Phương pháp nghiên cứu Cùng với các số liệu thứ cấp được chọn lọc, thu thập, trích dẫn từ các chủ trương chính sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Bắc Ninh, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN QUỐC HƯNG
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM BẮC NINH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số : 60 34 01 02 Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Liên
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư
phạm Bắc Ninh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS Lê Văn Liên
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2017 Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Hưng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tác giả đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp để hoàn thành chương trình cao học và luận văn thạc sỹ
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể cán bộ, giảng viên của Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập chương trình Thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh Khóa 24 tại Nhà trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Lê Văn Liên đã tận tình hướng dẫn và có những ý kiến đóng góp giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn các cơ quan, tổ chức, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn vẫn còn những điểm thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp của Quý Thầy/Cô và các anh chị học viên
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Hưng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục chữ viết tắt vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abtract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 4
2.1 Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên của các trường cao đẳng 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Vị trí, vai trò của giảng viên trong nhà trường 9
2.1.3 Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên 10
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giảng viên trường cao đẳng 20
2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển đội ngũ giảng viên của các trường cao đẳng 26
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển đội ngũ giảng viên ở một số nước trên thế giới 26
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển đội ngũ giảng viên ở Việt Nam 26
2.2.3 Bài học rút ra cho Trường CĐSP Bắc Ninh 27
Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 29
3.1 Quá trình phát triển của trường cao đẳng sư phạm Bắc Ninh 29
3.1.1 Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển của Trường 29
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của Trường CĐSP Bắc Ninh 29
3.1.3 Chức năng, nhiệm vụ và sứ mệnh của Trường CĐSP Bắc Ninh 30
Trang 53.1.4 Quy mô và lĩnh vực đào tạo 34
3.1.5 Cơ sở vật chất 36
3.2 Phương pháp nghiên cứu 37
3.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 37
3.2.2 Phương pháp phân tích 38
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 39
4.1 Thực trạng đội ngũ giảng viên trường cao đẳng sư phạm Bắc Ninh 39
4.1.1 Thực trạng số lượng đội ngũ giảng viên 39
4.1.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên 40
4.1.3 Thực trạng cơ cấu đội ngũ giảng viên 45
4.2 Thực trạng các hoạt động phát triển đội ngũ giảng viên của trường CĐSP Bắc Ninh 49
4.2.1 Phát triển về số lượng đội ngũ giảng viên của Nhà trường 49
4.2.2 Phát triển về chất lượng đội ngũ giảng viên của Nhà trường 53
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giảng viên của trường cao đẳng sư phạm Bắc Ninh 56
4.3.1 Chủ trương phát triển giáo dục và đào tạo Quốc gia 56
4.3.2 Các chính sách trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của trường 56
4.3.3 Thực hiện các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với giảng viên 56
4.4 Đánh giá thực trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên trường CĐSP Bắc Ninh 59
4.4.1 Kết quả đạt được 59
4.4.2 Những mặt còn hạn chế trong công tác phát triển ĐNGV 60
4.4.3 Nguyên nhân 61
4.5 Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên tại trường cao đẳng sư phạm Bắc Ninh tầm nhìn đến năm 2025 62
4.5.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp 62
4.5.2 Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh tầm nhìn đến năm 2025 64
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 80
5.1 Kết luận 80
5.2 Kiến nghị 81
Trang 65.2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 81
5.2.2 Đối với UBND tỉnh Bắc Ninh 82
5.2.3 Đối với Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh 82
Tài liệu tham khảo 84
Phụ lục 85
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân biệt khái niệm các thuật ngữ 17 Bảng 3.1 Thống kê ngành đào tạo đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép 34 Bảng 3.2 Thống kê số lượng HSSV từ năm học 2012 – 2013 đến hết năm học
2015 – 2016 36 Bảng 3.3 Mẫu điều tra số liệu sơ cấp 38 Bảng 4.1 Tình hình số lượng giảng viên của Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc
Ninh giai đoạn 2014-2016 39 Bảng 4.2 Trình độ chuyên môn của giảng viên Trường CĐSP Bắc Ninh giai
đoạn 2014-2016 41 Bảng 4.3 Thống kê số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường
CĐSP Bắc Ninh giai đoạn 2014-2016 42 Bảng 4.4 Trình độ Tiếng Anh của giảng viên Trường CĐSP Bắc Ninh giai đoạn
2014-2016 43 Bảng 4.5 Trình độ tin học của giảng viên Trường CĐSP Bắc Ninh giai đoạn
2014-2016 44 Bảng 4.6 Phân loại giảng viên theo độ tuổi trong Trường CĐSP Bắc Ninh giai
đoạn 2014-2016 45 Bảng 4.7 Tổng hợp về thâm niên công tác của giảng viên Trường CĐSP Bắc
Ninh giai đoạn 2014 - 2016 46 Bảng 4.8 Phân loại giảng viên theo giới tính Trường CĐSP Bắc Ninh giai đoạn
2014-2016 47 Bảng 4.9 Phân loại giảng viên của Trường CĐSP Bắc Ninh (chia theo đơn vị)
giai đoạn 2014 - 2016 48 Bảng 4.10 Kế hoạch tuyển dụng giảng viên của Trường CĐSP Bắc Ninh giai
đoạn 2014 - 2016 49 Bảng 4.11 Ý kiến đánh giá về công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên (n=80) 52 Bảng 4.12 Số lượng đào tạo, bồi dưỡng của Trường CĐSP Bắc Ninh giai đoạn
2014 – 2016 53 Bảng 4.13 Đánh giá giảng viên Trường CĐSP từ năm 2014 – 2016 54 Bảng 4.14 Tình hình chính sách đãi ngộ đội ngũ giảng viên giai đoạn 2014 -
2016 57 Bảng 4.15 Ý kiến đánh giá về chính sách đãi ngộ đội ngũ giảng viên (n=80) 58
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Quốc Hưng
Tên luận văn: Phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh
Tên cơ sở đào tạo: Học viện nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm rõ cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên tại Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh Phân tích, đánh giá thực trạng, tình hình phát triển đội ngũ giảng viên, đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh đến năm 2025
Phương pháp nghiên cứu
Cùng với các số liệu thứ cấp được chọn lọc, thu thập, trích dẫn từ các chủ trương chính sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Bắc Ninh, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục
và Đào tạo Bắc Ninh, các báo cáo tổng kết năm học của Trường CĐSP Bắc Ninh, các số liệu và thông tin sơ cấp cũng được thu thập trong luận văn thông qua việc phỏng vấn 80 giảng viên Trường CĐSP Bắc Ninh về đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường
Ngoài phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp, các phương pháp như phương pháp xử lý dữ liệu, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh cũng được áp dụng trong luận văn
Kết quả chính và kết luận
Trên cơ sở phân tích các tài liệu lý luận về nội dung phát triển đội ngũ giảng viên, Luận văn đã hệ thống hoá và bổ sung về mặt học thuật các khái niệm: Giảng viên, Đội ngũ giảng viên, phát triển đội ngũ giảng viên, lập kế hoạch, đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, thực hiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ giảng viên
Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh về mặt số lượng, chất lượng, các nhân tố ảnh hưởng; từ các bài học kinh nghiệm ở trong nước và ngoài nước, luận văn đã cung cấp những luận
cứ khoa học và thực tiễn để đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên tại Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng
Trang 10Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách phát triển đội ngũ giảng viên tại các Trường Cao đẳng hiện nay
Qua quá trình nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên cao đẳng, đại học và thực trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh, tác giả xin rút ra một số kết luận sau:
+ Trên cơ sở phân tích các tài liệu lý luận về nội dung phát triển đội ngũ giảng viên, đề tài đã hệ thống hoá và sử dụng các khái niệm cơ bản Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên bao gồm: lập kế hoạch, đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, thực hiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ giảng viên
