1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn

127 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 3,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế nấm kim châm .... Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN MINH NGỌC

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THÀNH PHẦN GIÁ THỂ NUÔI TRỒNG TỚI NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ LOẠI NẤM ĂN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Ngọc

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc PGS.TS Trần Thị Minh Hằng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Rau hoa quả, Khoa Nông Học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Viện di truyền Nông Nghiệp – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nấm – Trạm thực nghiệm sản xuất nấm tại Văn Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục đích 3

1.2.2 Yêu cầu 3

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 Tổng quan các vấn đề cần nghiên cứu 4

2.1 Tình hình sản xuất nấm ăn trên thế giới và Việt nam………5

2.1.1 Tình hình sản xuất nấm ăn trên thế giới………5

2.1.2 Tình hình sản xuất nấm ăn ở Việt Nam……… 6

2.2 Giới thiệu về các loại nấm trong nghiên cứu 5

2.2.1 Giới thiệu về nấm kim châm Flammulina velutipes (Fr.) Sing 5

2.2.2 Giới thiệu về nấm ngọc châm Hypsizigus marmoreus 7

2.2.3 Giới thiệu về nấm đùi gà (nấm sò vua) Pleurotus eryngii 8

2.3 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh 9

2.3.1 Nấm kim châm Flammulina velutipes (Fr.) Sing 9

2.3.2 Nấm ngọc châm Hypsizigus marmoreus 11

2.3.3 Nấm đùi gà (nấm sò vua) Pleurotus eryngii 13

2.3.4 Tình hình nghiên cứu và sử dụng giá thể trồng nấm tại Việt Nam 17

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 20

Trang 5

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 20

3.2 Địa điểm nghiên cứu 20

3.3 Nội dung nghiên cứu 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1 Bố trí thí nghiệm 21

3.4.2 Công thức và sơ đồ bố trí thí nghiệm 21

3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 24

3.4.4 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 25

3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 25

Phần 4 Kết quả và thảo luận 26

4.1 Kết quả nghiên cứu tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế nấm kim châm 26

4.1.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến thời gian sinh trưởng của hệ sợi và quả thể nấm kim châm trắng 26

4.1.2 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài hệ sợi nấm kim châm trắng 28

4.1.3 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến tình hình nhiễm bệnh của nấm kim châm trắng 30

4.1.4 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng tới năng suất và hiệu quả kinh tế của nấm kim châm 32

4.1.5 Ảnh hưởng của giá thể trồng tới đặc điểm hình thái cấu trúc của nấm kim châm trắng 34

4.2 Kết quả nghiên cứu tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế nấm đùi gà (Pleurotus eryngii) 35

4.2.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến thời gian sinh trưởng của hệ sợi và quả thể nấm đùi gà 35

4.2.2 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài hệ sợi nấm đùi gà 37

4.2.3 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến tình hình nhiễm bệnh của nấm đùi gà 39

4.2.4 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến năng suất và hiệu quả kinh tế của nấm đùi gà 40

Trang 6

4.2.5 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến đặc điểm hình thái cấu trúc

của nấm đùi gà 42

4.3 Kết quả nghiên cứu tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế nấm ngọc châm (Hypsizigus marmoreus) 44

4.3.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng tới thời gian sinh trưởng của hệ sợi và quả thể nấm ngọc châm 44

4.3.2 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài hệ sợi nấm ngọc châm 46

4.3.3 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến tình hình nhiễm bệnh của nấm ngọc 48

4.3.4 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến năng suất và hiệu quả kinh tế của nấm ngọc châm 49

4.3.5 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến đặc điểm hình thái cấu trúc nấm ngọc châm 50

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Kiến nghị 54

Tài liệu tham khảo 55

Phụ lục 61

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến thời gian sinh trưởng

của hệ sợi và quả thể nấm kim châm trắng 26 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng

chiều dài hệ sợi nấm kim châm trắng 29 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến tình hình nhiễm bệnh

của nấm kim châm trắng 31 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng tới năng suất và hiệu quả

kinh tế của nấm kim châm 33 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của giá thể trồng tới đặc điểm hình thái cấu trúc của nấm

kim châm trắng 34 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng tới thời gian sinh trưởng

của hệ sợi và quả thể nấm đùi gà 36 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng

chiều dài hệ sợi nấm đùi gà 38 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến tình hình nhiễm bệnh

của nấm đùi gà 40 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến năng suất và hiệu quả

kinh tế của nấm đùi gà 41 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến đặc điểm hình thái cấu

trúc của nấm đùi gà 42 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng tới thời gian sinh trưởng

của hệ sợi và quả thể nấm ngọc châm 44 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng

chiều dài hệ sợi nấm ngọc châm 46 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến tình hình nhiễm bệnh

của nấm ngọc châm 48 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến năng suất và hiệu quả

kinh tế của nấm ngọc châm 50 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến đặc điểm hình thái cấu

trúc nấm ngọc châm 51

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Nấm kim châm nhân tạo – nấm kim châm trong tự nhiên 7 Hình 2.2 Nấm ngọc châm trắng – Nấm ngọc châm nâu 8 Hình 2.3 Nấm đùi gà 9

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Minh Ngọc

Tên luận văn: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trồng tới năng suất và chất lượng một

số loại nấm ăn

Ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 8620110 Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Xác định tỉ lệ phối trộn các nguyên liệu làm cơ chất và chất phụ gia thích hợp nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của ba loại nấm kim châm, nấm ngọc châm, nấm đùi gà

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thành phần cơ chất, các chất phụ gia trong việc trồng nấm đùi gà, nấm kim châm và nấm ngọc châm Đối với thí nghiệm cơ chất chúng tôi thay thế tỉ lệ các loại cơ chất từ thấp đến cao nhưng vẫn dựa trên định mức chung của các nghiên cứu trước đây của một số tác giả Đối với thí nghiệm phụ gia chúng tôi thay đổi tỉ lệ các loại phụ gia đặc biệt nâng cao tỉ lệ cám ngô, giảm tỉ lệ cám gạo và bổ sung thêm lượng đường phù hợp

Kết quả chính và kết luận

Thí nghiệm nấm kim châm trắng công thức tỷ lệ 45% mùn cưa + 45% lõi ngô là công thức cơ chất thích hợp nhất cho nấm sinh trưởng và phát triển Tổng thời gian để quả thể nthời gian hệ sợi bao phủ toàn bộ bịch nấm 38 ngày sau cấy, tổng thời gian quả thể xuất hiện và thành thục là 51 ngày sau khi cấy giống Tỷ lệ bịch nhiễm bệnh ở công thức này là ở mức cho phép 8,8%, đây là công thức có lợi nhuận và hiệu quả kinh tế cao Công thức phụ gia 4,5% cám ngô + 1,5% cám mỳ + 3% cám gạo + 0,5% đường + 0,5% bột nhẹ là công thức thích hợp nhất cho nấm kim châm sinh trưởng Tổng thời gian hệ sợi nấm kim châm trắng sinh trưởng và phát triển là 39 ngày sau khi cấy giống, tổng thời gian để quả thể nấm kim châm xuất hiện và thành thục là 52 ngày Tỷ lệ nhiễm bệnh 15,5% chấp nhận được, đây là công thức phụ gia cho lợi nhuận và hiệu quả kinh tế thực thu cao nhất Kết luận với tỷ lệ phối cơ chất cân bằng giữa lõi ngô và mùn cưa và việc tăng tỷ lệ cám ngô trong phối trộn các chất phụ gia giúp tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cho nuôi trồng nấm kim châm trắng

Thí nghiệm nấm đùi gà công thức tỷ lệ 55% mùn cưa + 30% lõi ngô + 10% bã mía là công thức cơ chất thích hợp nhất cho nấm đùi gà sinh trưởng và phát triển Tổng

Trang 11

thời gian hệ sợi nấm phát triển ăn kín bịch là 38 ngày sau cấy giống, và 59 ngày sau cấy giống quả thể nấm thành thục và cho thu hoạch, hệ sợi nấm rất dày Tỷ lệ bịch bị nhiễm bệnh 16,67%, năng suất thực thu /1000 bịch cao 178,6 kg đây là công thức đem lại hiệu quả kinh tế cao Công thức phụ gia 5% gồm 2,4% cám ngô +0,8% cám mỳ + 1,6% cám gạo + 0% đường + 0,2% bột nhẹ là công thức phụ gia thích hợp cho nấm đùi gà sinh trưởng Tổng thời gian hệ sợi sinh trưởng và phát triển 41 ngày sau khi cấy giống, tổng thời gian quả thể xuất hiện và thành thục là 63 ngày sau khi cấy giống, hệ sợi nấm rất dày

Tỷ lệ bịch bị nhiễm bệnh 7,78% thấp nhất trong các công thức thí nghiệm Công thức phụ gia này đem lại năng suất thực thu 181,2 kg nấm/1000 bịch, đây là công thức có hiệu quả kinh tế cao Kết luận với nấm đùi gà nếu cơ chất chỉ lõi ngô và mùn cưa thì chưa phù hợp cho trồng nấm đùi gà cần bổ sung thêm 10% bã mía và cám ngô với tỷ lệ phối trộn cao nhất là phụ gia thích hợp bổ sung dinh dưỡng tăng năng suất cho nấm đùi gà

Thí nghiệm nấm ngọc châm công thức gồm 45% mùn cưa + 45% lõi ngô là công thức cơ chất thích hợp nhất cho nấm ngọc châm sinh trưởng Tổng thời gian hệ sợi nấm sinh trưởng và phát triển là 72 ngày thời gian quả thể nấm ngọc châm xuất hiện và thành thục là 108 ngày sau khi cấy giống Năng suất thực thu đạt 217,2 kg/1000 bịch là công thức đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao Công thức phụ gia gồm: 1,7% cám ngô + 1,7% cám mỳ + 6% cám gạo + 0,3% đường + 0,3% bột nhẹ là công thức thích hợp nhất cho nấm ngọc châm sinh trưởng Tổng thời gian hệ sợi nấm sinh trưởng và phát triển là

72 ngày sau khi cấy giống, tổng thời gian quả thể nấm xuất hiện và thành thục là 102 ngày sau khi cấy giống Năng suất thực thu đạt 211,2 kg/1000 bịch, lãi thuần đạt 17,62 triệu/1000 bịch là công thức cho năng suất lợi nhuận kinh tế cao nhất Kết luận phối trộn tỷ lệ giữa cơ chất mùn cưa và lõi ngô trong sản xuất nấm ngọc châm là thích hợp trong sản xuất nấm ngọc châm, bổ sung phụ gia với tỷ lệ phụ gia cám gạo cao giúp tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cao

