi bò sữa, đồng thời hàng năm đều phải cập nhật các tiến bộ khoa học kỹ thuật để áp dụng vào chăn nuôi bò sữa Bởi chăn nuôi bò sữa đòi hỏi người chăn nuôi phải có trình độ ngay từ khâu chăm sóc cho đến khâu vắt sữa; bảo quản và vận chuyển sữa đến nơi thu mua cũng đòi hỏi phải làm theo một quy trình kỹ thuật nếu không sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sữa (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

Chăn nuôi bò sữa đòi hỏi có diện tích đất rộng để trồng các loại cỏ nhằm phục vụ cho nhu cầu thức ăn thô xanh của bò sữa Một ngày, một con bò sữa phải sử dụng 30 - 40kg cỏ tươi, ngoài ra còn cỏ khô hoặc cỏ đã qua xử lý chế biến Như vậy, số lượng cỏ cần dùng là rất nhiều Tuy nhiên, hiện nay các giống

cỏ năng suất cao đã được nhập vào Việt Nam như cỏ Mulato; VA 06, cỏ hỗn hợp Úc…đặc điểm của các giống cỏ này có năng suất cao Điều này giải thích tại sao

mà trong khi diện tích đất ngày càng bị thu hẹp hoặc giữ nguyên nhưng tổng đàn

bò sữa ngày càng tăng

Chăn nuôi bò sữa đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn như con giống, xây dựng chuồng trại, trang thiết bị và dụng cụ Bên cạnh đó chi phí hàng ngày cho chăn nuôi bò sữa cũng lớn do vậy chỉ những hộ có điều kiện kinh tế thì chăn nuôi bò sữa mới đảm bảo bền vững (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

2.1 5.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

Quy hoạch vùng phát triển chăn nuôi bò sữa phải xác định và gắn liền với điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, phong tục tập quán, cơ sở hạ tầng, thị trường thì vùng chăn nuôi bò sữa mới bền vững và hiệu quả Trong đó điều kiện khí hậu là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến việc phát triển chăn nuôi bò sữa tập trung Các yếu tố thời tiết khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến trao đổi nhiệt của cơ thể do vậy mà ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn, đến sức khỏe sinh sản của bò Việt Nam

có khí hậu nóng ẩm nên ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm đến năng suất sữa của bò

là rất cao Các yếu tố thời tiết khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến trao đổi nhiệt của cơ thể và do vậy mà ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn, đến sức khoẻ và sản xuất của bò Các yếu tố đó bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, gió, bức xạ, thời gian chiếu sáng và lượng mưa Trong các yếu tố này nhiệt độ và ẩm độ là những yếu tố quan trọng nhất Bò sữa là động vật máu nóng, vì vậy chúng phải cố gắng duy trì nhiệt độ

cơ thể ổn định mặc dù nhiệt độ môi trường luôn thay đổi Muốn vậy, bò phải giữ được sự cân bằng giữa nhiệt sinh ra trong cơ thể và nhiệt thải ra khỏi cơ thể Thân

Trang 35

nhiệt bình thường ở bò sữa trưởng thành ổn định trong khoảng 38,5 - 39OC Nhiệt độ, độ ẩm còn ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất sữa, hệ số sụt sữa và các hoạt động sinh sản của con cái Do tầm quan trọng đặc biệt của nhiệt độ và ẩm độ đối với khả năng thích nghi của bò đối với các vùng khí hậu khác nhau, nên người ta đã xây dựng chỉ số nhiệt - ẩm (THI:Temperature Humidity Index) liên quan đến stress nhiệt của bò (bảng 2.1) Bò HF sẽ không bị stress nhiệt nếu THI <72, bị stress nhẹ khi

khảo khi quyết định chăn nuôi bò sữa nguồn gốc ôn đới trong một vùng nhiệt đới nào đó Đồng thời chỉ số này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc điều hành chăm sóc nuôi dưỡng bò hàng ngày vì nó có thể cho ta dự đoán được vào một giai đoạn

nào đó bò có thể bị stress hay không căn cứ vào nhiệt độ và ẩm độ môi trường lúc

đó Chỉ số THI này cũng phản ánh được rõ ràng rằng trong điều kiện ẩm độ càng cao thì bò đòi hỏi phải được sống trong điều kiện nhiệt độ càng thấp để không bị stress nhiệt Đây là một khó khăn lớn cho phần lớn các vùng sinh thái ở Việt Nam (Nguyễn Xuân Trạch, 2003)

