HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐÀO DUY TRƯỜNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG LƯỢNG LÂN VÀ KALI BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG BƯỞI ĐÀO THANH HỒNG Citrus grandis Osbeck TẠI THANH HÀ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐÀO DUY TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG LƯỢNG LÂN VÀ KALI BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
BƯỞI ĐÀO THANH HỒNG (Citrus grandis Osbeck)
TẠI THANH HÀ, HẢI DƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Anh Tiệp
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đào Duy Trường
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Chu Anh Tiệp - Bộ môn Canh tác học, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Canh tác học, Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm Thực nghiệm và Đào tạo nghề, phòng Nông Nghiệp huyện Thanh Hà, UBND cùng toàn thể bà con nhân dân xã Thanh Hồng đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đào Duy Trường
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Giả thuyết khoa học 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Giới thiệu chung về cây bưởi 4
2.1.1 Nguồn gốc và phân loại bưởi 4
2.1.3 Đặc điểm thực vật học 5
2.1.4 Đặc điểm phát triển 6
2.1.5 Khả năng chống chịu: 7
2.1.6 Yêu cầu sinh thái của cây bưởi đào Thanh Hồng 7
2.1.7 Phân bố vùng trồng cây ăn quả có múi 8
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây có múi trên thế giới và Việt Nam 8
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây có múi trên thế giới 8
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây có múi ở Việt Nam 10
2.3 Tình hình nghiên cứu về phân bón trên cây có múi trên thế giới và Việt Nam 17
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về phân bón trên cây có múi trên thế giới 17
2.3.2 Tình hình nghiên cứu phân bón trên cây có múi ở Việt Nam 20
2.4 Một số nghiên cứu về phân bón cho cây bưởi 22
2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả tại huyện Thanh Hà, Hải Dương 30
Trang 5Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 32
3.1 Địa điểm nghiên cứu 32
3.2 Thời gian nghiên cứu 32
3.3 Đối tượng/vật liệu nghiên cứu 32
3.4 Nội dung nghiên cứu 32
3.5 Phương pháp nghiên cứu 32
3.5.1 Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sản xuất cây bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 32
3.5.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân và kali bón đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cây bưởi đào Thanh Hồng tại huyện Thanh Hà, Hải Dương 33
3.5.3 Các chỉ tiêu theo dõi 35
3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 37
Phần 4 Kết quả và thảo luận 38
4.1 Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sản xuất cây bưởi đào Thanh Hồng, Thanh Hà, Hải Dương 38
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Thanh Hồng, Thanh Hà, Hải Dương 38
4.1.2 Tình hình sản xuất cây bưởi đào xã Thanh Hồng, Thanh Hà, Hải Dương 38
4.2 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến khả năng sinh trưởng của cây bưởi đào thanh hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 46
4.2.1 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến khả năng sinh trưởng lộc của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 46
4.3 Ảnh hưởng của lượng lân và kali bón đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cây bưởi đào thanh hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 52
4.3.1 Ảnh hưởng tương tác của lân và kali bón đến thời gian ra hoa của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 52
4.3.2 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến khả năng giữ hoa, đậu quả của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 53
4.3.3 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 58
4.3.4 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến chất lượng của quả bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 61
4.4 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến khả nằng chống chịu sâu bệnh hại của bưởi đào thanh hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 67
Trang 64.5 Hiệu quả kinh tế trồng cây bưởi đào thanh hồng tại huyện Thanh Hà,
Hải Dương 68
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 71
5 1 Kết luận 71
5.2 Kiến nghị 72
Tài liệu tham khảo 73
Phụ lục 76
Trang 7TKKD Thời kỳ kinh doanh
NSTT Năng suất thực thu
SQTB Số quả trung bình/cây
SQ/4C Số quả trung bình/4 cành
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng cây có múi trên thế giới trong giai
đoạn 2008-2012 10
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng cây có múi của một số nước trên thế giới năm 2012 10
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng của cây có múi ở Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2014 12
Bảng 2.4 Thang dinh dưỡng lá của cây bưởi 18
Bảng 2.5 Lượng phân bón cho bưởi 21
Bảng 2.6 Lượng dinh dưỡng do cây ăn quả có múi l ấy đi từ 1 tấn sản phẩm 25
Bảng 2.7 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡng trong lá (lá 4 – 6 tháng tuổi/cành không mang quả) 26
Bảng 2.8 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡng trong đất 27
Bảng 2.9 Lượng phân bón cho cây ăn quả có múi ở thời kỳ KTCB 28
Bảng 2.10 Lượng phân bón hàng năm cho cây có múi 29
Bảng 4.1 Diện tích, năng suất và mật độ trồng cây bưởi đào tại xã Thanh Hồng, Thanh Hà, Hải Dương 39
Bảng 4.2 Nguồn gốc, đặc điểm nông sinh học của cây bưởi đào Thanh Hồng 40
Bảng 4.3 Kết quả phân tích mẫu đất tại xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, Hải Dương 42
Bảng 4.4 Tình hình chăm sóc, quản lý vườn bưởi đào tại xã Thanh Hồng 44
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến khả năng sinh trưởng lộc của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 47
Bảng 4.6 Ảnh hưởng tương tác của lân và kali bón đến khả năng sinh trưởng lộc của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 49
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến thời gian ra hoa của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 52
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến khả năng giữ hoa, đậu quả của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 55
Bảng 4.9 Ảnh hưởng tương tác của lân và kali bón đến khả năng giữ hoa, đậu quả của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 56
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của bưởi đào Thanh Hồng tại huyện Thanh Hà, Hải Dương 58
Trang 9Bảng 4.11 Ảnh hưởng tương tác của lân và kali bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 61 Bảng 4.12 Ảnh hưởng tương tác của lân và kali bón đến đặc điểm quả của bưởi
đào Thanh Hồng tại huyện Thanh Hà, Hải Dương 62 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến thành phần cơ giới quả của bưởi
đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 64 Bảng 4.14 Ảnh hưởng tương tác của lân và kali bón đến thành phần cơ giới quả
của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 65 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến chỉ tiêu sinh hóa của bưởi đào
Thanh Hồng tại huyện Thanh Hà, Hải Dương 66 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của lân và kali bón đến khả năng khả năng chống chịu sâu
bệnh hại của bưởi đào Thanh Hồng tại huyện Thanh Hà, Hải Dương 68 Bảng 4.17 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân tính trên 1 cây 69
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Ảnh hưởng tương tác của lân và kali bón đến khả năng sinh trưởng
lộc xuân của bưởi đào Thanh Hồng 50 Hình 4.2 Ảnh hưởng tương tác của lân và kali bón đến khả năng sinh trưởng
lộc thu của bưởi đào Thanh Hồng 51 Hình 4.3 Ảnh hưởng tương tác của lân và kali bón đến khả năng sinh trưởng
lộc thu của bưởi đào Thanh Hồng 51 Hình 4.4 Ảnh hưởng tương tác của lân và kali bón đến thời gian ra hoa của
bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 53
Hình 4.5 Ảnh hưởng của lân bón đến tỷ lệ đậu quả của bưởi đào Thanh
Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 54
Hình 4.6 Ảnh hưởng của kali bón đến tỷ lệ đậu quả của bưởi đào Thanh
Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 55 Hình 4.7 Ảnh hưởng tương tác của lân và kali bón đến khả năng giữ hoa, đậu
quả của bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương 57 Hình 4.8 Ảnh hưởng của lân bón đến số quả/cây và năng suất thực thu của
bưởi đào Thanh Hồng 59 Hình 4.9 Ảnh hưởng của lân bón đến số quả/cây và năng suất thực thu của
bưởi đào Thanh Hồng 59
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Đào Duy Trường
Tên Luận văn:
“Nghiên cứu ảnh hưởng lượng lân và kali bón đến sinh trưởng, năng suất và
chất lượng bưởi đào Thanh Hồng (Citrus grandis Osbeck) tại Thanh Hà, Hải
Phương pháp nghiên cứu:
Thí nghiệm gồm 2 nhân tố, phân lân gồm 3 mức (P1: 90gr/cây, P2: 120gr/cây, P3: 150 gr/cây) và phân kali gồm 5 mức (K1: 0 gr/cây; K2: 60 gr/cây; K3: 90 gr/cây; K4: 120 gr/cây; K5: 150 gr/cây) Tổng số có 15 công thức P1K1; P1K2; P1K3; P1K4; P1K5; P2K1; P2K2; P2K3; P2K4; P2K5; P3K1; P3K2; P3K3; P3K4; P3K5 được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại Mỗi công thức tiến hành trên 3 cây Cây 20 năm tuổi Tổng số cây thí nghiệm là: 3*15*3 = 135 cây Thí nghiệm bón
trên nền 30 kg phân chuồng ủ hoai; 50gr N/cây
P 2 O 5 + 90 gr K 2 O/cây/năm) là tốt nhất Các chỉ tiêu sinh trưởng, các yếu tố cấu thành
năng suất, năng suất và hiệu quả kinh tế là cao nhất
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: DAO DUY TRUONG
Thesis title:
“Effect of phosphorus and potassium application levels on growth, yield and
quality of Thanh Hong grapefruit (Citrus grandis Osbeck) in Thanh Ha, Hai Duong”
Major: Crop Science Code: 60.62.01.10
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:
Determine the amount of phosphorus and potassium fertilizer production suitable for pink grapefruit 20 years old Thanh Hong Thanh Ha district , Hai Duong province
Materials and Methods:
The experiment consisted of two elements, phosphate including 3 levels (P1: 90gr/plant, P2: 120gr/plant, P3: 150 gr/plant) and potash consists of 5 levels (K1: 0gr/plant; K2: 60gr/plant; K3: 90gr/plant; K4: 120gr/plant; K5: 150gr/plant) A total of
15 recipes P1K1; P1K2; P1K3; P1K4; P1K5; P2K1; P2K2; P2K3; P2K4; P2K5; P3K1; P3K2; P3K3; P3K4; P3K5 arranged in random complete block (RCB) with 3 replicates Each recipe conducted on three plants, 20 year old plants Total plant experiments were: 3*15*3 = 135 plants Laboratory based fertilizer 30 kg of manure composted; 50gr N/plant
Main finding and conclusions:
The study results showed that the formula P1K3 (90 gr gr P 2 O 5 + 90
K 2 O/plant/year) to grow buds, leaves, plant height, stem diameter is best; high fruiting rate, the yield components and yield per tree actually collected the highest (315,3 kg/plant); Quality best peach grapefruit (brix: 14,5%; sugar nest highest: 10,4%); The formula for the highest profit formula is P1K3 (5.762.000 VND/plant), formula P3K1 lowest profit 1.960.000 VND/plant So, The formul P1K3 (90 gr gr P 2 O 5 + 90
K 2 O/plant/year) to grow, the yield components, yield and profit is highest
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây bưởi (Citrus Grandis Osbeck) thuộc nhóm Citrus, họ Rutaceae, được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới như: Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc,
Mỹ, Thái Lan, Nhật Bản, Indonesia, Việt Nam… Ở nước ta Bưởi là loại cây
ăn quả quan trọng và quen thuộc đối với mọi người dân nhất là trong những ngày lễ, tết Bưởi còn là loại quả tươi dễ vận chuyển, bảo quản được nhiều ngày mà vẫn giữ nguyên hương vị, phẩm chất Trong quả Bưởi chứa nhiều chất bổ dưỡng như các loại đường, đạm, béo, axit tanic, bectacaroten, các khoáng chất như: Phospho, Canxi, Kali, Magie… và một số Vitamin như: Vitamin A, Vitamin B1, Vitamin B2, Vitamin C Bưởi còn góp phần hỗ trợ sức khỏe như: giúp dễ tiêu hóa, lưu thông máu và đặc biệt cây bưởi có phổ thích nghi rộng… Chính vì vậy cây Bưởi được trồng ở nước ta từ lâu đời và phân bố rộng từ Bắc đến Nam
Cây bưởi đào Thanh Hồng có nguồn gốc từ Thanh Hà – Hải Dương, hiện đang được trồng phổ biến tại các thôn: Tiên Kiều, Lập Lễ, Nhan Bầu thuộc xã Thanh Hồng – Thanh Hà – Hải Dương là một trong số những cây ăn quả nổi tiếng của Hải Dương Đây là giống bưởi khá ngon, chín vào dịp trung thu và có thể để được đến tết nguyên đán, được thị trường ưa chuộng do bưởi có vị dôn dốt chua Cây đem lại hiệu quả kinh tế cao, giá bán bưởi trên thị trường trung bình từ 10.000 – 12.000 đồng/quả Những năm mất mùa giá lên đến 25.000 – 30.000 đồng/quả, đưa thu nhập trung bình 1cây bưởi đào Thanh Hồng có độ tuổi trung bình từ 10-20 năm tuổi từ 5 – 6 triệu đồng/cây nên diện tích bưởi đào Thanh Hồng gần đây được địa phương rất trú trọng, phát triển và mở rộng Mặt khác trong nhóm cây ăn quả có múi, bưởi là cây sinh trưởng khỏe, dễ trồng, ít bệnh, tuổi thọ cao, phù hợp với trình độ canh tác của người nông dân
Hải Dương là tỉnh được biết đến với những làng nghề thủ công truyền thống, đặc sản chủ lực là Vải thiều Toàn tỉnh có 105.697 ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có khoảng 63.500 ha đất chuyên trồng lúa, 21.500 ha đất trồng cây lâu năm, 10.630ha diện tích rừng các loại Diện tích cây ăn quả 21.000ha, sản lượng 200.000 tấn/năm Thời gian gần đây phát triển thêm hai cây trồng Na,
Ổi và cây ăn quả có múi Đây là các loại cây trồng chính được trồng tập trung
Trang 14thành vùng hàng hóa lớn tại huyện Thanh Hà và thị xã Chí Linh, mang lại thu nhập khá cao cho nông dân
Mặc dù diện tích không lớn, giá trị chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt Nhưng những năm qua, cây bưởi đào Thanh Hồng đã đem lại giá trị thu nhập cao cho các hộ sản xuất Chính vì vậy, cây bưởi đào đang được mở rộng rất nhanh đặc biệt là xã Thanh Hồng tại các thôn có thế mạnh phát triển cây bưởi đào Thanh Hồng như: Lập Lễ, Nhan Bầu, Tiên Kiều,…
Tuy nhiên, việc thâm canh và mở rộng diện tích bưởi đào Thanh Hồng trên địa bàn xã còn gặp một số khó khăn trong các vấn đề về kỹ thuật làm giảm chất lượng sản phẩm như: Mẫu mà quả chưa thật đẹp, độ đồng đều của quả chưa thật cao, trọng lượng trung bình quả còn thấp, sâu bệnh hại nhiều… Nguyên nhân của hiện tượng này một mặt do điều kiện khí hậu ngày càng khắc nghiệt, mặt khác do sự thiếu hiểu biết của người nông dân về các tiến bộ kỹ thuật mới, trong sản xuất còn làm theo kinh nghiệm và thói quen là chính Vì vậy để sản xuất bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà có hiệu quả cần nhanh chóng áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, đồng bộ trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng sản xuất của người nông dân trồng bưởi ở các thôn từ đó đưa ra được những giải pháp phù hợp
Nhằm góp phần định hướng phát triển, nâng cao năng suất, duy trì chất lượng và giá trị sản xuất đối với cây bưởi đào Thanh Hồng, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng lượng lân và kali bón đến sinh
trưởng, năng suất và chất lượng bưởi đào Thanh Hồng (Citrus grandis
bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương
1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Các loại phân bón NPK khác nhau có tỉ lệ và thành phần dinh dưỡng khác nhau do đó sử dụng trên cây bưởi đào Thanh Hồng sẽ có những tác động khác nhau đến động thái sinh trưởng: chất lượng các đợt lộc, khả năng ra hoa, đậu quả, tỷ lệ đậu quả, một số chỉ tiêu cấu thành năng suất: số quả/cây, khối lượng quả và một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng quả: độ Brix, vitamin C
Bên cạnh đó, với các liều lượng lân và kali khác nhau sẽ ảnh hưởng khác nhau đến chiều dài các đợt lộc, đường kính lộc, tăng khả năng ra hoa đậu quả,
Trang 15khả năng giữ quả trên cây bưởi đào Thanh Hồng Do vây, việc cung cấp NPK kịp thời và cân đối sẽ có tác dụng bổ sung nâng cao khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng của bưởi đào Thanh Hồng
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định lượng lân và kali bón thích hợp cho sản xuất bưởi đào Thanh Hồng 20 năm tuổi tại Thanh Hà, Hải Dương
Xác định hiệu quả của lượng lân và kali bón đến sinh trưởng, năng suất
và chất lượng bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương
Kết quả của đề tài góp phần xây dựng hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng cây bưởi đào Thanh Hồng tại địa phương và các tỉnh có điều kiện tương tự
1.5.2 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài đã nghiên cứu một cách có hệ thống về cây bưởi đào Thanh Hồng, xác định được liều lượng bổ sung phân lân và kali thích hợp với cây bưởi đào Thanh Hồng trên địa bàn huyện Thanh Hồng tỉnh Hải Dương
- Bổ sung tài liệu tham khảo kỹ thuật trồng cây bưởi đào Thanh Hồng phục vụ cho công tác tập huấn khuyến nông, cũng như cho công tác chỉ đạo sản xuất mở rộng diện tích trồng cây bưởi đào Thanh Hồng tại địa phương
1.5.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Cung cấp các dẫn liệu khoa học về hiệu quả của liều lượng lân và kali bón đến sinh trưởng, khả năng đậu hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng quả bưởi đào Thanh Hồng tại Thanh Hà, Hải Dương
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY BƯỞI
2.1.1 Nguồn gốc và phân loại bưởi
2.1.1.1 Nguồn gốc
Trên thế giới, cây có múi có lịch sử trồng trọt từ rất lâu đời Cây có múi được trồng ở vùng Đông Nam châu Á cách đây khoảng 4.000 năm trước Công nguyên (Webber, 1967)
Theo Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa kỳ (USDA, 2004), khoảng 70% diện tích cây có múi được trồng chủ yếu ở vùng ở các nước thuộc vùng Địa Trung Hải và Hoa Kỳ, mặc dù Braxin là nước sản xuất cây có múi hàng đầu thế giới Hiện nay, cây có múi là một trong những loại cây ăn quả chủ yếu, và được trồng tại nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới (Mung, 2008)
Đông Nam Á là một trung tâm quan trọng hàng đầu về sự đa dạng cây ăn quả Trong số hơn 12.000 loài thực vật của vùng này thì có nhiều loài cho quả
ăn được (Wikipedia, 2010)
Cây bưởi đào được người dân thôn Lập Lễ đưa về trồng từ những năm 1948-1950, có nguồn gốc từ vùng Tứ Kỳ Sau đó được người dân tự nhân giống
và trồng rộng rãi tại địa phương, trồng nhiều nhất là thôn Lập lễ, xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, Hải Dương
maxima (hay C grandis và được gọi theo tên tiếng Anh là pummelo)
Bưởi chùm (Citrus paradishi Merr.) xuất hiện sớm nhất ở khu vực Trung
Mỹ (Garner et al., 1976)
Trang 17Các giống bưởi (Citrus grandis L.) được coi có nguồn gốc từ Malaysia,
Ấn Độ (Estella and Odtojan, 1992)
Giữa Citrus grandis L và Citrus paradishi Merr khác nhau về hình thái của lộc non (lớp lông tơ mịn trên lộc) và khối lượng quả C grandis L quả to, không tạo thành chùm như C paradishi Merr
Bưởi Đào Thanh Hồng Citrus grandis Osbeck (Citrus decumana Murr.) là cây ăn quả thân gỗ thuộc họ Rutaceae, họ phụ Aurantioideae
2.1.3 Đặc điểm thực vật học
* Rễ cây:
Rễ của cây bưởi thuộc loại rễ nấm Nấm Micorhiza ký sinh trên lớp biểu
bì của rễ hút cung cấp nước, muối khoáng và 1 lượng nhỏ chất hữu cơ cho cây
Vai trò Micorhiza ở đây như những lông hút ở cây trồng và thực vật khác Cũng
do đặc điểm này nên cây bưởi không ưa trồng sâu và do đó bộ rễ cây bưởi phân bố rất nông, và phát triển mạnh chủ yếu ở rễ bất định, phân bố tương đối rộng và dày đặc ở tầng đất mặt Rễ bưởi sợ đất chặt bí và không phát triển ở nơi có mực nước ngầm cao
* Thân và tán cây:
Thân cây: Cây bưởi thuộc dạng thân gỗ, loại hình bán bụi Các cành
chính thường mọc ra ở các vị trí trong khoảng 1m cách mặt đất Chiều cao cây
có thể lên đến 8 m, đường kính gốc đến 75 cm, đường kính tán có thể lên tới 13m (đối với cây trên 30 tuổi) Thân có 2-3 cành chính đường kính khoảng 45-
50 cm mọc gần gốc, cành phân bố không đều, tán thưa Tiết diện cành non có hình tam giác, có lông và gai nhỏ, khi thuần thục thì thân tròn và gai rụng đi
Tán cây: Tán cây bưởi đào Thanh Hồng tán rộng, phân cành hướng ngang,
hình cầu Cành có gai khi còn non và rụng gai khi cây cành lớn và hóa gỗ
* Lá: Lá mọc cách, hình ovan, lá xẻ thùy có lá chét và phiến lá rộng
Trên 1 đợt lộc thường các lá ở đầu và gốc cành nhỏ, lá ở giữa cành lộc to Mút
lá của những lá ở gốc cành tròn, còn những lá ở giữa cành mút lá tròn và lõm giữa Phiến lá rộng, mép gợn sóng; mặt trên xanh đậm, mặt dưới xanh nhạt, trên mặt lá non có lông tơ, chiều dài trung bình phiến lá 14,06 ± 1,85 cm, rộng 7,55
± 1,94cm, có 5 - 7 đôi gân lá Lá chét nhỏ, hình trái tim, chiều dài 2,05 ± 0,22
cm, rộng 2,01 ± 0,15 cm; riêng lá đầu tiên tính từ gốc không có cánh lá Điểm đặc biệt trên lá bưởi đào là có 1 lớp lông tơ Cuống lá dài 0,59 cm
Trang 18* Hoa: Hoa bưởi đào Thanh Hồng có mùi rất thơm, có 2 loại: hoa đơn và
hoa chùm, thường mọc từ nách lá thứ 2-10, mỗi chùm có 8,6 ± 2,5 nụ hoa, đường kính nụ hoa 9,3 ± 0,1mm (nụ sắp nở) Hoa có 4 cánh màu trắng, dài khoảng 1,5-2 cm, trên cánh vẫn có những túi (đốm) tinh dầu màu xanh vàng như trên vỏ quả Đài hoa hình sao 5 cánh, màu xanh Nhị hoa màu trắng, dài 15,7 ± 6,9 cm, bao phấn màu vàng cam, hình bầu dục, số lượng nhị 30,4 ± 6,9 nhị /hoa (gấp hơn 4 lần cánh hoa) mọc thành từng bó, mỗi bó 4-5 nhị Nhụy cái dài 19,7 ± 2,1mm; đầu nhụy hình phễu, màu vàng tươi Ở dòng bưởi này thì nhị đực chín sớm hơn nên làm tăng khả năng tự thụ Thời gian nở từ tháng 2 đến hết tháng 3
* Hạt: Bưởi đào Thanh Hồng có trung bình từ 5 - 10 hạt Hạt bưởi đào
sẽ teo nhỏ dần khi bưởi chín, lúc quả còn non thì bưởi dào có rất nhiều hạt,
có những múi lên tới 10 - 15hạt
* Quả: Quả hình lê Vỏ quả khi chín màu vàng tươi, trên mặt vỏ quả túi
tinh dầu nhỏ và phân bố dày, ngoài lớp vỏ quả có lớp lông tơ; vỏ quả dày khoảng 1,2 ± 0,2cm, cùi hồng Có 12- 14 múi/quả, múi dễ tách; màng múi dòn, dễ bóc; tép ráo, màu hồng, nhiều nước, vị dôn dốt chua, ít hạt Để phân biệt bưởi đào Thanh Hồng với các giống bưởi khác chủ yếu dựa vào đặc điểm hình thái của lá và quả Ngoài ra mùi tinh dầu bưởi đào Thanh Hồng thơm nhẹ
- Khối lượng trung bình quả (gr): 800 – 1000gr
- Độ đồng đều về hình dạng, kích thước quả (%): 60%
- Tỷ lệ phần ăn được (%): 55%
- Số hạt/quả: 6-7
- Hình dạng quả: Quả hình lê
- Màu sắc vỏ quả:, vỏ màu vàng, túi tinh dầu nổi rõ
- Màu sắc thịt quả: Cùi màu hồng, tép và vách múi màu hồng
Trang 19- Độ dai của vách múi (dễ tách): Trung bình
- Độ mịn và mọng nước của thịt quả (độ giòn): Khá
- Hương và vị quả: Thơm đặc trưng của bưởi
- Độ Brix (% ): >10
2.1.5 Khả năng chống chịu:
- Cây ít ưa thâm canh so với các cây trồng khác tại địa phương
- Bưởi đào Thanh Hồng có khả năng chống chịu với một số loại sâu bênh hại như sâu vẽ bùa, nhện đỏ, ruồi vàng hại quả Cây bị nhiễm nhẹ bệnh chảy gôm, sâu đục thân, sâu đục cành
- Bệnh Greening và Tristeza không thấy xuất hiện trên cây bưởi đào
2.1.6 Yêu cầu sinh thái của cây bưởi đào Thanh Hồng
Bưởi đào Thanh Hồng nằm trong họ cây có múi nói chung nên có thể trồng từ 450 Nam đến 350 vĩ Bắc, phần lớn được trồng trong vùng khí hậu Á nhiệt đới
* Nhiệt độ: Cây có múi có thể sống và phát triển được trong khoảng nhiệt
độ từ 13 - 380C, thích hợp nhất từ 23 - 290C; dưới 120C và trên 420C thì sinh
trưởng của cây mà còn ảnh hưởng đến phẩm chất của quả
* Ánh sáng
Là loại cây không ưa ánh sáng trực xạ, cường độ ánh sáng thích hợp khoảng 10.000-15.000lux (tương đương nắng lúc 8 giờ sáng và 16 giờ chiều)
* Lượng mưa và độ ẩm không khí: Lượng mưa hàng năm cần cho cây có
múi ít nhất là 875mm trong trường hợp không tưới, tốt nhất là 1500-2000mm và phân phối đều trong năm Cây không thích hợp với điều kiện nhiệt đới quá ẩm
và nhiệt độ không khí quá cao (làm tăng sự xuất hiện của sâu bệnh), ẩm độ không khí thích hợp khoảng 75%
* Gió: Cây có múi có thể chịu được bão nhỏ trong một thời gian ngắn, gió
nhẹ với vận tốc 5-10km/h có tác dụng hạ thấp nhiệt độ của vườn trong mùa hè, cây được thoáng mát, giảm sâu bệnh hại
* Nước: Chất lượng nước tưới cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển
của cây, không dùng nước phèn, mặn để tưới cho cây, lượng muối trong nước
Trang 20tưới phải nhỏ hơn 1,5g NaCl/lít nước tưới và lượng Mg không quá 0,3g/lít nước ưa độ pH nước từ 7 – 8
* Đất trồng: Độ pH trong đất thích hợp nhất từ 5,5-7, có thể trồng được ở
độ pH đất từ 3,5 - 7 Phần lớn đất trồng cây có múi ở nước ta có pH thấp nên cần cải tạo đất và bón phân thích hợp Cây bưởi đào thích hợp với vùng đất có
độ sét thấp và thích hợp đất có độ cát cao