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Minh Ngoc

Thesis title: Research on the effect of substratum on productivity and quality of some

edible mushrooms

Major: Crop Science Code: 8620110

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

Determine the mixing ratio of suitable substrates and additives to increase the productivity, quality and economic efficiency of the three types of enokitake mushroom, beech mushrooms, and King oyster mushroom

Materials and Methods

Study of substrates, additives for growing King oyster mushroom, enokitake mushroom and beech mushroom For substrate experiments, we replaced the ratio of substrates from low ration to high ration but still based on the common norm of previous studies of some authors For additive experiments, we changed the ratio of additives, specialy, we improved the ratio of corn bran, reduced the rice bran ratio and added appropriate sugar

Main findings and conclusions

Regarding the expirement for white enokitake, we set the formula with the ratio

at 45% of sawdust + 45% of cob, which is the most suitable formula of substrate for growth and development of the mushroom It takes 38 days to have mycelium system covering the entire bag of mushrooms and 51 days to have ascocrap after cultivating The rate of diseased mushroom bags of this formula is at the allowable rate of 8.8%, which is a highly profitable formula and economic efficiency The formula for additives

is set of 4.5% of corn bran + 1.5% of wheat bran + 3% of rice bran + 0.5% of sugar + 0.5% of light powder, which is the most suitable formula for growth of enokitake mushroom It takes 39 days for the mycelium system of white enokitake mushroom to grow up and 52 days to have ascocrap after cultivating The rate of diseased mushrooms

is 15.5% acceptable This is the formula for additives providing highest profit and economic efficiency Conclusion: a balanced ratio of cob and sawdust as well as the increase in the percentage of corn bran in the admixture of additives results the increase

in productivity and economic efficiency for cultivating white enikitake

Regarding the experiment for King oyster mushroom, we set the formula with

Trang 13

the ratio at 55% of sawdust + 30% cob + 10% bagasse, which is the most suitable formula of substrate for growth and development of the King oyster mushroom It takes

38 days to have mycelium system covering the entire bag of mushrooms and 59 days to have developed ascocrap and ready for harvesting after cultivating, especially we have very thick mycelium system The rate of diseased mushroom bags of this formula is at 16.67% The real yield is 1000 high bags of 178.6 kg, which is the formula providing high economic efficiency The “5%” formula for additives includes 2.4% of corn bran + 0.8% of wheat bran + 1.6% of rice bran + 0% of sugar + 0.2% of light powder, which is

a suitable additive formula for growth of King oyster mushroom The total time of growth and development of the mycelium system is 41 days after cultivating, the total time of the formation of ascocrap and its development is 63 days after cultivating and mycelium system is very thick The rate of diseased bags of mushrooms is 7.78%, lowest rate of all the expiremental formulas This additive formula brings real yield of 181.2 kg of mushrooms per 1000 bags, which is a highly effective formula Conclusion: the formula of only cob and sawdust is not suitable for growing King oyster mushrooms, the addition of 10% of bagasse and corn bran with the highest admixture ratio is required to have the appropriate additives providing nutritional supplement for improves productivity of King oyster mushroom

Regarding the experiment for beech mushrooms, we set the formula including 45% of sawdust + 45% of cob, which is the most suitable substitute substrate formula for growth of beech mushrooms It takes 72 days to have mycelium system developed and 108 days to have The real yield of 217.2 kg / 1000 bags is the formula providing high productivity and economic efficiency The formula of additives includes 1.7% of corn bran + 1.7% of wheat bran + 6% of rice bran + 0.3% of sugar + 0.3% of light powder, which is the most suitable formula for growing mushrooms The total time of growth & development of mycelium system is 72 days after cultivating The total time

of developed ascocraps after cultivating is 102 days The real yield reaches 211.2 kg /

1000 bags at net profit reaching 17.62 million / 1000 bags, which is the formula providing the highest economic profitability Conclusion: the mixing of the ratio of sawdust and cob in the production of beech mushrooms is appropriate in the production

of beech mushrooms, additives supplemented with high percentage of rice bran additive

to increase productivity and economic efficiency High

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về mọi mặt cuộc sống ngày càng cao Nhu cầu về ăn uống cũng là nhu cầu ngày càng được quan tâm tới Người ta yêu cầu không những ăn uống đầy đủ cân bằng về dinh dưỡng,

mà còn đòi hỏi phải sạch, rõ nguồn gốc, và phải có chứng nhận an toàn vệ sinh thực phầm Nấm ăn có thể coi là loại thực phẩm an toàn, không chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vât cũng như chất bảo quản, cân bằng về dinh dưỡng Ngoài ra một số loại nấm còn được sử dụng làm dược liệu quan trọng như nấm linh chi, nấm đầu khỉ, đông trùng hạ thảo

Nấm ăn có đặc điểm dinh dưỡng là chứa nhiều đạm, ít mỡ, ít calo, ngoài ra

nó còn có các chất có ích cho con người như đa đường, khoáng và sinh tố Người ta coi chất đạm của nấm ăn, của thực vật, của động vật sẽ là 3 nguồn đạm quan trọng của người Theo phân tích trong 112 loại nấm ăn có hàm lượng dinh dưỡng bình quân: Protein 25%; Lipid 8%; Gluxit 60% (trong đó đường là 52%, xơ 8%) chất tro 7% Đặc biệt nấm mỡ (A bisporus) có hàm lượng Protein cao tới 44% (Trạch Điền Mãn Hỷ,1983; Adriano and Cruz,1933) Nấm ăn thơm ngon là vì bên trong nấm có nhiều loại axit-amin tự do và nhiều hợp chất thơm đặc thù cho từng loại nấm, trong nấm có 17 – 19 loại axit amin, trong đó có 9 loại axit amin cố định Theo tài liệu của Liên Hợp quốc (1970) mỗi ngày người trưởng thành cần khoảng 4 gam axit nucleic trong đó 2g có thể lấy từ vi sinh vật, vì vậy ăn nấm tươi là nguồn cung cấp rất tốt A nucleic cho cơ thể Trong nấm ăn có tới 30 - 93% là chất Glucid nó không chỉ là chất dinh dưỡng mà còn có chất đa đường (poly saccharide) và hợp chất của đa đường có tác dụng chữa bệnh, nhất là chống khối u Trong nấm ăn có nguồn vitamin phong phú, nhất là B1; B2; C; PP; B6; axit folic B12; caroten dưới các dạng hợp chất thiamine, riboflavin, niacin, biotin, acid ascorbic (Gacomini, 1957)

Ngành sản xuất nấm ăn rất phù hợp với nền kinh tế nông nghiệp nước ta Hơn nữa nước ta có đầy đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển ngành trồng nấm như: điều kiện khí hậu đa dạng, nguồn nguyên liệu dồi dào ( rơm rạ, mùn cưa, bã mía, bông phế loại…) đạt trên 40 triệu tấn, lực lượng lao động dồi dào, kỹ thuật yêu cầu không quá cao, và thị trường tiêu thụ rất lớn ( Đinh Xuân Linh & cs,2008) Hiện tại nước ta nuôi trồng 16 loại nấm với sản lượng hàng năm đạt khoảng 250.000 tấn

Trang 15

nấm tươi, kim ngạch xuất khẩu khoảng 25-30 triệu USD/năm Cụ thể sản lượng nấm rơm 64.500 tấn, nấm mộc nhĩ 120.000 tấn, nấm sò 60.000 tấn, ĐBSCL và Đông Nam bộ chiếm 90% sản lượng nấm rơm, Đông Nam Bộ chiếm 70% sản lượng mộc nhĩ cả nước Mục tiêu phát triển ngành nấm nước ta đến 2015 đạt 400.000 tấn nấm các loại, 2020 là 1 triệu tấn, giải quyết được việc làm cho khoảng 1 triệu lao động từ

nghề sản xuất nấm (Định hướng của bộ NN-PTNT tại hội nghị “thực trạng và giải

pháp phát triển sản xuất nấm) Chính vì vậy Chính phủ và Bộ Nông Nghiệp đã đưa

nấm vào danh mục các sản phẩm trọng tâm của quốc gia

Ngoài những thuận lợi, những thành công, và định hướng kể trên chúng ta cũng phải nói đến những khó khăn của nghề trồng nấm tại Việt Nam Thứ nhất phải nói về nguồn nhân lực tuy dồi dào nhưng chưa được đào tạo bài bản chuyên sâu Thứ hai là về công tác chọn tạo giống để phù hợp đưa vào sản xuất, chưa có nhiều viện nghiên cứu, nghiên cứu và phát triển chọn tạo giống, giúp người sản xuất có thể có bộ giống trồng đa dạng mà thường là hình thức giữ giống và nhân giống tự phát của bà con nông dân, chưa có nhiều các nghiên cứu chi tiết về các

cơ chất trồng hay phụ gia trồng nấm Thứ ba để tiêu thụ sản phẩm ổn định cần nông dân phải liên kết với các doanh nghiệp tiêu thụ để có đầu ra ổn định, cũng như chưa có luật và biểu giá quy định về mẫu mã và giá thành chung cho sản phẩm nấm Thứ tư là các quy trình trồng hiện nay vẫn đang được tiếp tục chỉnh sửa nâng cấp quy trình trồng sao cho phù hợp với điều kiện và thực tế sản xuất Chúng ta cũng thấy rằng việc đưa ra một quy trình phù hợp cho từng loại nấm là hết sực cần thiết, rất nhiều khâu trong quy trình cần được nâng cấp và sửa đổi sao phù hợp với điều kiện từng địa phương Gần đây việc nghiên cứu phối trộn giá thể cho một số loại nấm đang được quan tâm vì do muốn tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, năng suất một số loại nấm chưa đạt được tối

đa, đặc biệt là một số giống nấm cao cấp, do kỹ thuật trồng và chi phí đầu tư cao, nên việc nghiên cứu, phát triển còn rất thưa thớt nhỏ lẻ Như tại Học Viện Nông Nghiệp, việc nghiên cứu về nấm ăn, đề tài về các loại nấm còn ít Ngoài ra thực

tế vấn đề sản phẩm nấm cao cấp trên thị trường hiện nay là của một số công ty lớn được đầu tư và mới đưa ra thị trường trong vài năm gần đây: Kinoko Thanh Cao, Nấm đùi gà Phùng Gia, Nấm hương Minakami hay nấm kim châm KMS với số vốn đaàu tư hàng chục tỷ đồng Điểm chung của các công ty này đều nhập khẩu máy mócm quy trình trồng chăm sóc của nước ngoài, các quy trình trồng và chăm sóc trong nước không được áp dụng Mặt hàng nấm cao cấp đang được