Hình 2.1 Bảng chỉ số nhiệt ẩm (THI: Temperature Humidity Index) dùng

để dự đoán stress nhiệt ở bò sữa

Nguồn: Nguyễn Xuân Trạch (2003)

Trang 36

2.1.5.4 Về vai trò của các cơ quan quản ngành

Các cơ quan quản lý ngành có vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển chăn nuôi bò sữa tại cấp huyện Các cơ quan này bao gồm có trạm khuyến nông; trạm thú y; Trung tâm bò sữa tỉnh; các phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, kinh tế hạ tầng, tài nguyên môi trường, đài truyền hình và UBND các xã chăn nuôi bò sữa (Tạ Văn Tường, 2011)

2.1.5.5 Sự liên kết hợp tác trong chăn nuôi bò sữa

Sự liên kết hợp tác sẽ tạo cho người dân có tổ chức hơn, thêm gắn bó với nghề chăn nuôi bò sữa Các chi hội hoạt động tích cực hiệu quả, là nơi trao đổi kinh nghiệm chăn nuôi, là tiếng nói chung được các cấp chính quyền chú ý quan tâm giải quyết, là đầu mối để liên hệ của người chăn nuôi bò sữa

Sự liên kết hợp tác nhằm bảo vệ hài hòa lợi ích của các bên tham gia, tạo sự phát triển ổn định bền vững, bên cạnh đó liên kết hợp tác còn tạo cho các hộ chăn nuôi bò sữa giảm được một số chi phí không cần thiết, tăng hiệu quả kinh tế, mặt khác sự liên cũng làm tăng sức mạnh và sự ảnh hưởng của các bên tới cộng đồng

xã hội (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

2.1.5.6 Các chính sách hỗ trợ của nhà nước

Chính sách sẽ giúp cho các cơ quan chuyên môn, cơ quản quản lý, các doanh nghiệp và người dân tháo gỡ được khó khăn hoặc là tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội

Chính sách phù hợp thực tiễn, có tính kịp thời sẽ có sức lan tỏa rộng, khuyến khích được phong trào và tạo thêm nhiều việc làm, giải quyết nhiều bức xúc trong xã hội (Thịnh Vinh, 2015)

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa trên thế giới

Chăn nuôi bò sữa là một phần của nông nghiệp từ lâu đời Trong lịch

sử nó đã được một phần nhỏ trong các trang trại Chăn nuôi bò sữa quy mô lớn chỉ khả thi khi mà một trong hai một lượng lớn sữa là cần thiết cho sản xuất các sản phẩm sữa lâu bền hơn như pho mát, bơ, hoặc có một thị trường đáng kể của những người có đủ tiền để mua sữa Chăn nuôi bò sữa tập trung chủ yếu phát triển xung quanh làng mạc và thành phố, nơi mà người dân không thể có con bò của mình do thiếu đất chăn thả gia súc

Trang 37

Theo Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam - Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (2010): Canada là một quốc gia phía Bắc châu Mỹ, có điều kiện khí hậu ôn đới có nền nông nghiệp hiện đại và ngành chăn nuôi phát triển Một lợi thế cơ bản trong nông nghiệp của Vương quốc này là tiềm năng về đất tự nhiên rộng, diện tích trang trại bình quân của Canada là 247 ha Trong các giống vật nuôi thì chăn nuôi bò sữa là một lợi thế của Canada vì giống bò sữa Canada nổi tiếng trên thế giới Giống bò sữa Holstein Friesian (HF) được nhập vào Canada trong thời gian từ năm 1865 đến 1905, nhưng chủ yếu nhập tập trung trong thập

kỷ của những năm từ 1880-1990 với tổng số bò sữa 7.757 con Số trang trại chăn nuôi bò sữa phát triển nhanh, đỉnh cao là năm 1961, Cannada có 309.000 trại Nhưng đến năm 1971 số lượng trại chăn nuôi bò sữa Canada giảm còn 145.000 hộ và năm 2011 khoảng 15.500 hộ Kinh nghiệm cho thấy từ năm 1961 đến nay cứ 10 năm số hộ chăn nuôi bò sữa của Canada giảm 50%

Các nước có nhiều trang trại bò sữa nhất là Ấn Độ, Pakistan, Ethiopia, Ucraina, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Nga, Uzbekistan, Braxin, Iran và Romania Ở những nước này mỗi nước có từ 1 đến 2,5 triệu trang trại bò sữa Ở Mỹ và EU -