2.1.7 Phân bố vùng trồng cây ăn quả có múi
với nhiệt độ tối thiểu cao hơn so với nhiệt độ gây chết cóng cây (-60C đến
đất đai, nhiệt độ tối thiểu Những nơi có nhiệt độ thích hợp nhưng lượng mưa nhiều, nhiều gió, nhiều mây che phủ kèm theo bức xạ mặt trời yếu hoặc đất đai không phù hợp như tầng canh tác nông, khả năng giữ nước kém, lũ lụt…sẽ không thuận lợi cho sự phát triển cây có múi
lạnh vừa phải, đủ tạo ra giai đoạn ngủ nghỉ đông của cây, tiếp theo sự ra hoa đồng loạt vào mùa xuân là thích hợp với trồng cây có múi chất lượng cao, vỏ
thông thường chỉ đủ dùng cho địa phương Bưởi và chanh thường phát triển khá hơn ở vùng này do chịu được nhiệt Khi nhiệt độ cao quanh năm, cây có múi có thể ra hoa vài lần trong năm
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CÂY CÓ MÚI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây có múi trên thế giới
Hàng năm trên thế giới sản xuất khoảng 4 - 5 triệu tấn bưởi cả 2 loại bưởi
chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis), chiếm 5,4 - 5,6% tổng sản
lượng cây có múi, trong đó chủ yếu là bưởi chùm chiếm 2,8 - 3,5 triệu tấn, còn lại bưởi chiếm một lượng rất ít khoảng 1,2 - 1,5 triệu tấn Bưởi chủ yếu được sản xuất ở các nước thuộc châu Á và tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines vv
Trang 21Ở Trung Quốc, bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến và Đài Loan Theo một số tài liệu mới đây cho rằng: các loại cây ăn quả có múi ở Trung Quốc phát triển mạnh hơn so với các lọai cây ăn quả khác Năm 1989 diện tích bưởi ở Trung Quốc là 49.186 ha, sản lượng là 21,8 vạn tấn Tuy nhiên đến năm 2008, riêng bưởi Sa Điền cũng có diện tích tới 30.000 ha, sản lượng 750.000 tấn (Cục Nông nghiệp Quảng Tây, 2008) Ở Phúc Kiến, bưởi Quan Khê cũng đạt tới diện tích 40.000 ha và sản lượng 20.000 tấn (Cục Nông nghiệp, thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, 2009)
Tại Thái Lan bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh miền trung, một phần miền bắc và miền đông Năm 1987, Thái Lan trồng 1.500 ha bưởi cho sản lượng 76.275 tấn với giá trị 28 triệu đôla Mỹ (Trần Thế Tục, 1995) Diện tích bưởi ở Thái lan khoảng 34.354 ha và sản lượng khoảng 197.716 tấn, bao gồm
cả bưởi chùm
Philippines là một nước sản xuất nhiều bưởi Trong tập đoàn cây có múi, bưởi chiếm tới 33% (quýt chiếm 44% và cam 11%) Năm 1987 Philippines có 4.400
ha bưởi, sản lượng 34.735 tấn, giá trị gần 80 triệu pê-xô (Trần Thế Tục, 1995)
Ở Ấn Độ, bưởi và bưởi chùm trồng trên quy mô thương mại ở một số vùng Bưởi chùm là loại quả được dùng để ăn sáng phổ biến ở nhiều nước, Những vùng khô hạn như Punjab là nơi lý tương với bưởi chùm Bưởi có thể chọn được lượng mưa lớn và phát triển tốt ở vùng KonKan Năm 2005, Ấn Độ sản xuất được 142.000 tấn bưởi và bưởi chùm (FAO, 2006)
Mỹ là nuớc sản xuất nhiều bưởi chùm Bưởi chùm đã thành hàng hoá thương mại ở Mỹ trong nhiều năm nay Năm 2005, Mỹ sản xuất 50.000ha bưởi
và bưởi chùm, đạt sản lượng đứng đầu thế giới 914.440 tấn
Về tiêu thụ bưởi: Nhật Bản vẫn là một thị trường lớn cho việc tiêu thụ bưởi Trong năm 2004/05 bang Florida của Mỹ đã xuất sang Nhật Bản 4.755.972 thùng (80.851tấn) bưởi tươi, năm 2005/06: 6 - 7 triệu thùng (102-
119 nghìn tấn), năm 2005/06: 8 triệu thùng (136 ngàn tấn) Nam Phi cũng xuất sang Nhật khoảng 6 triệu thùng (96.721tấn) bưởi trong năm 2004/2005, tăng gần 1,55 triệu thùng so với năm 2003/2004
Tại Nga, khoảng 12% người Nga coi quả có múi là loại trái cây ưa thích Quýt và cam là 2 loại quả phổ biến nhất trong khi đó bưởi vẫn được coi là loại
Trang 22quả có múi quý hiếm Năm 2004 Nga nhập 4 ngàn tấn bưởi, tăng so với 32 ngàn tấn năm 2003, 33 ngàn tấn của năm 2002 và 22 ngàn tấn năm 2001 Trong 9 tháng đầu năm 2005 Nga đã nhập 30 ngàn tấn bưởi Như vậy trong năm 2004 Nga đứng thứ 3 thế giới về nhập khẩu bưởi sau Nhật bản (288 ngàn tấn) và Canada (51 ngàn tấn), trong tổng số 464 ngàn tấn của toàn thế giới Các nước cung cấp bưởi chủ yếu cho Nga là Thổ Nhĩ Kỳ, Ixraen, Nam Phi và Achentina
- Sản xuất bưởi: diện tích cây có múi cho thu hoạch trên toàn thế giới như sau:
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng cây có múi trên thế giới trong
giai đoạn 2008-2012
Năm
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011 2012 Diện tích thu hoạch
Năng suất (tạ/ha) 905,98 921,05 919,6 948,84 948,49 Sản Lượng (1000tấn) 10.537 11.922 12.281 12.611 12.840
Nguồn: FAOSTAT (2014)
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng cây có múi của một số nước
trên thế giới năm 2012
Nước
Diện tích (1000 ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (1000 tấn) Diện tích (1000 ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (1000 tấn) Trung Quốc 55,00 8,05 443,00 319,50 7,55 2412,00
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây có múi ở Việt Nam
Nước ta là một trong những nước nằm trong trung tâm phát sinh cây có
Trang 23múi (Trung tâm Đông Nam Á), khí hậu nhiệt đới, thích hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam quýt
Cam quýt được trồng phổ biến nhiều nơi trên khắp mọi miền của đất nước, phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi tiếng đặc trưng cho vùng Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam quýt còn gặp nhiều khó khăn, đó là do điều kiện thời tiết thất thường, cơ sở hạ tầng yếu kém, tiếp cận thị trường khó khăn, trình độ thâm canh thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm chạp do trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng, công tác bảo vệ thực vật chưa được quan tâm chu đáo, công tác tuyển chọn giống và sản xuất cây giống chất lượng chưa được chú trọng đúng mức
Cây ăn quả: Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá, trong đó sản lượng cam năm 2013 ước tính đạt 530,9 ngàn tấn, tăng 1,7% so với năm 2012; chuối đạt 1,9 triệu 5 tấn, tăng 5,6%; bưởi đạt 449,3 ngàn tấn, tăng 2,2% Tuy nhiên, một
số cây khác do ảnh hưởng của thời tiết và một phần diện tích đang được cải tạo, chuyển đổi nên sản lượng giảm như: Sản lượng vải, chôm chôm đạt 641,1 ngàn tấn, giảm 1,1% so với năm 2012; quýt đạt 177,7 ngàn tấn, giảm 2,4%
Diện tích và sản lượng cây có múi chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long Hàng năm diện tích và sản lượng cam quýt ở nước ta tăng nhanh nhưng năng suất còn khá khiêm tốn do điều kiện khí hậu thời tiết, do kỹ thuật chưa được áp dụng Theo kết quả điều tra thì năng suất cam chanh là 105 tạ/ha; quýt 87 tạ/ha; chanh 88 tạ/ha; bưởi 74 tạ/ha; Tuy nhiên cá biệt có trang trại đạt năng suất cam chanh 237 tạ/ha; chanh 128 tạ/ha; quýt 240 tạ/ha; bưởi 177 tạ/ha Lãi suất đối với một ha trồng cam là 84,2 triệu đồng, quýt 54,6 triệu đồng, chanh 43,7 triệu đồng, bưởi 21 triệu đồng Đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng lớn nhất toàn quốc nhưng năng suất còn quá thấp so với năng suất của nhiều nước trồng cam trên thế giới (từ 20 - 40 tạ/ha) Tuy nhiên cũng có năng suất điển hình như ở Phủ Quỳ đạt 400 - 500 tạ/ha
Phát triển cam quýt ở nước ta phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước
là chủ yếu và một phần rất nhỏ dùng cho xuất khẩu Hiện nay với khoảng 60 triệu dân sống ở các thành phố, thị xã, thị trấn, mức tiêu thụ quả đang có xu hướng tăng lên
Theo các tác giả Trần Thế Tục, Vũ Mạnh Hải và Đỗ Đình Ca (2000) nước
ta có 3 vùng trồng cây có múi chủ yếu là:
Trang 24- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: ở đây có một tập đoàn cam quýt rất phong phú như: Cam chanh, cam sành, cam giấy, bưởi, quýt, quất Các giống được ưa chuộng và trồng hiện nay là cam sành, cam mật, bưởi năm roi, bưởi Long Tuyền Theo thống kê năm 1999 diện tích cây có múi ở Đồng bằng sông Cửu Long là 41.267ha bằng 61,16% diện tích cây ăn quả có múi cả nước Năng suất bình quân tương đối cao trong đó bưởi đạt 7,4 tấn/ha
-Vùng Bắc Trung bộ: theo thống kê năm 1999 diện tích cây có múi toàn vùng là 7.743 ha với sản lượng 22.661 tấn Trong vùng này có hai vùng bưởi đặc sản đó là bưởi Thanh Trà của Huế, bưởi Phúc Trạch của Hương Khê Với ưu việt của mình, diện tích bưởi Phúc Trạch ngày được mở rộng Trong năm 2006, diện tích trồng bưởi Phúc Trạch lên đến 1600ha, trong đó