Trang 16

người tiêu dùng hết sức ưa chuông, giá bán cao gấp nhiều lần các loại nấm thông thường Nhận thấy trong khâu kỹ thuật đang được áp dụng tại Việt Nam nhất là khâu nguyên liệu và lựa chọn tỉ lệ phối trộn nguyên liệu chưa thực sự hợp lý, chưa phù hợp với tiềm năng về năng suất và chất lượng của một số loại nấm, đặc biệt là nhóm nấm được xét vào nhóm nấm cao cấp Vì vậy tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trồng tới năng suất và chất lượng một số loại nấm ăn ” Với đề tài này tôi xin phép được tập trung vào ba loại nấm cao cấp chính đang được phổ biến trên thị trường và nhu cầu tiêu dùng cao đó là nấm đùi gà, nấm kim châm và nấm ngọc châm

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục đích

Xác định tỉ lệ phối trộn các nguyên liệu làm cơ chất và chất phụ gia thích hợp nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của ba loại nấm kim châm, ngọc châm, đùi gà

1.2.2 Yêu cầu

Xác định ảnh hưởng của giá thể tới khả năng sinh trưởng hệ sợi của ba loại nấm;

Xác định ảnh hưởng của giá thể tới quả thể ba loại nấm;

Xác định ảnh hưởng của giá thể tới khả năng nhiễm bệnh của ba loại nấm; Xác định ảnh hưởng của giá thể tới năng suất, chất lượng của ba loại nấm;

So sánh hiệu quả kinh tế của các công thức giá thể khác nhau

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Cung cấp các thông số kỹ thuật làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo

về cơ chất và chất phụ gia sử dụng trong việc trồng nấm ăn

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài góp phần xây dựng kỹ thuật sản xuất nấm kim châm trắng, nấm ngọc châm, nấm đùi gà, nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả

kinh tế

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NẤM ĂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.1.1 Tình hình sản xuất nấm ăn trên thế giới

Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng trăm năm Hiện nay người ta đã biết có khoảng 2000 loài nấm ăn được, trong đó

có 80 loài nấm ăn ngon và được nghiên cứu nuôi trồng nhân tạo (UNESSCO - 2004) Việc nghiên cứu và sản xuất nấm ăn trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ Sản lượng nấm ăn nuôi trồng năm 2008 trên toàn thế giới đạt trên 25 triệu tấn nấm tươi

Ở Châu Âu, Bắc Mỹ trồng nấm đã trở thành một ngành công nghiệp lớn được cơ giới hoá toàn bộ nên năng suất và sản lượng rất cao Các loại nấm được nuôi trồng chủ yếu là nấm mỡ (A bisporus) nấm sò (Pleurotus sp) theo quy mô dây chuyền công nghiệp chuyên môn hoá cao độ: có nhà máy chuyên xử lý nguyên liệu (compost) (7.000 tấn compost/1 tuần), đã sử dụng robot trong các khâu nuôi trồng chăm sóc và thu hái nấm Năm 1983 ở Pháp sản xuất 200.000 tấn nấm mỡ tươi, nhưng chỉ có hơn 6.000 người lao động

Nhiều nước ở Châu Á, trồng nấm còn mang tính chất thủ công, năng suất không cao, nhưng sản xuất gia đình, trang trại với số đông nên tổng sản lượng rất lớn chiếm 70% tổng sản lượng nấm ăn toàn thế giới Các nước Đông Bắc Á như Hàn Quốc, Nhật Bản và vùng lãnh thổ Đài Loan áp dụng các kỹ thuật tiên tiến và công nghiệp hoá trong nghề nấm đã có mức tăng trưởng hàng trăm lần trong vòng 10 năm Nhật Bản có nghề trồng nấm truyền thống là nấm hương - Donko (Lentinula edodes) tên tiếng Nhật là Shiitake Mỗi năm đạt gần 1 triệu tấn Hàn Quốc nổi tiếng với nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) mỗi năm xuất khẩu thu

về hàng trăm triệu USD Ở Trung Quốc từ những năm 1960 bắt đầu trồng nấm có

áp dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật nên năng suất tăng gấp 4 - 5 lần và sản lượng tăng vài chục lần Ví dụ: Tỉnh Phúc Kiến - Trung Quốc với hơn 35 triệu dân, phát triển nghề trồng nấm đã tăng sản lượng từ 44.000 tấn năm 1978 lên 999.000 tấn nấm tươi năm 1998 tạo việc làm cho 3 triệu lao động nông thôn Tổng sản lượng nấm ăn của Trung Quốc năm 2007 đạt 17,5 triệu tấn, trong đó (Nấm mỡ: 4.937.738 tấn; Nấm sò 4.145.662 tấn; Nấm hương 2.884.769 tấn; Mộc nhĩ 2.554.059 tấn; Nấm Kim châm 1.177.962 tấn; Nấm rơm 437.256 tấn; Nấm

Trang 18

Ngân nhĩ 251.414 tấn; Nấm Linh chi 116.542 tấn; Nấm Trân châu 232.868 tấn; Nấm đùi gà 441.869 tấn; Nấm bụng dê 108.200 tấn; Nấm đầu khỉ 57.231 tấn; Các loại khác 300.000 tấn) nấm ăn trên thế giới gồm nhiều loại như: nấm mỡ, nấm hương, mộc nhĩ, nấm sò, nấm kim châm, và một số loại nấm khác chỉ có ở Trung Quốc như Đông trùng hạ thảo, tuyết nhĩ Hàng năm Trung Quốc xuất khẩu hàng triệu tấn nấm sang các nước phát triển thu về nguồn ngoại tệ hàng tỷ đô la

Hiện nay ở Trung Quốc đã dùng kỹ thuật “Khuẩn thảo học” để trồng nấm nghĩa

là dùng các loại cỏ, cây thân thảo để trồng nấm thay cho gỗ rừng và nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt

2.2.2 Tình hình sản xuất nấm ăn tại Việt Nam

Tổng sản lượng các loại nấm ăn và nấm dược liệu của Việt Nam hiện nay đạt khoảng trên 250.000 tấn/năm bao gồm (Nấm rơm 64.500 tấn; Nấm mộc nhĩ 120.000 tấn; Nấm sò 60.000 tấn; Nấm mỡ 5.000 tấn; Nấm Linh chi 300 tấn; Các loại nấm khác 700 tấn) Kim ngạch xuất khẩu chủ yếu nấm muối, nấm sấy khô, nấm đóng hộp, nấm tươi đạt 60 triệu USD/năm

Ở Việt Nam đang nuôi trồng 6 loại nấm phổ biến ở các địa phương:

Nấm rơm trồng ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ, ) chiếm 70% sản lượng nấm rơm cả nước

Mộc nhĩ trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam bộ (Đông Nai, Bình Phước, ) chiếm 50% sản lượng mộc nhĩ trong toàn quốc

Nấm mỡ, nấm sò, nấm hương chủ yếu được trồng ở các tỉnh miền Bắc, sản lượng mỗi năm đạt khoảng 60.000 tấn

Một số loại nấm khác như: nấm Trân châu, Kim châm, chân dài, đùi gà, Ngọc châm, sản lượng mỗi năm đạt khoảng 500 tấn

Nấm dược liệu: Linh chi, Vân chi, Đầu khỉ, mới được nuôi trồng ở một

số tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, TP Hồ Chí Minh,

Đà Lạt, ) sản lượng mỗi năm đạt khoảng 150 tấn

Ngoài ra miền Bắc hiện nay có một số doanh nghiệp đang sản xuất một số loại nấm chuyên biệt như: nấm kim châm trắng – Công

2.2 GIỚI THIỆU VỀ CÁC LOẠI NẤM TRONG NGHIÊN CỨU

2.2.1 Giới thiệu về nấm kim châm Flammulina velutipes (Fr.) Sing

2.2.1.1 Giới thiệu chung về nấm kim châm (Flammulina velutipes)

Trang 19

Nấm kim châm (Enokitake) là một loại nấm ăn được mọc trong tự nhiên, được người ta phát hiện tại nơi có khí hậu, đây là một loại nấm đa dạng về chủng loại Nấm này sống hoại sinh trên gỗ, thường là gỗ cây lá rộng Nấm thường mọc ở thân cây, gốc cây, gỗ vụn, mùn cưa

Ngày nay nấm kim châm được nuôi trồng ở hầu hết các nước trên thế giới

vì đây là loại nấm có hương vị thơm ngon, không những đem lại giá trị dinh dưỡng cao mà còn có giá trị triết xuất dược liệu Đây là loại nấm rất phổ biến và được ưa chuộng ở các nước châu Á, đặc biệt một số nước như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc Sản xuất nấm kim trên toàn thế giới tăng từ 143.000 tấn 1990 lên 285.000 tấn năm 1997 Trong đó dẫn đầu về tăng sản lượng nấm là Nhật bản tăng từ 74.387 tấn năm 1991 lên 95.123 tấn 1997 Theo thống kê mới nhất của Trung Quốc năm 2016 tổng sản lượng nấm là 7.797.929 tấn và đang dẫn đầu thế giới (FAOSTAT,2016) Sản lượng nấm nói chung và sản lượng nấm kim châm ngày càng tăng cao chứng tỏ nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng tăng lên, kèm theo đó là sự phát triển của nền kinh tế Hiện nay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nấm kim châm tại thị trường nội địa là rất lớn, ước tính mỗi năm chúng ta phải nhập khẩu hàng chục nghìn tấn từ nước bạn Trung Quốc

2.2.1.2 Đặc điểm hình thái của nấm kim châm

Quả thể nấm kim châm trong tự nhiên thường mọc thành từng cụm Mũ nấm có đường kính từ 2-3cm màu trắng sữa hay màu vàng nhạt, khi còn non mũ nấm có dạng hình cầu, sau chuyển dần thành dạng bán cầu, hình nón, khi già chuyển hẳn sang dạng xòe ô Trên bề mặt mũ nấm có chất dính, làm bề mặt mũ nấm sáng bóng mềm mại Chân nấm hình trụ tròn, rỗng, dài 5 - 18 cm, đường kính 0,2 – 0,8 cm màu vàng nhạt, đoạn dưới màu nâu, trên có lông tơ ngắn Với các giống khác nhau, cụm nấm có hình dạng khác nhau Màu sắc khác nhau Dựa vào màu sắc của quả thể mà ta có thể chia nấm kim châm thàng giống mầu sẫm

và giống màu vàng nhạt (Kim châm trắng, Kim châm vàng)