+ Thực trạng đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh trong thời gian qua, mặc dù đã đảm bảo về số lượng, nhưng còn mất cân đối về cơ cấu ngành nghề, về trình độ chuyên môn; chất lượng đội ngũ còn những bất cập ở một số năng lực nhất định như năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm chưa đáp ứng tốt cho sự phát triển của Nhà trường, yêu cầu đổi mới của giáo dục và của địa phương
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Quoc Hung
Thesis title: Developing the teaching staff of Bac Ninh Teacher Training College Major: Business Administration Code: 60 34 01 02
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
The thesis objectives are to clarify the theoretical basis about developing the teaching staff of Bac Ninh Teacher Training College and to analyze, evaluate the situation of developing the teaching staff as well as to propose some solutions to developing the teaching staff of Bac Ninh Teacher Training College to 2025
Materials and Methods
Along with secondary data collected from some policies of the Ministry of Education and Training, People's Committee of Bac Ninh province, Department of Internal Affairs, Bac Ninh Department of Education and Training, final reports of Bac Ninh Teacher Training College, primary data are also collected in the thesis by interviewing 80 teachers of Bac Ninh Teacher Training College to evaluate the situation
of developing the teaching staff
In addition to the secondary and primary data collection methods, some methods such as data processing method, descriptive statistical method and comparative method are also applied in the thesis
Main findings and conclusions
Based on the analysis of the theoretical literature on the contents of developing the teaching staff group, the thesis has systematized and added academically some following concepts: teacher, teaching staff group, developing the teaching staff group, making plans and training to improve the quality of teaching staff group, implementing some regimes and policies for teachers
The thesis analyzes and assesses the current situation of the teaching staff group
in Bac Ninh in terms of quantity, quality and influencing factors; From the lessons learned in domestic and abroad, the thesis has provided scientific and practical arguments to propose some solutions to developing the teaching staff group of Bac Ninh Teacher Training College in accordance with the situation in Vietnam in general and Bac Ninh province in particular
At present, the results of the thesis can be a useful reference for managers and policy makers to develop the teaching staff group in colleges
Trang 12Through the process of studying the theoretical basis in college and university, the situation of developing teaching staff group of Bac Ninh Teacher Training College, the author has drawn some conclusions:
+ Based on the analysis of the theoretical documents on the contents of developing teaching staff group of Bac Ninh Teacher Training College, the topic has been systematized and used basic concepts Managing the development of teaching staff group includes planning, training to upgrade the quality of teachers, implementing regimes and policies for teachers
+ About the actual status of teachers at Bac Ninh Teacher Training College in the past time, although the quantity and quality of the teachers are ensured, it has still unbalanced in terms of professional structure and profession; The quality of the staff is still inadequate in certain capacities such as the scientific research capacity, the capacity for organizing pedagogical activities, which is not good for the development of the school, education and local innovation requirements
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sự nghiệp giáo dục có vị trí quan trọng trong chiến lược xây dựng con người, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là điều kiện và biểu hiện trình độ phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX khẳng định “Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cũng nhấn mạnh: "Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng”
Trong sự nghiệp phát triển giáo dục – đào tạo thì nhà giáo có vai trò quan trọng bậc nhất Bởi không có một nền giáo dục của quốc gia nào lại có thể phát triển cao hơn trình độ đội ngũ giáo viên của quốc gia đó Tại điều 15 Luật giáo dục 2005 đã ghi: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục”
Do đó, phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng và phù hợp về cơ cấu được coi là một trong các giải pháp quan trọng để phát triển sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đổi mới đất nước, là động lực quan trọng để đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển của xã hội
và hội nhập quốc tế
Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định:
“ Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” Đại hội cũng xác định”: Chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên; xã hội hóa giáo dục, đào tạo; khuyến khích các hoạt
Trang 14động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng hợp tác quốc tế
và tăng ngân sách cho hoạt động giáo dục, đào tạo
Bắc Ninh là một vùng đất có truyền thống khoa bảng và hiếu học Trong những năm vừa qua, Đảng bộ và chính quyền tỉnh đã có sự quan tâm chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo Đặc biệt, trong chặng đường tiếp theo của
sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân trong tỉnh đa ra sức thi đua phấn đấu đưa Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung Ương vào những năm 20 của thế kỷ XXI Vì vậy, sự nghiệp giáo dục đào tạo lại có vị trí cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng những con người mới của thế kỷ XXI
Trong những năm qua, Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh đã có những đóng góp tích cực trong việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non, tiểu học và trung học học cơ sở cho tỉnh Bắc Ninh Mặc dù còn có những khó khăn nhất định, được sự quan tâm đầu tư của tỉnh, Trường đã có nhiều cố gắng duy trì, nâng cao chất lượng giảng dạy và đạt được những thành tựu nhất định trong việc thực hiện sứ mệnh, nhiệm vụ được giao, khẳng định được chức năng đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao khoa học công nghệ ở địa phương
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế thì vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên của Trường cần đặc biệt quan tâm; việc xây dựng và quản lý được một đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng là vấn đề quan trọng, then chốt cần được đặt ra và có biện pháp giải quyết Chính vì vậy, trong giai đoạn phát triển mới, việc phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh là vấn đề cấp thiết, đòi hỏi người làm công tác tổ chức phải nghiên cứu nghiêm túc các vấn đề về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giảng viên của Trường
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh” cho luận văn thạc
Trang 15pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh đến năm 2025
- Đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng
Sư phạm Bắc Ninh đến năm 2025
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển đội ngũ giảng viên tại Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu:
+ Luận văn nghiên cứu thực trạng về chất lượng đội ngũ giảng viên trong giai đoạn 2014 – 2016 từ đó đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường đến năm 2025 và là căn cứ chiến lược cho phát triển ở những năm tiếp theo
+ Những thông tin, số liệu trong đề tài được thu thập từ năm 2014 đến năm 2016
+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3/2016 đến tháng 3/2017
Trang 16PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực trong tổ chức
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, của khu vực và thế giới
Khái niệm “nguồn nhân lực” được sử dụng nhiều hơn vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, khi khoa học
“quản trị nguồn nhân lực” phát triển Hiện nay khái niệm này được sử dụng khá rộng rãi để chỉ vai trò và vị trí con người trong sự phát triển kinh tế, xã hội Ở nước ta, khái niệm “nguồn nhân lực” được nhắc đến nhiều kể từ đầy thập kỷ 90 của thế kỷ XX Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra định nghĩa “nguồn nhân lực”, mặc dù có nhiều nghiên cứu và bài viết về nguồn nhân lực con người, về tài nguyên con người Nguồn nhân lực (NNL) là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất Với vai trò quyết định sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội Trong các lý thuyết về “vốn”, về “tăng trưởng” thì NNL đều được coi là yếu tố hàng đầu, đảm bảo cho sự phát triển sản suất và dịch vụ Có nhiều cách tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể:
