Ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 8340101 Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu năng lực làm việc của người lao động tại các khu công
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
CHU VĂN KHOA
NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HUYỆN YÊN PHONG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc dùng để bảo vệ một học vị nào
Mọi nguồn số liệu và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Chu Văn Khoa
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban đào tạo Sau Đại học, các Thầy, Cô giáo khoa Kế toán và QTKD - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS-TS Bùi Thị Nga-
người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Sở Lao động Thương binh và Xã hội Bắc Ninh, Sở NN&PTNT Bắc Ninh, Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Ninh, Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh, UBND huyện Yên Phong, Phòng LĐTB và XH huyện và các
hộ nông dân các xã, cán bộ, công nhân tại các doanh nghiệp tôi đã tiến hành trực tiếp khảo sát số liệu
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND huyện Yên Phong, Phòng LĐTB và XH huyện - nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Chu Văn Khoa
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Khu công nghiệp và vấn đề việc làm của người lao động 12
2.1.3 Vai trò, các yếu tố cấu thành năng lực làm việc của người lao động 14
2.1.4 Nội dung về năng lực làm việc của người lao động tại khu công nghiệp 20
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực làm việc của người lao động 24
2.2 Cơ sở thực tiễn 30
2.2.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực làm việc của người lao động trong các kcn trên thế giới 30
2.2.2 Kinh nghiệm của các địa phương của việt nam 31
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra về việc nâng cao năng lực làm việc của lao động tại các kcn của huyện yên phong tỉnh bắc ninh 32
2.3 Các nghiên cứu có liên quan 33
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 35
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
Trang 53.1.1 Đặc điểm tự nhiên 35
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37
3.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu 41
3.2 Phương pháp nghiên cứu 43
3.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu 43
3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 44
3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 44
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 46
4.1 Thực trạng năng lực làm việc của lao động tại các khu công nghiệp của huyện yên phong tỉnh bắc ninh 46
4.1.1 Khái quát chung về các khu công nghiệp của huyện yên phong 46
4.1.2 Thực trạng năng lực làm việc của lao động tại các khu công nghiệp của huyện yên phong tỉnh bắc ninh 53
4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng năng lực làm việc của người lao động tại các kcn yên phong 77
4.2.1 Cơ Chế Chính Sách 77
4.2.2 Hệ Thống Đào Tạo 79
4.2.3 Nhận Thức Của Doanh Nghiệp 79
4.2.4 Nhận Thức Của người lao động 80
4.3 Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực làm việc của người lao động tại các khu công nghiệp huyện yên phong 80
4.3.1 Định hướng đề xuất các giải pháp 80
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 84
5.1 Kết luận 84
5.2 Kiến nghị 85
Tài liệu tham khảo 87
Phụ lục 89
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Ví dụ về năng lực làm việc nhóm 7
Bảng 2.2 Ví dụ về khung năng lực của Trưởng phòng 8
Bảng 4.1 Quy hoạch xây dựng, tình hình sử dụng đất tại các KCN Yên Phong 51
Bảng 4.2 Kết quả thu hút các dự án đầu tư vào KCN Yên Phong giai đoạn 2015-2017 52
Bảng 4.3 Thống kê số lao động trong các khu công nghiệp Yên Phong 54
Bảng 4.4 Lao động theo các quốc gia từ năm 2015-2017 55
Bảng 4.5 Độ tuổi lao động trong các KCN Yên Phong 56
Bảng 4.6 Cơ cấu lao động tại các doanh nghiệp theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh tại KCN Yên Phong giai đoạn 2015- 2017 57
Bảng 4.7 Ngành nghề và lao động của doanh nghiệp qua điều tra, khảo sát tại KCN Yên Phong 57
Bảng 4.8 Tình trạng sức khỏe người lao động 59
Bảng 4.9 Tỷ lệ lao động được đóng bảo hiểm và doanh nghiệp nợ bảo hiểm 60
Bảng 4.10 Tỷ trọng lao động theo trình độ chuyên môn qua khảo sát tại các KCN huyện Yên Phong năm 2017 65
Bảng 4.11 Lao động đã qua đào tạo tại các KCN Yên Phong 66
Bảng 4.12 Tình hình việc làm của lao động tại KCN của huyện Yên Phong 67
Bảng 4.13 Khó khăn trong tuyển dụng lao động của 10 DN được khảo sát 68
Bảng 4.14 Thu nhập của lao động qua các năm từ 2015-2017 70
Bảng 4.15 Số vụ đình công chia theo loại hình doanh nghiệp tại các KCN huyện Yên Phong 72
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 2.1 Mô hình ASK 18
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyên Yên phong 35
Hình 4.1 Khu công nghiệp Yên Phong 49
Hình 4.2 Lễ động thổ khu nhà ở Công nhân huyện Yên Phong 50
Hình 4.3 Công nhân Công ty Samsung tại KCN Yên Phong đứng làm việc 58
Hình 4.4 Đại diện NutiFood ký kết hợp tác cùng LĐLĐ Bắc Ninh 62
Hình 4.5 Công nhân Công ty may ngồi làm việc tại KCN Yên Phong 71
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Chu Văn Khoa
Tên luận văn: Năng lực làm việc của người lao động tại các khu công nghiệp huyện
Yên Phong tỉnh Bắc Ninh
Ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 8340101
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu năng lực làm việc của người lao động tại các khu công nghiệp của huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực của họ trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài luận văn chủ yếu là phương pháp nghiên cứu kinh tế gồm thu thập thông tin thứ cấp, thông tin sơ cấp, tổng hợp và phân tích thông tin và xây dựng hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài
Các thông tin được xử lý bằng các phần mềm vi tính hỗ trợ, đảm bảo mức độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu năng lực làm việc của người lao động trong các khu công nghiệp huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh
Kết quả chính và kết luận:
Đề tài đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về thực trạng năng lực làm việc của người lao động trong các khu công nghiệp huyện Yên Phong nói riêng và tỉnh Bắc Ninh nói chung Đồng thời nội dung phân tích nổi bật những ưu điểm
và hạn chế của thực trạng năng lực làm việc của người lao động trong các khu công nghiệp huyện Yên Phong Mặt khác, đề tài đã phân tích rõ các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực làm việc mà người lao động đang gặp phải
Trên cơ sở đánh giá thực trạng năng lực làm việc của người lao động trong các khu công nghiệp huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực làm việc của người lao động trên địa bàn nghiên cứu
Trong giai đoạn 2015-2017, thực trạng năng lực làm việc của người lao động trong các khu công nghiệp huyện Yên Phong có nhiều tiến triển theo chiều hướng tích cực Người lao động đang dần đáp ứng nhu cầu tuyển dụng, vị trí công việc đòi hỏi có thể lực, trí lực và phẩm chất tâm lý xã hội mà các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI đề ra Để đạt được
Trang 10những kết quả trên, Uỷ ban nhân dân huyện Yên Phong đã có nhiều chính sách Ưu tiên tăng chi ngân sách đầu tư cho giáo dục - đào tạo, đặc biệt chú ý đến vấn đề đào tạo lại cho nhân lực đang làm việc, đào tạo nghề cho người lao động, Chỉ đạo Ban quản lý các khu công nghiệp, Sở Công thương ,Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Công thương, Phòng Lao động –Thương binh và Xã hội huyện theo chức năng phối hợp xây dựng chiến lược, kế hoạch hỗ trợ phát triển, nâng cao khả năng, năng lực làm việc cho người lao động chung cho cả tỉnh, huyện đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa…Tuy nhiên, nguồn lao động trong các khu công nghiệp hiện vẫn còn nhiều hạn chế như: Thể lực, sức khỏe của người lao động còn nhiều hạn chế, trình độ kỹ thuật, tay
nghề, kỹ năng trình độ và kinh nghiệm quản lý của người lao đông còn rất thấp
Trang 11
THESIS ABSTRACT
Author's name: Chu Van Khoa
Thesis title: The working capacity of laborers in industrial zones of Yen Phong district,
Bac Ninh province
Major: Business Management Code: 8340101
Name of training institution: Vietnam National University of Agriculture
Objectives of the study:
Study on working capacity of laborers in industrial zones of Yen Phong district, Bac Ninh province and propose some solutions to improve their capacity in the coming time
Research Methods:
Research methods used in the dissertation topics are mainly economic research methods including secondary information collection, primary information, information synthesis and analysis and the development of a research indicator system The objectives and content of the research
The information is processed by computer software support, ensuring the reliability of the research results of working capacity of workers in Yen Phong industrial zones in Bac Ninh province
Main results and conclusions:
The topic has contributed to the systematization of theoretical basis and practical basis on the actual working capacity of laborers in the industrial zones of Yen Phong district in particular and Bac Ninh province in general At the same time, the analysis highlights the advantages and disadvantages of the working capacity of workers in industrial zones of Yen Phong district On the other hand, the topic has clearly analyzed the factors affecting the working capacity that workers are facing
Based on the assessment of the current working capacity of workers in the industrial zones of Yen Phong district, Bac Ninh, the authors propose solutions to improve the working capacity of workers in the study area
In the period 2015-2017, the status of working capacity of workers in Yen Phong Industrial Zones is progressing positively Laborers are gradually meeting the demand for recruitment, the position of work requires physical strength, intellectual and psychosocial quality that enterprises in industrial parks, especially enterprises with investment capital Foreign direct investment In order to achieve the above results, the
Trang 12People's Committee of Yen Phong district has adopted many policies to prioritize the increase of investment budget for education and training, paying particular attention to re-training of human resources job training for workers To direct the management boards of industrial parks, provincial / municipal Industry and Trade Services, Labor, War Invalids and Social Affairs Services, district-level Industry and Trade Offices, district Labor, War Invalids and Social Affairs Divisions according to coordinating functions in formulating strategies and plans To support the development, raise the capacity and capacity for laborers working for the whole province and district to meet the requirements of industrialization and modernization However, the labor force in the industrial zones still has many limitations such as: physical strength and health of workers are still limited, technical level, skills, skills and management experience the workers are very low
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thực tiễn cho thấy, các nước có nền kinh tế phát triển đều phải trải qua quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước Về cơ bản, có thể xem công nghiệp hóa là quá trình xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở vật chất của ngành công nghiệp, của các ngành sản xuất khác, ngành thương mại và dịch vụ Đồng thời nó cũng là quá trình xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và phục vụ yêu cầu nâng cao đời sống của người dân Công nghiệp hóa dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ bản dân số và lao động, từ đó hình thành nên các khu đô thị mới, tập trung
Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối công nghiệp hoá và coi công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của đất nước Thực tiễn đã chứng minh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ có những tác dụng to lớn về nhiều mặt trong sự phát triển kinh tế – xã hội Để đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước
đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, đó là phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, trong những năm qua, quá trình đô thị hóa và CNH diễn ra mạnh mẽ và lan tỏa nhanh chóng từ các thành phố lớn ra ca các khu vực phụ cận và nông thôn Việt Nam Biểu hiện của quá trình này là trong thời gian qua, có hàng trăm khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã được hình thành và phát triển nhanh chóng
Việc đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, sự hình thành các cụm công nghiệp, khu công nghiệp mới và mở rộng các khu công nghiệp hiện có là một xu hướng tất yếu Tính đến năm 2016 cả nước ta có 267 khu công nghiệp và trên 800 cụm công nghiệp đã được quy hoạch phát triển Chính quá trình này đã dẫn tới chuyển đổi một phần đất từ nông nghiệp sang phục vụ các cụm công nghiệp, KCN đồng thời tác động tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác Với vị thế là các khu vực tập trung sản xuất công nghiệp quy mô lớn, các cụm CN, khu công nghiệp đã đem lại tăng trưởng kinh tế cao, thu ngân sách địa phương, giải quyết công ăn việc làm, tạo chuyển biến về cơ cấu kinh tế theo hướng tiến nhanh tới hiện đại
Bắc Ninh được coi là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về phát triển các khu công nghiệp Bắc Ninh được ví như “Thánh Gióng” trong phát triển - từ
Trang 14một tỉnh nông nghiệp thuần túy, đã vươn lên trở thành địa phương công nghiệp Cùng với chủ trương đúng đắn và thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ, nhất quán các cụm công nghiệp, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh ngày càng nhiều và đã thu hút được nguồn vốn đầu tư lớn từ trong và ngoài nước Tính đến hết năm
2016 toàn tỉnh đã có trên 978 dự án đầu tư vào các khu công nghiệp với số vốn đăng ký gần 12.780,23 triệu USD, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 88,05% Một số khu công nghiệp đã được các tập đoàn lớn của nước ngoài làm chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng như: khu công nghiệp VSIP, Khu công nghiệp Thuận Thành II và Khu công nghiệp Gia Bình, đã góp phần đa dạng hoá phương thức đầu tư và hình thành những mô hình mới trong việc đầu tư, xây dựng khu công nghiệp
Trong 8 đơn vị hành chính của tỉnh, Yên Phong là huyện có KCN lớn nhất của cả nước tính theo giá trị thu hút vốn đầu tư, giá trị sản xuất và xuất khẩu Thực trạng phát triển các khu công nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến người lao động Tuy nhiên có một thực tế là hiện nay người lao động thường thiếu và yếu về năng lực làm việc để có thể đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nước ngoài Xuất phát từ lý luận
và thực tế đã nêu trên, tôi chọn đề tài “Năng lực làm việc của người lao động
tại các khu công nghiệp huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh" làm nội dung
nghiên cứu của mình
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
1.2.1 Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu năng lực làm việc của người lao động tại các khu công nghiệp (KCN) của huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực của họ trong thời gian tới
Trang 15- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực làm việc của người lao động trong các khu công nghiệp huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực
làm việc của người lao động trong các khu công nghiệp Sự chuyển đổi về nghề nghiệp, sự dịch chuyển trong cơ cấu lao động trong các lĩnh vực Trong đó, năng lực làm việc của người lao động được nghiên cứu trên phương diện khả năng tạo việc làm từ: chính người lao động tự tạo ra, do doanh nghiệp hoặc do Nhà nước tạo ra
- Đối tượng khảo sát: Người lao động, doanh nghiệp sử dụng lao động các
khu công nghiệp huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu năng lực làm việc của
người lao động tại các khu công nghiệp của huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh
Địa bàn khảo sát, điều tra, nghiên cứu các đối tượng (người lao động, doanh nghiệp (KCN: Yên Phong I, II,), cán bộ một số Phòng, Trung tâm có chức năng về việc làm, cán bộ một số xã của huyện )
Trên cơ sở những ưu điểm và hạn chế được phân tích, đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao năng lực làm việc của người lao động tại các Khu công nghiệp trên địa bàn huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh
+ Phạm vi thời gian:
Đề tài nghiên cứu năng lực việc làm của người lao động tại các khu công nghiệp huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 - 2017 và khuyến nghị giải pháp để nâng cao năng lực làm việc của người lao động trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Trang 16PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
a Năng lực, năng lực làm việc
Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu Theo cách hiểu thông thường , năng lực
là sự kết hợp của tư duy, kĩ năng và thái độ có sẵn hoặc dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ (DeSeCo, 2002) Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ánh mức