15 tương ứng có 78.300 và 533.851 trang trại bò sữa So với EU - 15 và Mỹ, quy

mô trang trại ở các nước trên là rất nhỏ Nhìn vào số lượng trang trại thấy có hai khuynh hướng Ở những nước chăn nuôi bò sữa phát triển như Mỹ, Braxin,

sữa giảm từ 2-10% (tống Xuân Chinh, 2014)

Ở các nước đang phát triển lại có xu thế ngược lại, hàng năm, tốc độ tăng số lượng trang trại bò sữa từ 0,5-10% Cũng tương tự như xu thế về số lượng trang trại, rõ ràng đang có 2 xu thế về cơ cấu Ở các nước phát triển, vì mở rộng kinh doanh chi phí lớn nên các trang trại quy mô nhỏ đang mất dần thị phần Ở các nước đang phát triển, trái lại, trang trại bò sữa quy mô nhỏ thống trị sản xuất sữa nên họ đang duy trì và tăng thị phần (Tống Xuân Chinh, 2014)

Dựa vào phân tích số lượng và cơ cấu tổ chức trang trại bò sữa Mạng lưới

so sánh trang trại thế giới đã đưa ra luận thuyết về mô hình phát triển với hai điểm mấu chốt Khi trang trại bò sữa đạt mức tối đa thì sẽ xảy ra bước ngoặt Trước khi xảy ra bước ngoặt đó, việc gia tăng sản lượng sữa đều do tăng số lượng trang trại và thông thường là quy mô nhỏ (Ví dụ: Ấn Độ, Ai Cập ) Khi quy mô trang trại tăng với tốc độ nhanh thì đó là lúc sản xuất sữa cất cánh theo hướng mới Thời điểm này báo hiệu sự khởi đầu của một quá trình thay đổi to lớn về cấu trúc của ngành sản xuất sữa ở một chừng mực nào đó, chúng ta thấy

Trang 38

những nước như Mỹ và Đức đang bước qua thời điểm này Thông qua đầu tư vào các trang trại sản xuất sữa quy mô lớn có thể là cách đi tắt và sẽ đáp ứng nhu cầu đất nước về sữa, nhưng không nhất thiết tất cả các nước đều phải đi theo khuôn mẫu này (Tống Xuân Chinh, 2014)

sản lượng sữa của khu vực châu Á Thái Bình Dương tăng trưởng gần 4,5%/năm, trong khi năm 2013 tăng trưởng của toàn cầu chỉ đạt 1,5% Sản lượng sữa Khu vực châu Á Thái Bình Dương đạt 290 triệu tấn tương đương 38% sản lượng sữa toàn cầu Gần đây, Ấn Độ trở thành nước sản xuất sữa lớn nhất thế giới với 146,31 triệu tấn trong niên vụ 2014-2015 Trong thập kỷ tới, sản lượng sữa toàn cầu ước tính tăng thêm 120 triệu tấn và 3/4 lượng sữa này được sản xuất tại khu vực châu Á Thái Bình Dương và 73% trong đó được sản xuất từ các nước đang phát triển, đặc biệt là Ấn Độ và Pakistan Lý đo chính do Khu vực này có các chương trình quan trọng để hỗ trợ cho phát triển sản xuất sữa Trung Quốc là quốc gia sản xuất sữa lớn thứ ba trên thế giới và sản lượng sữa ở nước này ước tính sẽ gấp 3 lần vào 2030 (Tống Xuân Chinh, 2014)

Hệ thống chăn nuôi ở Khu vực Châu Á Thái Bình Dương thường kết hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt Thông thường mỗi trang trại chỉ có rất ít gia súc, họ sản xuất chưa đến 80% thực phẩm tiêu dùng tại Châu Á Thực tế là, CAFOs

tập trung) hoặc trang trại nhà máy cho chăn nuôi bò sữa đang được chuyển dịch

chăn nuôi bò trong nước thường làm việc với nhau như là đối tác của các chính phủ Tuy nhiên, CAFOs hướng tới chăn nuôi gia súc an toàn không ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng Thêm vào đó, các nhà sản xuất sữa quy mô lớn thường tách những nhà sản xuất quy mô nhỏ ra khỏi thị trường nên ảnh hưởng tới thu nhập của nhiều người đặc biệt là dân cư nông thôn (Tống Xuân Chinh, 2014) Một số khó khăn đối với cải thiện năng suất và hiệu quả của các cơ sở sản xuất sữa quy mô nông hộ ở khu vực này bao gồm: thức ăn, thiếu giống tốt, kỹ năng quản lý kém và khả năng tài chính Do đó, thách thức là cần kết hợp phát triển và đầu tư công nghệ; hỗ trợ đối với sản xuất sữa quy mô nông hộ thành nhà sản xuất sữa hàng hoá quy mô nhỏ