* Về số lượng của nhân trong tổ chức:
Thể hiện quy mô của tổ chức, số lượng nhân viên càng đông, quy mô tổ chức càng lớn và ngược lại số lượng ít, quy mô tổ chức nhỏ
* Về cơ cấu nhân viên trong tổ chức:
Thể hiện tính đa dạng cơ cấu nhân viên trong tổ chức qua trình độ, độ tuổi, giới tính, học hàm, học vị của nhân viên Tính đa dạng cơ cấu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực (NNL) trong tổ chức
* Về chất lượng nhân viên trong tổ chức
Chất lượng nhân viên được hiểu là năng lực của họ trong công việc và cuộc
Trang 17sống Năng lực của nhân viên thông thường được đánh giá qua các tiêu chí sau: Trí lực, thể lực và đạo đức
- Trí lực: Là tất cả những gì thuộc về trí tuệ, tinh thần, năng lực chuyên môn, khả năng sử dụng chuyên môn trong công việc, giá trị và phẩm chất của nhân viên trong tổ chức
- Thể lực: Là sức khỏe, là thể chất, là sức chịu đựng áp lực công việc, và cách xử lý sự căng thẳng trong công việc của nhân viên
- Đạo đức: Là một phạm trù thể hiện tư tưởng, tình cảm, lối sống, thái độ và phong cách đối xử với đồng nghiệp trong tổ chức, với mọi người trong xã hội bao hàm cả về quan niệm về nhân dân và về đất nước mình
* Về các mối quan hệ tác động qua lại:
Các mối quan hệ tác động qua lại giữa các cá nhân với cá nhân, giữa các nhóm, tổ chức với nhau trong tổ chức tạo ra sức mạnh tổng hợp cho tổ chức cũng như cho bản thân họ
Nguồn nhân lực trong tổ chức có sự khác biệt về chất so với các nguồn lực khác mà suy cho cùng là do bản chất và những đặc trưng về tâm sinh lý, năng lực làm việc của con người quyết định Vì vậy, quản lý NNL của tổ chức là một công tác phức tạp và rất quan trọng, trong đó vấn đề đào tạo và phát triển NNL là một hoạt động tất yếu vừa có ý nghĩa trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài 2.1.1.2 Giảng viên và đội ngũ giảng viên
a Giảng viên
Theo quy định tại điều 70 Luật Giáo dục (2005):
Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong Nhà trường hoặc
cơ sở giáo dục khác
Nhà giáo phải có các tiêu chuẩn:
- Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ
- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp
- Lý lịch bản thân rõ rang
Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên
Trang 18Như vậy, có thể hiểu giảng viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
ở các cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng
Theo quyết định số 538/TCCP-TC ngày 19/12/1995 của Ban TCCB Chính phủ (nay là Bộ nội vụ), giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng được xếp ở
ba ngạch: giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp
b Đội ngũ giảng viên
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng (Nguyễn Như Ý, 2009): “Đội ngũ là tập hợp một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống, tổ chức”
Qua đó ta có thể hiểu đội ngũ của một tổ chức cũng chính là nguồn nhân lực của tổ chức đó Đó là những người có chung mục đích, lợi ích và ràng buộc với nhau bằng trách nhiệm pháp lý Đó là sự gắn kết những cá thể với nhau, hoạt động qua sự phân công, hợp tác lao động
Đội ngũ của trường học bao gồm: Cán bộ quản lý các cấp trong trường học, nhà giáo (giảng viên, giáo viên), nhân viên phục vụ các hoạt động giáo dục trong trường học
Đội ngũ giảng viên: là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng
2.1.1.3 Phát triển và phát triển đội ngũ giảng viên
a Phát triển
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng (Nguyễn Như Ý, 2009): “Phát triển là biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” Theo Từ điển triết học, bản dịch ra tiếng Việt (NXB Sự thật, 1986): “Phát triển là quá trình vận động từ thấp (đơn giản) đến cao (phức tạp) mà nét đặc trưng là cái cũ biến mất, cái mới ra đời Phát triển là một quá trình nội tại, bước chuyển từ thấp đến cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, cái cao là cái thấp đã phát triển” Theo David C.Kortan (Bước vào thế kỷ XXI, Hành động tự nguyện và chương trình nghị sự toàn cầu, 1993): “Phát triển là một tiến trình, qua đó các thành viên của xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của mình để huy động và quản lý các nguồn lực, tạo ra những thành quả bền vững nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ”
Trang 19Nét đặc trưng của phát triển là hình thức xoáy trôn ốc và theo các chu kỳ, việc hoàn thành lại một chu kỳ là cố hữu, là nền tảng cho một chu kỳ mới trong
đó có sự lặp lại một số đặc điểm của chu kỳ trước đó Mọi sự vật hiện tượng, con người, xã hội có sự biến đổi tăng tiến về mặt số lượng, chất lượng dưới tác động của bên ngoài đều được coi là sự phát triển
Từ các khái niệm nêu trên, luận văn thống nhất lựa chọn khái niệm phát triển như sau: Phát triển là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình vận động sự vật theo khuynh hướng đi lên, từ trình độ thấp lên trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
b Phát triển đội ngũ giảng viên
Phát triển đội ngũ giảng viên có thể hiểu là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của đội ngũ giảng viên trong thời kỳ nhất định Trong tác phẩm “Quản lý nhân sự và việc xây dựng đội ngũ giảng viên trong Nhà trường”, tác giả Nguyễn Quang Truyền quan niệm phát triển đội ngũ giảng viên là “xây dựng đội ngũ đủ
về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, loại hình, đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối giáo dục của Đảng và ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ
đủ sức thực hiện chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo” Trong đó bao gồm sự tăng thêm về quy mô, số lượng và chất lượng giảng viên Đó là sự tiến bộ về nhận thức, học vấn, khả năng chuyên môn đạt đến chuẩn và trên chuẩn của yêu cầu, tiêu chí dành cho giảng viên nói chung
Phát triển đội ngũ giảng viên trước hết phải tạo ra một đội ngũ (một tổ chức) các nhà giáo, từ đó phát triển đội ngũ cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ chức, độ tuổi, giới tính Phát triển đội ngũ giảng viên là làm cho số lượng và chất lượng giảng viên vận động theo hướng đi lên trong mối hỗ trợ, bổ sung cho nhau tạo nên một hệ thống - đội ngũ giảng viên bền vững
Ở Việt Nam, trong các cơ quan, tổ chức, Nhà trường hay sử dụng các khái niệm “Quản lý cán bộ”, “Quản lý nhân sự”, “Quản lý hành chính nhân sự” để nói
về công tác quản lý con người trong tổ chức đó Còn khái niệm “Quản lý nguồn nhân lực” thường hay được dùng trong các doanh nghiệp Có nhiều ý kiến khác nhau về quan điểm “Quản lý nguồn nhân lực”
Theo tổng kết của Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (2004) viết về
“Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” thì :
“Nhiều nhà quản lý cho rằng quản lý nguồn nhân lực không phải là cuộc cách
Trang 20mạng mà là giai đoạn tiếp theo của quản lý nhân sự trong tổ chức Quan điểm này nhấn mạnh vai trò của yếu tố con người, sự cần thiết phải áp dụng các quan điểm, phương pháp mới trong quản lý con người nhưng chấp nhận các điều kiện không khắt khe lắm”
Cách tiếp cận này phù hợp với Việt Nam - một nước đang phát triển, trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh và đang thực hiện cuộc cải cách hành chính Việc áp dụng quan điểm quản lý nguồn nhân lực theo cách tiếp cận trên vào giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học (GD ĐH) rất phù hợp, bởi các lý do sau đây: Thứ nhất, giáo dục Việt Nam chịu tác động sâu sắc bởi đổi mới cơ chế quản
lý Kinh tế - Xã hội, cho nên giáo dục nước ta đặc biệt là giáo dục đại học đang đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, mà bản chất là giao quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục Theo Luật Giáo dục, cơ sở giáo dục đại học
có những quyền tự chủ nhất định về xây dựng chương trình đào tạo, quản lý, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên, tổ chức hoạt động giáo dục và đào tạo (GD&ĐT)… Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm sẽ là đòn bẩy để mỗi Nhà trường phát huy hết nội lực của mình
Thứ hai, trong xu thế toàn cầu hóa về GD&ĐT, đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO thì giáo dục là một trong mười hai ngành dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS), dẫn đến sự cạnh tranh trong giáo dục ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là giáo dục đại học
Thứ ba, nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học là đào tạo nhân lực chuyên môn cho xã hội, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực trong xu thế cạnh tranh và hợp tác
Do đó, mỗi cơ sở Giáo dục đại học cần phải phát triển trên cơ sở xây dựng thương hiệu và uy tín Hay nói cách khác là phải đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, trong đó đội ngũ giảng viên có vai trò quyết định đến chất lượng và hiệu quả đào tạo Từ đó, đặt ra yêu cầu cho mỗi Nhà trường là cần phải có chiến lược phát triển nguồn lực giảng viên (phát triển đội ngũ giảng viên) trên cơ sở quản lý đội ngũ giảng viên một cách phù hợp