độ năng lực của người đó Chính vì thế, thuật ngữ “năng lực” khó mà định nghĩa được một cách chính xác Năng lực hay khả năng, kĩ năng trong tiếng Việt có thể xem tương đương với các thuật ngữ “competence”, “ability”, “capability”, … trong tiếng Anh
Do các nhiệm vụ cần phải giải quyết trong cuộc sống cũng như công việc
và học tập hằng ngày là các nhiệm vụ đòi hỏi phải có sự kết hợp của các thành tố phức hợp về tư duy, cảm xúc, thái độ, kĩ năng; vì thế có thể nói, năng lực của một cá nhân là hệ thống các khả năng và sự thành thạo giúp cho người đó hoàn thành một công việc hay yêu cầu trong những tình huống học tập, công việc hoặc cuộc sống, hay nói một cách khác, năng lực là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” (Québec-Ministere de l’Education, 2004) Trong một báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Châu Âu về việc làm và lao động năm 2005, các tác giả đã phân tích rõ mối liên quan giữa các khái niệm năng lực (competence), kĩ năng (skills) và kiến thức (knowledge) Báo cáo này đã tổng hợp các định nghĩa chính về năng lực trong đó nêu rõ năng lực là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó
Cùng với khái niệm năng lực là khái niệm “năng lực cốt lõi” (key competences) bao gồm một số năng lực được coi là nền tảng Dựa trên những năng lực cốt lõi này, người học có thể thực hiện được yêu cầu của học tập cũng như các yêu cầu khác trong các bối cảnh và tình huống khác nhau khi đạt được những năng lực thứ cấp Theo định nghĩa của các nước có nền kinh tế phát triển
Trang 17(OECD), năng lực cốt lõi bao gồm: những năng lực nền tảng như năng lực đọc hiểu, năng lực tính toán, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp…Do vậy, năng lực có tính phức hợp kỹ hơn kĩ năng và mức độ thành thạo của một kỹ năng cũng quyết định một phần tới mức độ cao thấp của năng lực Đi sâu vào ngành hoặc chuyên ngành cụ thể khái niệm năng lực lại được định nghĩa ở phạm vi hẹp hơn, phù hợp với đặc thù của ngành/chuyên ngành
Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như công luận khi giáo dục đang thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện, chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục năng lực Khái niệm này cũng được định nghĩa khá tương đồng với các định nghĩa mà các nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra Chẳng hạn, các nhà tâm lý học cho rằng năng lực
là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Người ta cũng chia năng lực thành năng lực chung, cốt lõi và năng lực chuyên môn, trong đó, năng lực chung, cốt lõi là năng lực cơ bản cần thiết làm nền tảng để phát triển năng lực chuyên môn Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định, ví dụ như năng lực toán học, năng lực ngôn ngữ Tuy nhiên, năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên môn không tách rời mà quan hệ chặt chẽ với nhau Trong một báo cáo nghiên cứu về năng lực và mức độ thành công trong kinh doanh, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Ngoại thương đã nêu rõ năng lực là tổ hợp các thuộc tính về khả năng, tâm lý và phẩm chất của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo đạt kết quả như đề ra Tương tự như các định nghĩa về năng lực trong tâm lý hoặc kinh doanh, trong giáo dục các nhà nghiên cứu cũng đưa ra các định nghĩa có nội hàm tương đương Chẳng hạn tác giả Trần Khánh Đức trong
“nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hình đào tạo theo năng lực trong lĩnh vực giáo dục” đã nêu rõ năng lực là “khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kĩ năng, thái độ, thể lực, niềm tin…) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp” Ở một nghiên cứu khác về phương pháp dạy học tích hợp, Nguyễn Anh Tuấn (Trường ĐH sư phạm kĩ thuật TPHCM) đã nêu một cách khái quát rằng năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm,
sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm
Trang 18Như vậy, cho dù là khó định nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này Tựu chung lại, năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả
Mỗi năng lực cụ thể sẽ bao gồm một số cấp độ, mỗi cấp độ sẽ được mô tả
cụ thể dưới dạng một tập hợp các hành vi, cấp độ sau bao gồm các năng lực của cấp độ trước đó Tức là, các hành vi của cấp độ trước đó là tiền đề đối với các hành vi cao hơn Số lượng các cấp độ của mỗi năng lực phụ thuộc vào mức độ phức tạp của các hành vi được mô tả Thông thường mỗi năng lực có thể từ 3 đến
7 cấp độ Mỗi vị trí khác nhau sẽ có các yêu cầu về cấp độ khác nhau và do đó sẽ
có các mức độ xuất sắc khác nhau đối với vị trí đó Thông thường, chúng ta phải xác định cấp độ tối thiểu và cấp độ xuất sắc của mỗi năng lực cho từng công việc
Bảng 2.1 là ví dụ về năng lực làm việc nhóm Đối với các vị trí là nhân viên trong một bộ phận, cấp độ yêu cầu thường là cấp độ và cấp độ xuất sắc là
2 hoặc 3 trong khi đối với một trưởng bộ phận có thể yêu cầu ở cấp độ 3 và cấp độ xuất sắc là ở mức 4 Mỗi công việc sẽ yêu cầu một tập hợp các năng
lực - các kiến thức, kỹ năng và đặc điểm cá nhân cần để hoàn thành tốt một
vai trò/công việc và tập hợp này gọi là khung năng lực hoặc hồ sơ năng lực
Khung năng lực là một phương pháp tổng hợp nhằm hỗ trợ cho việc tuyển dụng và xây dựng chương trình quy hoạch cán bộ lãnh đạo - quản lý, xây dựng các chương trình đào tạo, phát triển quản lý và lãnh đạo, xây dựng hệ thống quản lý thành tích và đãi ngộ dành cho đối tượng quản lý và lãnh đạo cũng như nhân viên trong tổ chức
Trang 19Bảng 2.1 Ví dụ về năng lực làm việc nhóm
Làm việc nhóm là hoạt động mang tính hợp tác, xuyên qua các
rào cản văn hóa tổ chức
Tổ chức của chúng ta hoạt động thông qua các phòng ban, tổ chức và văn hóa Nhân viên phải làm việc hợp tác với nhau, chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ thông tin, loại bỏ rào cản giữa các phòng ban
·Tận dụng những kỹ năng và ý kiến khác nhau
·Dành thời gian giúp người khác suy nghĩ về các vấn đề
·Nói một cách tích cực về người khác
Dành thời gian học hỏi và tìm hiểu các tổ chức khác, văn hóa khác
・Chủ động chia sẻ thông tin và học hỏi cùng với đồng nghiệp
·Xử lý xung đột hay vấn đề trong nhóm một cách tích cực và cởi mở
·Cung cấp thông tin phản hồi rõ ràng cho các thành viên trong nhóm
·Sử dụng hiểu biết về những mối quan tâm khác nhau của các thành viên trong nhóm để đạt được
·Sử dụng khả năng đồng cảm để hiểu động lực của nhóm và để hài hòa và điều phối nguồn lực của nhóm
・Tạo ra cơ hội mới cho các thành viên làm việc với nhau, phá bỏ những rào cản ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của nhóm
·Đặt ra những thách thức cho mọi người cùng làm việc
·Xây dựng mô hình để hợp tác hiệu quả
·Trao quyền (thời gian và nguồn lực) cho các nhóm
dự án
Trang 20Bảng 2.2 Ví dụ về khung năng lực của Trưởng phòng
Nhóm năng lực và năng lực Cấp độ và yêu cầu
1 2 3 4 5
Các năng lực cốt lõi
Nguồn: Ngô Quý Nhâm (2016)
Cấu trúc của khung năng lực
Để thiết lập một nền tảng hiệu quả cho hoạt động quản lý nhân sự nói chung và nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý nói riêng, mỗi vị trí quản lý hoặc lãnh đạo cũng như nhân viên trong tổ chức sẽ có một khung năng lực Các năng lực này có thể chia làm hai nhóm:
Năng lực cốt lõi (Core competencies) – gồm các năng lực cần thiết cho tất
cả các vị trí như kỹ năng giao tiếp, năng lực ra quyết định và giải quyết vấn đề…
Năng lực theo vai trò (Role specific competencies)– là các năng lực ứng
dụng cho các vị trí cụ thể trong tổ chức như năng lực lãnh đạo, năng lực tư duy chiến lược Trong bảng 2, năng lực theo vai trò chính là năng quản lý và lãnh đạo (chỉ dành cho quản lý và lãnh đạo)
Trang 21Trong thực tế triển khai, ngoài việc xác định hai nhóm năng ở trên, các tổ
chức có thể bổ sung thêm một nhóm năng lực nữa là năng lực chuyên môn Năng
lực chuyên môn (technical competence) – là các kiến thức, kỹ năng và khả năng
chuyên môn gắn với lĩnh vực cụ thể có vai trò thiết yếu trong việc hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn Việc chia ra làm ba nhóm như vậy chỉ mang tính chất tương đối vì thường có sự chồng lấn lên nhau Ví dụ, năng lực giao tiếp là năng lực cốt lõi vì nó cần thiết cho mỗi công việc nhưng nó lại là yếu tố cấu thành trong năng lực chuyên môn của nhân viên
Ứng dụng của khung năng lực
Khung năng lực là một phương pháp quản lý nhân sự tổng hợp nhằm ứng
dụng cho rất nhiều các hoạt động quản lý nguồn nhân lực Khung năng lực có thể
sử dụng làm cơ sở để tuyển dụng đội ngũ quản lý và cán bộ có năng lực cũng như