Trong nuôi trồng nhân tạo nấm kim châm cũng mọc thành từng cụm tuy nhiên có hình thái khác hơn so với ngoài tự nhiên: chân nấm dài hơn, mũ nấm nhỏ, số lượng quả thể nấm trong một cụm nấm cũng nhiều hơn Nấm nuôi trồng thì chân nấm nhỏ dài, đường kính 0,3 - 0,4 cm, dài 13 - 20 cm Non dòn, đoạn trên màu trắng hoặc vàng nhạt, đoạn dưới màu sẫm hơn long tơ ngắn hoặc không

có Nhìn dưới kính hiển vi, đảm bào tử không màu, hình bầy dục hoặc trứng, 7µ x 3 - 4µ liên kết mắt xích với nhau, dấu in của bào tử màu trắng

Trang 20

Hình 2.1 Nấm kim châm nhân tạo – nấm kim châm trong tự nhiên

Nguồn: Internet

2.2.2 Giới thiệu về nấm ngọc châm Hypsizigus marmoreus

2.2.2.1 Giới thiệu chung về nấm ngọc châm (Hypsizigus marmoreus)

Cũng như các loại nấm khác nấm ngọc châm là loại nấm cũng được trồng trên các nguyên liệu đã hoai mục của thực vật (phế thải) Loại nấm này được người ta tìm thấy vào nhiều người biết đến vì hượng vị rất độc đáo, nó có hương

vị của thịt cua vì vậy nó còn được gọi là nấm Hải sản (crab mushroom) Mũ nấm

có màu trắng hoặc nâu, ở giữa có hình như vân đá rất đẹp, do đó nó có tên loài là

“marmoreus” nghĩa là đá cẩm thạch

2.2.2.2 Đặc điểm hình thái nấm ngọc châm

Nấm Ngọc Châm mọc thành từng cụm, mỗi cụm có khoảng 10 – 20 cây, đôi khi chúng mọc riêng rẽ, khi đó cây nấm rất to, thân mập, rỗng Trong nuôi cấy nhân tạo chúng thường mọc thành cụm trong đó có sự khác nhau đáng kể về

số lượng, kích thước quả thể đối với từng cơ chất môi trường và phương pháp nuôi trồng khác nhau

Cây nấm to mập quả thể có màu trắng muốt, màu trắng xám và mà nâu bóng Mũ nấm lúc non có hình cầu hay bán cầu, về sau chuyển dạng ô Đường kính mũ nấm khoảng 2 – 7 cm Chân nấm có kích thước khoảng 1- 2 cm x 8 -15

cm, có khi dài tới 20cm, đính ở giữa mũ nấm Mũ nấm ở giữa có hình vân đá rất đẹp, phần thịt nấm có màu trắng, mềm đặc

Sợi nấm khi còn non có màu trắng và chuyển dần sang vàng khi sợi nấm già Trên giá thể nuôi trồng, sợi nấm đẩy lên thành dạng búi chỉ bao quanh các hạt ngũ cốc và có màu hơi vàng ở vùng trưởng thành

Trang 21

Bào tử đính thứ sinh trong suốt, nhẫn, hình cầu và có đường kính 4 - 2µm Dấu vết bào tử màu trắng Khi nuôi cấy trên moi trường khoai tây thì phát triền thành hệ sợi dày, trắng muốt

Hình 2.2 Nấm ngọc châm trắng – Nấm ngọc châm nâu

Nguồn: Internet

2.2.3 Giới thiệu về nấm đùi gà (nấm sò vua) Pleurotus eryngii

2.2.3.1 Giới thiệu chung về nấm đùi gà

Nấm đùi gà hay gọi là nấm sò vua là loại nấm ăn ngon, giá trị dinh dưỡng

và dược học cao Quả thể có kích thước lớn, hình dạng đẹp, do những ưu điểm

này mà nấm được gọi là : “King Oyster mushroom” Cũng như nhiều loại nấm

khác nấm Sò vua hiện nay sản phẩm nấm tươi trên thị trường chủ yêu nhập từ Trung Quốc, tuy nhiên hiện nay đã được Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật nghiên cứu nuôi theo phương pháp truyền thống bao gồm : 43% bông phế thải + 43% mùn cưa + 6 % bột ngô + 7 % cám gạo + 1% CaCO3 Trong điều kiện nhà lạnh nhân tạo (Đinh Xuân Linh, 2010)

2.2.3.2 Đặc điểm hình thái nấm đùi gà

Nấm Sò vua: Quả th sinh trưởng đơn hoặc sinh trưởng cụm rộng 2-12cm, lúc đầu tròn lồi sau đó phẳng, khi già đỉnh mũ nấm lõm xuống Bề mặt mũ nấm bóng, nâu đen khi non, khi già chuyển sang màu trắng xám, vành chính giữa có những sợi nâu đen tỏa ra bốn phía Khi còn non vành quanh mếp mũ cuộn vào bên trong, khi trưởng thành chuyển sang dạng lượn sóng hoặc xẻ thùy Thịt nấm nạc, khá dày, phiến nấm xếp xít nhau, sinh trưởng men xuống cuống Chân nấm trắng, kích thước 2-8 x 0,5-3cm Bụi bào tử màu trắng, bào tử hình elip trụ, kích thước 3-4 x 7-8,5μm (Wang, 2006; Trinh Tam Kiệt, 2012)

Trang 22

Hình 2.3 Nấm đùi gà

Nguồn: Internet

2.3 YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH

2.3.1 Nấm kim châm Flammulina velutipes (Fr.) Sing

2.3.1.1 Ảnh hướng yếu tố ngoại cảnh tới sinh trưởng, phát triển nấm kim châm

Cũng như các loại nấm khác, nấm kim châm cũng bị ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến sinh trưởng và phát triển:

Nồng độ pH môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của nấm,

pH thích hợp cho nấm kim châm từ 4 – 7 (Nguyễn Lân Dũng, 2010)

Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt tính của enzyme do đó ảnh hưởng đến hoạt động trao đổi chất và sinh trưởng của nấm Nhiệt độ cũng ảnh hướng đến khả năng chống chịu với bệnh dịch của nấm Phạm vi nhiệt độ ra quả thể hẹp hơn phạm vi nhiệt độ sinh trưởng sinh dưỡng của nấm Nấm kim châm có khả năng phát triển sợi trong khoảng 3 - 30oC nhưng nhiệt độ tối ưu để phát triển sợi là 20

- 25oC Ở giai đoạn ra quả thể nấm kim châm cần có sự chênh lệch về nhiệt độ để kích thích mầm và kéo dài chân nấm Nhiệt độ ra quả thể nấm kim châm khoảng

10 - 14oC, để có nấm thương phẩm đẹp trong giai đoạn ra quả thể cần hạ nhiệt độ xuống 3 - 8oC để kéo dài thân nấm (Martin Hofrichte, 2010)

Độ ẩm có vai trò quan trọng trong việc phát triển của hệ sợi và năng suất chất lượng nấm Độ âm trong cơ chất thông thường từ 60 - 70%, độ ẩm không

Trang 23

khí trong giai đoạn nuôi sợi khoảng 65 - 75%, trong giai đoạn phát triển quả thể khoảng 85 - 95% Độ ẩm nguyên liệu thích hợp cho nấm kim châm khoảng 60 – 65% Độ ẩm không khí khi nuôi sợi khoảng 60 - 70%, độ ẩm không khí trong giai đoạn ra quả thể thích hợp từ 80 - 85%

Ánh sáng gần như là yếu không cần thiết trong quá trình sinh trưởng của nấm kim châm Tuy nhiên giai đoạn ra quả thể cần ánh sáng khuếch tán 800lux Nồng độ độ Co2 có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của nấm Trong giai đoạn ươm sợi cần chú ý đảm bảo phòng nuôi thông thoáng Hàm lượng CO2 ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của quả thể Khi hàm lượng CO2

trong phòng đạt 0,114 % - 0,152% (Zhao, G.J.1990) sự sinh trưởng của mũ nấm

bị ức chế, chân nấm dài Trong giai đoạn quả thể nấm kim châm phát triển kéo thẳng túi nấm, nếu là nuôi ở chai khi quả thể mọc ra khỏi miệng chai 2-3 cm, ta đặt ống giáy vào… Mục đích của biện pháp này là để giảm thiểu sự thông thoáng tăng nồng độ CO2, nhờ vậy mà ức chế sự sinh trưởng của mũ nấm, làm chân nấm dài, vì thể mà chân nấm kim nuôi dài hơn chân nấm kim doang dại

2.3.1.2 Ảnh hưởng của thành phần dinh dưỡng đến sinh trưởng của nấm kim châm

Nấm kim châm cũng như các loại nấm khác trong tự nhiên đều mọc trên các loại thực vật bị hỏng hoặc bị hoai mục (phế thải thự vật) giàu cenllulose, nấm

có khả năng phân hủy mạnh các hợp chất hữu cơ Nấm là một loài dị dưỡng nên nấm cần được cung cấp một lượng cacbon để phát triển, nguồn cacbon chính thích hợp cho sợi nấm phát triển gồm Monasaccharide, Oligosaccharide, Polysaccharide tồn tại ở dạng như đường Glucose, Saccharose, Glactose, tinh bột, Cellulose Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sợi nấm sinh trưởng thích hợp ở nồng độ đường 1 - 2% Ở giai đoạn mầm quả thể sự tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào nguồn dinh dưỡng cacbon Theo kết quả nghiên cứu nấm sinh trưởng trên đường hỗn hợp tốt hơn trên đường đơn

Một nguồn dinh dưỡng quan trọng để nuôi dưỡng sợi nấm đó là Nitơ Đây

là nguyên liệu không thể thiếu để hợp thành các axit amin và axit nucleic Nếu nguồn nitơ không đủ thì sẽ ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát dục của quả thể nấm kim châm Trong môi trường nuôi nấm kim châm cần bổ sung thêm nitơ mới có thể xúc tiến sinh trưởng của hệ sợ, rút ngắn thời gian ra nấm và tăng năng suất sản phẩm Hệ sợi nấm kim châm có thể sử dụng các nguồn nito như đạm

