HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HOÀNG THỊ PHƯƠNG NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI CHỈ TIÊU LÂM SÀNG, PHI LÂM SÀNG VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ Ở ĐÀN LỢN NÁI MẮC HỘI CHỨNG VIÊM VÚ, VIÊM TỬ CUNG, MẤ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG THỊ PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI CHỈ TIÊU LÂM SÀNG, PHI LÂM SÀNG VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ Ở ĐÀN LỢN NÁI MẮC HỘI CHỨNG VIÊM VÚ, VIÊM TỬ CUNG, MẤT SỮA (MMA) ĐANG NUÔI TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN GIỐNG LỢN HẠT NHÂN THỤY PHƯƠNG, VIỆN CHĂN NUÔI
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi với sự giúp đỡ của tập thể trong và ngoài cơ quan
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, và tôi xin chịu trách nhiệm
về những số liệu trong luận văn này
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Có được công trình nghiên cứu này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới TS Trịnh Đình Thâu đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian chỉ bảo tận tình giúp tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Giải phẫu vật nuôi, Khoa Thú y – Học viện nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương, Lãnh đạo và cán bộ viên chức Trung tâm đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nâng cao kiến thức, hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Phương
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn……….…………viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
2 Tìm ra được phác đồ điều trị hiệu quả hội chứng MMA 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới của đề tài 2
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn nái 3
2.1.1 Sự thành thục về tính 3
2.1.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp 5
2.1.3 Khoảng cách giữa các lứa đẻ 7
2.1.4 Sinh lý đẻ 7
2.1.5 Sinh lý tiết sữa của lợn nái 8
2.2 Hội chứng MMA 9
2.2.1 Khái niệm 9
2.2.2 Ảnh hưởng của hội chứng MMA 15
2.3 Tình hình nghiên cứu hội chứng MMA 16
2.3.1 Tình hình mắc hội chứng MMA 16
2.3.2 Nguyên nhân gây bệnh 19
2.3.3 Biến đổi lâm sàng và phi lâm sàng 21
2.3.4 Phòng bệnh 23
2.3.5 Chẩn đoán và điều trị bệnh 25
Trang 5Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Địa điểm nghiên cứu 28
3.2 Thời gian nghiên cứu 28
3.3 Đối tượng nghiên cứu 28
3.4 Nội dung nghiên cứu 28
3.4.1 Khảo sát tỷ lệ mắc hội chứng MMA ở lợn nái sau sinh 28
3.4.2 Ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái 28
3.4.3 Biến đổi lâm sàng 29
3.4.4 Biến đổi sinh lý, sinh hóa máu 29
3.4.5 Thử nghiệm phác đồ điều trị hội chứng MMA 29
3.5 Phương pháp nghiên cứu 29
3.5.1 Điều tra tỷ lệ mắc hội chứng MMA 29
3.5.2 Phương pháp xác định các biến đổi lâm sàng lợn nái mắc MMA 30
3.5.3 Phương pháp lấy mẫu 30
3.5.4 Thử nghiệm điều trị hội chứng MMA 30
3.6 Xử lý số liệu 32
Phần 4 Kết quả và thảo luận 33
4.1 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc hội chứng MMA 33
4.1.1 Tỷ lệ mắc hội chứng MMA ở đàn nái sau sinh tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Thụy Phương 33
4.1.2 Tỷ lệ mắc hội chứng MMA theo lứa đẻ 35
4.2 Ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái 37
4.3 Các biến đổi lâm sàng 39
4.4 Biến đổi sinh lý, sinh hóa máu 40
4.4.1 Biến đổi sinh lý máu 41
4.4.2 Biến đổi sinh hóa máu 45
4.5 Kết quả thử nghiệm điều trị hội chứng MMA 47
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 50
Tài liệu tham khảo 51
Một số hình minh họa 56
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa của chữ viết tắt
ACTH Adrenocorticotropic hormone: Kích tố tuyến trên thận
CFU Clony Forming Unit: đơn vị khuẩn lạc
cs Cộng sự
FSH Follicule Stimulating Hormone: Kích tố nang trứng
GOT Glutamat Oxaloacetat Transaminase: Enzym trao đổi amin IL-6 Interleukin-6: là một Glycoprotein gồm 184 acid amin
LH Luteinising Hormone: Kích hoàng thể tố
MIC Minimum inhibitory concentration: nồng độ ức chế tối thiểu MMA Metritis, mastitis, agalactia: hội chứng viêm tử cung, viêm vú,
mất sữa PGF2α Prostaglandin F2-alpha: hormon sinh sản
PPDS/ PDS Postpartum dysgalactia syndrome: Hội chứng rối loạn tiết sữa
sau đẻ
STH Somato trophin hormone: Kích tố phát triển
TNFα Tumor necrosis factor: Cytokine-yếu tố hoại tử khối u
TSH Thyroid Stimulating Hormone: Kích tố tuyến giáp
YCW Yeast cell wall: men vách tế bào
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tỷ lệ nái mắc hội chứng MMA 33
Bảng 4.2 Tỷ lệ nái mắc hội chứng MMA theo lứa đẻ 36
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái 37
Bảng 4.4 Một số biểu hiện lâm sàng của nái mắc MMA 39
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của nái mắc hội chứng MMA và nái không mắc 41
Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu hệ bạch cầu của nái mắc hội chứng MMA và nái không mắc 43
Bảng 4.7 Hàm lượng protein tổng số, các tiểu phần protein trong huyết thanh nái mắc MMA và nái không mắc 45
Bảng 4.8 Kết quả thử nghiệm điều trị hội chứng MMA và khả năng sinh sản của nái sau khi khỏi bệnh 48
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tiết diện núm vú và phân loại khả năng hoạt động của núm vú lợn cái 12
Hình 2.2 Sơ đồ cơ chế phát sinh chứng mất sữa 17
Hình 2.3 Sơ đồ cơ chế phát sinh chứng viêm tử cung 17
Hình 2.4 Sơ đồ cơ chế phát sinh chứng viêm vú 17
Hình 2.5 Sơ đồ cơ chế gây hội chứng MMA 18
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ mắc hội chứng MMA 35
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ mắc hội chứng MMA theo lứa đẻ 36
Hình 4.3 Biểu đồ công thức bạch cầu lợn khỏe 43
Hình 4.4 Biểu đồ công thức bạch cầu lợn mắc MMA 44
Hình 4.5 Biểu đồ tiểu phần protein huyết thanh lợn khỏe 45
Hình 4.6 Biểu đồ tiểu phần protein huyết thanh lợn mắc MMA 46
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Hoàng Thị Phương
Tên luận văn: “Nghiên cứu sự biến đổi chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm phác đồ điều trị ở đàn lợn nái mắc hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa (MMA) đang nuôi tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Thụy Phương, Viện Chăn nuôi”
Ngành: Thú y Mã ngành: 60 64 01 01
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
1 Đánh giá được ảnh hưởng của hội chứng MMA lên đàn nái mắc bệnh nuôi tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Thụy Phương
2 Tìm ra được phác đồ điều trị hiệu quả hội chứng MMA
Nội dung nghiên cứu
Khảo sát thực trạng mắc hội chứng MMA ở đàn lợn nái sau sinh nuôi tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Thụy Phương
Đánh giá ảnh hưởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh sản của lợn nái Xác định các biến đổi lâm sàng