có khoảng 950ha đã cho quả, sản lượng quả bình quân những năm gần đây đạt 12-15 nghìn tấn/năm
Vùng Trung du và Miền núi phía Bắc: cây có múi ở vùng này được trồng
ở những vùng đất ven sông, suối như sông Hồng, sông Lô, sông Gấm, sông Chảy Hiện chỉ còn một số vùng tương đối tập trung là Bắc Sơn, Bắc Quang (Đỗ Đình Ca, 2008), riêng cây bưởi ở vùng này có 474 ha chiếm 17,5% diện tích cây có múi với giống bưởi Đoan Hùng ngon nổi tiếng
Biến động về diện tích, năng suất và sản lượng cây có múi trong những năm gần đây ở nước ta thống kê được trong bảng sau:
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng của cây có múi
ở Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2014
Năm
Diện tích trồng (1000ha) 75,3 68,8 67,5 70,3 75,6 Diện tích cho SP (1000ha) 64,1 55,8 55,6 56,6 58,3 Năng suất (tạ/ha) 113,70 125,90 126,60 124,70 126,30 Sản lượng (1000 tấn) 728,6 702,7 704,1 706 736,1
Nguồn: Niên giám thống kê (2014)
Tổ chức tiêu thụ sản phẩm quả có múi cũng rất đa dạng, ngoài hệ thống chỉ đạo sản xuất lưu thông phân phối của nhà nước và Tổng Công ty Rau quả
Trang 25Trung ương với các đơn vị trực thuộc, dưới tác động của cơ chế thị trường, hệ thống tổ chức tiêu thụ quả tươi của tư nhân được hình thành một cách rộng khắp và chặt chẽ từ khâu thu mua đến khâu vận chuyển đường dài, bán buôn, bán lẻ cũng tỏ ra có hiệu quả hơn Chính hình thức tổ chức kinh tế nhiều thành phần mà quả tươi được phân bố, lưu thông đi các nơi trên mọi miền đất nước Đây là một động lực phát triển sản xuất cây ăn quả ở nước ta
Cây có múi nói chung và bưởi nói riêng là loại cây ăn quả quan trọng không chỉ về giá trị dinh dưỡng mà cả về hiệu quả kinh tế, cao hơn nhiều lần so với cây trồng khác Các giống bưởi quý có thương hiệu trên thị trường nước ta
và trên thế giới là một thế mạnh cần tiếp tục phát huy Song bên cạnh đó trong sản xuất bưởi hiện nay vẫn còn khá nhiều giống bưởi địa phương khác nhau, đó đều là các giống có chất lượng quả không cao, hàm lượng Vitamin thấp, hạt nhiều, khó bảo quản…lạc hậu so với tiêu chuẩn quốc tế Vì vậy, việc nghiên cứu các giống bưởi chất lượng cao, phát triển nó trên những vùng có điều kiện phát triển là vấn đề lớn trong ngành sản xuất cây ăn quả có múi hiện nay ở nước
ta Bên cạnh đó cũng cần bảo tồn và phát triển mở rộng hơn nữa ở các vùng bưởi truyền thống nhằm lưu giữ nguồn gen quý phục vụ cho công tác chọn tạo giống sau này
* Các vùng trồng cây có múi chính ở Việt Nam
Theo Trần Thế Tục (1980), Trần Thế Tục và cs (1995) lịch sử trồng cam quýt ở đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời, nên người dân ở đây rất có kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc loại cây ăn quả có múi Cam quýt được trồng chủ yếu ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sông Tiền, sông Hậu có nước ngọt quanh năm, nơi đây có tập đoàn giống cam quýt rất phong phú như: Cam chanh, cam Sành, Bưởi, chanh Giấy Điều này hoàn toàn phù hợp với vị trí của các tỉnh đồng bằng sông
địa hình rất bằng phẳng, có độ cao từ 3-5m so với mặt nước biển Các yếu
tố khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất cây có múi
Cam của Nam Bộ quả lớn, hương vị đặc biệt thơm ngon, vượt xa loại cam mang từ Trung Hoa vào cùng mùa Nhiều giống được ưa chuộng và
Trang 26trồng phổ biến hiện nay như: Cam Sành, cam Mật, quýt Tiều (quýt hồng), quýt Siêm, quýt đường, bưởi đường, bưởi Năm Roi, bưởi Long Tuyễn ở điều kiện khí hậu, đất đai vùng đồng bằng sông Cửu Long các giống nêu trên thường cho năng suất tương đối cao
- Vùng mi ền núi phía Bắc
Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang và Thái Nguyên là các vùng trồng cam lớn ở các tỉnh miền núi phía bắc Cam quýt được trồng thành từng khu tập trung từ 500 ha đến hàng nghìn ha như ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Cạn, Hàm Yên, Chiêm Hóa - Tuyên Quang, Bắc Quang - Hà Giang, nhìn chung cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân tại đây Do địa hình sinh thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam quýt đặc trưng, đặc biệt ở vùng núi phía Bắc là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa dạng (Bùi Huy Kiểm, 2000)
Nói đến cam Sành chúng ta không thể không nghĩ đến khu vực huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang Vì đây là một vùng sản suất cam quýt lớn của miền bắc với chất lượng ngon, màu sắc đẹp, cung cấp một lượng cam lớn cho miền Bắc vào dịp Tết và sau Tết Khi phân tích các chỉ tiêu như chế độ nhiệt, chế độ mưa, ẩm và những điều kiện thời tiết đặc biệt như: Bão, sương muối, mưa đá và đi đến kết luận rằng ở đây có các yếu tố thời tiết đặc biệt có lợi cho cam phát triển, các yếu tố khác như: Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa hoàn toàn phù hợp với yêu cầu sinh thái và có thể hình thành nên vùng trồng cam quýt xuất khẩu Bên cạnh đó nơi đây cũng rất nổi tiếng với 4 giống quýt; quýt Chum, quýt Chun, quýt Đỏ và quýt Vàng có triển vọng phát triển với thời gian cho năng suất cao, kéo dài và có giá trị thương phẩm (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
- Vùng khu 4 c ũ
quýt vùng này là vùng Phủ Quỳ - Nghệ An Các giống cam ở Phủ Quỳ có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất tương đối ổn định Hai giống Sunkiss
và Xã Đoài có ưu thế tiềm về tiềm năng, năng suất và sức chống chịu sâu bệnh hại năng trên cả cây và quả (Nguyễn Duy Lâm và cs., 2001)
Trang 27Huyện Hương Khê là một trong những vùng đất miền núi của tỉnh Hà Tĩnh Nhân dân ở đây đã có tập quán trồng bưởi lâu đời, đặc biệt là bưởi Phúc Trạch, một trong những giống bưởi đặc sản ngon nhất hiện nay Ngoài bưởi Phúc Trạch ở vùng này còn có một giống cam quýt rất nổi tiếng đó là cam Bù Cam Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn, chín muộn nên có thể đưa vào cơ cấu cam quýt chín muộn ở nước ta hiện nay Cam Bù có năng suất cao nhờ có bộ lá quang hợp tốt và số lượng lá/cây lớn, có tính chịu hạn tốt Cam Bù thường được trồng với mật độ cao (600 – 1000 cây/ha) để cho cây chóng giao tán, che phủ đất trống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ
ở vùng núi thấp (Phạm Văn Côn, 2004)
* Nghiên cứu về cây có múi ở Việt Nam
Trong nhưng năm trở lại đây, Việt Nam đã có những bước đi mới và trong số đó cũng có rất nhiều thành công trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển cây có múi, làm cho sản phẩm ngày càng đa dạng và nâng cao phẩm chất lượng đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu thụ cũng như xuất khẩu ra các thị trường lớn Điển hình như ở viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Bắc- Trung Bộ đã có những thành công đáng kể trong nghiên cứu, xây dựng các mô hình trồng cây
ăn quả, đáng chú ý là các loai cây có múi ví dụ như:
- Tuyển chọn được 5 cây cam Xã Đoài đạt tiêu chuẩn cây đầu dòng và đã được Hội đồng Khoa học tỉnh Nghệ An đánh giá và công nhận Trong 5 cây đó
có 3 cây 26 năm tuổi, 2 cây từ 7 - 8 năm tuổi Những cây này đều sinh trưởng
và phát triển khỏe mạnh, nhiễm ít sâu bệnh, năng suất ổn định, phẩm chất và chất lượng quả tốt
- Khảo nghiệm cây ăn quả có múi bưởi Long, cam xã Đoài, bưởi Phúc Trạch tại một số vùng sinh thái Bắc trung bộ Hiện 3 giống bưởi này đang được khảo nghiệm tại 2 huyện Nghĩa Đàn và Thanh Chương từ 2002 đến nay Qua theo dõi cả 3 giống đều sinh trưởng phát triển tốt, thích ứng được với vùng sinh thái Đặc biệt là giống bưởi Long hiện đang tiếp tục theo dõi để có các kết luận một cách chắc trước khi đưa vào phục vụ sản xuất Nghiên cứu các giải pháp khoa học và công nghệ phát triển cây cam tại Nghệ An phục vụ xuất khuẩu và tiêu dùng nội địa
- Nghiên cứu tuyển chọn và công nghệ nhân giống một số cây ăn quả miền Bắc Giống cam đã được tuyển chọn và trồng thử nghiệm tại xã Minh Hợp huyện Quỳ Hợp hiện sinh trưởng và phát triển rất tốt được người dân đánh giá cao
Trang 28- Việc thu thập bảo tồn và lưu giữ các giống tốt, chất lượng từ các nguồn gen khác nhau cũng đã được giới chuyên gia cũng như các ban ngành liên quan hết sức chú trọng với hy vọng làm đa dạng, phong phú quỹ gen cây có múi của nước ta, cụ thể:
Hiện tại Viện Nghiên cứu Rau Quả đang bảo tồn lưu giữ 117 mẫu giống cây có múi, trong đó có 34 giống địa phương, gồm cam ngọt: 8 giống, cam chua: 1, chanh: 4, quýt: 11, bưởi Đã đánh giá và đưa khảo nghiệm 3 giống cam
và quýt có triển vọng
Về việc tiếp cận với các kỹ thuật mới, hiện đại, đặc biệt là áp dụng kỹ thuật DNA marker (sử dụng chỉ thị phân tử AFLP và SSR) vào việc nhận diện một số giống cấy ăn quả đặc sản, xác định đa dạng và quan hệ di truyền, tìm ra
bộ chỉ thị phân tử đặc hiệu cho các giống cây ăn quả đặc sản như nhãn, bưởi, cam vv… cũng đã được tiến hành ở một số viện, trường đại học và Trung tâm tài nguyên di truyền thực vật quốc gia:
- Đề tài cấp Nhà nước mã số KHCN 08-03 nghiên cứu chọn tạo một số giống cây ăn quả có năng suất cao, chất lượng tốt cho một số vùng sinh thái đã được tiền hành trong các năm 1997-2000 mà trường ĐHNN Hà Nội là thành viên đã tuyển chọn được các cây ưu tú và cây đầu dòng các loại: Xoài, Nhãn, Bưởi, Vải cho các tỉnh phía Bắc Việt Nam
- Chương trình cấp Nhà nước nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng nông lâm nghiệp giai đoạn 2001-2005 đã xác định cây mẹ và nhân giống lưu giữ được nhiều giống cây ăn quả quý có nguồn gốc bản địa và nhập nội như Xoài, Cam, Quýt, Nhãn, Vải, Thanh long, Mít, Nho, Dứa v.v… Các kết quả du nhập giống cây ăn quả thuộc đề tài DA15 di Viện Di truyền nông nghiệp tiến hành đã lưu giữ được các giống cam, quýt, nho, dứa, ổi, táo có chất lượng cao đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và đang cần được phát triển ở các vùng thích hợp
- Tại Học viện nông nghiệp Việt Nam hiện nay đang lưu giữ một tập đoàn các cây ưu tú và cây đầu dòng về Nhãn, Bưởi, Cam, Quýt, Xoài, Vải, Ổi, Khế
… có chất lượng cao đã và đang được đánh giá và khảo nghiệm ở các vùng sản xuất trong nước Học viện nông nghiệp Việt Nam trong khuôn khổ kết hợp với các địa phương đã xây dựng các mô hình vườn ươm nhân giống, vườn cây mẹ, phổ biến và áp dụng nhiều công nghệ nhân giống mới, kỹ thuật canh tác tiên tiến đạt kết quả tốt
Trang 29- Năm 2005, Trung tâm phát triển VAC, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội được Bộ giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ: “Hoàn thiện công nghệ chọn tạo giống bưởi và cam chất lượng cao phục vụ phát triển cây ăn quả miền Bắc Việt Nam”, kết quả nhiệm vụ đã tuyển chọn được: Dòng bưởi NNH-VN50, ít hạt có nhiểu triển vọng, trọng lượng quả từ 810g đến 900g, tỷ lệ ăn được 73,5%, đường kính quả 12,5 cm, hàm lượng đường tổng số 7,68%, độ Brix 9,8% và axit 0,16% Dòng quýt NNH-VN52 không hạt phẩm vị ngon, ngọt đậm, chín sớm và dòng bưởi ngọt NNH-VN53, quả to, dáo múi, ngọt đậm và chín sớm
- Năm 2005, tỉnh Hải Dương đã phát triển đề tài: “Ứng dụng công nghệ ghép để nhân giống cam đặc sản xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ” Kết quả đề tài đã khảo sát và xác định được nguồn gốc còn lại 20 cây cam trồng trong 9 hộ gia đình ở 2 thôn Ngọc Lâm và Nghi Khê Đã đào tạo được đội ngũ cán bộ chuyên môn tiếp thu được công nghệ ghép và thực hiện thành thạo kỹ năng nghề Đề tài
đã nhân rộng mô hình phát triển được 650 cây cam tại xã Tân Kỳ huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN TRÊN CÂY CÓ MÚI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về phân bón trên cây có múi trên thế giới
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng cho cây có múi nói chung và bưởi nói riêng ở các quốc gia trên thế giới Nhìn chung các vấn đề về dinh dưỡng cho cây được đề cập một cách khá toàn diện, trong đó những vấn đề về vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng, ảnh hưởng và mối quan
hệ của chúng tới từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây cũng như năng suất, chất lượng
Thiếu đạm lá bị mất diệp lục và bị vàng đều, thiếu nghiêm trọng cành bị ngắn lại, mảnh, lá vàng, nhỏ dễ bị rụng, quả ít Tuy nhiên thiếu đạm chỉ ảnh hưởng đến độ lớn của quả chứ không ảnh hưởng đến đặc điểm quyết định phẩm chất quả, chỉ có chất khô hoà tan bị giảm đôi chút Dạng đạm phổ biến dùng là amôn sunfat Tuy nhiên đối với đất kiềm hoặc chua nhiều tốt nhất nên dùng các loại phân có gốc nitrat, như vậy sẽ ít bị mất đạm và tránh ảnh hưởng chua của gốc sunfat và nitrat còn thúc đẩy sự hút magiê ở đất thiếu magiê
Khi cây thiếu hụt lân, lá cây thường nhỏ, hẹp có màu tím hoặc đồng, một
số lá có thể phát triển các vùng hoại tử, lá rụng sớm, ít quả, vỏ quả thô và rỗng
ở trụ quả (Mongi Zekri and Thomas, 2003)
Trang 30Trên đất nặng, hiếm khi thấy tình trạng thừa lân vì đất này có khả năng giữ lân mạnh Còn đối với đất nhẹ nếu bón lân liên tục sẽ gây hiện tượng thừa lân Thừa lân gây tình trạng thiếu kẽm dẫn tới hiện tượng gân xanh lá vàng, một bệnh sinh lý khá phổ biến ở cam quýt
Trường hợp thiếu kali sẽ làm quả nhỏ nhưng lá vẫn không có triệu chứng
gì, thiếu trong thời gian dài, lá mới bị dày và nhăn nheo, vùng giữa các gân lá bị mất diệp lục và sau đó có các vết chết khô, khi thiếu trầm trọng đầu đọt bị rụng,
lá bị chết khô, cây thường bị chảy gôm, quả thô, phẩm chất kém Bón kali sunfat thích hợp hơn kali clorua vì phần lớn các giống đều mẫn cảm với clorua quá cao Kali-magiê sunfat (Patenk kali) rất thích hợp vì có 10% MgO cùng với
Bổ sung dinh dưỡng cho cây có thể dựa vào nhiều căn cứ, tuy nhiên thông thường hiện nay người ta dựa vào 3 căn cứ chính: chuẩn đoán dinh dưỡng lá, phân tích đất và dựa vào năng suất
Bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng lá được thiết lập trên 4 nguyên tắc cơ bản là: chức năng của lá, quy luật bù hoàn giảm dần, chức năng của các nguyên tố dinh dưỡng và sự đối kháng ion Dựa trên 4 nguyên tắc này Reuther and Smith đã xây dựng được tiêu chuẩn về thành phần dinh dưỡng của lá gồm 5 cấp: thiếu, thấp, tối thích, cao và thừa Dựa vào thang chuẩn này người ta thường xuyên phân tích lá để biết được có cần hay không cần phải bón phân
Bảng 2.4 Thang dinh dưỡng lá của cây bưởi
Nitrogen (%) < 2,2 2,2 – 2,4 2,5 – 2,7 2,8 – 3,0 > 3,0 Phosphorus (%) < 0,09 0,09 – 0,11 0,12 – 0,16 0,17 – 0,30 > 3,0 Potassium (%) < 0,7 0,7 – 1,1 1,2 – 1,7 1,8 – 2,4 > 2,4 Calcium (%) < 1,5 1,5 – 2,9 3,0 – 4,9 5,0 – 7,0 > 7,0 Magnesium (%) < 0,2 0,20 – 0,29 0,30 – 0,49 0,50 – 0,70 > 0,7 Chlorine (%) < 0,2 0,20 – 0,70 > 0,7
Manganese (ppm) < 17 18 – 24 25 – 100 101 – 300 > 300 Zinc (ppm) < 17 18 – 24 25 – 100 101 – 300 > 300 Copper (ppm) < 3 3 – 4 5 – 16 17 – 20 > 20 Iron (ppm) < 35 35 – 59 60 – 120 121 – 200 > 200 Boron (ppm) < 20 20 – 35 36 – 100 101 – 200 > 200 Molybden (ppm) < 0,05 0,06 – 0,09 0,1 – 1,0 2,0 – 5,0 > 5,0
Nguồn: Tucker et al (1995)
Trang 31Người ta cũng căn cứ vào tình trạng dinh dưỡng trong đất thông qua phân tích đất và đối chiếu với nhu cầu dinh dưỡng của cây theo từng độ tuổi, từng giai đoạn sinh trưởng để định ra chế độ bón phân một cách phù hợp Để thiết lập được căn cứ này thường phải thông qua một loạt các thí nghiệm đồng ruộng với nhiều công thức bón khác nhau, bao gồm tỷ lệ, liều lượng và thời gian bón trên nhiều loại đất khác nhau
Từ kết quả nghiên cứu Trạm thí nghiệm cam quýt Gainsville, Florida đề
lệ này tương đương với công thức 8: 8: 4: 1: 0,5 Tuỳ tuổi cây, từ năm thứ nhất đến năm thứ 6 bón mỗi cây số lượng phân hỗn hợp theo công thức trên từ 0,5 - 5,0 lb Cũng ở Florida, dẫn theo Chawalit Niyomdham (1992) khuyến cáo tỷ lệ
số lần bón cho cây tùy theo tuổi như sau: Cây 1 năm tuổi được bón 150g hỗn hợp trên và chia làm 5 lần Năm thứ 2 và năm thứ 3 bón 450g và 900g chia làm
4 lần Sau đó cứ mỗi năm tuổi của cây, tăng thêm một lượng phân bón là 225g, với một lượng bón là 3510 chia làm 10 năm Nguyên tố vi lượng Zn thường
được phun trên cây cùng với Cu và Mn (Tucker et al., 1995)
Ở Brazin tỷ lệ bón N:P:K = 1:0,5:1 hoặc N:P:K = 1:0,3:1; ở Aghentina,
theo tỷ lệ 2:1:1:0,5 với 400g N/cây/năm (Davenport, 1987)
Theo Trương Thục Hiền (2006) ở Trại thí nghiệm Nông nghiệp Đài Loan,
như nhau với lượng tăng dần theo tuổi cây từ 50g/cây năm thứ nhất đến 140 cây năm thứ năm Khi cây cho thu hoạch lượng bón được xác định căn cứ theo năng suất thực thu
Về phương pháp bón: Theo các tác giả hiện nay có hai cách bón chính: + Bón trực tiếp vào đất: đây là cách bón phổ biến, đầu tiên người ta đào một rãnh xung quang tán có độ sâu 30-45cm sau đó giải đều phân và lấp hố Bón theo cách này luôn kết hợp với tưới nước