Trang 24

hữu cơ, axit amin, và các loại đạm vô cơ Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ C/N trong môi trường nuôi nấm kim châm có tỷ lệ 20-40:1

Khoáng và vitamin cũng vô cùng quan trọng với nấm kim châm Các nguồn khoáng của nấm kim châm:

+ Muối vô cơ: đây là nguồn khoáng không thể thiếu trong sinh trưởng phát dục của nấm;

+ Photpho: là nguyên tố cần thiết cho quá trình tổng hợp ATP, Nucleic axit, photpho lipit… nồng độ thích hợp cho sự phát triển của nấm là 0,004M

(Miles et al., 1993);

+ Kali là nguyên tố có vai trò cofactor trong nhiều Enzyme cần thiết cho quá trình phân hủy nguyên liệu của nấm Nồng độ kali thích hợp cho sự sinh

trưởng của nấm là 0.001 – 0.004M (Miles et al., 1993);

+ Lưu huỳnh cũng là nguyên tố cần thiết cho sự sinh trưởng của nấm, nguồn cung cấp lưu huỳnh thường là các muối FeSO4, MgSO4 nồng độ thích hợp khoảng 0,001 – 0,006M Lưu huỳnh cũng đóng vai trò cấu tạo nên các Enzyme,

các amini acid như cystein, Methionin (Miles et al., 1993)

Ngoài ra Mg, Cu, Zn, Fe cũng không thể thiếu đối với sự sinh trưởng của

sợi nấm (Miles et al., 1993)

Vitamin cho giai đoạn ra quả thể cao hơn ở giai đoạn sinh trưởng sợ nấm Vitamin có hoạt tính xúc tác và giữ chức năng như một coenzyme

Ngoài ra nấm kim châ cũng cần một lượng nhỏ các nguyên tố vi lượn và một số loại vitamin B1, B2 (Nguyễn Lân Dũng, 2010)

2.3.2 Nấm ngọc châm Hypsizigus marmoreus

2.3.2.1 Ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh đến sinh trưởng của nấm ngọc châm

pH môi trường ảnh hưởng đến hoạt tính của Enzyme trong nấm và khả năng hòa tan các hợp chất vì vậy pH thích hợp cho các loại nấm phá gỗ là 4,5 – 6,5 và với Ngọc Châm pH thích hợp là 5,5 – 6,5

Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt tính của enzyme do đó ảnh hưởng đến hoạt động trao đổi chất và sinh trưởng của nấm Nhiệt độ cũng ảnh hướng đến khả năng chống chịu với bệnh dịch của nấm Ở giai đoạn phát triển sợi nấm ngọc châm có khả năng phát triển sợi trong khoảng nhiệt độ 9 – 30oC Đối với nấm ngọc châm nguồn gốc Nhật Bản hệ sợi phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ 23 – 27oC, với nấm ngọc

Trang 25

châm có nguồn gốc từ Châu Âu thì hệ sợi phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ từ

23-28oC, nhiệt độ tối ưu cho sợi nấm phát triển là khoảng 21 – 24oC

Độ ẩm có vai trò quan trọng trong quá trình nuôi trồng nấm, nó ảnh hưởng nhiều đến khả năng phát triển hệ sợi và năng suất chất lượng nấm

Độ ẩm trong cơ chất và độ ẩm tương đối trong không khí ở các nấm khác nhau không hoàn toàn giống nhau Độ ẩm thich hợp nhất từ 60 – 65% Độ ẩm không khí trong giai đoạn nuối sợi nên duy trì trong khoảng 60 – 70% Ở giai đoạn phát triển quả thể cần duy trì ẩm độ ở mức cao hơn, khoảng 85 - 90%

Trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng nấm ngọc châm không cần ánh sáng vì ánh sáng mạnh kìm hãm sự sinh trưởng của nấm Trong giai đoạn ra quả thể cần có ánh sáng khuếch toán (Miles, 1993)

Đối với nấm ngọc châm nồng độ CO2 khoảng 0,6% làm tăng sinh trưởng của nấm, từ 0,4 – 0,6% ức chế sự hình thành mầm quả thể, từ 0,2 – 0,4% quả thể

có chân dài, mũ nhỏ, mỏng (Vedder, 1978)

2.3.2.2 Ảnh hưởng của thành phần dinh dưỡng đến sinh trưởng của nấm ngọc châm

Nấm ngọc châm là sinh vật dị dưỡng vì vậy cần được cung cấp lượng Carbon thích hợp cho sợi nấm phát triển Nguồn carbon thích hợp cho nấm ngọc châm là Monasaccharide, Oligosaccharide, Polysaccharide tồn tại ở dạng như đường Glucose, Saccharose, Glactose, tinh bột, Cellulose

Giống như nấm kim châm, nấm ngọc châm cũng cần nồng độ đường để sinh trưởng phát triển khoảng 2% (Miles,1993) Nấm cũng có thể sử dụng một số nguồn Carbon không phải Carbonhydrate như Ethanol, Glycerin (Sugimori, 1971) Ở giai đoạn mầm quả thể, sự tăng trưởng trong giai đoạn này phù thuộc nhiều vào nguồn Carbon

Nitơ là nguồn dinh dương cơ bản trong thành phần nuôi sợi nấm Trong môi trường nuôi nấm ngọc châm cần bổ sung thêm nitơ mới xúc tiến sinh trưởng của hệ sợi, rút ngắn thời gian ra nấm, tăng năng suất sản phẩm Đối với nấm ngọc châm nguồn nitơ hữu cơ thích hợp hơn nitơ vô cơ Nguồn nitơ hữu cơ thường dùng trong nuôi trồng nấm ngọc châm là cám gạo, cám ngô…

Tỷ lệ C/N rất quan trọng đối với sinh trưởng của nấm Mỗi loại nấm khác

Trang 26

nhau có nhu cầu C/N khác nhau Sợi nấm Ngọc châm phát triển tốt trên cơ chất (Nguyễn Thị Trang, 2009):

+ Mùn cưa với tỷ lệ C/N là 66,67;

+ Mùn cưa và bã mía với C/N là 54,32;

+ Mùn cưa và bã mía bổ sung cám gạo là: 65,71;

+ Mùn cưa và bã mía bổ sung DAP là 66,20

Những kết quả nghiên cứu của Miles (1993) về nồng đô các nguyên tố phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của nấm:

+ Photpho: là nguyên tố cần thiết cho quá trình tổng hợp ATP, Nucleic axit, photpho lipit… nồng độ thích hợp cho sự phát triển của nấm là 0,004M

(Miles et al., 1993)

+ Kali là nguyên tố có vai trò cofactor trong nhiều Enzyme cần thiết cho quá trình phân hủy nguyên liệu của nấm Nồng độ kali thích hợp cho sự sinh

trưởng của nấm là 0.001 – 0.004M (Miles et al., 1993)

+ Lưu huỳnh cũng là nguyên tố cần thiết cho sự sinh trưởng của nấm, nguồn cung cấp lưu huỳnh thường là các muối FeSO4, MgSO4 nồng độ thích hợp khoảng 0,001 – 0,006M Lưu huỳnh cũng đóng vai trò cấu tạo nên các Enzyme,

các amini acid như cystein, Methionin (Miles et al., 1993)

+ Mangan tham gia hoạt hóa Enzyme trao đổi chất, nồng độ thích hợp cho nấm là 0,001M

Ngoài ra Mg, Cu, Zn, Fe cũng không thể thiếu đối với sự sinh trưởng của

sợi nấm (Miles et al., 1993)

Viatamin đóng vai trò rất quan trọng trong sự sinh trưởng và phát triển của nấm đặc biệt giai đoạn ra quả thể và sinh trưởng hệ sợi

Vitamin thích hợp cho nấm ngọc châm là vitamin B1 và vitamin B (Nguyễn Lân Dũng, 2001)

2.3.3 Nấm đùi gà (nấm sò vua) Pleurotus eryngii

2.3.3.1 Ảnh hưởng yếu tố ngoại cảnh đến sinh trưởng của nấm đùi gà

Cùng với việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, nấm muốn sinh trưởng tốt phải được nuôi trong điều kiện, nhiệt độ, đổ ẩm, pH, ánh sáng phù hợp nhất Sinh trưởng của nấm Sò vua bao gồm hai giai đoạn: giai đoạn sinh trưởng

Trang 27

sinh dưỡng và giai đoạn sinh trưởng hình thành quả thể nấm Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng hình thành các sợi nấm phân nhánh dạng sợi gọi là hệ sợi nấm Sau khi hệ sợi nấm trưởng thành, gặp các điều kiện thuận lợi kích thích sự hình thành mầm quả thể, đó là giai đoạn hình thành cơ quan sinh bào tử Sự hình thành mầm quả thể có được kích hoạt bởi những cú sốc môi trường như tiếp xúc với ánh sáng, tăng nồng độ oxy và sốc nhiệt độ (Chang, 2008)

Nhiệt độ tối thích cho sự sinh trưởng của hệ sợi nấm sò vua khoảng 25oC – 30oC Tuy nhiên với sự hình thahf quả thể của các chủng khác nhau cần khoảng nhiệt độ khác nhau Nấm sò vua cần nhiệt độ lạnh khoảng 10oC – 15oC trong một

số ngày để kích thích sự hình thành quả thể, khi đã hình thành mầm, nhiệt độ để quả thể sinh trưởng tăng lên 13 – 15oC (Wang, 2006)

Phần lớn nấm yêu cầu độ ẩm cao, độ ẩm nguyên liệu từ độ ẩm giá thể khoảng 65 – 70% là điều kiện tối ưu cho nấm sinh trưởng, phát triển (Trịnh Tam Kiệt, 2012).Giai đoạn nuôi sợi nấm sò vua chi đòi hỏi độ ẩm không khó 70-75%

Để hình thành nấm quả thể nấm cần độ ẩm cao từ 95 – 100% nhưng khi nấm đã gần trưởng thành thì độ ẩm lại thấp hơn khoảng 85 – 90% (Wang, 2006)

Theo Wang (2006) đã chứng minh pH thích hợp nhất cho sợi nấm sò vua

là 6,5 – 7

Wang (2006) đã chứng minh gai đoạn nuôi sợi nấm Sò vua cần nuôi trong điều kiện tối hoàn toàn, trong khi giai đoạn hình thành mầm quả thể và giai đoạn quả thể sinh trưởng nấm yêu cầu cường độ ánh trong khoảng 500 – 1000 lux Nấm là sinh vật hiêu khí, sử dụng oxi, nhả khí cacbonic Hệ sợi nấm Sò vua có thể sinh trưởng trong điều kiện nồng độ cacbonic 5000 – 20.000 ppm, còn trong quá trình hình thành và phát triển quả thể, nồng độ cacbonic cần thấp hơn

từ 500 -1000ppm (Wang, 2006) Do đó khi nấm Sò vua hình thành mầm quả và phát triển thành quả thể thành thục, phòng cần thông thoáng, tạo điều kiện cho quả thể nấm đạt chất lượng tốt, quả thể không dị dạng