là cơ sở quan trọng cho hoạt động xây dựng chương trình quy hoạch cán bộ lãnh đạo - quản lý Các năng lực trong khung năng lực có thể được sử dụng làm tiêu chuẩn đánh giá ứng viên Bên cạnh đó, khung năng lực cũng thiết lập một nền tảng quan trọng cho việc xây dựng hệ thống quản lý thành tích và đãi ngộ dành cho đối tượng quản lý và lãnh đạo trong tổ chức Đối với việc vận hành hệ thống lương, việc quyết định một người ở bậc lương nào trong một thang lương sẽ dễ dàng hơn và có cơ sở rõ ràng hơn vì tổ chức chỉ cần so sánh mức độ đáp ứng và yêu cầu năng lực
Xây dựng và triển khai khung năng lực
Để xây dựng khung năng lực cho một tổ chức, việc đầu tiên phải làm rõ mục đích thực sự của dự án xây dựng khung năng lực Mục đích sử dụng khác nhau (tuyển dụng, đào tạo hay phát triển nhân lực) sẽ dẫn đến việc lựa chọn khác
nhau – ví dụ như sử dụng cấp độ tối thiểu hay cấp độ xu ất sắc làm hồ sơ năng lực
Quá trình xây dựng khung năng lực đòi hỏi tổ chức phải chuẩn hóa cơ cấu
tổ chức, hệ thống chức danh và chức năng, nhiệm vụ của mỗi chức danh Lý do
là các năng lực thường sẽ gắn với việc thực hiện những nhiệm vụ hoặc hoạt động nhất định, vì vậy khi hệ thống chức danh và chức năng, nhiệm vụ chưa rõ ràng thì sẽ không thể xác định được năng lực nào là cần thiết và giúp người thực hiện công việc trở nên vượt trội
Sau khi xác định xong hệ thống chức danh, việc tiếp theo là xác định các năng lực cần đến Sau khi có được bộ năng lực với đầy đủ định nghĩa và mô tả
Trang 22các cấp độ, bước tiếp theo cần làm là xác định năng lực và các cấp độ năng lực cho từng vị trí trong tổ chức
Để khung năng lực có thể được đưa vào sử dụng, phần công việc quan trọng là phát triển các công cụ đánh giá năng lực của mỗi cá nhân và phương pháp đào tạo, phát triển gắn với mỗi loại năng lực Tuy nhiên, đây là phần việc đòi hỏi chuyên môn rất cao vì vậy nếu tổ chức không có đủ người có năng lực chuyên môn thì có thể thuê các chuyên gia hoặc các công ty tư vấn chuyên nghiệp thực hiện thay vì tự phát triển nội bộ
Cuối cùng, quá trình áp dụng khung năng lực trong quản lý nhân sự sẽ bắt đầu bằng việc thực hiện đánh giá cá nhân, xác định khoảng cách năng lực, chênh lệch giữa cấp độ yêu cầu và cấp độ đạt được của mỗi cá nhân sau khi được đánh giá Trên cơ sở kết quả phân tích, so sánh, bộ phận nhân sự có thể xây dựng các chương trình phát triển năng lực cụ thể cho mỗi cán bộ nhân viên trong tổ chức
để giúp họ đạt được cấp độ năng lực hiệu quả cũng như thực hiện được lộ trình công danh đã đặt ra
b Người lao động
Người lao động là danh từ chung để nói đến những người làm công ăn lương bằng sức lao động hoặc trí óc làm ra các sản phẩm vật chất hoặc về tinh thần cho người khác
Người lao động làm việc trong nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau trong xã hội, phụ trách nhiều vị trí công việc như đảm nhiệm những chức vụ khác nhau trong một tổ chức Tựu chung lại người lao động được phân loại thành hai nhóm chính:
-Lao động phổ thông: công nhân, thợ, nông dân làm thuê, người giúp việc, osin -Lao động tri thức: nhân viên (viên chức, công chức), cán bộ
Tầm quan trọng của người lao động:
Một người lao động đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử dụng lao động) và thường được thuê và hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng
Trong hầu hết các nền kinh tế hiện đại, thuật ngữ nhân viên, công nhân đề cập đến một mối quan hệ được xác định cụ thể giữa một cá nhân và một công ty
mà khác với những khách hang tiêu dung
Trang 23Người lao động cũng thường kết thành các công đoàn hoặc nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của mình Tại nhiều quốc gia như Đức, kể từ khi cải cách pháp luật thông qua đạo luật hiến pháp trình trong năm 2001, theo pháp lý không còn phân biệt giữa nhân viên, công nhân Luật này tác động chỉ ra một số thỏa thuận thương lượng tập thể của Đức Như vậy trong những năm gần đây, sự tách biệt và phân biệt đối xử giữa công nhân, viên chức hoặc cán bộ- thực hiện các hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp tương tự hoặc hoạt động tương tự - được bãi bỏ như các thỏa ước lao động tập thể cho dịch vụ công cộng và trong các thỏa ước lao động tập thể về khuôn khổ của hợp đồng làm việc
Các loại hình thức làm việc khác được sắp xếp như tôi tớ, đầy tớ, nô lệ mà bây giờ không thường thấy ở các nước phát triển nhưng vẫn còn xảy ra ở những nơi khác
c Khu công nghiệp
Khu công nghiệp (KCN) đã hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một định nghĩa được thừa nhận chung về KCN Các tổ chức quốc
tế, các quốc gia trên thế giới đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về KCN
Theo Hiệp hội khu chế xuất thế giới -Wepza đã định nghĩa khu chế xuất (KCX) (một dạng đặc biệt của KCN) là “Khu tự do do chính phủ xây dựng để xúc tiến các mục tiêu chính sách được áp dụng thí điểm, đột phá Các chính sách này khác với chính sách áp dụng cho khu nội địa và phần lớn các chính sách áp
dụng cho khu là cởi mở hơn” (Wepza, 1997) Như vậy, “khu tự do” có nghĩa là
khu vực được vây kín bằng hàng rào, với các “chốt” ra vào được kiểm soát và tại địa phận đó một số ưu đãi về kinh tế được áp dụng Khái niệm này về cơ bản gần với khái niệm “khu vực miễn thuế”
Ở Việt Nam, qua hơn 25 năm kể từ khi khu công nghiệp (KCN) đầu tiên được thành lập, các KCN đã có bước phát triển đáng kể về cả số lượng, chất lượng, ngày càng có đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước KCN đầu tiên được đề cập đến từ khi miền Bắc xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên, khi chính quyền Việt Nam cộng hoà xây dựng KCN Biên Hoà Nhưng chỉ đến khi có Luật Đầu tư nước ngoài (1986), khái niệm về KCN mới được chính thức nêu ra tại Khoản 14&15, Điều 2 Theo văn bản này, “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng CN”
Trang 24Theo Nghị định số 29/2008/NĐ – CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ, tại Điều 2 thì: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định”
Mặc dù hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về KCN, nhưng khái quát lại, có thể hiểu KCN theo 2 cách:
và một số nước Tây Âu, khu kinh tế mở Chu Lai, Dung Quất ở Việt Nam
Thứ hai, KCN là lãnh thổ có giới hạn nhất định, tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân
cư sinh sống Mô hình này được xây dựng ở một số nước như Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam
Dù hiểu theo hình thức nào, KCN đều là một lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định, có những điều kiện tương xứng với phát triển công nghiệp về tự nhiên,
cơ sở hạ tầng, quản lý nhà nước, tập trung các daonh nghiệp sản xuất công nghiệp, các doanh nghiệp dịch vụ có liên quan đến hoạt động công nghiệp,
2.1.2 Khu công nghiệp và vấn đề việc làm của người lao động
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, các KCN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nhất là các nước đang phát triển Khu công nghiệp có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT - XH của cả nước và là một thành quả tất yếu của quá trình thực hiện CNH – HĐH
Với sự phát triển của các KCN, nhiều nước đã từng bước hình thành được những vùng, lãnh thổ phát triển không chỉ đảm nhận chức năng là động lực thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền KT - XH đất nước mà còn đảm nhận chức năng hợp tác và hội nhập quốc tế, vừa đảm nhận vai trò tiếp nhận thông tin, các thành tựu
về phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa của thế giới rồi lan rộng ra
các vùng xung quanh
Trong thời kỳ CNH, HĐH việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập
Trang 25trung là cần thiết và được Nhà nước khuyến khích
Qua quá trình hình thành và phát triển, nhiều KCN đã và đang đóng vai trò quan trọng và tạo ra một khí thế phát triển mới cho nền kinh tế các nước Tại các vùng hay địa phương có các KCN hoạt động mạnh thì mức độ tăng trưởng kinh tế ở đó cao hơn những nơi KCN chưa phát triển
Việc phát triển các KCN tập trung trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn,
mà còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của Nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện
và đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu tư Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo
sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo
sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp công nghiệp vào KCN
- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong các KCN tập trung không những thu hút các dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