Xác định các biến đổi sinh lý và sinh hóa máu của lợn mắc hội chứng MMA Thử nghiệm điều trị trên đàn nái mắc hội chứng MMA
Phương pháp nghiên cứu
Xác định tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng MMA căn cứ hồ sơ theo dõi, kết hợp với theo dõi trực tiếp
Xác định một số biến đổi lâm sàng của lợn nái mắc MMA như sốt, tăng tần số
hô hấp, ủ rũ, kém ăn, có dịch viêm tử cung, không cho con bú
Xác định các biến đổi sinh lý, sinh hóa máu của nái trong nghiên cứu được xác định bằng hệ thống xét nghiệm tự động: Hema Screen 18 (xác định các chỉ tiêu sinh lý)
và mấy Cell-Dyn 3700 Abbott Hoa Kỳ (xác định các chỉ tiêu sinh hóa)
Thử nghiệm điều trị, so sánh hiệu quả điều trị của 3 phác đồ
Kết quả chính và kết luận
1 Tỷ lệ mắc hội chứng MMA ở đàn lợn nái nuôi theo mô hình trang trại tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Thụy Phương trong khoảng thời gian nghiên cứu là 16,25%; Nái đẻ ở lứa 1 và từ lứa 6 tỷ lệ mắc hội chứng cao hơn những lứa còn lại
Trang 102 Nái mắc hội chứng MMA giảm tỷ lệ động dục lại sau cai sữa từ 95,64% còn 81,03%; thời gian động dục trở lại sau cai sữa kéo dài từ 5,29 ± 1,52 ngày lên 6,11 ± 1,76 ngày; làm giảm năng suất sinh sản của nái mắc MMA: giảm số lứa/nái/năm, giảm
số con cai sữa/nái/năm
3 Nái mắc hội chứng MMA giảm tỷ lệ động dục lại sau cai sữa từ 95,64% còn 81,03%; thời gian động dục trở lại sau cai sữa kéo dài từ 5,29 ± 1,52 ngày lên 6,11 ± 1,76 ngày; làm giảm năng suất sinh sản của nái mắc MMA: giảm số lứa/nái/năm, giảm
số con cai sữa/nái/năm
4 Chỉ tiêu sinh lý máu (hồng cầu và bạch cầu) tăng lên; chỉ tiêu sinh hóa máu (prtein huyết thanh) giảm
5 Kháng sinh Amoxicillin và Gentamicin có tác dụng tốt trong điều trị hội chứng MMA (tỷ lệ khỏi bệnh >86,67%)
Trong phác đồ điều trị bệnh bằng kháng sinh có bổ sung 10mg PGF2α hay 30IU Oxitocin cho hiệu quả điều trị tốt hơn: rút ngắn thời gian điều trị và tăng năng suất sinh sản của nái
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Hoang Thi Phuong
Thesis title: “Research the signs of clinical, paraclinical changes manifestations and Experimental treatment of sows infected with matritis-mastitis-agalactia (MMA) syndrome in Thuy Phuong pig research and development Centre, The National institute
of animal Science”
Major: Veterinary Medicine Code: 60 64 01 01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research purposes
1 It was determined effecting of MMA syndrome essessment to sows at Thuy Phuong pigs research and development centre
2 Find out effective treatment MMA syndrome
Research Objectives
To determine the real situation imported sows get metritis-mastitis-agalactia (MMA) syndrome in Thuy Phuong pig research and development centre
Effect of MMA on reproductive performance of sows
To determine changing of clinical indicator
To determine changing of physiological and biochemical parameters of pigs with MMA syndrome
Experimental treatment in sows with MMA syndrome
Materials and Methods
Determine the percentage of sows with MMA based on the sow records at the research station, in combination with direct monitoring
To determine changing of clinical indicator as Pyrexia, restlessness, and anorexia The sows metritis-mastitis-agalactia (MMA) syndrome were not willing for the piglets to suckle or exhibited a marked disinterest in the piglets
Determine changing of physiological and biochemical parameters of pigs with MMA syndrome: Testing blood physiological criteria by the Hema Screen 18; Testing
of blood biochemical parameters by Cen-difl 3700
Trial of treatment with 3 regimens and evaluation of treatment results of each regimen
Trang 12Main results and conclusions
1 The rate of imported sows get MMA in Thuy Phuong pig research and development station average 16,25%; Sow in the first litter and from the sixth litter has higher ratio of MMA than other litters
2 Sows has MMA syndrome reduce reproductive performance: reduce the rate
of re-oestrus after weaning from 95,64% to 81,03%; prolonged eostrus time back from 5,29 ± 1,52 days to 6,11 ± 1,76 days; reduced weaning weight at 21 days of age, weaned/sow weaning, prolonged postweaning weaning time sows, lower conception rates than healthy sows
3 Hyperthermia, respiratory frequency, poor appetite; Inflammation of the uterus, reduction or discontinuation of sows in the sows are clinical manifestations of MMA
4 There was a significant change in the physiological and biochemical parameters of sows with MMA compared to normal sows
5 Antibiotics Amoxicillin and Gentamicin are effective in treating MMA (86,67% cure rate)
In the treatment regimen with antibiotics supplemented with 10mg PGF2α or 30IU Oxitocin for better therapeutic effect: shorten treatment time and increase reproductive yield of sows
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Năng suất sinh sản của lợn nái là yếu tố quyết định hiệu quả chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn nái nói riêng đối với mỗi cơ sở chăn nuôi Trong đó, quản lý mầm bệnh là một trong những yếu tố quyết định đến thành công của chăn nuôi lợn nái sinh sản Bên cạnh việc kiểm soát các bệnh truyền nhiễm, các bệnh sinh sản xảy ra thường xuyên trên nái, đặc biệt các bệnh sinh sản trên nái sau sinh có ảnh hưởng lớn đến tiềm năng sinh sản của nái và chất lượng lợn con được sinh ra Một trong số đó là các bệnh hội chứng MMA (viêm tử cung – Metritis, viêm vú – Mastitis, mất sữa – Agalactia)
Hội chứng MMA trên lợn nái là tình trạng xáo trộn sinh lý của nái sau khi sinh, thường được ghi nhận trên chẩn đoán lâm sàng gồm có: vú sưng, cứng, đỏ, giảm hoặc ngừng tiết sữa, tử cung tiết dịch viêm chảy ra bên ngoài, xảy ra khá phổ biến ở các mức độ khác nhau, không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, khả năng sinh sản, sức sản xuất của lợn nái mà còn ảnh hưởng đến chất lượng lợn con, hội chứng MMA làm giảm tiết sữa và đặc biệt làm thay đổi thành phần của sữa qua đó làm tăng tỷ lệ chết ở lợn sơ sinh tới 80% (Shrestha, 2012)
Ở Việt Nam, đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống
về hội chứng MMA như đánh giá tỷ lệ mắc, phân lập vi khuẩn gây bệnh, thử nghiệm phác đồ điều trị (Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho, 1985; Trịnh Đình Thâu và cs., 2010); xác định sự thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu, xác định sự biến động hàm lượng vi khuẩn và thành phần hóa học, tính chất của sữa lợn mắc hội chứng MMA (Nguyễn Thị Hồng Minh và cs., 2013) Việc tiếp cận nghiên cứu tổng thể từ nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng, phi lâm sàng, các yếu
tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc và đánh giá hiệu quả của một số giải pháp phòng, trị hội chứng MMA là yêu cầu cấp thiết trong thực tế sản xuất hiện nay
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng và hạn chế tác hại của hội chứng MMA, góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái được nuôi giữ tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Thụy Phương đồng thời góp thêm tư liệu khoa học cho việc hoàn thiện chương trình phòng chống, hạn chế dịch bệnh trên đàn lợn ở Trung tâm, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu sự biến đổi chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm phác đồ điều trị ở đàn lợn nái mắc hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa
Trang 14(MMA) đang nuôi tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Thụy Phương, Viện Chăn nuôi”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1 Đánh giá được ảnh hưởng của hội chứng MMA lên đàn nái mắc bệnh nuôi tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Thụy Phương
2 Tìm ra được phác đồ điều trị hiệu quả hội chứng MMA
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
+ Địa điểm nghiên cứu:
- Trung tâm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Thụy Phương trực thuộc Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương Địa chỉ:Phường Thụy Phương, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội
- Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học – Khoa thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam Địa chỉ: Giảng đường B, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
+ Thời gian nghiên cứu: từ tháng 07/2016 đến tháng 08/2017
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
- Nái ngoại được nuôi tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Thụy Phương sinh sản trong khoảng thời gian từ tháng 07/2016 đến hết tháng 06/2017; Đàn lợn con được sinh ra từ những lợn nái được nghiên cứu, đang trong giai đoạn theo mẹ
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu một cách có hệ thống về hội chứng MMA, từ biểu hiện triệu chứng trên lâm sàng đến các chỉ tiêu phi lâm sàng và đề xuất điều trị hội chứng MMA
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học: Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống
về hội chứng MMA trên đàn lợn sinh sản nuôi tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương
Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu giúp cho người quản lý đưa ra các biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh và thiệt hại do bệnh gây ra, từ đó nâng cao năng suất sinh sản cho đàn nái tại cơ sở chăn nuôi
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC LỢN NÁI
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, sử dụng Để đánh giá đặc điểm sinh lý của lợn nái người ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây:
2.1.1 Sự thành thục về tính
Khái niệm
Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này, tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo, đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục
Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng Những con lợn tăng trưởng nhanh sẽ thành thục sớm (Nguyễn Thiện, 2008) Lợn nái sau khi thành thục có khả năng sinh sản nhưng sẽ không được phối giống trong lần động dục đầu tiên do sự thành thục về tầm vóc thường diễn ra chậm hơn thành thục về tính, do đó lợn mang thai trong giai đoạn này dễ dẫn dến khó đẻ và lợn con được sinh ra yếu
Các yếu tố ảnh hưởng
+ Các yếu tố di truyền
Các giống lợn khác nhau, tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn Sự thành thục về tính ở lợn cái được định nghĩa là thời điểm rụng trứng lần đầu tiên và xảy ra lúc 3 – 4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm (các giống lợn nội và một số giống lợn Trung Quốc) và 6 – 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển (Rothschild and Bidanel, 1998)
Trang 16Theo Phạm Hữu Doanh và cs (1995), tuổi thành thục về tính của lợn nái ngoại và nái lai muộn hơn nái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái, Mường Khương, ) Các giống lợn nội thường có tuổi thành thục từ 4-5 tháng tuổi (120 - 150 ngày tuổi) Lợn ngoại là 6-8 tháng tuổi, lợn lai F1 (ngoại x nội) thường động dục lần đầu ở 6 - 8 tháng tuổi
- Ảnh hưởng của mùa vụ và thời gian chiếu sáng tới tuổi động dục:
Theo Cẩm nang chăn nuôi (1996) cho rằng: những lợn cái hậu bị được sinh ra trong mùa đông thì động dục lần đầu chậm hơn những con cái hậu bị được sinh ra trong các mùa khác trong năm Ngoài ra sự thành thục về tính dục bị chậm là do nhiệt độ Nếu nhiệt độ quá thấp cũng ảnh hưởng đến phát dục Vì vậy cần có những biện pháp chống nóng, chống lạnh cho lợn Còn đối với thời gian chiếu sáng, được xem như một phần của ảnh hưởng mùa vụ Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm Thời gian chiếu sáng trong ngày là 12 giờ bằng ánh sáng tự nhiên hay nhân tạo sẽ làm cho lợn cái hậu bị động dục sớm hơn so với những lợn có thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn
- Ảnh hưởng của việc nuôi nhốt đến tính phát dục
Mật độ nuôi nhốt ảnh hưởng đến sự thành thục về tính dục Lợn cái hậu bị cần được nuôi theo nhóm ở mật độ thích hợp thì sẽ không ảnh hưởng đến sự phát triển tính dục Những lợn cái hậu bị nuôi nhốt đông trên một đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Tuy nhiên nếu nuôi tác biệt lợn cái hậu bị trong thời gian phát triển cũng làm chậm sự thành thục về tính
Mặt khác, điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và tuổi động dục lần đầu Tiểu khí hậu chuồng nuôi được hình thành do nhiều tác nhân: khí hậu vùng, kiểu chuồng, hướng chuồng, độ thông thoáng, khả
Trang 17năng thoát nước, hàm lượng khí NH3, CO2, H2S Sự trao đổi khí và lượng phân trong chuồng quyết định đến tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thí nghiệm được tiến hành ở Úc cho thấy hàm lượng amoniac (NH3) cao
sẽ làm chậm thời gian động dục lần đầu là 25 – 30 ngày (Paul Hughes and James Tilton, 1996)
- Ảnh hưởng của con đực: sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính dục của lợn cái hậu bị Theo Paul Hughes and James Tilton (1996), nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ngày với thời gian 15 - 20 phút/lần thì kết quả 83% lợn nái (ngoài 90kg thể trọng) động dục lúc
165 ngày tuổi
Theo Hughes P.E (1982), những lợn đực dưới 10 tháng tuổi không có tác dụng trong việc kích thích phát dục, bởi vì những lợn đực còn non này chưa tiết
ra lượng feramon đó là thành phần cần thiết của “hiệu ứng đực giống”
“Hiệu ứng đực giống” tốt nhất khi lợn cái hậu bị khoảng 160 ngày tuổi và lợn đực ít nhất là 10 tháng tuổi, việc nhốt cái hậu bị cạnh chuồng đực giống và cho chúng tiếp xúc trực tiếp trong 1 khoảng thời gian ngắn mỗi ngày sẽ tạo ra đáp ứng tốt nhất ở lợn cái hậu bị