2.3.3.2 Ảnh hưởng của thành phần dinh dưỡng đến sinh trưởng, phát triển của nấm đùi gà

Trong quá sinh trưởng, phát triển, nấm Sò vua chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Các tác nhân ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Các tác nhân ảnh hưởng đến

sụ hình thành quả thể của nấm có thể chia làm 3 loại: Các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ pH, nồng độ CO2 và tốc độ gió cũng như vai trò

Trang 28

của vi sinh vật khác cùng chung sống trong hệ sinh thái; các chất dinh dưỡng cần thiết; vai trò điều khiển các hoocmon, sự hiện diện và hoạt động đóng mở của các gen thông qua hệ thống thông tin chuyên hóa cũng như các chất trao đổi trong quá trình trao đổi chất của nấm (Trịnh Tam Kiệt, 2012)

Theo wang (2006) nấm sò vua có thể nuôi trồng tốt trên mùn cưa, vỏ hạt bông, lõi ngô, ngoài ra còn rơm lúa gạo và rơm lúa mì Các chất bổ sung trong quá trình nuôi trồng gồm bột đậu tương, cám gạo và bột ngô, Ca(OH)2, CaCO3

Nguyên liệu lúa mì rơm, rơm rạ, mùn cưa, dăm gỗ,bã mía, vỏ hạt bông, thân lõi ngô, cám gạo, cám lúa mì… có chưa nhiều lignocellulose được sử dụng

nhiều nhất cho việc sản xuất các loại nấm ăn nấm dược liệu (Kirbag et al., 2008; Rodriguez et al., 2008; Saber et al., 2010)

Khoảng một nửa trọng lượng khô tế bào nấm được tạo thành từ carbon.Nấm đòi hỏi một lượng lớn caron, nhiều hơn bất kỳ nguyên tố nào khác Nấm có sự phân biệt khác nhau rất lớn trong khả năng sử dụng các nguồn carbon khác nhau (Trịnh Tam Kiệt, 2012)

Nguồn carbon thường là muối carbonat, muối của các acid hữu cơ, cellulose, pectin, ligin của rơm rạ ngũ cốc, bông sợi, mùn cưa Glucoser là

carbon tốt nhất để kích thích tăng trưởng của hệ sợi (Hassan et al., 2012)

Đạm là yêu cầu cơ bản trong nuôi sợi nấm thường là các loại bột cám ngô, cám gạo cám mỳ… Đối với các loại cám này thường ở mức 5% là đạt hiệu quả cho phát triển sợi tốt nhất (Nguyễn Lân Dũng, 2010)

Trong môi trường nuôi cấy sợi các nguyên tố khoáng là khổng thể thiếu được Những muối khoáng quan trọng nhất bao gồm: Phốt pho, canxi, lưu huỳnh, kali, magie, silic… các nguyên tố này nhìn chung được hấp thụ dưới dạng vô cơ (Trịnh Tam Kiệt, 2012)

Đối với nấm đùi gà vitamin cần cho sự sinh trưởng và hình thành quả thể của nấm là vitamin B1, B2, B6, B12, vitamin K( Trịnh Tam Kiệt, 2012)

2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG GIÁ THỂ TRỒNG

2.4.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng giá thể trồng nấm trên thế giới

Trong những năm gần đây, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài loan là những nước có ngành công nghiệp sản xuất nấm ăn rất phát triển, đặc biệt có những bước tiến đáng kể trong nghiên cứu sử dụng các loại cơ chất có sẵn rẻ tiền

Trang 29

mà đem lại năng suất và chất lượng cao cho nấm:

Nấm sò vua nuôi trồng thành công trên nhiều chất thải nông nghiệp và công nghiệp khác nhau bao gồm rơm rạ,mùn cưa, rơm lúa mì, bông phế thải, vỏ lạc, bã

mía, lúa mì, cám gạo, kê và đậu tương (ohga et al., 2004; Okano et al., 2007)

Biswas (2011) đã thử nghiệm nuôi cấy 2 chủng nấm sò vua trên 3 công thức phối trộn khác nhau : 100% bã hạt bia; 75 bã hạt bia + 25% cám mì; 50% bã hạt bia + 50% cám mì, 3 công thức được bổ sung hàm lượng nước khác nhau theo tỷ lệ 1:20, 1:10 và 1:15 Kết quả nghiên cứu cho biết đường kính sợi của cả

2 chủng nấm sinh trưởng nhanh nhất trên công thức 50% bã hạt bia + 50% cám

mì với tỷ lệ nước 1: 20, cũng công thức phối trộn này tỷ lệ nước 1:5 cho độ dày sợi đạt cao nhất

Sự tăng trưởng sợi nấm và năng suất của nấm Sò vua bị ảnh hứn rất nhiều bởi các chất bổ sung và tỷ lệ các chất phối trộn trong môi trường Một

số tác giả cho rằng hiệu suất sinh học cao nhất đạt 73% khi bổ sung 20% hạt bia khô, trong khi bổ sung bia khô vào môi trường rơm lúa mì thì khó thấy đậu quả Việc này được giải thích rằng do nấm Sò vua phát triển tốt trên nguyên liệu phụ của ngành sản xuất bia không chỉ do sản phẩm này có hàm lượng protein cao mà còn do độ ẩm cao và tính chất vật lý khác như kích thước hạt, độ xốp, khả năng giữ nước

Wang (2006) đã nghiên cứu nuôi trồng nấm Sò vua trên nhiều loại nguyên liệu phối trộn khác nhau và rút ra kết luận công thức phối trộn gồm 40% vỏ hạt bông, 40% mùn cưa, 18% cám mì hoặc cám gạo, 1% CaSO4, 1% Ca(OH)2 cho năng suất cao nhất khi trồng tại miền Bắc Trung Quốc

Theo Peng (2010), nấm Sò vua nuôi trồng chủ yếu trên mùn cưa có bổ sung dinh dưỡng, ngoài ra còn trồng trên bông phế thải, rơm rạ Tuy nhiên cần bổ sung dinh dưỡng để đạt năng suất cao

Một số công đoạn tiền xử ly như bổ sung các chất dinh dưỡng vào nguyên liệu là cần thiết Năng suất của nấm Sò tím (P.ostreatus) thu được thấp hơn nhiều khi trồng trên mùn cưa ươi so với trên mùn cưa đã ủ có bổ sung cám hỗn hợp

(Obodai et al., 2003)

Theo Wang (2006), nguyên liệu mùn cưa nên làm ẩm trước khi nuôi trồng

30 ngày để nước được thẩm thấu vỏ hạt bông nên được làm ướt trước 5 ngày theo tỷ lệ nguyên liệu/nước là 1:3

Trang 30

Cũng như cơ chất thì thành phần và tỉ lệ chất phụ gia trong giá thể trồng nấm là vô cùng quan trọng Đây được chứng minh là một nguồn cacbon hữu cơ quan trọng bổ sung cho nấm trong quá trình sinh trưởng và phát triển Nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của chất phụ gia:

Torng et al (2000) chứng minh hiệu quả sinh học và hiệu quả sản xuất

của nấm Sò vua tăng dần đáng kể khi bổ sung cám gạo vào nguyên liệu nuôi trồng đến ngưỡng cho phép Năng suất của nấm Sò vua cao nhất khi bổ sung cám gạo ở mức 38,08% song năng suất lại bị giảm đáng kể khi bổ sung mức cám gạo tăng lên 47,95%

Trồng nấm Sò vua trên hỗn hợp rơm lúa mỳ, bông và rơm kê bổ sung 15%

cám gạo cho năng suất cao nhất 73% (Akyuz et al., 2007) Nghiên cứu của

Kribag and Akyuz (2008) cho thấy năng suất nấm sò vua cao nhất 23,2g/100g nguyên liệu đủ ẩm và hiệu quả sinh học đạt 77,2% khi phối trộn rơm lúa mỳ và bông với 20% cám gạo, trong khi giảm lượng bổ sung cám gạo xuống 10% thu được năng suất thấp hơn rất nhiều

Theo Wang (2006) ngoài cơ chất và vỏ hạt bông và mùn cưa, cần bổ sung cám mì hoặc cám gạo, CaSO4, Ca(OH)2 ở tỉ lệ thích hợp sẽ cho nắng suất đạt tôi đa

Nấm Sò vua nuôi trồng chủ yếu trên mùn cưa có bổ sung dinh dưỡng, ngoài ra còn trồng trên bông phế thải, rơm rạ… cám gạo và cám mỳ là nguồn dinh dưỡng cần thiết phải bổ sung trong quá trình nuồi trồng loại nấm này (Peng, 2010)

Rodriguez and Royse (2007) ghi nhận nấm Sò vua cho năng suất quả thể cao hơn đáng kể khi trồng trong nguyên liệu có chứa một lượng nhỏ mangan

Hệ sợi nấm Ngọc châm sinh trưởng mạnh trong môi trường có chứa bột ngô, cám gạo,pepton, KH2PO4 Các nguyên liệu bổ sung trong nuôi trồng nấm

Ngọc châm thường là bột ngô, cám gạo, cám mạch, đậu tương… (Lomberth et

al., 2000)

2.4.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng giá thể trồng nấm tại Việt Nam

Một số công thức phối trộn phổ biến ở ngước ngoài cho năng suất và chất lượng nấm ngọc châm cao (Nguyễn Lân Dũng, 2010)

Trang 32

Theo Lưu Minh Loan (2016) đăng trên tạp chí khoa học của ĐHQGHN,

cơ chất lõi ngô nghiền trước khi ủ có tỉ lệ C/N 116,43 sau khi trồng nấm tỷ lệ này còn 44,79

Nguyễn Thị Bích Thùy (2016) đăng trên tạp chí KH Nông Nghiệp Việt Nam cho thây nấm đùi gà có thể trồng trên nguồn nguyên liệu khác nhau: rơm rạ, mùn cưa, lõi ngô nghiền, cám gạo, công thức 40% rơm rạ + 20% lõi ngô +19% mùn cưa +20% cám gạo + 1% CaCO3 cho sinh trưởng và hiệu quả sinh học cao 59,4%