Thực chất phát triển đội ngũ giảng viên là một quá trình cải cách, cải tổ nhằm phát triển đội ngũ giảng viên (ĐNGV) trên cả ba mặt:
- Quy mô của đội ngũ giảng viên: Được biểu hiện bởi số lượng giảng viên
- Chất lượng của đội ngũ giảng viên: được biểu hiện ở phẩm chất, năng lực
Trang 21và trình độ của đội ngũ giảng viên
- Cơ cấu của đội ngũ giảng viên: Được biểu hiện ở ngành nghề đào tạo, độ tuổi và giới tính của đội ngũ giảng viên
2.1.2 Vị trí, vai trò của giảng viên trong nhà trường
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục nói chung và người thầy giáo nói riêng Đây là nhân tố hết sức quan trọng và là nhân tố quyết định cho sự nghiệp phát triển giáo dục ở nước ta
Ngày nay đội ngũ giảng viên trong trường Đại học, Cao đẳng được coi là một nguồn lực quan trọng thực hiện đổi mới giáo dục đại học, cao đẳng phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, vì:
Thứ nhất, giảng viên chính là những người trực tiếp thực hiện và quyết định việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong nhà trường
Thứ hai, trong bối cảnh xã hội đầy biến động như hiện nay, ngày càng nhiều yêu cầu đặt ra cho nhà trường, thì nhà trường Đại học, Cao đẳng chỉ có thể đáp ứng được nhanh nhạy các yêu cầu đó nếu có một đội ngũ giảng viên đủ mạnh, luôn sẵn sàng điều chỉnh thích ứng trong điều kiện mới
Thứ ba, chính đội ngũ giảng viên, bằng năng lực thực sự, lòng yêu nghề, say mê nghiên cứu khoa học, mới có thể cung cấp cho xã hội loại sản phẩn có giá trị nhất, quyết định sự phát triển đó là nguồn nhân lực được đào tạo, nguồn nhân lực có chất lượng cao
Vai trò nhà giáo được Quốc hội nước ta khẳng định trong Điều 15 Luật Giáo dục năm 2005:
Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách sử dụng, đãi ngộ, đảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vài trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học
Ngành giáo dục và đào tạo cũng đã khẳng định: “Đội ngũ cán bộ giảng dạy giữ vai trò quyết định chất lượng đào tạo và là lực lượng chủ công thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ của nhà trường”
Trang 22Đội ngũ giảng viên với vị trí, vai trò quan trọng như vậy, các trường Đại học, Cao đẳng cần xây dựng một đội ngũ giảng viên có năng lực, tận tâm với nghề nghiệp và có khả năng thích ứng cao, đủ sức gánh vác trọng trách của mình đối với sự nghiệp phát triển và đổi mới giáo dục hiện nay
Trong nhà trường giảng viên đóng vai trò chủ đạo không chỉ là người truyền đạt thông tin kiến thức mà còn là người tổ chức, hướng dẫn điều khiển quá trình nhận thức và quá trình hình thành nhân cách của sinh viên Ngày nay, những đặc điểm phát triển của xu thế thời đại đặt ra những yêu cầu đối với chất lượng nguồn nhân lực, đòi hỏi phải đổi mới giáo dục một cách toàn diện Xu hướng đổi mới cơ bản là chuyển từ kiểu học “lấy giảng viên làm trung tâm” sang kiểu học “lấy sinh viên làm trung tâm” Nói cách cụ thể hơn là việc dạy học phải hướng vào người học, đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình giáo dục Trong dạy học lấy sinh viên làm trung tâm thì vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của sinh viên được phát huy, nhưng vai trò của giảng viên không hề bị hạ thấp, yêu cầu đối với giảng viên không hề giảm, trái lại, giảng viên càng phải có trình
độ cao về chuyên môn nghiệp vụ mới có thể đóng vai trò là người cố vấn, người trọng tài luôn luôn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình sư phạm Trong một thế giới khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển vừa mang lại sự biến đổi nhanh trong đời sống xã hội, vừa tạo ra sự chuyển dịch các định hướng giá trì, thì người giảng viên không thể chỉ đóng vai trò truyền đạt tri thức, mà đồng thời phải có khả năng phát triển những cảm xúc, thái độ, hành vi ứng xử của sinh viên, đảm bảo cho sinh viên làm chủ được và biết ứng dụng hợp lý những tri thức đó
Tóm lại, trong xã hội hiện đại, thông qua chức năng dạy học và giáo dục, đội ngũ giáo viên có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đánh giá cao vai trò của đội ngũ giáo viên trong xã hội mới, coi họ là lớp người vẻ vang của đất nước
2.1.3 Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên
Phát triển đội ngũ giảng viên là một trong những nội dung chủ yếu nhất của quản lý nguồn nhân lực trong GD&ĐT nói chung và đối với cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng nói riêng
Đội ngũ giảng viên là đội ngũ tri thức, có trình độ học vấn và nhân cách phát triển ở mức độ cao nên trong quá trình quản lý, phát triển ĐNGV cần lưu ý:
- Phải làm sao cho ĐNGV phát huy được tính chủ động, sáng tạo và tiềm
Trang 23năng của mỗi giảng viên, để họ có thể cống hiến ở mức cao nhất cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục
- Phải hướng ĐNGV vào việc phục vụ lợi ích của tổ chức, của cộng đồng
và của xã hội, đồng thời phải đảm bảo được những lợi ích về tinh thần và vật chất với mức độ thỏa đáng cho mỗi cá nhân giảng viên
- Phải đáp ứng được mục tiêu trước mắt và mục tiêu phát triển trong tương lai của tổ chức
- Phát triển đội ngũ giảng viên phải được thực hiện theo quy chế, quy định trên cơ sở luật pháp Nhà nước, của Bộ, ngành chủ quản
Nội dung phát triển đội ngũ GV gồm:
2.1.3.1 Phát triển về số lượng
Số lượng đội ngũ giảng viên là biểu thị về mặt định lượng của đội ngũ này, nó phản ánh quy mô của đội ngũ giảng viên tương xứng với quy mô của mỗi Nhà trường Số lượng đội ngũ giảng viên phụ thuộc vào sự phân chia tổ chức trong Nhà trường
Dưới góc độ phát triển chúng ta không thể xét đến tỷ lệ gia tăng giảng viên hàng năm đơn thuần Về mặt số lượng, nguồn nhân lực giảng viên chịu ảnh hưởng trực tiếp vào mục tiêu, chính sách đào tạo nguồn nhân lực quốc gia, vùng lãnh thổ và nhiệm vụ đào tạo giao cho từng ngành, từng cơ sở
Đối với các quốc gia đang phát triển, nền kinh tế còn đang trong thời kì chưa định hình, xu hướng hội nhập và đầu tư nước ngoài đang diễn ra mạnh mẽ dẫn đến tình trạng nhu cầu lao động trí thức ngày càng cao, đa dạng về ngành nghề, đòi hỏi phải có đội ngũ giảng viên cũng phải phát triển để thỏa mãnh các nhu cầu thiết yếu đó
Số lượng đội ngũ giảng viên của mỗi trường phụ thuộc vào quy mô phát triển của Nhà trường, nhu cầu đào tạo và các yếu tác động khách quan khác, chẳng hạn như: chỉ tiêu biên chế của Nhà trường, các chế độ chính sách đối với đội ngũ giảng viên Tuy nhiên dù trong điều kiện nào, muốn đảm bảo hoạt động giảng dạy thì người quản lý cũng đều cần quan tâm đến việc giữ vững sự cân bằng động về số lượng đội ngũ giảng viên giảng dạy với số giờ không quá cao và cũng không quá thấp mà ở mức theo quy định của Nhà nước
Tóm lại phát triển về số lượng đội ngũ giảng viên là việc tăng về mặt số lượng giảng viên giảng dạy trên cơ sở phát triển về quy mô của sự nghiệp giảng
Trang 24dạy Phát triển số lượng giảng viên, không phải chỉ là tăng đơn thuần về số lượng
mà phải phù hợp trên cơ sở nhu cầu các loại cơ cầu của giảng viên mà Nhà trường cần
Yêu cầu về số lượng giảng viên của các trường Đại học, Cao đẳng được xác định với từng khối ngành đào tạo theo Quyết định 33/2013/QĐ-TTg ngày 26/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020: "Đến năm 2020 đạt bình quân từ
17 đến 26 sinh viên đại học và cao đẳng/01 giảng viên"
2.1.3.2 Phát triển chất lượng đội ngũ giảng viên
Chất lượng của đội ngũ giảng viên là một trong chín yếu tố cơ bản quyết định chất lượng đào tạo của Nhà trường Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng: với chất lượng đội ngũ khác nhau, các cơ sở giáo dục khác nhau sẽ có một chất lượng giáo dục khác nhau
Phát triển đội ngũ giảng viên là phạm trù đề cập đến những vấn đề cơ bản, cốt yếu trong phẩm chất nghề nghiệp của đội ngũ những người làm nghề dạy học
Chất lượng đội ngũ giảng viên là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh mức độ hội tụ
về phẩm chất các chuẩn mực đạo đức, chính trị, chuyên môn, năng lực nhiều mặt của toàn đội ngũ giảng viên trong Nhà trường
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về khoa học giáo dục thì chất lượng đội ngũ giảng viên chủ yếu phụ thuộc vào tư chất nghề nghiệp của mỗi người Thầy Tư chất của người Thầy bao gồm phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực giảng dạy
* Về phẩm chất
Phẩm chất của các giảng viên tạo nên phẩm chất của đội ngũ giảng viên, phẩm chất đội ngũ giảng viên tạo nên linh hồn và sức mạnh của đội ngũ này Phẩm chất đội ngũ giảng viên trước hết được biểu hiện ở phẩm chất chính trị Phẩm chất chính trị là yếu tố rất quan trọng giúp cho người giảng viên có bản lĩnh vững vàng trước những biến động của xã hội Trên cơ sở đó thực hiện hoạt động giáo dục toàn diện, định hướng xây dựng nhân cách cho HSSV có hiệu quả Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác, có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ là cái xác không hồn Phải có chính trị rồi mới có chuyên môn… Nói tóm lại, chính trị là đức, chuyên môn là tài sản, có