Trang 39

2.2.2 Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam

2.2.2.1 Tổng quan chung

Ngành chăn nuôi bò sữa của Việt Nam được bắt đầu từ những năm 1920, nhưng thực sự phát triển thành một nghề chính từ năm 1950 đến 1970 Năm

sữa như Vinamilk, Netsle, Hà Lan, Công ty cổ phần sữa Quốc tế IDP… đã góp phần tạo ra thị trường ổn định thúc đẩy người nông dân tham gia vào chăn nuôi bò sữa Thấy rõ được vai trò của ngành chăn nuôi bò sữa đối với nền kinh tế đất nước Chính Phủ đã ra quyết định 167/2001/QĐ/TTg về chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa trong giai đoạn 2001 - 2010 Mục tiêu chính của chủ trương này là tạo ra sự chuyển đổi cơ cấu giống vật nuôi, tăng thu nhập và tạo công ăn việc làm cho nông dân

Tổng đàn bò sữa của nước ta đã tăng từ 41 nghìn con năm 2001 lên trên 200,4 nghìn con 01/4/2014 và tổng sản lượng sữa tươi sản xuất trong nước đạt 456,39 ngàn tấn đáp ứng khoảng trên 28% tổng lượng sữa tiêu dùng hàng năm

(Cục Chăn nuôi, 2008)

Sau một số năm phát triển quá nóng, từ năm 2005 sự phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa cũng đã chững lại và bộc lộ một số khó khăn, yếu kém mới, nhất là trong vấn đề tổ chức, quản lý vĩ mô ngành hàng và tổ chức quản lý sản xuất các cơ sở chăn nuôi

Với quan điểm sản xuất giống bò sữa trong nước là chủ yếu, Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trương lai tạo và phát triển bò sữa trong nước thông qua phê duyệt chương trình và các dự án giống bò sữa 2001 - 2005 và 2006 - 2010 Tổng vốn đầu tư các dự án giống bò sữa có giá trị hàng chục tỷ đồng đã hỗ trợ nông dân tinh bò sữa cao sản, dụng cụ, vật tư và công phối giống đã tạo ra trên 75.000 bò sữa lai HF (F1, F2, F3) cho các địa phương nuôi bò sữa trên phạm vi

cả nước Ngoài ra cán bộ kỹ thuật và người chăn nuôi đã được tập huấn nâng cao trình độ quản lý giống, kỹ thuật chăn nuôi, thức ăn, thú y, vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh vắt sữa góp phần nâng cao năng suất và chất lượng đàn bò sữa(Cục Chăn nuôi, 2008)

Trong quá trình lai tạo chọn lọc và nhân giống bò sữa trong nước, đàn bò lai HF thích nghi và phát triển tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam, sinh trưởng, sinh sản và cho sữa tốt

Phát triển hiệu quả, bền vững về số lượng và chất lượng đàn bò sữa là một

Trang 40

trong những mục tiêu quan trọng trong chỉ đạo thực hiện đối với chiến lược phát triển bò sữa của nước ta giai đoạn 2001 - 2010 và chiến lược chăn nuôi giai đoạn

ở những vùng có điều kiện tự nhiên, sinh thái phù hợp với bò sữa thì tại đó chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh Chăn nuôi bò sữa tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Nghệ An, TP Hồ Chí Minh, Sơn La, Hà Nội, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Long