+ Phun phân qua lá: cách bón này dựa trên nguyên lý lá cây có thể hấp thụ được các nguyên tố dinh dưỡng và chuyển hoá nó thành năng lượng nuôi cây
Sử dụng phân bón lá khá phổ biến ở nhiều nước trồng cây có múi và áp dụng
Trang 32trong các trường hợp sau: đất nghèo dinh dưỡng, đất khô hạn, bộ rễ kém phát triển Khi sử dụng phân bón lá cần lưu ý hoà tan hoàn toàn phân trong nước, nguồn nước sử dụng phải là nước không có axit hoặc không có kiềm (Nguyễn Văn Uyền, 1995; Nguyễn Hạc Thúy, 2001; Vũ Hữu Yêm, 2006)
2.3.2 Tình hình nghiên cứu phân bón trên cây có múi ở Việt Nam
Ở Việt Nam nhìn chung còn rất ít nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng riêng cho cây bưởi
Theo Phạm Văn Côn (2004) cho biết: cây ăn quả cũng như cây trồng nói chung cần hút chất dinh dưỡng từ đất và từ phân bón để tạo ra sản phẩm thông qua quá trình quang hợp Nếu thiếu dinh dưỡng hoặc các chất dinh dưỡng không cân đối làm cho cây sinh trưởng kém dẫn tới giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm Nếu thừa dinh dưỡng làm cho cây sinh trưởng quá mạnh cũng làm giảm năng suất và phẩm chất sản phẩm đồng thời còn gây ô nhiễm môi trường đất nước và không khí Vì vậy, trước tiên cần phải nắm vững nhu cầu
dinh dưỡng của từng loại cây
Phẩm chất quả bao gồm hình dạng, kích thước quả, cấu trúc vỏ, độ nhẵn
và mầu sắc vỏ hoặc phẩm chất bên trong đặc chưng bằng nhiều yếu tố như lượng dịch quả, tổng số chất hoà tan và độ chua v.v được quyết định bởi việc bón phân Nhận xét một cách tổng quát là bón nhiều N sẽ làm cấu trúc vỏ ngoài xấu, quả nhỏ, chất lượng quả giảm Ảnh hưởng của N còn tuỳ thuộc vào từng nền đất trồng, ở những chân đất mầu mỡ ảnh hưởng của việc bón N không được thể hiện rõ Trong điều kiện P dễ tiêu thấp, việc thừa N càng tỏ ra có ảnh hưởng xấu đến chất lượng quả Mức bón K cao làm tăng độ lớn trung bình của quả và
độ dày vỏ quả Bón K không làm ảnh hưởng đến năng suất của cây nhưng lại ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ các loại trái (theo độ lớn) Bón nhiều K thì quả to, vỏ dày, chín muộn, mầu sắc quả xấu, các hợp chất tan trong dịch quả thấp Ngược lại nếu bón K thấp tạo ra quả nhỏ, chín sớm, mầu sắc đẹp, các chất tan trong dịch quả cao, axit thấp
Về lượng phân bón
Tuỳ theo từng loại đất đai, giống, tình hình sinh trưởng của cây mà quyết định số lượng phân bón cho thích hợp Về cơ bản các loại phân N, P và K cần được cung cấp cho cây đầy đủ, bên cạnh đó phân hữu cơ và các loại vi lượng cũng cần được bổ sung để đạt được năng suất cao Đề xuất lượng bón cho mỗi cây/một năm như sau: (Vũ Mạnh Hải, 2000)
Trang 33Bảng 2.5 Lượng phân bón cho bưởi
Năm
tuổi Đạm sunfát (kg/cây)
Lân surpe (kg/cây)
Kaliclorua (kg/cây)
Phân hữu cơ (kg/cây)
Lần 1: Trước khi cây ra hoa bón 1/3 N
toàn bộ lượng phân hữu cơ
Các nghiên cứu cũng cho thấy việc bón phân hữu cơ, nhất là phân chuồng rất quan trọng trong canh tác cây có múi, vì góp phần làm tơi xốp đất, giữ được dinh dưỡng lâu hơn và hạn chế những bệnh ở rễ
Bón phân hữu cơ đã cải thiện độ chua, làm tăng dinh dưỡng của đất, làm tăng phẩm chất trái sau tồn trữ 30 ngày
Đỗ Đình Ca và cs (2004) nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón, tưới nước đến khả năng ra hoa, đậu quả của bưởi Phúc Trạch từ 2003 - 2004 cho thấy bón
Trang 34suất cao nhất, song về hiệu quả kinh tế thì công thức bón 500g N + 250g P205 +
nhận khi tiến hành thí nghiệm đối với bưởi Thanh Trà tại Hương Vân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2006 – 2008
Những năm gần đây phân bón lá như Pomior, Kivica sản xuất ở trong nước cũng đã được sử dụng khá phổ biến trên cam, bưởi đưa lại hiệu quả tăng năng suất, chất lượng rõ rệt
Nhìn chung hướng nghiên cứu là tìm ra loại phân, công thức bón và thời gian bón thích hợp cho năng suất, chất lượng cao nhất, không gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới vệ sinh an toàn sản phẩm
Tất cả các nghiên cứu trên là những cơ sở cho việc bón phân và sử dụng phân bón một cách hợp lý đối với cây có múi Tuy nhiên trên thực tế việc ứng dụng các nghiên cứu có kết quả còn phụ thuộc rất nhiều vào các yêú tố khác nhau, trong đó giống và điều kiện thời tiết, khí hậu từng vùng có vai trò rất quan trọng và do vậy việc thí nghiệm để tìm ra các công thức bón thích hợp với từng đối tượng, từng vùng sinh thái trồng trọt vẫn cần phải được tiến hành thường xuyên
2.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN CHO CÂY BƯỞI
Thực vật nói chung và bưởi nói riêng, muốn sinh trưởng và phát triển tốt cần phải được cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đa lượng cũng như vi lượng
+ Đạm (Nitơ): là nguyên tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu được
trong quá trình sinh trưởng đặc biệt trong sự hình thành bộ lá và có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của quả Nitơ tham gia vào quá trình hình thành
và phát triển cành lá, xúc tiến hình thành các đợt lộc mới trong năm, có tác dụng giữ cho bộ lá xanh lâu Nhiều nghiên cứu cho thấy một quả bưởi Chùm cần 60 lá cho một quả (Trần Thế Tục và cs., 1988)
Tuy nhiên nếu thừa đạm sẽ làm cho lá và lộc sinh trưởng quá tốt, quả lớn nhanh nhưng vỏ dày, quả bị nứt và phẩm chất quả kém, mầu sắc quả đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm Nhưng nếu thiếu đạm lộc non không phát sinh đúng lúc hoặc ra ít, lá nhỏ, lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành quả nhỏ, mảnh và bị rụng lá, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất giảm
Trang 35Ở điều kiện thời tiết nước ta bưởi hấp thu đạm quanh năm, nhưng cây hút đạm mạnh nhất vào các tháng có thời tiết ấm, đồng thời cũng là thời điểm cây bưởi trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng đến khi thu hoạch Ngoài ra khả năng hút đạm chịu sự tác động của độ pH đất, nếu pH từ 4 - 4,5 cây hấp thu
cs., 1988)
+ Phân lân (Phospho): là nguyên tố dinh dưỡng rất cần cho cây sinh
trưởng và phát triển đặc biệt là giai đoạn phân hóa mầm hoa
Phân lân có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quả, đủ lân lượng axit trong quả giảm, tỷ lệ đường/ axit cao, hàm lượng Vitamin C giảm, vỏ quả mỏng, mã đẹp, lõi quả chặt, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển màu nhanh
Nếu thiếu lân cành, lá sinh trưởng phát triển kém, rụng nhiều, bộ rễ kém phát triển, do đó năng suất, phẩm chất quả giảm ở mỗi thời kỳ sinh trưởng và phát triển khác nhau cây có nhu cầu về lượng lân cũng khác nhau, ví dụ ở giai đoạn kiến thiết cơ bản cây cần lân để phát triển bộ rễ, còn ở thời kỳ kinh doanh cây cần lân để phân hóa mầm hoa Tuy nhiên nếu dư thừa lân vừa gây lãng phí
mà lại làm cho bưởi lâu chín vàng (Nguyễn Văn Luật, 2006) Hiệu quả của việc bón lân cho bưởi quýt còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó độ pH đất là quan trọng nhất, đất có pH thấp sẽ làm giảm hiệu lực của phân
+Kali: Vũ Công Hâu (1996) kali rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của bưởi, đặc biệt là thời kỳ ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh Kali ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất quả bưởi, vì kali tham gia vào quá trình vận chuyển các sản phẩm quang hợp về các cơ quan tích lũy trên cây Nếu cây được cung cấp đầy đủ kali quả to, ngọt, nhanh chín, có khả năng chịu được lâu dài khi vận chuyển đi xa hoặc cất giữ lâu ngày Tuy nhiên nếu thừa kali cây sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây còi cọc, đặc biệt nếu quá nhiều kali sẽ gây nên hiện tượng hấp thu caxi, magie kém, quả to nhưng xấu mã, vỏ quả dày, lâu chín (Nguyễn Hạc Thúy, 2001)
Ngoài các nguyên tố đa lượng N,P,K, các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển, năng suất và phẩm chất bưởi (Vũ Hữu Yêm, 1998)
Theo các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng cây hoàn toàn không thể phát triển một cách bình thường nếu như thiếu các nguyên tố trung và vi lượng như: Bo, Mangan, Canxi, Kẽm, Molipden v.v các nguyên tố này hết
Trang 36sức cần thiết cho cây, chúng có tác dụng thúc đẩy và kích thích khả năng sinh trưởng, phát triển của cây một cách mạnh mẽ.