Võ Hoàng Thi (2017) nguyên liệu bã mía sau khi ủ có hàm lượng C/N 38,08 Một số công thức phối trộn đang được áp dụng tại một số công ty sản xuất nấm:

Công ty Kinoko Thanh Cao: sử dụng cơ chất mùn cưa + lõi ngô + cám ngô + đường cho năng suất nấm kim châm rất cao 0,5 kg/lọ Kỹ thuật chăm sóc

và công thức phối trộn giá thể trồng được chuyển giao từ chuyên gia Nhật Bản Công ty nấm Phùng Gia – Thị Trấn Phương Canh –Huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc: sử dụng cơ chất mùn cưa + lõi ngô bổ sung cám ngô và cám gạo cho năng suất nấm đùi gà cao 0,5kg/lọ, công thức phối trộn học tại Hàn Quốc

Trang 33

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: giá thể trồng ba loại nấm kim châm, nấm ngọc châm, nấm đùi gà

Vật liệu nghiên cứu:

 Giống Nấm kim châm: Flammulina velutipes (Fr.) Sing giống cấp 3 dạng dung dịch, do Viện Di Truyền cung cấp;

 Giống Nấm đùi gà: Pleurotus eryngii giống cấp 3 trên cơ chất hạt, do Viện Di Truyền cung cấp;

 Giống Nấm ngọc châm: Hypsizygus marmoreus giống cấp 3 trên cơ chất hạt, do Viện Di Truyền cung cấp;

 Cơ chất trồng: mùn cưa, lõi ngô, đã qua xử lý đảo ủ theo quy chuẩn của Viện Di Truyền;

 Phụ gia gồm: cám gạo, cám mỳ, cám ngô, đường, bột nhẹ (CaCO3);

 Điều kiện trồng: nhà lạnh điều khiển nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ CO2 trong không khí tại Trạm Thực Nghiệm Nấm Văn Giang

 Nấm kim châm trắng (nhiệt độ - độ ẩm): giai đoạn nuôi sợi: 20oC – 65%, giai đoạn kích ra quả thể: 11oC –85%, giai đoạn nuôi quả thể

3.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Thời gian thí nghiệm: từ tháng 11/2017 - tháng 8 / 2018;

Địa điểm thực hiện: Trạm Thực Nghiệm Nấm Văn Giang – Xã Liên Nghĩa – Văn Giang

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ cơ chất, phụ gia đến năng

suất chất lượng nấm kim châm trắng Flammulina velutipes (Fr.) Sing

Trang 34

Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ cơ chất, phụ gia đến năng

suất chất lượng nấm đùi gà (nấm sò vua) Pleurotus eryngii

Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ cơ chất, phụ gia đến năng

suất chất lượng nấm ngọc châm (nấm hải sản) Hypsizygus marmoreus

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Bố trí thí nghiệm

Cả 6 thí nghiệm đều được bố trí theo kiểu RCD (ngẫu nhiên hoàn toàn) với 3 lần nhắc lại, mỗi công thức 30 bịch

3.4.2 Công thức và sơ đồ bố trí thí nghiệm

Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể đến năng suất chất

lượng nấm kim châm trắng Flammulina velutipes (Fr.) Sing

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ cơ chất đến năng suất chất lượng nấm kim châm trắng

Tỉ lệ phối trộn cơ chất mùn cưa, lõi ngô (%):

CC1: 50% mùn cưa – 40% lõi ngô (ĐC);

CC2: 60% mùn cưa – 30% lõi ngô;

CC3: 45% mùn cưa – 45% lõi ngô;

CC4: 30 % mùn cưa – 60 % lõi ngô

Ghi chú: nền chất phụ gia (10%) bao gồm: 4,5% cám ngô, 1,5% cám mỳ, 3% cám gạo, 0,5 % đường,

Trang 35

NL1 PG 1 PG 2 PG 3 PG 4 PG 5 PG 6

Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể đến năng suất chất

lượng nấm đùi gà (nấm sò vua) Pleurotus eryngii

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ cơ chất đến năng suất chất lượng nấm đùi gà

Tỉ lệ phối trộn cơ chất mùn cưa, lõi ngô, bã mía (%):

CC1: 35% mùn cưa – 35% lõi ngô – 25% bã mía (ĐC);

CC2: 25% mùn cưa – 55% lõi ngô – 15% bã mía;

CC3: 55% mùn cưa – 30% lõi ngô - 10% bã mía;

CC4: 70% mùn cưa – 20% lõi ngô – 15% bã mía

Ghi chú: nền phụ gia (5%) bao gồm: 0,8% cám ngô – 1,6% cám mỳ - 2,4% cám gạo – 0% đường – 0,2% bột nhẹ

Cám mỳ (%)

Cám gạo (%)

Đường (%)

Bột Nhẹ (%)

Trang 36

NL1 PG 2 PG 3 PG 5 PG 6 PG 1 PG 4

Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể đến năng

suất chất lượng nấm ngọc châm (nấm hải sản) Hypsizygus marmoreus

Thí nghiêm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ cơ chất đến năng suất chất

lượng nấm ngọc châm (nấm hải sản)

 Tỉ lệ phối trộn cơ chất mùn cưa, lõi ngô (%):

CC1: 50% mùn cưa – 40% lõi ngô (ĐC);

CC2: 30% mùn cưa – 60% lõi ngô;

CC3: 60% mùn cưa – 30% lõi ngô;

CC4: 45% mùn cưa – 45% lõi ngô

Ghi chú: nền phụ gia (10%) bao gồm: 1,4% cám ngô – 2,3% cám mỳ - 6% cám gạo – 0% đường – 0,3% bột nhẹ

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ phụ gia đến năng suất chất

lượng nấm ngọc châm (nấm hải sản)

Phụ gia Cám ngô

(%)

Cám mỳ (%)

Cám gạo (%)

Đường (%)

Bột Nhẹ (%) Công thức

Trang 37

3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3.4.2.1 Chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển

- Thời gian sinh trưởng của hệ sợi và quả thể

 Thời gian xuất hiện sợi nấm bắt đầu sinh trưởng phủ mặt

 Thời gian sinh trưởng tính từ khi cấy đến khi sợi nấm phủ kín bịch

 Thời gian bắt đầu xuất hiện quả thể

 Thời gian xuất hiện quả thể trưởng thành (ngày) tính từ khi cấy giống đến khi trưởng thành

 Thời gian quả thể thành thục

- Động thái tăng trưởng của hệ sợi và quả thể

 Tốc độ mọc của hệ sợi ( công thức V=D/T, v: tốc độ mọc hệ sơi, t thời gian từ khi sợi nấm phát triển đến khi sợi nấm bao phủ hoàn toàn, số ngày phát triển)

3.4.2.3 Chỉ tiêu sâu bệnh hại

 Đối tượng bệnh hại: nấm mốc trắng, nấm mốc xanh, nấm mốc đen

 Đôi tượng sâu hại: ruồi

 Mức độ bị hại: nặng, nhẹ (%)

 Tỉ lệ bịch bị nhiễm

3.4.2.4 Chỉ tiêu về chất lượng cảm quan

 Được đánh giá qua 02 giai đoạn : thu nấm lần 01 và thu nấm lần 02 được đánh giá qua các chỉ tiêu

 Quả thể: đường kính, chiều dài chân

 Thân nấm (đùi gà) : đường kính thân, đường kính mũ nấm

 Màu sắc, độ chắc thân nấm, mũ nấm

 Tỉ lệ cây nấm bị dị dạng( to nhỏ, mập gầy, độ cong)

3.4.2.5 Chỉ tiêu về năng suất

 Tổng số cụm nấm/ bịch, tổng số quả thể/bịch

 Số quả thể trên một cụm nấm,

Trang 38

 Khối lượng một cụm nấm (gam)

 Năng suất bịch : khối lượng nấm thu được/ bịch

 Năng suất thực thu theo bịch => 1000 bịch

 Năng suất trung bình thực tế/ công thức so với năng suất lý thuyết

 Khối lượng trung bình /bịch (gam/bịch)

3.4.2.6 Chỉ tiêu hạch toán kinh tế

Giá thể cơ chất: được đảo ủ theo quy chuẩn của Viện Di Truyền

Phối trộn giá thể theo từng công thức của từng nội dung thí nghiệm

Bịch được đóng bằng máy sử dụng túi PP chịu nhiệt với kích thước 17 cm

x 33 cm x 0,05 cm, trọng lượng 0,7 – 1 kg

Hấp bịch khử trùng: theo quy chuẩn của Viện Di truyền

Cấy giống: được cấy trong box khử trùng phương pháp theo quy chuẩn của Viện Di Truyền

Ươm sợi: tùy vào từng loại nấm ta có phương pháp khác nhau

Theo dõi chỉ tiêu sinh trưởng 5 bịch/ công thức thí nghiệm, lấy mẫu theo 5 điểm của đường chéo

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

Phân tích các chỉ tiêu trên dựa vào phần mềm IRRISTAT 4.0, Microsoft Excel 2013…

Trang 39

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TỈ LỆ PHỐI TRỘN GIÁ THỂ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ NẤM KIM CHÂM

4.1.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến thời gian sinh trưởng của hệ sợi và quả thể nấm kim châm trắng

Thời gian sinh trưởng của nấm kim châm được tính từ khi cấy giống đến khi quả thể nấm hương thành thục Trong khoảng thời gian ươm sợi chúng ta chia làm hai giai đoạn giai đoạn là sợi nấm bắt đầu sinh trưởng, giai đoạn sợi nấm dần phủ kín bịch Giai đoạn này rất quan trọng nó quyết định đến thời gian nuôi trồng dài hay ngắn, giai đoạn này chúng ta cũng đánh giá được mật độ hệ sợi nấm, quyết định đến chỉ tiêu năng suất sau này cho nấm kim châm

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến thời gian sinh

trưởng của hệ sợi và quả thể nấm kim châm trắng

Sợi nấm bắt đầu sinh trưởn

g

Sợi nấm phủ kín bịch

Xuất hiện quả thể

Quả thể trưởn

g thành

Trang 40

Công thức PG: % cám ngô + % cám mỳ + % cám gạo + % đường + % bột nhẹ

* Thí nghiệm tỉ lệ cơ chất:

Nhìn vào bảng 1 ta thấy CC4 thời gian sợi nấm bắt đầu sinh trưởngthể trồng là sớm nhất 02 ngày sau cấy, cũng với công thức này sợi thời gian để hệ sợi nấm phủ kín bịch là ngắn nhất 34 ngày, điều này là hoàn toàn hợp lý khi ta thấy rằng mật độ hệ sợi của CC4 là rất dày, có thể đánh giá hệ sợi nấm công thức này phát triển mạnh Chỉ 39 ngày sau cấy CC4 đã cho xuất hiện quả thể

và chỉ 45 ngày sau cấy quả thể nấm đã thành thục cho thu lần thứ 01 Đây là công thức tốt nhất tiềm năng nhất cho hệ sợi nấm kim châm trắng phát triển CC2 thời gian sợi nấm bắt đầu sinh trưởngthể trồng dài nhất 05 ngày và cũng cho thời gian hệ sợi ăn kín bịch giá thể trồng là dài nhất 44 ngày, mật độ hệ sợi của công thức này cũng rất mỏng, nhận xét với tỉ lệ như CC2 hệ sợi nấm phát triển yếu Ngoài ra thời gian để quả thể xuất hiện rất dài 53 ngày sau cấy và phải mất 7 ngày( từ khi quả thể xuất hiện) quả thể mới thành thục Đây là công thức không thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của nấm kim châm trắng

CC1 và CC3 cho thời gian sợi nấm bắt đầu sinh trưởng là tương đồng nhau, thời gian để hệ sợi nấm ăn kín bịch giá thể trồng là gần như tương đương, từ khi cấy đến khi quả thể thành thục lần lượt là 53 và 51, mật độ hệ sợi CC3 có tốt hơn mật độ hệ sợi nấm của CC1 Nhận xét với CC1 và CC3 cho thời gian sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm và quả thể nấm kim châm trắng không có sự chênh lệch nhiều

Nhận xét: Nhận thấy với CC4 tỉ lệ cơ chất mùn cưa thấp, tỉ lệ cơ chất lõi ngô nhiều rất thích hợp cho nấm kim châm trắng phát triển hệ sợi Điều này có thể được lý giải rằng hệ sợi nấm kim châm trắng ưa cơ chất thông thoáng giàu hàm lượng dinh dưỡng cao và cơ chất lõi ngô đáp ứng rất tốt cho

sự sinh trưởng và phát triển của hệ sợi của nấm kim châm trắng Tuy nhiên còn phải xem xét các khía cạnh khác để đưa ra được nhận định chính xác nhất

* Thí nghiệm tỉ lệ phụ gia

PG 5 và PG 6 cho thời gian hệ sợi nấm kim châm trắng ăn vào bịch là nhanh nhất 4 ngày Nhưng PG 5 và PG 6 thể hiện sự chênh lệch nhau về thời gian hệ sợi nấm kim châm trắng phủ kín bịch, PG 5 cho thời gian hệ sợi phủ kín bích nhanh nhất 39 ngày và cho thời gian xuất hiện quả thể là sớm nhất 45 ngày và cho thời gian từ khi cấy đến khi quả thể thành thục sớm nhất 53 ngày,

Ngày đăng: 05/04/2022, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Biswas P. (2011). Evaluation of Brewers' Spent Grain as Low-cost Substrate for the Cultivation of Pleurotuseryngii (King Oyster Mushroom). The Graduate School, University of Wisconsin-Stout.https://issuu.com/gekko1984/docs/evaluation_of_brewers__spent_grain Link
1. Đinh Xuân Linh, Thân Đức Nhã, Nguyễn Hữu Đống, Nguyễn Duy Trình và Ngô Xuân Nghiễn (2012). Kỹ thuật trồng và chế biến nấm ăn nấm dược liệu. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
2. Đường Hồng Dật (2003). Kỹ thuật trồng nấm mỡ, nấm rơm, nấm sò, nấm hương. Nhà xuất bản Hà Nội Khác
3. Lưu Minh Loan (2016). Bước đầu nghiên cứu xử lý lõi ngô làm cơ chất nuôi trồng nấm sò trắng (Pleurotus florida). Tạp chí Khoa học ĐHQG các khoa trái đất và môi trường. 32 (1). tr. 254 – 259 Khác
4. Nguyễn Lân Dũng (2004). Công nghệ nuôi trồng nấm. tập 01,02. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Thị Bích Thùy (2016). Đánh giá sinh trưởng và năng suất của nấm sò vua (Pleurotus eryngii (DC.Fr) Quel) trên nguyên liệu nuôi trồng khác nhau. Tạp chí KH Nông nghiệp Việt Nam. 14 (5). tr. 816-823 Khác
6. Nguyễn Thị Thu Trang và Lê Duy Thắng (2009). Nghiên cứu thành công một số loại nấm mới: nấm Ngọc châm. Trường Đại học khoa học tự nhiên TP.HCM Khác
7. Trịnh Tam Kiệt (2010). Hệ thống của nấm tới các taxon lớn theo quan điểm hiện đại. Di truyền học và ứng dụng - Chuyên san Công nghệ sinh học. Tr. 72-77 Khác
8. Trịnh Tam Kiệt (2011). Nấm lớn ở Việt Nam. Tập 01. Tái bản lần thứ 2. Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Khác
9. Trịnh Tam Kiệt (2012). Nấm lớn ở Việt Nam. Tập 2. Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Khác
10. Võ Hoàng Anh Thy (2017). Nghiên cứu tỷ lệ phối trộn rơm rạ, bã mía để sản xuất giá thể và sử dụng giá thể để trồng rau. Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một.03 (34) – 2017.II. Tài liệu tiếng Anh Khác
11. Akyuz M. and A. Yildiz (2007). Cultivation of Pleurotus eryngii (DC. ex Fr Quel on agricultural wastes. Philippine Agricultural Scientist, 90(4).pp.346-350 Khác
13. Cha W.S., S.S. Park, S.J. Kim and D. Choi (2010). Biochemical and enzymatic properties of a fibrinolytic enzyme from Pleurotus eryngi iculitvated under solid- state conditions using corn cob. Bioresource Technology, (101). pp. 6475-6481 Khác
14. Chang S. T. (2006). The world mushroom industry: Trends and technological development. International Journal of Medicinal Mushrooms, (8). pp. 297-314 Khác
15. Chang S. T. (2008). Overview of mushroom cultivation and utilization as functional foods . Mushrooms as Functional Foods. pp.1-33 Khác
16. Cheng K.F. and P.C. Leung (2008). General review of polysaccharopeptides (PSP) from C. versicolor: pharmacological and clinical studies. Cancer therapy, (6). pp. 117-130 Khác
17. Hassan F.R.H., G.M. Medany and S.D. Hussein (2010). Cultivation of the king oyster mushroom (Pleurotus eryngii )in Egypt. Australian Journal of Basic and Applied Sciences, 4(1). pp. 99-105 Khác
18. Hassan F.R.H., M.M. Ghada and A.T.M. El-Kady (2012). Mycelial Biomass Production of Enoke Mushroom (Flammulina velutipes) by Submerged Culture, Australian Journal of Basic and Applied Sciences, 6(7). pp. 603-610 Khác
19. Horr W.H. (1936). Utilization of galactose by Aspergillus niger and penicillium glaucum. Plant physiology,(11). pp. 81 – 99 Khác
20. Ikekawa T. (1995). Bunashimeji Hypsizygus marmoreus antitumor activity of extract and polysacharides. Food review International 11 (1). pp . 2007 – 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Nấm kim châm nhân tạo – nấm kim châm trong tự nhiên - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
Hình 2.1. Nấm kim châm nhân tạo – nấm kim châm trong tự nhiên (Trang 20)
Bào tử đính thứ sinh trong suốt, nhẫn, hình cầu và có đường kính 4- 2µm Dấu vết bào tử màu trắng - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
o tử đính thứ sinh trong suốt, nhẫn, hình cầu và có đường kính 4- 2µm Dấu vết bào tử màu trắng (Trang 21)
Hình 2.3. Nấm đùi gà - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
Hình 2.3. Nấm đùi gà (Trang 22)
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến thời gian sinh trưởng của hệ sợi và quả thể nấm kim châm trắng - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến thời gian sinh trưởng của hệ sợi và quả thể nấm kim châm trắng (Trang 39)
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài hệ sợi nấm kim châm trắng trưởng chiều dài hệ sợi nấm kim châm trắng - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài hệ sợi nấm kim châm trắng trưởng chiều dài hệ sợi nấm kim châm trắng (Trang 42)
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài hệ sợi nấm kim châm trắng trưởng chiều dài hệ sợi nấm kim châm trắng - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài hệ sợi nấm kim châm trắng trưởng chiều dài hệ sợi nấm kim châm trắng (Trang 42)
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến tình hình nhiễm bệnh của nấm kim châm trắng - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến tình hình nhiễm bệnh của nấm kim châm trắng (Trang 44)
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng tới năng suất và hiệu quả kinh tế của nấm kim châm - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng tới năng suất và hiệu quả kinh tế của nấm kim châm (Trang 46)
4.1.5. Ảnh hưởng của giá thể trồng tới đặc điểm hình thái cấu trúc của nấm kim châm trắng - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
4.1.5. Ảnh hưởng của giá thể trồng tới đặc điểm hình thái cấu trúc của nấm kim châm trắng (Trang 47)
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng tới thời gian sinh trưởng của hệ sợi và quả thể nấm đùi gà - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng tới thời gian sinh trưởng của hệ sợi và quả thể nấm đùi gà (Trang 49)
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài hệ sợi nấm đùi gà trưởng chiều dài hệ sợi nấm đùi gà - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài hệ sợi nấm đùi gà trưởng chiều dài hệ sợi nấm đùi gà (Trang 51)
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài hệ sợi nấm đùi gà trưởng chiều dài hệ sợi nấm đùi gà - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều dài hệ sợi nấm đùi gà trưởng chiều dài hệ sợi nấm đùi gà (Trang 51)
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến tình hình nhiễm bệnh của nấm đùi gà bệnh của nấm đùi gà - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến tình hình nhiễm bệnh của nấm đùi gà bệnh của nấm đùi gà (Trang 53)
PG3, PG4 có số lượng bịch nhiễ mở mức trung bình. - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
3 PG4 có số lượng bịch nhiễ mở mức trung bình (Trang 53)
4.2.5. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến đặc điểm hình thái cấu trúc của nấm đùi gà - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần giá thể nuôi trồng tới năng suất và chất lượng của một số loại nấm ăn
4.2.5. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn giá thể trồng đến đặc điểm hình thái cấu trúc của nấm đùi gà (Trang 55)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w