An, Lâm Đồng, Sóc Trăng, Tây Ninh Chi tiết được thể hiện ở bảng 2.1

B ảng 2.1 Phân bố đàn bò sữa theo vùng sinh thái

Đơn vị tính: nghìn con

Năm MNPB TD và ĐBSH Bắc TB và

DHMT

Tây Nguyên

Đông nam bộ ĐBSCL nước Cả

Nguồn: Cục chăn nuôi (2016)

nhưng tổng sản lượng sữa tươi sản xuất ra vẫn tăng trên 8,5% Từ năm 2008

Ngày đăng: 05/04/2022, 21:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Xuân Trạch (2005) Chăn nuôi bò sinh sản. NXB Nông nghiệp Hà Nội. http://www.hua.edu.vn/giaotrinh/giaotrinh_index.htm Link
7. Nguyễn Xuân Trạch (2004) Nuôi bò sữa ở nông hộ. NXB Nông nghiệp- Hà Nội. . http://www.hua.edu.vn/giaotrinh/giaotrinh_index.htm Link
8. Vũ Chí Cương và Nguyễn Xuân Trạch (đồng chủ biên) (2005). Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới. NXB Nông nghiệp- Hà Nội. . http://www.hua.edu.vn/giaotrinh/giaotrinh_index.htm Link
9. Nguyễn Xuân Trạch (2003) Khuyến nông chăn nuôi bò sữa. NXB Nông nghiệp- Hà Nội. . http://www.hua.edu.vn/giaotrinh/giaotrinh_index.htm Link
10. Nguyễn Xuân Trạch và Đinh Văn Cải (2007, 2008) Dinh dưỡng và thức ăn trong chăn nuôi bò sữa. Dự án bò sữa Việt-Bỉ.http://www.hua.edu.vn/giaotrinh/giaotrinh_index.htm Link
20. Tống Xuân Chinh (2014). Một số chính sách phát triển chăn nuôi bò suwaxowr một số nước khu vực Châu Á, Truy cập ngày 19/5/2017 tại : : http://nhachannuoi.vn/mot-chinh-sach-phat-trien-chan-nuoi-bo-sua-o-mot-nuoc-khu-vuc-chau/ Link
21. Dairy Việt Nam (2012). Dự án bò lớn nhất nước – 2 chữ, Truy cập ngày 16/5/2017 tại http://www.dairyvietnam.com/vn/Cac-tinh-phat-trien-nganh-sua/Du-an-bo-sua-lon-nhat-nuoc-chu.html Link
36. Vinamilk (2017). Sữa tươi Vinamilk thương hiệu sữa tươi đứng đầu thị trường Việt Nam, Truy cập ngày 13/5/2017 tại https://www.vinamilk.com.vn/vi/thong-cao-bao-chi/1598/sua-tuoi-vinamilk-100-thuong-hieu-sua-tuoi-dan-dau-thi-truong-viet-nam Link
2. Cục Chăn Nuôi. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2016), Báo cáo kết quả phát triển chăn nuôi bò sữa theo Quyết định số 167/2001/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ và định hướng, giải pháp phát triển chăn nuôi đến năm 2020 Khác
3. Đinh Văn Cải. Nguyễn Quốc Đạt. Bùi Thế Đức. Nguyễn Hoài Hương. Lê Hà Châu Khác
4. Nguyễn Kim Cương (2009). Bài giảng Chăn nuôi đại cương, BM Chăn nuôi chuyên khoa, Khoa chăn nuôi Khác
5. Mai Thùy Dung (2014). Phát triển chăn nuôi lợn thịt theo hướng trang trại tập trung tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, Luận văn thạc sỹ Quản lý kinh tế, Đại học nông nghiệp Hà Nội Khác
11. Trần Thị Toàn (2007). Đánh giá thực trạng Phát triển chăn nuôi bò sữa ở huyện Ba Vì – Hà Nội giai đoạn 2011-2015, Luân văn thạc sỹ nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
12. Tạ Văn Tường (2011). Nghiên cứu giải pháp phát triển chăn nuôi bò sữa theo vùng ở thành phố Hà Nội; trường hợp nghiên cứu tai huyện Ba Vì, Luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
13. Thịnh Vinh (2015). Phát triển chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế, Học viện nông nghiệp hà Nội Khác
14. Vũ Thị Thu Giang (2013). Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sữa tươi của hộ chăn nuôi bò sữa huyện Ba Vì, thành phố Hà, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường đại học nông nghiệp hà Nội Khác
15. Thủ tướng Chính phủ (2001). Quyết định 167/2001/TTg ngày 26/10/2001 về “Một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam thời kỳ 2001-2010&#34 Khác
16. Thủ tướng Chính phủ (1999). Quyết định số 225/1999/QĐ -TTg ngày 10/12/ 1999 về việc "phê duyệt Chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000 - 2005&#34 Khác
18. Thủ tướng Chính phủ (2006). Quyết định số 17/2006/QĐ -TTg ngày 20/1/2006 về việc tiếp "tục thực hiện Quyết định số 225/1999/QĐ -TTg ngày 10/12/1999 về Chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp đến năm 2010&#34 Khác
19. Trung tâm Phát triển chăn nuôi gia súc lớn Hà Nội (2016). Báo cáo tổng kết chăn nuôi bò sữa năm 2016 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