Trang 25tài mà không có đức là hỏng”
Bên cạnh việc nỗ lực phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm, người giảng viên cần có bản lĩnh chính trị vững vàng Bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ giúp người giảng viên có niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước và có khả năng xử lý được những tình huống chính trị nảy sinh trong hoạt động đào tạo Đội ngũ giảng viên là một trong những người trực tiếp xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển, thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ chính trị của ngành Không thể cụ thể hóa chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối giáo dục của Đảng và đưa nghị quyết vào cuộc sống nếu đội ngũ giảng viên không có một trình độ chính trị nhất định và không cập nhật với tình hình chính trị luôn phát triển sôi động và diễn biến phức tạp
Giáo dục có tính chất toàn diện, bên cạnh việc dạy “chữ” và dạy “nghề” thì điều rất cần thiết là dạy học cho học viên cách học để làm người, là xây dựng nhân cách Trong xã hội hiện đại, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông, sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng đã và đang trực tiếp đón nhận nhiều luồng tri thức, nhiều luồng văn hóa khác nhau Sự nhạy cảm cũng như đặc tính luôn thích hướng tới cái mới của tuổi trẻ rất cần có sự định hướng trong việc tiếp cận và tiếp nhận các luồng thông tin đó Việc không ngừng nâng cao nhận thức chính trị cho đội ngũ giảng viên là rất cần thiết, đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa của giáo dục Việt Nam, kết hợp một cách hài hòa giữa tính dân tộc và quốc tế, truyền thống và hiện đại trong đào tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền giáo dục ở Việt Nam
Phẩm chất đạo đức mẫu mực cũng là một trong những tiêu chuẩn hàng đầu của nhà giáo nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng Cùng với năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức được coi là yếu tố tất yếu nền tảng của nhà giáo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Người cách mạng không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Trong sự nghiệp “trồng người” phẩm chất đạo đức luôn có vị trí nền tảng Nhà giáo nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng phải có phẩm chất đạo đức trong sáng, phải “chí công, vô tư, cần, kiệm, liêm, chính” để trở thành tấm gương cho thế hệ trẻ noi theo, để giáo dục đạo đức và xây dựng nhân cách cho thế hệ trẻ
* Về trình độ
Trình độ chuyên môn là những công việc đòi hỏi người thực hiện công việc đó phải là những người có kỹ năng làm việc đặc thù, chuyên nghiệp, đã
Trang 26được đào tạo nhằm đáp ứng được việc thực hiện các công việc đó Lao động thực hiện các công việc chuyên môn, phải qua đào tạo, và được gọi là lao động lành nghề, hay lao động chuyên nghiệp Lao động chuyên nghiệp hoạt động trong môi trường làm việc chuyên nghiệp phù hợp chuyên môn (thực hiện các công việc đúng chuyên môn) gọi là nghề nghiệp Các hoạt động chuyên nghiệp của lao động chuyên nghiệp gọi là hoạt động nghề nghiệp
Trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên được yêu cầu cao hơn so với lực lượng lao động khác vì tính đặc thù của ngành Người giảng viên phải là người thực sự có trình độ chuyên môn giỏi thì mới có thể có khả năng truyền đạt những kiến thức của mình cho người học có thể hiểu và nắm bắt những thông tin quan trọng cần truyền đạt
Trình độ của đội ngũ giảng viên là yếu tố phản ánh khả năng trí tuệ của đội ngũ này, là điều kiện cần thiết để cho họ thực hiện hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học Trình độ của đội ngũ giảng viên trước hết được thể hiện ở trình độ được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ
Trình độ của đội ngũ giảng viên còn được thể hiện ở khả năng tiếp cận và cập nhật của đội ngũ này với những thành tựu của thế giới, những tri thức khoa học hiện đại, những đổi mới trong giáo dục và đào tạo để vận dụng trực tiếp vào hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của mình Mặt khác, trong xu thế phát triển của xã hội hiện đại, ngoại ngữ và tin học cũng là những công cụ rất quan trọng giúp người giảng viên tiếp cận với tri thức khoa học tiên tiến của thế giới, tăng cường sự hợp tác và giao lưu quốc tế để nâng cao trình độ, năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học Hiện nay, trình độ về ngoại ngữ tin học của đội ngũ giảng viên đã và đang được nâng cao, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế
và bất cập
Yêu cầu về trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên, theo mục tiêu
“Quy hoạch mạng lưới các trường ĐH, CĐ giai đoạn 2006 – 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/07/2007 thì: “Đến năm 2020 có trên 90% giảng viên đại học và trên 70% giảng viên cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên; có trên 75% giảng viên đại học và
ít nhất 20% giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ” Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ giảng viên phải đáp ứng được các quy định về tiêu chuẩn các chức danh giảng viên theo Thông tư số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ về quy định đánh số
Trang 27và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập, cụ thể như sau:
- Có bằng tốt nghiệp Đại học trở lên phù hợp với vị trí việc làm, chuyên ngành giảng dạy
- Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên
- Có trình độ ngoại ngữ bậc 2 (A2) đối với chức danh giảng viên, bậc 3 (B1) đối với chức danh giảng viên chính theo quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam
- Có trình độ tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin
* Về năng lực
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng (Nguyễn Như Ý, 2009): “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hay tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”
Đối với ĐNGV, năng lực được hiểu là trên cơ sở hệ thống tri thức được trang bị (trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ, phương pháp nghiên cứu khoa học, tâm lý…) họ phải hình thành và nắm vững kỹ năng để tiến hành hoạt động sư phạm có hiệu quả
Các hoạt động sư phạm bao gồm nắm vững nguyên lý giáo dục, mục tiêu, nội dung của môn khoa học mình đảm nhận, thông thạo trong việc xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, lập kế hoạch bài giảng, áp dụng các phương pháp dạy học một cách phù hợp để phát huy tính tích cực, chủ động của người học, đánh giá kết quả học tập của HSSV…
Giảng dạy và NCKH là hai hoạt động cơ bản, đặc trưng của người giảng viên ĐH, CĐ Vì vậy, nói đến năng lực của ĐNGV, cần phải xem xét trên hai góc độ chủ yếu là năng lực giảng dạy và năng lực NCKH
- Năng lực giảng dạy: Là khả năng đáp ứng yêu cầu học tập, nâng cao trình
độ học vấn của đối tượng; là khả năng đáp ứng tăng quy mô đào tạo; là khả năng truyền thụ tri thức cho HSSV thông qua việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, phù hợp ĐNGV giảng dạy các môn chuyên môn trong các trường ĐH,
CĐ khối sư phạm yêu cầu phải có khả năng giảng dạy được cả lý thuyết và khả
Trang 28năng tiếp cận được với thực tế
- Năng lực NCKH: Là năng lực tổ chức và thực hiện các hoạt động phát hiện, tìm hiểu các sự vật, hiện tượng, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng lý luận môn học vào thực tiễn, các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nhân lực
- Năng lực tự phát triển: ĐNGV là đội ngũ tri thức, cho nên phải luôn luôn
tự rèn luyện, tự học, tự bồi dưỡng làm giàu tri thức của mình, để hoàn thiện và phát triển bản thân theo yêu cầu ngày càng cao của Nhà trường và xã hội
- Năng lực sử dụng tin học, ngoại ngữ: Trong thời đại phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin và hội nhập quốc tế, thì ngoại ngữ và tin học được coi là hai công cụ cần thiết để nâng cao hiệu quả công việc trong tất cả các lĩnh vực Người giảng viên các trường sư phạm cần có khả năng sử dụng tin học và các tiện ích của tin học để thiết kế bài giảng, biên soạn giáo trình, tìm kiếm và cập nhật thông tin, lưu trữ và quản lý thông tin đào tạo…
- Năng lực giao tiếp và làm việc nhóm: Phối hợp với đồng nghiệp và cán bộ quản lý để quản lý và giảng dạy cho sinh viên nên đòi hỏi ĐNGV phải có kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm, tập thể