Như vậy, việc sử dụng đực giống cho tiếp xúc trực tiếp với cái hậu bị cũng là cách tốt nhất cho việc thành thục tính dục ở lợn cái hậu bị nhưng cũng cần chú ý đến yếu tố ngoại cảnh làm giảm tác dụng của việc tiếp xúc giữa đực giống và con cái hậu bị
2.1.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
+ Chu kỳ tính
Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi lên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf, khi nang vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng, con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Trần Tiến Dũng và cs., 2002)
Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mới thành thục về tính, chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 - 3 chu kỳ tiếp theo mới ổn định Một chu kỳ tính của lợn cái dao động trong khoảng từ 18 - 22 ngày, trung
Trang 18bình là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc sao cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm góp phần nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái
và kết thúc một chu kỳ động dục
+ Thời điểm phối giống thích hợp
Thời gian tinh trùng lợn đực sống trong tử cung lợn nái khoảng 45 - 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai hiệu quả là rất ngắn, cho nên phải tiến hành phối giống đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất
là vào giữa giai đoạn chịu đực Đối với lợn nái ngoại, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6-8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3
và sang ngày thứ 4 kể từ lúc bắt đầu động dục (nếu lợn nái chịu đực trước 5 ngày sau cai sữa thì buổi sáng chịu đực, buổi chiều phối, buồi chiều chịu đực thì sáng
Trang 19hôm sau phối; lợn nái sau cai sữa 5 ngày trở lên chịu đực lúc nào phối lúc đó) Khi thụ tinh nhân tạo, thường phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực “chặn đầu, khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng
2.1.3 Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Đây là tính trạng tổng hợp bao gồm thời gian có chửa, thời gian bú sữa, thời gian từ cai sữa đến thụ thai lứa sau, do vậy khoảng cách giữa lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/nái/năm, số lứa đẻ của nái/năm Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của các giống lợn dao động không đáng kể trong khoảng 113-115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi, không chịu ảnh hưởng bởi kích thích bên ngoài cũng như kích thích của thai
Để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ ta chỉ có thể tác động bằng cách rút ngắn thời gian bú sữa và cai sữa sớm ở lợn con Nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận: để rút ngắn thời gian sau đẻ đến phối giống lại có kết quả thì phải chăm sóc nuôi dưỡng tốt và đặc biệt phải cai sữa sớm lợn con, từ đó làm tăng số con cai sữa/nái/năm, tăng số lứa đẻ của nái/năm Để rút ngắn thời gian cai sữa, tiến hành tập ăn sớm cho lợn con từ 5-7 ngày tuổi đến khi lợn con có thể sống bằng thức ăn được cung cấp, không cần sữa mẹ (Lê Thanh Hải và cs., 1994) Hiện nay, ở các trang trại thời gian cai sữa phổ biến là 21 ngày tuổi, sau cai sữa từ 5-6 ngày nái được phối
2.1.4 Sinh lý đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002), gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ đẩy bào thai ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ
Khi gần đẻ, con cái sẽ có các biểu hiện: trước khi đẻ 1-2 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1-2 ngày, cơ quan sinh dục thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:
- Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong;
- Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu;
- Trước khi đẻ ½ ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu;
Trang 20- Trước khi đẻ 2-3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu
* Cơ chế đẻ: đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần kinh – thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục
- Về mặt cơ giới: thai trong tử cung cơ thể mẹ sinh trưởng và phát triển một cách tối đa Ở thời kỳ cuối, thai to tiếp giáp với tử cung, thai chèn ép xoang bụng, đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chặt mạch máu và đám rối thần kinh hông-khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ương, điều tiết hormone gây đẻ Mặt khác, thai chèn ép, co đạp vào tử cung làm kích thích tử cung co bóp, sự co bóp tăng theo thời gian, kể cả cường độ và tần số, dẫn đến tử cung mở
và thai thoát ra ngoài
- Nội tiết: trong thời gian mang thai, thể vàng và nhau thai cùng tiết ra Progesterone, hàm lượng progesterone trong máu tăng tạo nên trạng thái an thai Đến kỳ chửa cuối, thể vàng teo dần và mất hẳn nên lượng progesterone giảm Đồng thời tuyến yên tiết Oxytocine, nhau thai tăng tiết Relaxin làm giãn dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết Oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với Oxytocine trước khi đẻ
- Biến đổi quan hệ giữa cơ thể mẹ và bào thai: khi thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung neen được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ 2-6 giờ được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài
2.1.5 Sinh lý tiết sữa của lợn nái
Quá trình tiết sữa của lợn nái được chia làm 2 giai đoạn:
Trang 21* Quá trình thải sữa:
Quá trình thải sữa cũng nhờ cơ chế thần kinh thể dịch Khi lợn con bú tạo cảm giác truyền về thần kinh trung ương đến vùng dưới đồi kích thích tuyến yên tiết Oxytocine Oxytocine kích thích hệ cơ trơn đầu vú co bóp đẩy sữa ra ngoài
Sự tiết sữa của lợn nái không đồng đều:
- Lượng sữa được tiết ra trong ngày đầu gọi là sữa đầu, sữa đầu có thành phần khác với sữa thường Trong sữa đầu có 13,7% Prealbumin; 11,48% Albumin; 12,7% α-globulin; 11,29% β-globulin và γ-globulin Đây chính là các kháng thể có chức năng miễn dịch cho lợn con nếu lợn con được bú sữa đầu sớm
- Sự tiết sữa không đều theo lứa đẻ: sản lượng sữa tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 sau đó giảm dần
2.2 HỘI CHỨNG MMA
2.2.1 Khái niệm
Hội chứng viếm vú, viêm tử cung, mất sữa (MMA) trên lợn nái là tình trạng xáo trộn sinh lý của nái sau khi sinh, thường được ghi nhận trên chẩn đoán lâm sàng gồm có: vú sưng cứng đỏ sẫm, giảm hoặc ngừng tiết sữa, tử cung tiết dịch viêm chảy ra bên ngoài Những hiện tượng bệnh lý này gọi là hội chứng MMA Viêm vú, viêm tử cung, mất sữa thường đi kèm với nhau hoặc xảy ra riêng lẻ, khi chúng xảy ra với mức độ nặng thì có rất nhiều tác hại đối với lợn nái
và lợn con
Viêm tử cung (Metritis)