của bị (bảng 2.1). Bị HF sẽ khơng bị stress nhiệt nếu THI &lt;72, bị stress nhẹ khi - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
c ủa bị (bảng 2.1). Bị HF sẽ khơng bị stress nhiệt nếu THI &lt;72, bị stress nhẹ khi (Trang 35)
An, Lâm Đồng, Sóc Trăng, Tây Ninh.... Chi tiết được thể hiện ở bảng 2.1. - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
n Lâm Đồng, Sóc Trăng, Tây Ninh.... Chi tiết được thể hiện ở bảng 2.1 (Trang 40)
Bảng 2.2. Sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm 2002 -2015 - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
Bảng 2.2. Sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm 2002 -2015 (Trang 41)
Hình 3.1. Bản đồ hành chính huyện Duy Tiên - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
Hình 3.1. Bản đồ hành chính huyện Duy Tiên (Trang 44)
Thực trạng đất đai huyện Duy Tiên thể hiện ở bảng 3.1 - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
h ực trạng đất đai huyện Duy Tiên thể hiện ở bảng 3.1 (Trang 47)
Bảng 3.2. Dân số và cơ cấu dân số huyện Duy Tiên giai đoạn 2012-2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
Bảng 3.2. Dân số và cơ cấu dân số huyện Duy Tiên giai đoạn 2012-2016 (Trang 49)
Bảng 3.3. Cơ cấu kinh tế huyện Duy Tiên giai đoạn 2012 – 2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
Bảng 3.3. Cơ cấu kinh tế huyện Duy Tiên giai đoạn 2012 – 2016 (Trang 51)
trừ dịch bệnh, từng bước hình thành đàn giống hạt nhân để mở rộng phát triển đàn bò sữa cho những năm tiếp theo trên địa bàn huyện - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
tr ừ dịch bệnh, từng bước hình thành đàn giống hạt nhân để mở rộng phát triển đàn bò sữa cho những năm tiếp theo trên địa bàn huyện (Trang 59)
Bảng 4.2. Quy hoạch vùng ngun liệu chăn ni bị sữa - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
Bảng 4.2. Quy hoạch vùng ngun liệu chăn ni bị sữa (Trang 60)
Theo số liệu ở bảng 4.2 hiện diện tích đã quy hoạch là 25,2 ha ở xã Mộc Bắc, năm 2018 diện tích đã được mở rộng trên toàn huyện là 150 ha - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
heo số liệu ở bảng 4.2 hiện diện tích đã quy hoạch là 25,2 ha ở xã Mộc Bắc, năm 2018 diện tích đã được mở rộng trên toàn huyện là 150 ha (Trang 60)
Về kế hoạch phát triển đàn bò, số liệu bảng 4.3 cho thấy năm 2017 toàn - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
k ế hoạch phát triển đàn bò, số liệu bảng 4.3 cho thấy năm 2017 toàn (Trang 61)
Trên thực tế, theo số liệu của phịng nơng nghiệp được tổng hợp ở Bảng 4.5 - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
r ên thực tế, theo số liệu của phịng nơng nghiệp được tổng hợp ở Bảng 4.5 (Trang 62)
Bảng 4.6. Quy mơ chăn ni bị sữa ở nhóm hộ điều tra - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
Bảng 4.6. Quy mơ chăn ni bị sữa ở nhóm hộ điều tra (Trang 63)
Bảng 4.7 Số hộ ni bị sữa theo nguồn gốc ở huyện Duy Tiên - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
Bảng 4.7 Số hộ ni bị sữa theo nguồn gốc ở huyện Duy Tiên (Trang 64)
lượng lớn sữa tươi trên địa bàn. Cụ thể tình hình tiêu thụ sữa tươi trên địa - (LUẬN văn THẠC sĩ) phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện duy tiên tỉnh hà nam
l ượng lớn sữa tươi trên địa bàn. Cụ thể tình hình tiêu thụ sữa tươi trên địa (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w