+ Canxi (Ca): được ví như xi măng gắn kết các tế bào lại với nhau Hàm
lượng Ca trong cây cao sẽ ngăn cản sự rụng ngược lại khi hàm lượng Ca trong cây thấp sẽ tăng sự rụng
+ Kẽm (Zn): rất cần cho sự tổng hợp Triptophan - tiền thân của auxin Khi
thiếu Zn sẽ thiếu auxin và sẽ làm tăng sự rụng
+ Bore: là nguyên tố dùng cho cây ăn quả khá tốt Nó có vai trò quan
trọng trong việc hình thành màng sinh học Đặc biệt khi B kết hợp với Ca làm
ổn định thành tế bào Thiếu B ảnh hưởng lớn đến mô phân sinh và sự nảy mầm của hạt phấn Chính vì vậy, B có tác dụng hạn chế rụng quả trên nhiều đối tượng cây trồng trong đó có cây cam Khi thiếu B làm cho hàm lượng nước trong quả ít, hình dạng quả không bình thường Để khắc phục có thể phun dung dịch axit boric nồng độ 300g/100l nước
Ngoài ra, lưu huỳnh (S) thiếu sẽ làm tăng sự rụng quả, lá vì làm giảm các
-sẽ gây độc cho cây và làm tăng quá trình rụng
Khi cây thiếu Cu quả dễ bị nứt, nhất là khi còn xanh Để khắc phục thì cần
Khi cây thiếu Fe làm cho lá chồi non bị vàng đi dẫn đến rụng quả khi còn xanh Để khắc phục thì cần cải tạo đất, bón phân hữu cơ, phun phân vi lượng 0,5% FeSO4
Khi thiếu Mo làm cho lá lốm đốm vàng Để khắc phục có thể phun dung dịch chứa 100-150g molybdate natri trong 1.000l nước
Để nâng cao năng suất và chất lượng cam quýt và bón phân như thế nào
và để đạt hiệu quả kinh tế cao, cần phải căn cứ vào những cơ sở khoa học đã được các nhà nghiên cứu khoa học đúc kết Đa phần khi bón phân cần căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng của cây ở các thời kỳ sinh trưởng và phát triển cụ thể Theo các nhà nghiên cứu về việc bón phân cho cam quýt đều cho rằng cơ sở khoa học của việc bón phân có hiệu quả là dựa vào phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong đất và trong lá theo thang tiêu chuẩn của Chapman và các tác giả, cần căn cứ vào đó để khi cung cấp phân bón cho cây tránh làm sao không xảy
ra hiện tượng quá thừa hay quá thiếu vừa gây lãng phí và làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng
Trang 37Ở nước ta phương pháp này đã được tiến hành thử nghiệm và thu được kết quả tốt tại các nông trường cam quýt vùng Phủ Quỳ - Nghệ An từ những năm
1974 và được công nhận đây là một tiến bộ khoa học trong sản suất cam quýt.Như vậy chúng ta có thể thấy rằng các chất dinh dưỡng trong lá cây có hàm lượng khác nhau, do vậy mà nhu cầu của cây về hàm lượng các chất dinh dưỡng là không giống nhau Bón phân cho cam quýt cần phải có những hiểu biết nhất định để khi bón làm sao không thừa hoặc không thiếu chất dinh dưỡng Nếu thừa hoặc thiếu đều ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt Đặc biệt sự thừa đạm là một dấu hiệu xấu Khi hàm lượng dinh dưỡng trong lá thích hợp thì cam sinh trưởng và phát triển tốt, vườn cam sẽ cho năng suất cao
Theo Koo (1985) (bảng 2.6) cho rằng hàng năm một lượng dinh dưỡng nhất định trong đất đã bị một số loại cây ăn quả có múi lấy đi và không hoàn trả lại đất Lượng dinh dưỡng này được cây sử dụng phục vụ cho sự sinh trưởng, hình thành và phát triển tế bào quả Do vậy, cần phải bổ sung lượng dinh dưỡng nhất định bao gồm cả vi lượng và đa lượng cho đất sau mỗi đợt thu hoạch tùy thuộc vào sản lượng thu hoạch của vụ đó
Bảng 2.6 Lượng dinh dưỡng do cây ăn quả có múi
Trang 38Theo kết quả bảng 2.6 cho thấy đối với cây bưởi dinh dưỡng kali được cây hấp thụ nhiều nhất trong số tất cả các chất dinh dưỡng khoáng (2.422g/tấn quả), tiếp theo là đạm và canxi Lượng lân cây lấy đi từ đất chỉ bằng 1/6 so với lượng kali cây hấp thụ Bênh cạnh đó, các nguyên tố vi lượng cũng được cây bưởi sử dụng với lượng từ 0,4 – 3,0g/tấn quả Đây là nguồn dinh dưỡng rất quan trọng đối với chất lượng, khả năng chống chịu cũng như năng suất đối với cây bưởi Vì vậy, hàng năm cần phải căn cứ vào tình hình sản xuất, năng suất thu quả để có kế hoạch bón trả đất hay bổ sung cho cây thông qua các chế phẩm sinh học, phân bón lá đảm bảo cây sinh trưởng tốt, cho năng suất ổn định
múi đã có tiến bộ rất lớn về việc dùng kết quả phân tích lá để hướng dẫn sử dụng phân bón Người ta chuẩn đoán dinh dưỡng lá cho cây có múi bằng cách lấy lá mùa xuân, 4 – 6 tháng tuổi ở những cành không mang quả để phân tích từ
đó có căn cứ để xác định lượng phân bón cần bổ sung, điều chỉnh cho cây Kết quả thể hiện bảng 2.7
Bảng 2.7 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡng
trong lá (lá 4 – 6 tháng tuổi/cành không mang quả)
Trang 39Bảng 2.8 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào
hàm lượng dinh dưỡng trong đất
Nguồn: Srivastiva et al (2007)
Một nghiên cứu khác của Srivastiva et al (2007) bảng 2 8 khi phân tích
hàm lượng dinh dưỡng trong đất và năng suất cây bưởi để xác định lượng dinh dưỡng cần thiết cho cây đáp ứng được mục tiêu năng suất đã thu được kết quả
Vì vậy trong đất cần có một lượng dinh dưỡng khoáng nhất định để cho cây hấp thụ khi cây cần đến Đặc biệt là Kali và Canxi là 2 nguyên tố khoáng cần nhiều nhất trong đất
Như vậy, ta có thể căn cứ vào các mức độ đánh giá: Thiếu – Thấp – Tối
ưu – Cao – Thừa ở bảng 2.7 và 2.8 mà quyết định có bón phân hay không; bón những loại nào; liều lượng ra sao Đồng thời ta cũng có thể căn cứ vào mức đánh giá này để điều chỉnh loại và lượng phân bón vào mùa sau, sao cho đạt được hiệu quả tối ưu Các chỉ số này cũng cho ta biết phần nào đặc điểm đất trồng của ta so với nhu cầu loại cây ăn quả có múi hiên có Như vậy, người làm vườn chuyên nghiệp rất cần quan tâm đến những chỉ số có tính chất hướng dẫn này để tích lũy kinh nghiệm trồng trọt và làm tăng năng suất cây trồng, tăng phẩm chất hàng hóa và tăng hiệu quả kinh tế trồng trọt
- Phân bón ở thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)
Trang 40Bảng 2.9 Lượng phân bón cho cây ăn quả có múi ở thời kỳ KTCB
Đơn vị: g/cây Nước Tuổi N P 2 O 5 K 2 O MgO Bột xương Tro gỗ
Thường những nơi có đào hốc để trồng thì nên bón phân theo hốc vì rất
ít rễ có thể mọc xa hơn Những nơi không đào hốc để trồng thì bón theo tán lá Thường bón từ khoảng cách xa hơn tán lá 30cm hướng tới gần gốc cây Số lần bón cũng giảm dần từ năm thứ nhất đến các năm sau đó Năm đầu bón 5 – 7 lần
và năm thứ 5 chỉ bón 3 - 4 lần Tuy nhiên những nơi bón cho đất qua con đường nước tưới thì có thể bón tới 25 - 30 lần/năm trong suốt 5 năm
Kết quả bảng 2.8 cho thấy, ở những vùng khác nhau, các quốc gia khác nhau sử dụng lượng phân bón cho cây có múi là hoàn toàn khác nhau; ở Ấn Độ lượng phân bón đạm và lân thấp hơn so với Mỹ nhất là phân bón đạm lượng bón chỉ bằng ½ Tuy nhiên nhìn chung lượng phân bón cho cây hàng năm đều tăng lên theo độ tuổi của cây do nhu cầu của cây tăng cao nhất là trong năm thứ
3 khi cây bắt đầu cho thu quả, nhu cầu về tất cả các loại dinh dưỡng đều tăng
- Bón phân hóa học ở thời kỳ kinh doanh (TKKD)
Chế độ phân bón ảnh hưởng trực tiếp tới cả năng suất và chất lượng sản phẩm Thường người ta căn cứ vào cả lượng dinh dưỡng cây lấy đi do sản lượng hàng năm và vào cả số liệu phân tích lá và đất để làm kế hoạch phân bón hàng năm