Là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau khi đẻ, quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng của thành tử cung gây rối loạn sinh sản, từ đó gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản, thậm chí làm cho gia súc cái mất khả năng sinhsản
Trong hội chứng MMA, viêm tử cung là chứng thường gặp nhất và xảy ra
ở nhiều cấp độ, thông qua tính chất của dịch viêm tiết ra từ tử cung, thường gặp các dạng viêm sau:
- Viêm dạng nhờn: thường xuất hiện sớm sau khi sinh, lớp niêm mạc tử cung bị tổn thương nhẹ, kích thích tiết dịch nhờn tử cung, dịch viêm thường loãng, lợn cợn, mùi tanh, sau vài ngày dịch tiết giảm dần Nhiều khi không cần điều trị cũng tự khỏi
Trang 22- Dạng viêm mủ: thể viêm này tương đối nặng, niêm mạc tử cung bị tổn thương nặng, có sự xâm nhập của vi trùng sinh mủ và hầu hết các vi trùng cơ hội Dạng viêm mủ đôi khi cũng chính là hậu quả của viêm nhờn Viêm dạng
mủ thường biểu hiện các triệu chứng sốt, chán ăn, tiết dịch viêm nhiều mủ có thể lẫn một ít máu
- Viêm dạng mủ lẫn máu: đây là dạng viêm rất nặng, thường đi kèm với nguyên nhân đẻ khó, sót nhau, tử cung bị tổn thương nặng Nái có biểu hiện sốt cao Dịch viêm rất hôi thường dẫn đến viêm vú mất sữa Nếu không can thiệp kịp thời nái rất dễ bị tử vong sau một thời gian hoặc không còn khả năng nuôi con
Theo Đào Trọng Đạt và cs (2000), bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung; dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Khi phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những lợn nái khác bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khỏe
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, theo đó vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sót nhau xử lý không triệt để dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn,lao…
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch; trong thời gian lợn đẻ cổ tử cung mở, tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và gây viêm
Trang 23trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002); Trần Thị Dân (2004), khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau: Sảy thai; Bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu; Giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ; Ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại
Biểu hiện rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn viêm tử cung lúc đẻ là: chảy mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc đẻ ảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Ngoài ra, viêm tử cung là một trong những nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con cai sữa thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng (Madec and Neva, 1995)
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viểm có thể chảy ra ngoài Lượng dịch viêm không ổn định, có thể từ vài millilit (ml) đến vào trăm ml Tính chất của dịch viêm cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng đặc như kem, có thể có màu
đỏ do viêm có chảy máu Người ta thấy rằng thời kỳ sau đẻ hay xuất hiện viêm
tử cung cấp tính, còn viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kỳ cho sữa (Madec and Neva, 1995) Để chẩn đoán, người ta dựa vào những triệu chứng điển hình cục bộ ở cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân như dịch viêm và thân nhiệt: Thân nhiệt là một trị số hằng định ở động vật bậc cao Theo Hồ Văn Nam và cs (1997), thân nhiệt bình thường của lợn là 38 - 38,50C; khi viêm, thân nhiệt tăng từ 1,5 - 20C; Dịch viêm là sản phẩm được tiết ra tại ổ viêm, bao gồm nước, thành phần hữu hình và các chất hòa tan
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm, từ đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất,nhằm đạt hiệu quả điều trị cao nhất
Trang 24Viêm vú (Mastitis)
Cấu trúc bên trong và phân loại khả năng hoạt động của núm vú lợn cái được trình bày tại hình 1:
Hình 2.1 Tiết diện núm vú và phân loại khả năng
hoạt động của núm vú lợn cái
Nguồn: Muirhead and Alexander (2010)
Viêm vú thường ít gặp hơn viêm tử cung Viêm vú xảy ra ở một vú hoặc vài vú hay cả bầu vú, với biểu hiện một hoặc nhiều bầu vú sưng, nóng, đau có khi thành u, cục làm lợn đau đớn Khi ấn vào bầu vú bị viêm còn để lại vết, vú ngừng hoặc giảm tiết sữa, có khi sữa lẫn máu Viêm vú thường đi kèm với sốt cao, bầu
vú bị đau, lợn nái hay nằm sấp không cho con bú Khi viêm vú xảy ra gây ra tác hại rất lớn vì ảnh hưởng trực tiếp lên lợn sơ sinh Nếu không chữa trị kịp thời, vú
bị viêm teo lại, mất sữa, có khả năng bị xơ hóa bầu vú và mất khả năng cho sữa của lợn nái
Theo Nguyễn Như Pho (2002), nguyên nhân gây viêm vú thông thường nhất là trầy xước vú do sàn, nền chuồng nhám, vi trùng xâm nhập vào tuyến sữa Hai loại vi trùng chính gây bệnh là Staphylococcus aureus và Streptococcus
Trang 25agalactiae Các nguyên nhân khác gây viêm như: số con quá ít không bú hết lượng sữa sản xuất; kế phát từ viêm tử cung nặng; hoặc do kỹ thuật cạn sữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm; do vệ sinh không đảm bảo, chuồng trại quá nóng hoặc quá lạnh; do lợn mẹ sát nhau, lợn con khi đẻ ra không được bấm răng nanh ngay; lợn mẹ ăn quá nhiều thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao hàm lượng sữa tiết ra quá nhiều ứ đọng lại trong vú tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập phát triển mạnh mẽ về số lượng và độc lực; do stress: Nái mang thai sắp đến ngày sinh thường bị stress, stress làm giảm sức đề kháng của lợn nái tạo
cơ hội cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển và gây viêm
Với nguyên nhân chấn thương cơ học hoặc lợn con bú không hết sữa, bệnh viêm vú chỉ xuất hiện trên một vài vú Trường hợp kế phát viêm tử cung hoặc cạn sữa không hợp lý, nhiều vú hoặc có khi toàn bộ bầu vú bị viêm.Theo Muirhead and Alexander (2010), nguyên nhân gây viêm một hay nhiều vú ở lợn
do nhiều loại vi khuẩn hoặc có thể do kế phát từ bệnh khác, xảy ra lác đác ở từng
cá thể hoặc cả đàn Bệnh thường xuất hiện tập trung từ khi lợn đẻ đến 12 giờ sau
đó, vi khuẩn xâm nhập vào một hay nhiều bầu vú thông qua núm vú do trầy xước (do răng của lợn con hay nền chuồng cứng) Nhóm vi khuẩn gây viêm vú gồm: Coliform, Klebsiella, Staphylococcus, Streptococcus, Miscellaneous Trong đó
vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus chỉ gây viêm từng tuyến vú, Klebsiella spp gây viêm vú cấp tính và nhóm vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) với nhiều type khác nhau đã được phân lập ở hầu hết các trường hợp viêm vú, độc tố của E coli sinh ra là nguyên nhân gây viêm vú, mất sữa Theo Christensen et al (2007), khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô
vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes Theo White (2013), nguyên nhân chủ yếu gây viêm
vú cấp tính do các loại vi khuẩn: E coli, Klebsiella, đôi khi Pseudomonas nhiễm qua núm vú từ phân và nền chuồng Vì vậy, việc vệ sinh chuồng trại và núm vú đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh
Biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu, sau 1-2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hoặc bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C Tùy số lượng vú bị viêm, nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời
Trang 26do bú sữa bị viêm, nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy toàn đàn Trường hợp viêm tử cung có mủ dẫn đến nhiễm trùng máu, thì toàn bộ các bầu
vú đều bị viêm Đây là thể bệnh điển hình của hội chứng MMA Trường hợp này cần ghép đàn con và loại thải lợn nái (McIntosh, 1996)
Dựa vào triệu chứng lâm sàng: lợn bỏ ăn hoặc ăn ít, bầu vú sưng, nóng,
đỏ, đau… Chẩn đoán phi lâm sàng: lấy mẫu sữa để kiểm tra sự có mặt các tế bào thểvới sữa lợn bình thường tế bào thể đếm được là 1 x 106 tế bào/ml, đối với sữa của bệnh viêm vú số lượng tế bào thể tăng gấp đôi là 1 x 108 tế bào/ml; lấy các chất tiết từ bầu vú để kiểm tra của vi khuẩn gây bệnh Việc kiểm tra càng sớm càng có ý nghĩa trong điều trị (Anonymous, 2012)
Phương pháp chẩn đoán viêm vú bằng cách xác định độ tăng của men catalase và peroxidase: Đây là hai loại enzyme oxy hóa quan trọng trong tế bào, khi các tế bào nang tuyến vú bị phá hủy, trong sữa có máu, mủ và hai loại enzyme này tăng theo tỉ lệ thuận Tùy mức độ tăng enzyme peroxidase và catalase nhiều hay ít, có thể kết luận viêm vú nặng hay nhẹ Khi có mặt H2O2, enzyme catalase và peroxidase sẽ oxy hóa và giải phóng ra oxy
Do giải phóng oxy, trong sữa có những bọt khí nổi lên dễ nhận ra Ngoài
ra người ta có thể dùng các chất chỉ thị màu để phát hiện có oxy hay không Các chất hay sử dụng là Pyramidone, Benzidine, Phenolphtalein Các chất chỉ thị màu này dễ bị đổi màu khi bị oxy hóa, cụ thể:
Pyramidone từ mầu trắng chuyển thành màu tím
Benzidin từ mầu đen thành màu xanh
Phenolphtalein từ mầu trắng chuyển thành màu hồng
Trang 27Chứng mất sữa thường do các nguyên nhân: lợn mẹ sót nhau, nhau còn sót trong tử cung, từ đó luôn tiết ra folliculin ngăn trở sự phân tiết prolactin làm cho tuyến vú không sinh sữa; do lợn mẹ sụt giảm canxi huyết; khẩu phần ăn thiếu chất bột đường, khi quá trình đẻ kéo dài tiêu hao nhiều năng lượng nên khi chất bột đường cạn thì tuyến vú căng nhưng không có sữa; thiếu nước cũng là nguyên nhân dẫn đến kém sữa
Ngoài ra, nái quá béo, tích nhiều mỡ trong tuyến vú, chèn ép làm tuyến vú phát triển yếu; cho lợn ăn nhiều trong giai đoạn mang thai dẫn đến sự chán ăn (bỏ ăn) sau khi đẻ
2.2.2 Ảnh hưởng của hội chứng MMA
Khả năng sinh sản của lợn nái
Hội chứng MMA có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, không chỉ tác động tức thời mà còn làm giảm khả năng sinh sản của lợn nái ở các lứa đẻ tiếp theo Cụ thể:
Bệnh có thể làm tổn thương cơ quan sinh dục, làm lợn nái chậm hoặc không động dục, giảm khả năng thụ thai, dễ sẩy thai, đẻ non hoặc thai dị hình Bệnh nặng có thể làm lợn nái mất khả năng sinh sản
Gây rối loạn hệ nội tiết, các kích tố ở lợn mẹ tiết ra không bình thường, buồng trứng phát triển không đều, trứng không rụng hoặc rụng ít Do vậy, lợn nái
sẽ chậm hoặc không động dục, phối nhiều lần không đậu thai hoặc có đậu nhưng
số con ít Từ đó làm giảm số lứa đẻ/năm, giảm số con/lứa đẻ
Khi bộ máy sinh dục bị bệnh, sẽ gây khó khăn cho quá trình thụ thai, làm biến đổi chức năng sinh sản của gia súc, tăng tỷ lệ vô sinh, tăng chi phí nuôi dưỡng, điều trị đàn nái, từ đó giảm hiệu quả chăn nuôi trên một đầu nái
Làm giảm thời gian sử dụng con nái, gia tăng số lợn nái bị loại thải sớm Sinh trưởng và phát triển của lợn con
Hội chứng MMA xảy ra trên lợn nái và thường trong giai đoạn đang nuôi con Do vậy hội chứng này còn tác động rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của lợn con ngay cả trong giai đoạn theo mẹ và sau khi cai sữa
Lợn con theo mẹ, nhất là từ khi sinh đến 21 ngày tuổi, chịu tác động rất lớn từ nguồn sữa mẹ Bất kỳ sự thay đổi nào về số lượng và chất lượng sữa mẹ
Trang 28đều tác động trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của lợn con Những tác động này sẽlàm cho các cơ quan trong cơ thể lợn con bị ảnh hưởng, nhất là các cơ quan của hệ tiêu hoá vì sức đề kháng của lợn con thấp, dẫn đến khi cai sữa thì sinh trưởng, phát triển của chúng cũng bị giảm sút, khả năng mắc bệnh cao Theo Nguyễn Như Pho (2002), tình trạng tiêu chảy của lợn con tăng cao trên lợn nái mắc hội chứng MMA Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), đàn lợn con được sinh
ra từ những nái mắc bệnh viêm tử cung, sẽ mắc bệnh tiêu chảy với tỷ lệ khá cao
Do khi lợn mẹ bị viêm tử cung, thành phần sữa thay đổi đột ngột trong khi hệ thống tiêu hóa của lợn con chưa phát triển hoàn hảo dẫn đến rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy
Khi lợn mẹ mắc hội chứng MMA, lượng sữa giảm sút, lợn con không
đủ sữa bú, còi cọc, chậm lớn,kéo dài thời gian cai sữa Sữa mẹ rất quan trọng đối với sức đề kháng của lợn con, sữa mẹ không đủ, sức đề kháng thấp nên lợn con dễ mắc một số bệnh như còi xương, xương dị dạng, tỷ lệ lợn con mắc các bệnh khác trong đàn tăng cao Ngoài ra sau khi cai sữa số lợn con này cũng ăn ít, chậm lớn, dễ bị tiêu chảy và mắc các bệnh khác, tăng tỷ lệ tiêu tốn thức ăn/lứa
Như vậy hội chứng MMA có tác động rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái cũng như khả năng sinh trưởng, phát triển của đàn lợn con, làm tăng chi phí giá thành chăn nuôi, giảm hiệu quả kinh tế cho người nuôi
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HỘI CHỨNG MMA
2.3.1 Tình hình mắc hội chứng MMA
Theo Maes et al (2010), MMA có tỷ lệ lưu hành 6,9% trong tổng số 16.450 lợn nái đẻ trong hơn 01 nămtại 31 đàn ở Illinois (Backstrom et al., 1984); trong 27.656 lợn nái đẻ của một nghiên cứu được tiến hành tại bang Missouri có tới 13% nái bị mắc hội chứng MMA; tỷ lệ mắc hội chứng MMA theo đàn ở Thụy Điển biến động từ 5,5% ở đàn quy mô nhỏ và tới 10,3% ở đàn quy mô lớn Ông cũng cho biết, một nghiên cứu mới đây ở 110 đàn lợn tại Bỉ cho thấy 34% số đàn có liên quan đến hội chứng MMA
Theo Shestha (2012), hội chứng MMA gây chết khoảng 2% lợn nái nhưng
tỷ lệ chết ở lợn con lên tới 80% do đói, tiêu chảy… Cơ chế sinh bệnh được biểu thị như sơ đồ 1; 2 và 3:
Trang 29Hình 2.2 Sơ đồ cơ chế phát sinh chứng mất sữa
Stress khi đẻ Cortisol Suy giảm miễn dịch
Oxytocin Viêm vú Vi khuẩn E coli xâm nhập vào tuyếnvú
Viêmtửcung PGF2α Nội độc tố Sốt
Prolactin tiết ra từ tuyến yên
Mất sữa
.