mở rộng quy mô để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng
- Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ… các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và
cư dân trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí…
Trang 26- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành
như điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động
dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa
ốc… đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của KCN
Ảnh hưởng của khu công nghiệp đến năng lực làm việc của người
lao động
Để hiểu rõ bản chất việc ảnh hưởng của KCN đến năng lực làm việc của
người lao động trước tiên chúng ta phải liên hệ đến khái niệm lao động vì giữa
chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau
Lao động trước hết là một hành động diễn ra giữa con người với giới tự
nhiên, trong lao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công cụ
tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời
sống con người Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con
người, nó là hoạt động rất cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người Con
người không thể sống khi không có lao động Sản phẩm hàng hoá có thể được ra
đời hay không thì nó phải phụ thuộc vào quá trình sử dụng sức lao động Bản
thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí
nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội
với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được
gọi là chỗ làm hay việc làm
Như vậy, có thể nói việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền
sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao
động được coi là có năng lực làm việc khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ
thống sản xuất của xã hội Nhờ năng lực làm việc mà người lao động mới thực
hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân
2.1.3 Vai trò, các yếu tố cấu thành năng lực làm việc của người lao động
2.1.3.1 Vai trò
Có thể nói năng lực có vai trò quyết định trong lao động, việc làm của con
người nói chung Năng lực là 1 yếu tố quan trọng dẫn đến thành công Ở đây có
thể rút ra các vai trò cơ bản của năng lực làm của người lao động như sau:
a Vai trò đối với người lao động
Năng lực làm việc có vai trò rất quan trọng đối với người lao động
Trang 27Năng lực làm việc của con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà thành Năng lực làm việc là một tố chất tương đối ổn định, tương đối cơ bản của cá nhân mỗi người lao động, nó cho phép thực hiện có kết quả một hoạt động Khi xem xét kết quả công việc của một người lao động, yếu tố đầu tiên được chỉ ra đó là năng lực Vì có năng lực làm việc nên người lao động cần tốn ít thời gian, ít sức lực và của cải vật chất mà đem lại kết quả tốt Do đó người có trình độ học vấn cao hoặc có nhiều kinh nghiêm do công tác lâu năm và kinh qua nhiều cương vị khác nhau nhưng vẫn có thể thiếu những năng lực làm việc cần thiết Năng lực làm việc tốt tạo cơ hội cho người lao động có được vị thế của người lãnh đạo quản lý Vì vậy đánh giá người lao động chỉ căn cứ vào bằng cấp hay quá trình công tác thôi chưa đủ Chỉ có đánh giá hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao thì mới chính xác và kịp thời
b Vai trò đối với doanh nghiệp
Năng lực làm việc của người lao động quyết định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó Doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả thì điều đầu tiên là cần người lao động có năng lực tổ chức, khả học học tập, khả năng kinh doanh Người có năng lực có thể điều hành quản lý đơn vị sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhờ vào trí tuệ, đầu óc thực tế có khả năng tư duy trực giác, có khả năng nhìn
xa trông rộng, khả năng tiên đoán và phân tích các tỷ vốn để hoạch định cho doanh nghiệp những bước đi trong tương lai đúng đắn và tuân thủ pháp luật Vai trò năng lực làm việc của người lao động đối với hoạt động của một doanh nghiệp nói chung thể hiện ở:
-Sự quan sát:
Quan sát là một đặc tính cơ bản của năng lực và đây là kỹ năng để nắm bắt được tình hình chung Với tầm nhìn bao quát đầy đủ và toàn diện, người lao động sẽ thấy được cái chính, cái chủ yếu đồng thời thấy cả được cái chi tiết, cục
bộ Vì vậy sự quan sát nhận ra những cái to lớn cái quan trọng ở một hiện tượng nhỏ nhằm định hướng một cách chính xác những tình huống không có trong dự kiến sẽ xảy ra trong quá trình làm việc
Với sự quan sát tốt, người lao động sẽ nhanh chóng tìm ra được những nguyên nhân, những khó khăn trì trệ trong công việc, do đó doanh nghiệp sẽ có những giải pháp giải quyết đúng đắn và kịp thời
-Sự tự tin:
Trang 28Tự tin là một trong những tố chất năng lực cần thiết đối với người lao động nói chung Nhiều người đã nghe nói thất bại sẽ đến với những ai nuôi sẵn ý tưởng thất bại và thành công sẽ đến với những ai tin rằng mình sẽ thành công Tin tưởng là chất xúc tác của trí tuệ Khi lòng tin được nung nấu thì sẽ trở thành động lực thúc đẩy người lao động đến quyết tâm Nó là khởi điểm để tạo dựng doanh nghiệp và cũng là sự hóa giải mọi bất bại tạo nên sức mạnh để lao động và phát triển
-Ý chí, nghị lực, sự kiên nhẫn:
Sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận là một công việc cực kỳ khó khăn và phức tạp, là lĩnh vực gắn liền với rủi ro và thất bại Vì thế doanh nghiệp muốn hoạt động tốt, sản xuất có hiệu quả thì cần người lao động có năng lực, có nghị lực, tính kiên nhấn và lòng quyết tâm Khi đã hoạch định một chiến lược kinh doanh thì không bao giờ được phép nghĩ tới sự không thể hay khó khăn đạt được Người lao động có năng lực thì luôn coi thất bại là một kinh nghiệm quý giá, là động lực để xem xét lại việc làm của mình để xây dựng lại một kế hoạch
có thể dẫn tới thành công
-Phong cách người lãnh đạo doanh nghiệp:
Doanh nghiệp muốn tồn tại được phải có đội ngũ lao động là cán bộ quản
lý Để doanh nghiệp có thể phát triển thì người lãnh đạo phải có những phẩm chất chính trị riêng Là tự đánh giá được mình, người lao động trong cơ quan đơn
vị mình, đánh giá nhìn nhận sự việc theo tư duy tích cực, đấu tranh chống lại các hiện tượng tiêu cực, nâng cao tư duy chính trị, kinh tế trong sản xuất kinh doanh của đơn vị mình
Có thể nói mỗi doanh nghiệp mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất chính
là hiệu quả sản xuất kinh doanh Để thực hiện được mục tiêu đó thì yếu tố con người đóng vai trò quyết định Khi người lao động có năng lực làm việc sẽ tăng hiệu quả lao động, nâng cao năng suất, tăng doanh thu và lợi nhuận cho tổ chức, doanh nghiệp Năng lực làm việc chính là nguồn lao động hiệu quả nhất, tốn ít chi phí nhất nhằm nâng cao năng suất lao động của các tổ chức, doanh nghiệp Khi một tổ chức, doanh nghiệp tạo động lực tốt sẽ góp phần làm giảm chi phí về lao động và thu hút những lao động có trình độ tay nghề cao
Ngoài ra năng lực làm việc của lao động còn góp phần nâng cao uy tín, hình ảnh của tổ chức, doanh nghiệp Nó xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa
Trang 29những người lao động với nhau, giữa người lao động với tổ chức, doanh nghiệp qua đó góp phần xây dựng văn hóa tổ chức được lành mạnh
c Vai trò đối với các khu công nghiệp
Việc phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất mở ra một không gian kinh
tế rộng lớn Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến nay các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thu hút khoảng hơn 100 nghìn lao động trực tiếp Có thể nói cầu về lao động đối với các KCN là rất lớn Và lao động có năng lực làm việc là cơ sở
để mở rộng các khu công nghiệp, thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư sản xuất
d Vai trò đối với sự phát triển kinh tế-xã hội đất nước
Năng lực làm việc của lao động là một nhân tố cấu thành nên nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu tiên không thể thiếu được của bất kỳ một ngành nghề hay quá trình sản xuất của bất kỳ quốc gia nào
Vai trò của năng lực làm việc của người lao động được xem xét qua các chỉ tiêu về trình độ chuyên môn, sức khỏe người lao động, sự kết hợp với các yếu
tố đầu vào khác Lao động có năng lực có nghĩa là công lao động và thu nhập sẽ cao Khi có thu nhập thì chi phí tiêu dung cũng tăng lên, do đó kích thích các ngành dịch vụ, sản xuất và qua đó phần thúc đẩy kinh tế phát triển
Tóm lại năng lực lao động sẽ thúc đẩy tăng năng suất lao động Nếu tăng năng suất lao động với một cấp độ nhanh và với quy mô lớn sẽ tạo điều kiện tăng thu nhập kinh tế quốc dân cho phép giải quyết thuận lợi giữa tích lũy và tiêu dùng