- Năng lực hỗ trợ HSSV học tập, phát triển tình cảm – xã hội: Người giảng viên phải biết hướng dẫn HSSV kỹ năng học tập, thực tập, NCKH; khuyến khích, gợi mở các vấn đề để HSSV phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập và rèn luyện Người giảng viên còn phải có khả năng nhìn nhận sự thay đổi trong nhận thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng của HSSV và đồng thời đưa ra những nội dung và biện pháp giáo dục kịp thời, phù hợp với nhu cầu của từng HSSV, qua đó bồi dưỡng năng lực học tập và thích nghi cho HSSV
- Năng lực tham gia quản lý đào tạo: Người giảng viên cần có khả năng xây dựng, triển khai và giám sát kế hoạch giảng dạy của bản thân, của bộ môn và kế hoạch học tập của HSSV Tham gia quá trình đánh giá và kiểm định chất lượng đào tạo; cải tiến và đề xuất những biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo Tham gia công tác quản lý ở bộ môn, khoa, phòng…
- Năng lực tham gia xây dựng và phát triển chương trình đào tạo: Các Nhà trường Đại học, Cao đẳng có quyền tự chủ về xây dựng chương trình đào tạo trên
cơ sở chương trình khung của Bộ GD&ĐT Do vậy, người giảng viên cần phải tham gia xây dựng và phát triển ngành học, tham gia đánh giá và kiểm định
Trang 29chương trình đào tạo, cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy, nghiên cứu và thực hành môn học, biên soạn giáo trình, sách chuyên khảo và tài liệu tham khảo phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng
Như vậy, để phát triển được đội ngũ giảng viên về mặt chất lượng thì cần phải có những phương thức sau đây
- Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
Theo tác giả Mạc Văn Trang trong bài giảng Quản lý nhân sự đã phân biệt khái niệm đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
Bảng 2.1 Phân biệt khái niệm các thuật ngữ
Nội dung Bắt đầu học cái mới Tiếp tục cái cũ
nâng cao lên
Chuyên môn mới, lĩnh vực mới ở góc độ cao hơn
môn
Tiếp tục công việc, nghề của mình tốt hơn
Nâng cao trình độ hoặc chuyển nghề, chuyển chế độ làm việc
Thời gian Dài hạn (theo thời gian
cấp trường đào tạo
hơn đào tạo mới Mức độ
Như vậy đào tạo theo nghĩa trên cần phải lượng thời gian theo quy định và kinh phí đầu tư thích hợp; do đó đòi hỏi phải xây dựng kế hoạch, tiêu chuẩn đặt
ra mang tính lâu dài, nhất là chính sách đào tạo mới của Đảng và Nhà nước, Trung ương và địa phương trong thời điểm hiện nay, muốn nhanh chóng có nguồn nhân lực đào tạo chính quy trình độ cao trong và ngoài nước, bằng kinh phí ngân sách Nhà nước, kinh phí tài trợ ký kết giữa các quốc gia và kinh phí tự túc của cá nhân, gia đình
Trang 30+ Đào tạo lại:
Sau khi được đào tạo có một trình độ nhất định, nay vì một lý do nào đó lại tham gia quá trình đào tạo mới để đạt trình độ khac, nghề khác, hoặc đào tạo lại trên cơ sở trình độ đã có được nâng cao, hoàn chỉnh đáp ứng tiêu chuẩn quy định trong từng giai đoạn phát triển ngành nghề, nhà nước yêu cầu
+ Bồi dưỡng
Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất Theo tác giả Mạc Văn Trang: Bồi dưỡng là làm nâng cao trình độ hiện có về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để làm tốt hơn việc đang làm
Theo UNESCO: Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp Như vậy, bồi dưỡng là nhằm giúp người lao động đã có một trình độ nhất định, đã được đào tạo trước đây, nay do yêu cầu mới, hoặc chương trình đào tạo trước đây cần phải bổ sung những phần nào chưa đào tạo trong chương trình cu, hoặc đã lạc hậu cần cập nhật kiến thức kịp thời, phù hợp với khoa học, tri thức mới Mục đích bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn của người lao động, để họ luôn đạt được hiệu quả công việc một cách tốt nhất Trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ giảng viên cần cập nhật kiến thức mới nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy, nghiên cứu khoa học, cho nên việc lựa chọn đưa giảng viên đi bồi dưỡng ngắn hạn theo chuyên đề là việc làm thường xuyên hàng năm của các trường Đối với lực lượng giảng viên trẻ cần phải có kế hoạch bồi dưỡng dài hạn (đây là hình thức đào tạo lại), để tiếp tục củng cố và nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, công tác lâu dài
Đây là phương thức có vai trò tích cực và quan trọng trong phát triển đội ngũ giảng viên giảng dạy về mặt số lượng, chất lượng, nhất là trong điều kiện hiện nay khi khoa học công nghệ phát triển, tiến trình đổi mới hội nhập đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực phải ngày càng cao mới có thể đáp ứng được
2.1.3.3 Hợp lý hóa về cơ cấu đội ngũ giảng viên
Theo đại từ điển Tiếng Việt, “cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện các chức năng của chính thể” Như vậy, có thể hiểu cơ cấu đội ngũ giảng viên là một thể thống nhất hoàn chỉnh, bao gồm:
Trang 31- Cơ cấu về chuyên môn: là số người có trình độ chuyên môn về một loại ngành nghề nhất định, được tuyển dụng hay đưa đi đào tạo để bố trí làm giảng viên giảng dạy đúng chuyên môn đó Đảm bảo tỷ lệ giảng viên hợp lý giữa các đơn vị trong Nhà trường phù hợp với quy mô và nhiệm vụ đào tạo của từng chuyên ngành đào tạo
- Cơ cấu về trình độ đào tạo: là số người có trình độ đào tạo nhất định như: Cử nhân, Thạc sỹ, Tiến sỹ… về một loại chuyên môn cần tuyển hay đưa
đi đào tạo để làm giảng viên giảng dạy môn học hay ngành học nào đó để đảm bảo chất lượng và số lượng giảng viên giảng dạy theo đúng mục tiêu đào tạo của Nhà trường
- Cơ cấu thâm niên: là thâm niên kinh nghiệm cần có của người giảng viên cần tuyển để bố trí giáo viên nhằm đảm bảo tỷ lệ giảng viên có kinh nghiệm của Nhà trường thực hiện nhiệm vụ đào tạo
- Cơ cấu về độ tuổi: là sự phân chia đội ngũ giảng viên của đơn vị theo từng
độ tuổi hay nhóm tuổi nhất định Trong phát triển đội ngũ giảng viên người ta quan tâm đến cơ cấu này nhằm đảm bảo lực lượng kế cận hoặc quy hoạch bố trí sử dụng Đảm bảo sự cân đối giữa các thế hệ trong nhà trường, tránh tình trạng “lão hóa” trong đội ngũ giảng viên, tránh sự hụt hẫng về đội ngũ giảng viên trẻ kế cận, cần có thời gian nhất định để thực hiện chuyển giao giữa các thế hệ giảng viên
- Cơ cấu theo giới tính: là sự phân chia đội ngũ giảng viên ra thành số lượng giảng viên nam, nữ nhằm đảm bảo sự hài hòa và bố trí sử dụng hợp lý đội ngũ giảng viên Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa giảng viên nam và nữ trong từng khoa, bộ môn và chuyên ngành được đào tạo của Nhà trường
Để phát huy có hiệu quả năng lực của đội ngũ giảng viên, cần phải tiếp tục
bổ sung, sửa đổi và thực hiện chính sách ưu đãi đối với giảng viên, khuyến khích giảng viên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đẩy mạnh sự gắn kết chặt chẽ giảng dạy với nghiên cứu khoa học chuyển giao công nghệ; đổi mới công tác quản lý, phân công hợp lý giảng dạy đúng trình độ chuyên môn của cá nhân mỗi giảng viên trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý đào tạo Nhà trường Nâng cao quyền và trách nhiệm của đội ngũ giảng viên, tạo môi trường thuận lợi và sự bình đẳng giữa các loại hình cơ sở giáo dục và đào tạo
Sử dụng đội ngũ giảng viên là nhằm thực hiện mục đích, mục tiêu giáo dục đào tạo Đội ngũ giảng viên là một bộ phận của đội ngũ công chức làm việc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo của đât nước Việc sử dụng cán bộ công chức,
Trang 32viên chức nói chung và sử dụng đội ngũ giảng viên nói riêng bao gồm nhiều công việc khác nhau như: bố trí, phân công công tác, chuyển ngạch, nâng ngạch, điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, biệt phái
Về bố trí, phân công công tác: Người đứng đầu cơ quan sử dụng giảng viên chịu trách nhiệm bố trí, phân công giao nhiệm vụ cho đội ngũ giảng viên, đảm bảo phù hợp giữa nhiệm vụ được giao và với ngạch giảng viên được bổ nhiệm Ngoài ra phải đảm bảo các chế độ, chính sách đối với đội ngũ giảng viên trong đơn vị để đội ngũ giảng viên yên tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Người giảng viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ giảng dạy của mình; giảng viên giữ chức vụ quản lý còn phải chịu trách nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của giảng viên thuộc quyền quản lý theo quy định của pháp luật
Trong quá trình sử dụng giảng viên, nhà trường có thể điều động, luân chuyển nhưng phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ thực tế và phù hợp với trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực của giảng viên; phải đảm bảo đầy đủ mọi chế độ ưu đãi, chính sách khuyến khích củ nhà nước nếu có
Đánh giá trong giáo dục về cơ bản là một hoạt động mang tính xã hội, có tầm quan trọng hàng đầu đối với vấn đề chất lượng Nhiều nghiên cứu đã thừa nhận rằng việc đánh giá thường xuyên có tác động tích cực tới việc nâng cao không ngừng chất lượng của quá trình dạy và học Do chất lượng là trách nhiệm của tất cả mọi người, đặc biệt là những người có liên quan trực tiếp với hoạt động giảng dạy, giảng viên trở thành những người đóng vai trò chủ chốt trong việc đánh giá công việc của chính họ Vấn đề là làm sao cho giảng viên tham gia vào việc đánh giá một cách hợp lý và có hiệu quả, trong đó họ vừa là người được đánh giá vừa là người hỗ trợ cho việc đánh giá