Khi lợn đẻ VSV trong âm đạo xâm nhập vào tử cung Viêm tử cung
Nội độc tố trong máu Cytokines(ILl,6,TNFα) Ca & K
Cơ vòng miệng núm vú - hoạt độngkém
Tạo điều kiện cho mầm bệnh từ môi trường xâm nhập
Viêm vú
Trang 30Tại Bhutan, một nghiên cứu về hội chứng MMA năm 2001 ở Trại lợn giống quốc gia nhằm tìm ra biện pháp hỗ trợ điều trị có hiệu quả thông qua kiểm tra lâm sàng và kiểm tra huyết học, đã kết luận: có 88,24% số nái mắc bệnh có hiện tượng giảm tiết sữa hoặc mất sữa sau đẻ, 11,76% số nái mắc bệnh có hiện tượng viêm tử cung, không có trường hợp biểu hiện kết hợp cả
ba hiện tượng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa; kiểm tra huyết học cho thấy thể tích hồng cầu, huyết sắc tố và tế bào bạch cầu nằm trong khoảng sinh lý (Thapa, 2006)
Các cuộc điều tra về tỷ lệ mắc bệnh đường sinh dục trên lợn nái sinh sản của khoa thú y – Trường Đại học Nông lâm TPHCM cho biết có khoảng 32-64% lợn nái mắc bệnh đường sinh dục sau khi sinh, trong đó chủ yếu là viêm tử cung
Theo nghiên cứu của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam (2010), cơ chế gây hội chứng MMA được thể hiện như sơ đồ sau:
Hình 2.5 Sơ đồ cơ chế gây hội chứng MMA
Nguồn: CP Việt Nam (2010)
Tỷ lệ mắc hội chứng MMA hiện nay là 40 - 60% tại các trại chăn nuôi lợn quy mô lớn, trong đó chủ yếu là viêm tử cung (Nguyễn Như Pho, 2002)
Nóng, Stress
Trang 31Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010), lợn nái ngoại nuôi theo
mô hình trang trại ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam có tỷ lệ mắc hội chứng MMA dao động từ 47,39% đến 53,33% Trong đó lợn nái mắc thể điển hình là 6,45% 2.3.2 Nguyên nhân gây bệnh
Quản lý chăm sóc
Theo Nguyễn Như Pho, Nguyễn Văn Bé (1980), khảo sát hội chứng MMA tại trại chăn nuôi Phước Long, các tác giả kết luận: vệ sinh kém, quy trình chăm sóc nái chưa hợp lý là nguyên nhân gây bệnh tại trại Trong thời gian mang thai, nái ít được vận động, nhốt chung quá đông, vệ sinh kém, sự thay đổi đột ngột của điều kiện môi trường như thời tiết quá nóng hay quá lạnh trong thời gian sinh sản cũng là nguyên nhân gây hội chứng MMA Frazer (1970) nhận xét về các trường hợp mắc bệnh đường sinh dục ở Jamaica là do thời tiết quá nóng, nếu được tắm mát nhất là giai đoạn trước sinh sẽ làm giảm tỷ lệ mắc bệnh (Trích dẫn bởi Đặng Đắc Thiệu, 1978)
Theo Lerch (1987), việc tăng cường vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái kết hợp giảm mật độ nuôi nhốt nái mang thai có tác dụng làm giảm hội chứng MMA
Rối loạn sinh lý nội tiết
Martin et al (1967) nhận thấy lợn nái mắc hội chứng M.M.A có buồng trứng teo nhỏ, tuyến giáp teo lại, tuyến thượng thận lớn lên, các mô trong tuyến thượng thận và tuyến yên thoái hóa Các tác giả kết luận: sự mất cân bằng về việc sản xuất kích thích tố có thể giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên trạng thái bệnh lý này
Dinh dưỡng
Khẩu phần ăn: Nguyễn Như Pho (2002) công bố lượng thức ăn cho nái chửa kỳ 1 là 2 – 2,5kg/ngày (tùy thuộc mức độ ốm hay mập), 84 ngày đến trước ngày dự đẻ 1 tuần cho ăn từ 2,5 – 3kg, trước dự đẻ 1 tuần giảm xuống còn 1,2 kg/ngày và tăng cường rau xanh, chất xơ đồng thời tăng thêm vitamin, chất khoáng thay thế lượng thức ăn giảm xuống bằng chất xơ Quá trình này giúp nái tránh được hiện tượng giảm ăn sau khi sinh, tránh được táo bón có hiệu quả tốt trong việc phòng ngừa hội chứng MMA
Trang 32Đẻ khó
Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), đàn lợn nái ngoại nuôi tại một số trang trại ở đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trung bình 50,20% Theo đó, khi khảo sát 237 lợn nái ngoại bị viêm tử cung cho thấy tỷ lệ này ở những nái đẻ lứa đầu và nái đẻ nhiều lứa (từ lứa thứ 8 trở đi), cao hơn các lứa khác Nguyên nhân, theo tác giả ở những nái đẻ lứa đầu xoang chậu còn hẹp nên
dễ dẫn đến đẻ khó phải can thiệp bằng tay và các dụng cụ trợ sản, dẫn tới làm xây xát niêm mạc tử cung gây viêm tử cung Những nái đẻ lứa thứ 8 và 9 trương lực cơ tử cung giảm dẫn tới sự co bóp của tử cung yếu, không đủ cường độ để đẩy hết các sản phẩm trung gian sau khi đẻ ra ngoài, sự hồi phục của tử cung chậm, cổ tử cung đóng muộn tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm Tác giả còn cho biết khi lợn nái bị viêm tử cung thì thân nhiệt và tần số hô hấp tăng,đặc biệt là sự xuất hiện của dịch đường sinh dục Dịch này có màu trắng, hồng hay nâu đỏ lẫn nhiều lợn cợn, mùi tanh
Vi sinh vật gây bệnh
Theo đa số các tác giả, hội chứng MMA không phải là bệnh truyền nhiễm, những vi sinh vật được phân lập là các vi sinh vật cơ hội, chúng xâm nhập vào bộ phận sinh dục trong điều kiện vệ sinh kém
Gevaert et al (2006) cho biết đã phân lập được 34 loài vi khuẩn từ mẫu sữa và mẫu dịch ngoáy tử cung lợn, vi khuẩn phân lập được chiếm ưu thế nhất là Streptococci và E coli Theo Kemper and Gerjets (2009), vi khuẩn phân lập được trong mẫu sữa lợn mắc hội chứng MMA là: E coli 38,9%, Staphylococcus spp 14,8%, Enterococus spp 33,3%, Klebsiella spp 3,7%, nhưng không có sai khác thống kê về hàm lượng vi khuẩn phân lập được từ mẫu sữa lợn mắc hội chứng MMA và lợn khỏe; tác giả cũng gợi ý một tỷ lệ lớn vi khuẩn E coli trong sữa bị nhiễm từphân.Theo Kemper et al (2013), tại 6 đàn nái hạt nhân ở Đức (2008 - 2010), 99,1% các mẫu sữa phân lập được ít nhất có 01 loài vi khuẩn (trung bình 03loài) được phân lập/mẫu sữa Không có sai khác về số loài vi khuẩn trong mẫu sữa lợn mắc hội chứng MMA và lợn khỏe Vi khuẩn phân lập chủ yếu thuộc họ Enterobacteriaceae, Staphylococcaceae,Streptococcaceaevà Enterococcaceae Trong đó E coli chiếm nhiều hơn cả và những loài này cũng được tìm thấytrong sữa lợn khỏe, còn Staphylococcus spp, Lactococcus lactis được tìm thấy trong sữa lợn mắc hội chứng MMA
Trang 33Tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho (1985) đã công bố các vi khuẩn sau đây tham gia gây nhiễm trùng tử cung và tuyến vú trên lợn sau sinh: E.coli Streptococcus spp, Staphylococcus aureus, Klebsiella spp, Proteus mirabilis, Pseudomonas Đây là những vi trùng cơ hội thường xuyên có mặt trong chuồng trại, lợi dụng lúc sinh sản, tử cung, âm đạo xây xát, chứa nhiều sản dịch, sẽ xâm nhập và tấn công hệ thống niêm mạc sinh dục gây hiện tượng nhiễm trùng