Thông qua năng lực lao động sẽ làm tăng năng suất lao động và làm cho của cải vật chất trong xã hội ngày càng nhiều dẫn đến tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế lại tác động lại khiến cho người lao động có điều kiện thỏa mãn những nhu cầu của mình ngày càng phong phú và đa dạng Đời sống mọi người được hạnh phúc ấm no, xã hội sẽ ổn định, phồn vinh
Như vậy qua những nghiên cứu lý luận chỉ ra rằng năng lực làm việc của lao động là một trong những yếu tố có tác động không nhỏ đến hiệu quả lao động cũng như sự hoàn thành mục tiêu của tổ chức Năng lực làm việc của lao động trước hết sẽ có tác động trực tiếp đến tinh thần, thái độ làm việc và kết quả thực hiện công việc của người lao động, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như sự thành công của doanh nghiệp Là tiền đề thúc đẩy
sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia
Trang 302.1.3.2 Các yếu tố cấu thành năng lực làm việc của người lao động
Có rất nhiều yếu tố cấu thành năng lực làm việc của người lao động, tuy nhiên có thể tổng kết lại ở ba yếu tố như sau:
Sơ đồ 2.1 Mô hình ASK
ASK là mô hình được sử dụng rất phổ biến trong quản trị nhân sự nhằm đào tạo và phát triển năng lực cá nhân Mô hình này đưa ra các tiêu chuẩn nghề nghiệp cho các chức danh công việc trong tổ chức dựa trên ba nhóm tiêu chuẩn chính: Phẩm chất hay thái độ (Attitude), Kỹ năng (Skills) và Kiến thức (Knowledges)
Benjamin Bloom (1956) được coi là người đưa ra những phát triển bước đầu về ASK, với ba nhóm tiêu chuẩn đánh giá năng lực chính bao gồm:
- Phẩm chất/Thái độ: thuộc về phạm vi cảm xúc, tình cảm
Phẩm chất thường bao gồm các nhân tố thuộc về thế giới quan tiếp nhận
và phản ứng lại các thực tế, xác định giá trị, giá trị ưu tiên Các phẩm chất và hành vi thể hiện thái độ của cá nhân với công việc, động cơ, cũng như những tố chất cần có để đảm nhận tốt công việc (Harrow, 1972) Các phẩm chất cũng được xác định phù hợp với vị trí công việc
Phẩm chất thái độ thể hiện ở:
*Khả năng thích nghi và linh hoạt: Cởi mở với những ý tưởng và khái niệm mới Gần một nửa số người sử dụng lao động trong một cuộc khảo sát gần đây đã xếp hạng cao các ứng cử viên có khả năng làm việc độc lập, có thể hòa nhập và thích nghi cao với môi trường
Trang 31*Tính chuyên nghiệp và đạo đức làm việc: Người sử dụng lao động luôn tìm kiếm công nhân sản xuất với đạo đức làm việc tích cực, người gắn bó với những thách thức cho đến khi họ gặp họ
*Thái độ tích cực và năng lượng: Người cuối cùng được chọn và phát huy
là ứng cử viên cho thấy triển vọng ảm đạm và chưa trưởng thành về tình cảm Trưng bày một triển vọng đầy nắng và tràn đầy năng lượng, hành vi tổ chức
-Kỹ năng: kỹ năng thao tác
Đây chính là năng lực thực hiện các công việc, biến kiến thức thành hành động Thông thường kỹ năng được chia thành các cấp độ chính như: bắt chước (quan sát và hành vi khuôn mẫu), ứng dụng (thực hiện một số hành động bằng cách làm theo hướng dẫn), vận dụng (chính xác hơn với mỗi hoàn cảnh), vận dụng sáng tạo (trở thành phản xạ tự nhiên)
Các kỹ năng cần có là:
* Giao tiếp hiệu quả: Người sử dụng lao động tìm kiếm những ứng viên có thể nghe hướng dẫn và hành động theo những hướng dẫn với sự hướng dẫn tối thiểu Họ muốn nhân viên nói tiếng, viết, và lắng nghe một cách hiệu quả, tổ chức tư duy logic, và giải thích mọi thứ rõ ràng
* Máy tính và tỷ lệ kỹ thuật: Hầu như tất cả các công việc hiện nay đòi hỏi một sự hiểu biết, từ cơ bản đến nâng cao về phần mềm máy tính, xử lý văn bản, e-mail, bảng tính, và điều hướng Internet
* Giải quyết vấn đề /Sáng tạo: Người sử dụng lao động luôn muốn mọi người có thể nhận diện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo Họ cần sự đảm bảo rằng nhân viên có thể chinh phục thử thách công việc bằng cách suy nghĩ phê phán và sáng tạo
* Kỹ năng làm việc nhóm: Khả năng làm việc tốt với những người khác trong khi theo đuổi một mục tiêu chung là một yêu thích lâu dài của nhà tuyển dụng
* Độ nhạy đa dạng: Trong thế giới ngày nay, sự nhạy cảm văn hóa và khả năng xây dựng mối quan hệ với những người khác trong một môi trường đa văn hóa được đánh giá cao bởi người sử dụng lao động
* Lập kế hoạch và tổ chức: đòi hỏi nhân viên phải là những người có cách thức làm việc khoa học, có kỹ năng tổ chức và lập kế hoạch Nhà tuyển dụng đánh giá cao những người “đào giếng trước khi họ khát”
Trang 32* Lãnh đạo và quản lý: Lãnh đạo gồm có một ý thức mạnh mẽ về bản thân, tự tin, và một kiến thức toàn diện các mục tiêu của công ty
- Kiến thức: thuộc về năng lực tư duy
Kiến thức được hiểu là những năng lực về thu thập thông tin dữ liệu, năng lực hiểu các vấn đề, năng lực ứng dụng, năng lực phân tích, năng lực tổng hợp, năng lực đánh giá Đây là những năng lực cơ bản mà một cá nhân cần hội tụ khi tiếp nhận mộtcông việc Công việc càng phức tạp thì cấp độ yêu cầu về các năng lực này càng cao Các năng lực này sẽ được cụ thể hóa theo đặc thù của từng doanh nghiệp
2.1.4 Nội dung về năng lực làm việc của người lao động tại khu công nghiệp
Năng lực làm việc thúc đẩy hành vi ở hai góc độ trái ngược nhau đó là tích cực và tiêu cực Người lao động có động lực tích cực thì sẽ có tâm lý làm việc tốt, lành mạnh đồng thời góp phần làm cho doanh nghiệp ngày càng trở nên phát triển, bền vững hơn
Nội dung năng lực làm việc của người lao động tại khu công nghiệp thể hiện ở:
a Thể lực
Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện từng cá nhân cụ thể Một cơ thể khỏe mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng nó sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó Thể lực chỉ sức khỏe thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc và tình trạng sức khỏe của con người Thể lực được cấu thành bởi các yếu tố sức khỏe, sức dẻo dai, sức bền…Trong nền kinh tế thị trường, thể lực của người lao động là sức mạnh hợp thành các loại khả năng của lao động Thể lực lao động là nhân tố đầu vào độc lập của bất kỳ quá trình nào trong hoạt động của một cơ quan, doanh nghiệp
Thể lực kết hợp với các yếu tố khác tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần cho đơn vị, doanh nghiệp Doanh nghiệp cần lao động có thể lực, người quản lý cũng cần lao động có thể lực để đảm bảo việc làm ổn định Do đó thể lực là một yếu tố cấu than sức mạnh của đội ngũ lao động, nó chứng tỏ con người có khả năng đảm nhiệm, thực hiện, hoàn thành công việc Thể lực có ý nghĩa quyết định năng lực hoạt động của con người Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội
Trang 33Hiện nay, Việt Nam có quy mô dân số 90 triệu người, đứng thứ 13 thế giới, thứ 7 châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á Tính đến ngày 31-12-
2014, cả nước có 69,3 triệu người từ 15 tuổi trở lên, trong đó có 53,7 triệu người tham gia vào lực lượng lao động, chiếm 77,7% dân số (cùng kỳ năm 2013 là 52,06 triệu người) Như vậy, hằng năm ở nước ta, trung bình có khoảng hơn 1 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động Lực lượng lao động Việt Nam tương đối trẻ, có 50,2% những người có độ tuổi từ 15 đến 39 tham gia vào lực lượng lao động Với nguồn lao động trẻ dồi dào, dân số Việt Nam hiện nay đang ở trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” Đây chính là một trong những ưu điểm nổi bật của nguồn lao động nước ta, từng bước đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại trong việc mở rộng sản xuất và nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất Nguồn lao động trẻ sẽ gặp nhiều thuận lợi trong việc tiếp thu những tiến bộ của khoa học, công nghệ vào sản xuất; thích ứng và bắt nhịp nhanh với quá trình sản xuất đòi hỏi công nghệ cao, áp lực lớn và thích ứng được việc thay đổi nghề nghiệp, điều kiện làm việc theo yêu cầu của quá trình sản xuất
Trong những năm qua, thể lực và tầm vóc của người Việt Nam đã được cải thiện đáng kể Chiều cao trung bình nam giới khoảng 1m65 - 1m68, trong đó
có khoảng trên 10% nam giới cao trên 1m70; nữ cao trung bình từ 1m55 - 1m58, trong đó có khoảng 10% cao trên 1m60 Cân nặng trung bình nam giới khoảng từ
ở thế hệ trẻ ở nước ta đang có xu hướng ngày càng phát triển cao Những cải thiện về thể lực và tầm vóc đã góp phần đáng kể trong việc tăng cường sức bền,
độ dẻo dai, sự linh hoạt, nhanh nhẹn cho người lao động Người lao động đã bước đầu đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của những dây chuyền sản xuất hiện đại, với cường độ cao
Đây là một trong những tiền đề quan trọng để người lao động nước ta có thể tham gia ngày càng nhiều và có hiệu quả hơn vào quá trình sản xuất vật chất hiện đại với những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao
b Trí lực
Trí lực được xác định bởi trí thức chung về khoa học, trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy xét đoán của mỗi con người Trí lực thực tế là một hệ thống thông tin đã được xử lí và lưu giữ lại trong bộ nhớ của mỗi cá nhân con người, được thực hiện qua nhiều kênh khác
Trang 34nhau Nó được hình thành và phát triển thông qua giáo dục đào tạo cũng như quá trình lao động sản xuất
Phải thừa nhận rằng, trí lực là nguồn gốc quan trọng của sức sản xuất phát triển, nó cũng tạo ra giá trị Trong điều kiện của cách mạng khoa học - kỹ thuật
và sản xuất hiện đại hoá, trí lực lao động của con người và thành quả của nó (tri thức) trong quá trình tạo ra sự giàu có và giá trị đã phát huy vai trò ngày càng quan trọng Hiện nay trong quá trình sản xuất vật chất, vai trò của ba yếu tố lao động, tư bản và đất đai không phải là quan hệ ngang hàng nữa Mà trong đó, trí lực lao động là yếu tố sản xuất quan trọng nhất, hai yếu tố còn lại bị phụ thuộc vào nó Mà trong yếu tố sản xuất lao động này, trí lực lao động và thành quả của
nó (tri thức) lại là nguồn gốc chủ yếu làm nên sự giàu có và giá trị
Trí lực lao động thể hiện ở: trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn Lao động có trí lực sẽ đảm nhiệm được những công việc và vị trí công việc mà lao động phổ thông khó có thể làm được Doanh nghiệp có đội ngũ lao động dồi dào, có trình độ cao là cơ sở để phát triển sản xuất, tạo ra nguồn lợi nhuận cao
Tại Việt Nam, với chủ trương CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, trong những năm qua, chất lượng nguồn lao động nước ta đã cải thiện đáng
kể cả trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp
Trong công nghiệp, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, lao động có tay nghề tăng lên nhanh chóng Để bắt nhịp với những dây chuyền sản xuất hiện đại và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, công tác đào nghề cho lao động công nghiệp rất được chú trọng Trong những năm gần đây, nhiều trường dạy nghề đã được mở rộng và phát triển Ngoài các trường dạy nghề chung, hầu hết các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế đều mở các trường dạy nghề để nâng cao chất lượng tay nghề cho người lao động Hiện nay, cả nước có gần 200 cơ sở dạy nghề thuộc các doanh nghiệp Cách thức tổ chức giáo dục nghề nghiệp cũng được đổi mới và ngày càng phù hợp hơn Đó là việc giáo dục nghề nghiệp theo nhu cầu và xu hướng của xã hội, giảm tải thời gian học tập lý thuyết để học viên
có nhiều điều kiện thực hành Các hình thức đào tạo nghề cũng thường xuyên thay đổi Các cơ sở dạy nghề trong các doanh nghiệp không chỉ đào tạo nghề cho lao động mới tuyển mà còn tổ chức đào tạo lại hoặc bồi dưỡng tay nghề cho người lao động Nhờ đó, chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo nghề cho
Trang 35lao động trong các ngành công nghiệp ở nước ta được cải thiện đáng kể, nên tay nghề của người lao động đã không ngừng được nâng cao
Năm 2014, trong tổng số 53,7 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của nước ta, có 9,99 triệu người đã qua đào tạo, chiếm 18,6% trong tổng số lao động trên cả nước Trong những năm gần đây, tỷ lệ lao động có trình độ đại học không ngừng tăng lên: năm 2012, trung bình cả nước có 4,7%, năm 2013 là 5,8%, đến năm 2014, tỷ lệ này là 6,2% Sự tăng lên không ngừng của đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn đã bước đầu đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại trong việc ứng dụng những thành tựu của khoa học, công nghệ vào việc cải tạo nền sản xuất theo hướng hiện đại
c Phẩm chất tâm lý xã hội
Phẩm chất tâm lý xã hội của lao động là những đặc điểm quan trong trong yếu tố xã hội của nguồn nhân lực, bao gồm ý thức làm việc, sự sáng tạo và học hỏi trong công việc, khả năng chuyển đổi công việc… Đây là một trong 3 yếu tố cấu thành năng lực làm việc của người lao động Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, là tiền đề phát triển của nhau Muốn nâng cao năng lực làm việc của người lao động phải nâng cao cả 3 mặt: thể lực, trí lực và phẩm chất tâm lý xã hội
Tuy nhiên mỗi yếu tố trên lại liên quan đến một lĩnh vực rất rộng lớn Thể lực và tình trạng sức khỏe gắn liền với dinh dưỡng, y tế và chăm sóc sức khỏe Trí lực gắn với lĩnh vực giáo dục đào tạo, còn phẩm chất tâm lý xã hội chịu ảnh hưởng của truyền thống văn hóa dân tộc, nền tảng văn hóa và thể chế chế độ lao động…, Do vậy, để đánh giá chất lượng năng lực làm việc của lao động thường xem xét trên ba mặt: trình độ văn hóa và chuyên môn kĩ thuật, sức khỏe, năng lực phẩm chất của người lao động
Một trong những đặc điểm nổi bật của con người Việt Nam trong lịch sử
là sự cần cù, linh hoạt, sáng tạo Đó cũng chính là ưu điểm của người lao động nước ta hiện nay Nhờ đó, người lao động có năng lực trong việc sản xuất những mặt hàng đòi hỏi sự khéo léo, tỷ mỷ, có độ tinh xảo cao Nhiều ngành sản xuất nổi tiếng của nước ta, nhất là các ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống như dệt, thêu ren, mộc, khảm đã và đang có những khởi sắc, sản xuất được những mặt hàng có độ tinh xảo cao, có hiệu quả kinh tế lớn, có khả năng xuất khẩu sang nước ngoài
Trang 362.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực làm việc của người lao động
2.1.5.1 Nhóm yếu tố bên trong
a Trình độ học vấn
Trình độ học vấn : Là sự hiểu biết cơ bản của người lao động về tự nhiên
và xã hội Trình độ văn hoá tạo ra khả năng tư duy và sáng tạo cao Người lao động có trình độ văn hóa sẽ có khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời trong quá trình làm việc họ không những vận dụng chính xác mà còn linh hoạt và sáng tạo các công cụ sản xuất để tạo ra hiệu quả làm việc cao nhất
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết khả năng thực hành của người lao động về chuyên môn nào đó ,có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định Sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng,
kỹ xảo nghề càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động
Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn có ảnh hưởng lớn đối với năng lực làm việc của lao động.Trình độ học vấn tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Còn sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ sảo nghề càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó góp phần nâng cao năng suất Trình độ học vấn và chuyên môn của người lao động không chỉ giúp cho người lao động thực hiện công việc nhanh mà góp phần nâng cao chất lượng thực hiện công việc
Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khoa học ngày càng phát triển với tốc độ nhanh, các công cụ đưa vào sản xuất ngày càng hiện đại, đòi hỏi người lao động
có trình độ chuyên môn tương ứng Nếu thiếu trình độ chuyên môn người lao động sẽ không thể điều khiển được máy móc, không thể nắm bắt được các công nghệ hiện đại
Tình trạng sức khoẻ: Trạng thái sức khoẻ có ảnh hưởng lớn tới năng suất lao động Nếu người có tình trạng sức khoẻ không tốt sẽ dẫn đến mất tập trung trong quá trình lao động, làm cho độ chính xác của các thao tác trong công việc giảm dần, các sản phẩm sản xuất ra với chất lượng không cao, số lượng sản phẩm cũng giảm , thậm chí dẫn đến tai nạn lao động
Trang 37b Khả năng tiếp thu của người lao động
Khả năng tiếp thu của lao động là tất cả những hành vi biểu hiện của người lao động trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh Nó có ảnh hưởng quyết định đến khả năng, năng suất và chất lượng hoàn thành công việc của người tham gia lao động, nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu khác nhau, cả khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là:
- Kỷ luật lao động: Là những tiêu chuẩn quy định hành vi cá nhân của lao
động mà tổ chức xây dựng nên dựa trên những cơ sở pháp lý và các chuẩn mực đạo đức xã hội Nó bao gồm các điều khoản quy định hành vi lao động trong lĩnh vực có liên quan đến thực hiện nhiệm vụ như số lượng, chất lượng công việc, an toàn vệ sinh lao động, giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi, các hành vi vi phạm pháp luật lao động, các hình thức xử lý vi phạm kỷ luật…
- Tinh thần trách nhiệm: Được hình thành dựa trên cơ sở những ước mơ
khát khao, hy vọng cảu người lao động trong công việc cũng như với tổ chức Trong tổ chức, nếu người lao động thấy được vai trò, vị thế, sự cống hiến hay sự phát triển, thăng tiến của mình được coi trọng và đánh giá một cách công bằng, bình đẳng thị họ cảm thấy yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào tổ chức, Đây là cơ