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giảng viên trường cao đẳng 2.1.4.1 Yếu tố bên ngoài
a Chủ trương phát triển giáo dục và đào tạo Quốc gia
Tại Đại hội khóa X, Đảng chủ trương: Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Có những điểm cần chú ý:
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cầu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa”, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam
Trang 33- Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục
- Đổi mới mạnh mẽ giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông Khẩn trương điều chỉnh, khắc phục tình trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông đảm bảo tính khoa học, cơ bản, phù hợp tâm lý lứa tuổi và điều kiện cụ thể của Việt Nam Kết hợp việc tổ chức phân ban với tự chọn ở trung học phổ thông trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp
và phân luồng từ trung học cơ sở Bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng phổ cập giáo dục
- Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế và cho việc xuất khẩu lao động Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận, huyện Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề , tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học nghề, lập nghiệp Tổ chức dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sản xuất phù hợp cho nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số
- Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học, gắn đào tạo với sử dụng, trực tiếp phục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động, phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài; nhanh chóng xây dựng cơ cầu nguồn nhân lực hợp lý
về ngành nghề, trình độ đào tạo, dân tộc, vùng miền ; có cơ chế và chính sách gắn kết có hiệu quả trường đại học với cơ sở nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp để chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh Xây dựng một số trường đại học trọng điểm đạt trình độ khu vực và quốc tế
- Bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc học Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tích cực, sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều Hoàn thiện hệ
Trang 34thống đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục Cải tiến nội dung và phương pháp thi cử nhằm đánh giá đúng trình độ tiếp thu tri thức, khả năng học tập Khắc phục những mặt yếu kém và tiêu cực trong giáo dục
- Thực hiện xã hội hóa giáo dục: Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp
để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục
- Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục Phân cấp, tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo dục Nhà nước tăng đầu tư tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thực hiện việc miễn giảm đóng góp và cấp học bổng cho học sinh nghèo, các đối tượng chính sách, học sinh giỏi
- Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo Tiếp cận chuẩn mực giáo dục tiên tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam; tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế giới Có cơ chế quản lý phù hợp đối với các trường do nước ngoài đầu tư hoặc liên kết đào tạo
b Các quy định về tiêu chuẩn đối với đội ngũ giảng viên
Căn cứ vào Điều lệ trường Cao đẳng (theo Thông tư 01/2015/TT-BGD&ĐT ngày 15/01/2015 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và Bộ luật Giáo dục Đại học 08/2012/QH13 của Quốc hội có thể đưa ra những tiêu chí đánh giá về đội ngũ giảng viên như sau:
- Có kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên và nhân viên; quy hoạch bổ nhiệm cán bộ quản lý đáp ứng mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ và phù hợp với điều kiện cụ thể của trường đại học; có quy trình, tiêu chí tuyển dụng, bổ nhiệm rõ ràng, minh bạch
- Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên được đảm bảo các quyền dân chủ trong trường đại học
- Có chính sách, biện pháp tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ ở trong và ngoài nước
- Đội ngũ cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý chuyên môn, nghiệp vụ và hoàn thành nhiệm vụ được giao
Trang 35- Có đủ số lượng giảng viên để thực hiện chương trình phát triển giáo dục nhằm giảm tỷ lệ trung bình sinh viên/giảng viên
- Đội ngũ giảng viên đảm bảo trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo theo quy định Giảng dạy theo chuyên môn được đào tạo; đảm bảo cơ cấu chuyên môn và trình độ theo quy định; có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu về nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học
- Đội ngũ giảng viên được đảm bảo cân bằng về kinh nghiệm công tác chuyên môn và trẻ hóa của đội ngũ giảng viên theo quy định
- Đội ngũ kỹ thuật viên, nhân viên đủ số lượng, có năng lực chuyên môn
và được định kỳ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, phục vụ có hiệu quả cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
2.1.4.2 Yếu tố bên trong
a Quan điểm của lãnh đạo cơ sở giáo dục
Nhìn từ góc độ lãnh đạo các cơ sở giáo dục ảnh hưởng đến tập thể đội ngũ giảng viên như sau:
- Đội ngũ giảng viên phải đạt chuẩn cả về số lượng và chất lượng
- Đội ngũ giảng viên phải hợp lý về cơ cấu Có sự liên tục, kế thừa giữa các thế hệ và chuẩn bị để có thể đổi mới các thế hệ theo một tỷ lệ nhất định Một tập thể đội ngũ cần bao gồm 04 lớp nhân sự:
+ Lớp giảng viên đầu ngành (thâm niên giảng dạy trên 20 năm)
+ Lớp giảng viên đã ổn định và vững tay nghề (thâm niên giảng dạy 10-20 năm)
+ Lớp giảng viên đã quen với công việc (thâm niên giảng dạy 5-9 năm) + Lớp giảng viên mới (thâm niên giảng dạy dưới 5 năm)
- Đội ngũ giảng viên phải được bồi dưỡng thường xuyên
- Đạt hiệu quả trong việc thực hiện các nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học
- Đội ngũ giảng viên phải đoàn kết thông nhất để tạo nên sức mạnh của tập thể
b Các chính sách thu hút nhân tài của cơ sở giáo dục
Chưa bao giờ vấn đề bồi dưỡng và thu hút nhân tài lại trở thành vấn đề
Trang 36“nóng” đầy sự quan tâm của toàn xã hội như hiện nay Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: Tất cả những hiền tài đều là tài nguyên khí của quốc gia
Từ nhiều năm qua, chính sách thu hút nhân tài được xem như một chiến lượng dài hạn của các trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước Việc thu hút người tài, người có trình độ cao với những học vị, học hàm được cụ thể hóa với các chế độ phụ cấp, thu nhập, mức lương Bài toán thu hút nhân tài với mức chi
hỗ trợ của từng trường là khác nhau nhưng nhìn chung có điểm tương đồng: Tạo môi trường cho người có tài phát huy tài năng của mình Xác định việc đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng học sinh - sinh viên giỏi góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cung ứng người tài cho nhà trường trong tương lai Công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, rèn luyện năng khiếu đỉnh cao luôn được gắn liền với việc phát triển toàn diện về năng lực và phẩm chất sinh viên Nhân tài phải là người có thực học, thực tài chứ không phải là người hụt hẫng về kiến thức nhưng lại thừa học vị, học hàm
Thực tế cho thấy, những chính sách thu hút, tuyển chọn, sử dụng và bồi dưỡng nhân tài vẫn còn nhiều bất cập Một trong những điểm bất cập dễ nhận thấy là việc phát hiện nhân tài Một trong những nguồn cung ứng nhân tài từ những năm qua là sinh viên có học lực xuất sắc Ngoài yếu tố là sinh viên giỏi,
để trở thành nhân tài phải bao gồm năng khiếu bẩm sinh, khả năng sáng tạo, bản lĩnh phát triển kỹ năng chuyên môn, khi triển khai chính sách thu hút nhân tài cần đảm bảo khâu giám sát liên tục của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Cần có giám sát để đảm bảo rằng những chính sách đề ra là phù hợp với sự phát triển của xã hội, để kịp thời điều chỉnh khi có những điểm bất hợp lý hoặc lạc hậu trong chính sách Chiến lược thu hút nhân tài phải thực chất Việc thu hút người tài phải đảm bảo tuân thủ những yêu cầu tuyển dụng nhân sự (ký kết hợp đồng kèm theo những yêu cầu cụ thể, đánh giá năng lực ) Khi đã có người tài nhiệt tâm cống hiến tài năng, trí tuệ cho đất nước, các cấp chính quyền cần biết trân trọng đón nhận và phát huy đúng sở trường của họ
c Các chính sách trong đào tạo, bồi dưỡng
Trước kia trong chế độ cũ người ta không mấy chú trọng đến chất lượng đội ngũ giảng viên việc nhận người vào làm là do quan hệ than thuộc quen biết dẫn đến hình thành đội ngũ cán bộ giảng viên giảng dạy không hiệu quả, bị động, sinh viên không nắm được bản chất của bài học Mặt khác công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giảng viên không được tiến hành Nhưng ngày nay