Lợn con có răng nanh nhọn làm xây sát bầu vú mẹ, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào bầu vú, dẫn đến viêm vú Trong khẩu phần ăn có lượng đạm quá cao làm sản sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết, sữa ứ lại trong bầu vú là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển Có khi lợn mẹ chỉ cho con bú một hàng vú, do chuồng quá lạnh, quá nóng cũng đều là nguyên nhân gây viêm vú Bệnh viêm vú thường xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có trường hợp đến một tháng (Nguyễn Quang Linh, 2005)
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo quá cứng sẽ gây xây sát và tạo ra các ổ viêm trong âm đạo, tử cung Tinh dịch bị nhiễm khuẩn, lợn đực giống bị viêm niệu quản và dương vật nên khi nhảy trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo sẽ truyền lây mầm bệnh cho lợn nái Rối loạn sinh sản do nhiều nguyên nhân gây ra Ngoài các nguyên nhân cơ học, hóa học, sinh học thông thường như vận động, hormone, dinh dưỡng, ký sinh trùng phải kể đến các nguyên nhân do vi rút và
vi khuẩn (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2011)
Sau đẻ lợn mẹ bị mất sức nhiều do mất nước, mất máu và ăn kém Trong những lứa đẻ đầu lợn nái thường bị rách âm đạo nên bị viêm nhẹ gây sốt, làm giảm sữa Ở những lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng tay thì tỷ lệ viêm tử cung lên tới 100% (Nguyễn Văn Thanh, 2003)
Bệnh viêm vú do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh Các loại vi khuẩn đều có thể gây viêm vú nhưng chủ yếu là liên cầu khuẩn: 86%, tụ cầu khuẩn: 5,4%, trực khuẩn sinh mủ: 2,7%, E coli: 1,2%, các vi khuẩn khác: 4,7% (Nguyễn Như Pho, 2002)
2.3.3 Biến đổi lâm sàng và phi lâm sàng
Lợn được coi là mắc hội chứng MMA khi có một hoặc bao gồm các biểu hiện sau: viêm tử cung, dịch tiết âm đạo có pH > 8, lười vận động, thân nhiệt > 39,40C, viêm vú (Heber et al., 2010)
Trang 34Hoy (2004) miêu tả triệu chứng đặc trưng đầu tiên của hội chứng MMA là sốt > 39,30C kèm theo các triệu chứng lâm sàng khác: giảm ăn, uống ít nước, vú sưng đỏ, nhiều dịch tiết âm đạo Khi so sánh giữa lợn nái mắc hội chứng MMA với lợn nái bình thường thì lợn mắc hội chứng MMA có tỷ lệ chậm động dục lại sau cai sữa (≥ 8 ngày) cao hơn (tương ứng 1,1% và 0,3%), tỷ lệ không thụ thaicao hơn (tương ứng 21,7% và 16,1%), tỷ lệ sẩy thai cao gấp 2 lần và tỷ lệ lợn con chết cao gấp 4 lần
Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc hội chứng MMA gồm: táo bón, sốt (thân nhiệt tăng từ 1 đến 1,50C), ăn ít hoặc bỏ ăn (1 đến 2 ngày) là những dấu hiệu đầu tiên dễ nhận biết cùng với hiện tượng bồn chồn, không cho con bú Rất
ít lợn nái xuất hiện tất cả các triệu chứng cùng lúc Một số trường hợp xuất hiện hiện tượng giảm tiết sữa, giảm tăng trọng ở lợn con (BPEX, 2011)
Martineau et al (1992) đã miêu tả các triệu chứng lâm sàng ở lợn nái và lợn con như sau: Với lợn nái: triệu chứng cục bộ như viêm vú, rối loạn tiết sữa, dịch rỉ viêm âm đạo; triệu chứng toàn thân gồm: sốt, ủ rũ, bỏ ăn hoặc ăn ít; Với lợn con <1 tuần tuổi: tăng tỷ lệ chết, ỉa chảy, phát triển không đồng đều trong đàn; >1 tuần tuổi: tăng trọng thấp, tăng tỷ lệ không đồng đều trong đàn;Với toàn đàn: giảm số con/nái/năm Ông cho rằng có nhiều nguyên nhân gây bệnh, do đó nên kích thích lợn nái đẻ bằng F Prostaglandin để giảm tỷ lệ mắc hội chứng MMA
Tại Bhutan, một nghiên cứu về hội chứng MMA năm 2001 ở Trại lợn giống quốc gia nhằm tìm ra biện pháp hỗ trợ điều trị có hiệu quả thông qua kiểm tra lâm sàng và kiểm tra huyết học, đã kết luận: có 88,24% số nái mắc bệnh có hiện tượng giảm tiết sữa hoặc mất sữa sau đẻ, 11,76% số nái mắc bệnh có hiện tượng viêm tử cung, không có trường hợp biểu hiện kết hợp cả ba hiện tượng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa; kiểm tra huyết học cho thấy thể tích hồng cầu, huyết sắc tố và tế bào bạch cầu nằm trong khoảng sinh lý (Thapa, 2006)
Raszyk et al (1979) cho rằng: Hội chứng MMA trở thành một vấn đề lớn
về sức khỏe của đàn nái sinh sản, tỷ lệ mắc 20 - 50% trong đàn, bệnh thường kèm theo hiện tượng giảm sữa, thành phần sữa của lợn bị thay đổi, bệnh làm tăng
tỷ lệ chết của lợn con trong những ngày đầu sau đẻ, điều đó làm giảm năng suất sinh sản và làm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi; xu hướng bệnh làm thay đổi cấu trúc, chức năng của tuyến vú gây đau, làm rối loạn trao đổi chất Tác giả
Trang 35đã nghiên cứu một số chỉ tiêu hoá học trong máu lợn bệnh và lợn khỏe cho thấy: protein tổng số, hàm lượng đường ở lợn bệnh cao hơn lợn khoẻ (P < 0,05); một
số chất khoáng (sắt, canxi, phốt pho, magiê) trong máu lợn bệnh cao hơn lợn khỏe (P < 0,05)
Nghiên cứu về huyết học, sinh hóa và tế bào sữa được thực hiện trên các mẫu máu và mẫu sữa của 55 lợn nái cho con bú bởi Ognean et al (2010) cho biết: tỷ khối huyết cầu trung bình 35,74% nằm trong giới hạn sinh lý, số lượng hồng cầu trung bình 5,78 triệu/mm3, protein tổng số nằm trong giới hạn sinh lý7,0 - 9,8 g/dl, glucose huyết 81,9 mg/dl có xu hướng giảm hơn mức sinh lý (95,9 - 70,2 mg/dl), chỉ số men GOT nằm trong giới hạn sinh lý với mức dao động 31 - 49,5 UI; tác giả cũng cho biết chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa sữa lợn trong tuần đầu cho con bú là: protein 7,97%, mỡ sữa 8,18%, điểm đông đặc 0,280C
Tại Ba Lan, khi nghiên cứu các yếu tố xuất hiện trong quá trình sốt, viêm, TNFα (Tumour necrosis factor) và IL-6 (Interleukin-6) trong máu bằng ELISA lúc 12 - 24 giờ và 48 - 72 giờ trước và sau khi đẻ ở 02 nhóm lợn nái (10 nái/nhóm) mắc MMA và nái khỏe trong cùng trại (đồng đều về chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý); cho thấy, hàm lượng TNFα tăng ở giai đoạn sau đẻ với mức ý nghĩa thống kê ở cả 02 nhóm lợn nái Tuy nhiên, lợn mắc MMA có hàm lượng TNFα tăng cao hơn lợn khỏe với mức ý nghĩa thống kê Hàm lượng IL- 6 ở nhóm lợn mắc hội chứng MMA tại các thời điểm sau đẻ đều cao hơn nhóm lợn khỏe Như vậy, hàm lượng TNFα và IL-6 là một quá trình bệnh lý của hội chứng MMA và việc xác định các chỉ số này có ích cho việc chẩn đoán sớm và giám sát bệnh (Szczubial and Urban, 2008)
Theo Baer and Bilkei (2005), cấu trúc tuyến vú phần bụng thay đổi nhiều hơn so với tuyến vú ở ngực khi lợn nái mắc hội chứng MMA (P < 0,001)