sở để nâng cao tính trách nhiệm, sự rèn luyện, phấn đấu vươn lên, cố gắng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động
- Sự gắn bó với doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp ngoài mục đích lao động
để kiếm sống họ còn coi tổ chức như một chỗ dựa vững chắc về vật chất và tinh thần Nếu quá trình lao động và bầu không khí trong tập thể lao động tạo ra cảm giác gần gũi, chan hoà, tin tưởng lẫn nhau giữa những người công nhân, tạo cảm giác làm chủ doanh nghiệp, có quyền quyết định đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra tính độc lập tự chủ sáng tạo, được quan tâm chăm lo đến đời sống và trợ giúp khi gặp khó khăn… thì ngươi lao đốngẽ có lòng tin, hy vọng, sự trung thành và gắn bó với doanh nghiệp
- Cường độ lao động: cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến
năng suất lao động vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ người lao động và từ
đó ảnh hưởng tới năng suất lao động
c Động cơ làm việc
Tiền lương, tiền thưởng : Đây là một yếu tố quan trọng góp phần tạo động lực thúc đẩy người lao động làm việc nâng cao năng suất lao động Tiền lương
Trang 38ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của người lao động Phấn đấu nâng cao tiền lương là mục đích của hết thảy mọi người lao động.mục đích này tạo động lực để người lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình
- Tiền lương: “Là số lượng tiền mà người sử dụng lao động trả cho người
lao động theo giá trị sức lao động đã hao phí trong những điều kiện xã hội nhất định trên cơ sở thoả thuận của hai bên trong hợp đồng lao động” (Trần Xuân Cầu, 2017)
Số tiền này nhiều hay ít còn phụ thuộc vào năng suất lao động, hiệu quả làm việc, trình độ hay kinh nghiệm làm việc … Trong quá trình lao động Nhưng cái mà người lao động các loại hàng hoá dịch vụ cần thiết mua được từ số tiền
đó, chính là tiền lương thực tế Tiền lương phản ánh đóng góp nhiều cho xã hội
và càng thể hiện giá trị xã hội trong cuộc sống của người lao động Do vậy tiền lương thoả đáng sẽ là động lực để người lao động làm việc hiệu quả và đạt năng suất lao động cao
- Tiền thưởng: Là số tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người
lao động trong những điều kiện đặc biệt theo sự thoả thuận của hai bên hoặc theo
sự tự nguyện của bên sử dụng lao động trong các trường hợp như: Khi công nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiết kiệm được nguyên vật liệu, có những sáng kiến sáng tạo trong hoạt động lao động… Nếu tiền thưởng đảm bảo gắn trực tiếp với thành tích của người lao động, gắn với hệ thống chỉ tiêu được nghiên cứu, phân loại cụ thể và mức thưởng có giá trị tiêu dùng trong cuộc sống thì tiền thưởng sẽ là công cụ để người sử dụng lao động kích thích sự hăng say, gắn bó,
sự tích cực, tinh thần trách nhiệm, năng suất và hiệu quả của người lao động
Ngoài tiền lương, tiền thưởng các phúc lợi xã hội cũng góp phần thúc đẩy nâng cao năng suất lao động Phúc lợi xã hội là phần thù lao gián tiếp đượctrả dưới dạng các bổ trợ về cuộc sống cho người lao động Phúc lợi xó thể là tiền, vật chất hoặc những điều kiện thuận lợi mà người sử dụng lao động cung cấp cho người lao động trong những điều kiện bắt buộc hay tự nguyện để động viên hoặc khuyến khích và đảm bảo anh sinh cho người lao động Phúc lợi đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cũng như góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, từ đó thúc đẩy và nâng cao năng suất lao động
- Tổ chức phục vụ nơi làm việc: Nơi làm việc là không gian sản xuất được
trang bị máy móc thiết bị, phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết để người lao động hoàn thành các nhiệm vụ sản xuất đã định, là nơi diễn ra các quá trình lao
Trang 39động Nơi làm việc là nơi thể hiện rõ nhất khả năng sáng tạo và nhiệt tình của người lao động.Tổ chức phục vụ nơi làm việc là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lao động của con người Nơi làm việc được tổ chức một cách hợp lý và phục vụ tốt góp phần bảo đảm cho người lao động có thể thực hiện các thao tác trong tư thế thoải mái nhất vì vậy tiến hành sản xuất với hiệu quả cao, nâng cao năng suất lao động
2.1.5.2 Nhóm yếu tố bên ngoài
a Môi trường làm việc
Các yếu tố thuộc về môi trường lao động:
*Môi trường tự nhiên
Thời tiết và khí hậu có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động Nó tác động đến năng suất lao động một cách khách quan và không thể phủ nhận Thời tiết và khí hậu của các nước nhiệt đới khác với các nước ôn đới và hàn đới,
do đó ở các nước khác nhau có những thuận lợi và khó khăn khác nhau trong sản xuất Và ở mỗi một ngành sản xuất thì nó tác động khác nhau Trong nông nghiệp thì độ phì nhiêu của đất, của rừng, của biển khác nhau sẽ đưa lại năng suất khác nhau.Trong công nghiệp khai thác mỏ thì các vấn đề như hàm lượng của quặng, độ nông sâu của các vỉa than, vỉa quặng, trữ lượng của các mỏ đều tác động đến khai thác, đến năng suất lao động Con người đã có nhiều hoạt động nhằm hạn chế các tác động có hại của thiên nhiên đến sản xuất và đạt được kết quả rõ rệt như trong dự báo thời tiết, trong diệt trừ côn trùng phá hoại mùa màng Tuy nhiên, vẫn chưa khắc phục được hết vì thế yếu tố thiên nhiên là yếu tố quan trọng, cần phải đặc biệt tính đến trong các ngành như nông nghiệp, khai thác và đánh bắt hải sản, trồng rừng, khai thác mỏ và một phần nào trong ngành xây dựng
*Điều kiện lao động
Quá trình lao động của con người bao giờ cũng diến ra trong môi trường sản xuất nhất định, mỗi môi trường khác nhau lại có các nhân tố khác nhau tác động đến người lao động, mỗi nhân tố khác nhau lại có mức độ tác động khác nhau, tổng hợp các nhân tố ấy tạo nên điều kiện lao động.các nhân tố tích cực tạo
ra điều kiện thuận lợi còn nhân tố tiêu cực tạo ra điều kiện không thuận lợi cho con người trong quá trình lao động “ Điều kiện lao động là tổng hợp các yếu tố của môi trường làm việc tác động tới sức khoẻ và khả năng thực hiện công việc
Trang 40của người lao động” cụ thể là cường độ chiếu sáng, độ ẩm, tiếng ồn, độ rung, bụi, các chất độc hại ảnh hưởng tới con người Nếu nơi làm việc có điều kiện làm việc không tốt như quá sáng hoặc quá tối sẽ ảnh hưởng đến thị giác của người lao động, giảm khả năng lao động Hoặc nơi làm việc có môi trường bị ô nhiễm, mức
độ an toàn không cao, ảnh hưởng đến sức khoẻ của người lao động Mặt khác, làm cho người lao động có cảm giác không yên tâm nên không chuyên tâm vào công việc, làm giảm năng suất lao động
- Thái độ cư xử của người lãnh đạo: Lãnh đạo là việc định ra chủ trương,
đường lối, nguyên tăc hoạt động của một hệ thống các điều kiện môi trường nhất định.Lãnh đạo là một hệ thống cá tổ chức bao gồm người lãnh đạo, người bị lãnh đạo,mục đích của hệ thống, các nguồn lực và môi trường
Người lãnh đạo là một trong các yếu tố quan trọng của hệ thống lãnh đạo,là người ra mệnh lệnh, chỉ huy điều khiển những nguời khác thực hiện các quyết định đề ra nhằm đảm bảo giải quyết tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hoạt động và hoàn thiện bộ máy quản lý Người lãnh đạo
có vai trò rất quan trọng trong tổ chức, họ quản lý tập thể bằng quyền lực và uy tín của mình Quyền lực là những quyền hạn của người lãnh đạo trong khuôn khổ quyền hạn của nhà nước hoặc tập thể trao cho người lãnh đạo.Uy tín là khả năng thu phục các thành viên dưới quyền, nó gắn liền với những phẩm chất tài và đức của người lãnh đạo Phong cách, phương pháp cũng như thái độ của người lãnh đạo quyết định đến sự phát triển của các tổ chức
Với phong cách uy quyền tức là người lãnh đạo hành động độc đoán, khi ra quyết định không tham khảo ý kiến của bất kỳ ai, dẫn đến việc ra lệnh cứng nhăc, không tôn trọng ý kiến của tập thể thì nhân viên thường không làm việc tự giác và độc lập, không phát huy được tính sáng tạo và hứng thú trong lao động, cuối cùng
có tác động xấu đến tập thể Với phong cách dân chủ tự do tức là người lãnh đạo trao quyền chủ động sáng tạo, độc lập tối đa và tự do hành động cho nhân viên để hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết để họ có ý kiến đóng góp và tham gia vào quá trình xây dựng, phát triển tổ chức
Việc lựa chọn phong cách này hay phong cách lãnh đạo khác có một ý nghĩa quan trọng đối với việc cũng cố giáo dục tập thể lao động Mỗi phong cách lãnh đạo có đặc thù riêng và thích ứng với từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.Phong cách lãnh đạo khác nhau tạo ra thái độ của người lãnh đạo khác nhau Thái độ của người lãnh đạo ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ giữa người lãnh