Trang 37trước cạnh tranh về chất lượng giảng dạy cũng như mục tiêu đào tạo của nhà trường thì công tác này là một nhiệm vụ cấp bách không thể thiếu đối với bất cứ một cơ sở giáo dục nào Trong thời kì mà sinh viên có rất nhiều quyền lựa chọn
cơ sở giáo dục nào cho bản thân thì một cơ sở giáo dục đào tạo muốn phát triển nhanh thì phải tạo ra một nguồn nhân lực giảng dạy có trình độ chuyên môn như vậy mới có thể đào tạo và định hướng cho việc phát triển cho sinh viên Mục đích cuối cùng của công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giảng viên là đạt được hiệu quả cao nhất về tổ chức vì vậy phát triển và đào tạo đội ngũ giảng viên liên quan chắt chẽ đến quá trình phát triển của Nhà trường
Xây dựng và thực hiện theo một chính sách phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là đội ngũ giảng viên bằng những hoạt động phát triển và đào tạo có tổ chức những nhóm khác nhau thực hiện, phân tích đánh giá nhu cầu đào tạo của mọi người giảng viên ở mọi trình độ trong nhà trường
d Các chính sách đãi ngộ
Việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên ĐH & CĐ đòi hỏi phải có những chế độ chính sách hợp lý, tạo ra động lực phát triển, trong đó bồi dưỡng là một bộ phận cấu thành quan trọng của công tác phát triển đội ngũ, giúp người giảng viên cập nhật kiến thức và kỹ năng mới
Để đáp ứng yêu cầu phát triển đội ngũ, việc đào tạo, bồi dưỡng phải căn
cứ vào quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn nghiệp vụ đối với chức danh của công chức giảng dạy, chủ động khắc phục tình trạng hẫng hụt cán bộ giảng dạy có trình độ cao ở các trường ĐH & CĐ
Để giữ chân được những giảng viên giỏi, có trình độ chuyên môn tốt thì phải có chính sách sử dụng đãi ngộ tốt Muốn có trình độ cao, theo kịp trình độ khoa học tiên tiến, người giảng viên phải không ngừng học tập Muốn thế, họ phải
có thu nhập hoàn toàn yên tâm để tập trung vào chuyên môn Ngoài lương ra thì chế độ đãi ngộ còn phải có tham quan, du lịch, dự các hội thảo nâng cao trình độ chuyên môn ở nước ngoài Chế độ đó khuyến khích nâng cao trình độ và chất lượng đào tạo, không tính đến nhu cầu trang bị và sử dụng các phương tiện kĩ thuật tối thiểu như máy vi tính, đi tham quan, trao đổi khoa học với nước ngoài
e Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
Muốn xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên, không thể tách dời yếu
cơ sở vật chất - thiết bị dạy học Thiết bị dạy học vừa là công cụ, phương tiện của
Trang 38việc giảng dạy, vừa là đối tượng của nhận thức Nó là thành tố không thể thiếu được trong cấu trúc toàn vẹn của quá trình giáo dục, giảng dạy, góp phần quyết định nâng cao chất lượng đào tạo, là cầu nối giữa giảng viên và sinh viên, làm cho hai nhân tố này tác động tổng hợp với nhau trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo Cơ sở vật chất - thiết bị dạy học hiện đại là điều kiện để người giảng viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, là điều kiện để nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng đội ngũ
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển đội ngũ giảng viên ở Australia
Trước đây, tại Australia chuẩn nghề nghiệp nâng cao của nhà giáo được xây dựng bởi các hiệp hội nhà giáo theo chuyên ngành, nhưng hiện nay trách nhiệm này thuộc Teaching Australia xây dựng để đảm bảo tính tương thích và nhất quán Tổ chức này cho rằng chuẩn nghề nghiệp của giảng viên là sự phát biểu rõ ràng về những gì mà nhà giáo phải biết, có khả năng thực hiện, trên cơ sở các giá trị của nghề dạy học, kinh nghiệm của những giảng viên thành đạt và kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực dạy học
Phát triển đội ngũ giảng viên ở Australia thay đổi qua nhiều thời kỳ với các chương trình đào tạo đa dạng, linh hoạt theo nhu cầu đào tạo và chú trọng nghiên cứu, đổi mới các phương pháp giáo dục và học tập trong đào tạo giảng viên 2.2.2 Kinh nghiệm phát triển đội ngũ giảng viên ở Việt Nam
Để đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta hiện nay thì yêu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao là hết sức cần thiết Các trường đại học và cao đẳng có vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực này cho đất nước Đặc biệt phải kể tới tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên Nếu độ ngũ này có trình độ cao, đáp ứng được các yêu cầu đặt ra cả về số lượng
và chất lượng,… sẽ góp phần giúp chất lượng hoạt động giáo dục cao đẳng, đại học của nước ta được cải thiện
Qua tham khảo kinh nghiệm một số nước về phát triển ĐNGV, có thể rút ra một số kinh nghiệm áp dụng vào điều kiện Việt Nam như sau:
- Để phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia,
sự phát triển giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp luôn gắn liền với sự tiến bộ khoa học
- kỹ thuật hiện đại
Trang 39- Trên thế giới, chuẩn nghề nghiệp giảng viên được xây dựng và sử dụng trong những chương trình đào tạo giảng viên ban đầu, chương trình hỗ trợ giảng viên và chương trình phát triển nghề nghiệp giảng viên thường xuyên
Việc đánh giá giảng viên thường dựa vào mức độ giảng viên đạt được chuẩn nghề nghiệp ban hành theo một quy trình và trên cơ sở là các chuẩn nghề nghiệp của nhà giáo phải do chính các nhà giáo tham gia xây dựng
Mặt khác những kinh nghiệm phát triển đội ngũ giảng viên ở các nước như kinh nghiệm về đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, xây dựng quỹ khuyến kích phát triển giảng viên, cấp chứng chỉ hành nghề, sát hạch giảng viên, chuẩn nghề nghiệp giảng viên cần được nghiên cứu vận dụng ở nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
* Kinh nghiệm phát triển đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Kinh
- Có sự phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ của các phòng, khoa và bộ môn
- Giáo dục ĐNGV nhận thức sâu sắc về vị trí, tiêu chuẩn, nghĩa vụ và quyền lợi của người giảng viên và luôn có ý thức rèn luyện phẩm chất và nâng cao năng lực chuyên môn của mình
- Có Văn bản cụ thể quy định về chế độ, chính sách đối với những người đi đào tạo, bồi dưỡng, NCKH
- Có một khoản kinh phí hợp lý dành cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
và NCKH
2.2.3 Bài học rút ra cho Trường CĐSP Bắc Ninh
Đối với Trường CĐSP Bắc Ninh nói riêng và các trường CĐSP trên toàn quốc nói chung, hầu hết tất cả các trường đang gặp khó khăn trong khâu tuyển sinh, nhiều trường đã giải thể hay chuyển sang đào tạo đa ngành Nguyên nhân là trên cả nước có quá nhiều trường Đại học công lập và tư thục, số lượng tuyển
Trang 40sinh của các trường quá lớn lên đã thu hút gần hết học sinh Và các sinh viên tốt nghiệp ra trường rất khó cạnh tranh xin việc, tuyển công chức, viên chức
Đứng trước thực trạng hiện nay để đảm bảo tồn tại và phát triển, Nhà trường đã rút ra một số bài học như sau:
- Phải xây dựng kế hoạch tuyển sinh, coi việc tuyển sinh là hàng đầu, là sống còn với Nhà trường
- Xác định đúng vai trò vị trí của đội ngũ giảng viên là bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực trong nhà trường Đó là lực lượng lao động trực tiếp tham gia vào quá trình đào tạo Chất lượng đào tạo là yếu tố hàng đầu quyết định chất lượng học sinh, sinh viên ra trường, đó cũng là yếu tố giúp nhà trường tạo được thương hiệu so với các trường khác
- Chăm lo xây dựng đội ngũ để có đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu loại hình, vững vàng về trình độ có thái độ nghề nghiệp tốt, tận tụy với nghề, đảm bảo chất lượng về mọi mặt để đội ngũ giảng viên thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất chương trình, kế hoạch đào tạo và những mục tiêu chung của nhà trường
- Phải làm cho đội ngũ giảng viên luôn có đủ mọi điều kiện, có khả năng sáng tạo trong việc thực hiện tốt nhất những mục tiêu của nhà trường đồng thời tìm thấy lợi ích cá nhân trong mục tiêu phát triển của tổ chức, phát triển đội ngũ giảng viên phải tạo ra sự gắn bó kết hợp mật thiết giữa công tác quy hoạch, kế hoạch tuyển chọn, sử dụng, đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng và tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ phát triển
- Phát triển đội ngũ giảng viên là bao gồm sự phát triển toàn diện của người giảng viên giảng dạy với tư cách là con người, là thành viên trong cộng đồng nhà trường, là nhà chuyên môn, nhà khoa học trong hoạt động sư phạm về giáo dục
- Xây dựng phát triển đội ngũ là phải làm tốt công tác quy hoạch, xây dựng được kế hoạch tiếp nhận, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ thường xuyên liên tục
- Kết quản công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên không những chỉ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp cho các nhà giáo mà còn cần phải quan tâm đến nhu cầu thăng tiến, những quyền lợi thiết thực để thực
sự làm cho người giảng viên gắn bó, yêu nghề, tận tụy với sự nghiệp trồng người