Tính c ấ p thi ế t c ủ a đề tài nghiên c ứ u
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo Đặc biệt, việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển khoa học - công nghệ được xác định là một trong ba khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Từ năm 2011 đến 2020, Việt Nam đã thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục, tập trung vào việc cải cách quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục từ trung cấp đến đại học Điều này nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết về nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng thời, việc xác lập triết lý giáo dục cũng đóng vai trò quan trọng như nền tảng tư tưởng chỉ đạo và tầm nhìn cho quá trình đổi mới giáo dục trong bối cảnh phát triển kinh tế.
Tự chủ đại học là xu thế phát triển quan trọng, cần thiết cho việc áp dụng các phương thức quản trị tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách trong giáo dục đại học, với sự ban hành của Đảng và Nhà nước nhiều chính sách như Nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về đổi mới cơ chế hoạt động cho một số cơ sở giáo dục đại học công lập và Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, thay thế Nghị định 43/2006/NĐ-CP Những chính sách này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục và giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.
Việc áp dụng các chính sách tạo điều kiện thuận lợi và tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học đã mang lại nhiều kết quả tích cực Đặc biệt, các đơn vị đánh giá cao cơ chế tự chủ tài chính, vì đây là yếu tố then chốt quyết định đến sự phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo.
Nguồn tài chính của các trường Đại học công lập chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước và các khoản thu khác, trong đó ngân sách nhà nước chiếm 30% - 40% và học phí cùng các nguồn thu khác chiếm 60% - 70% tổng nguồn thu Trung bình, các trường đại học tự đảm bảo khoảng 75% chi thường xuyên từ nguồn thu sự nghiệp (Tài chính, 2017).
Tỷ lệ đảm bảo chi thường xuyên bình quân của các trường Đại học công lập hiện nay chưa đủ để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao thu nhập cho cán bộ, giảng viên Để khắc phục tình trạng này, các trường phải tự cân đối bù đắp chi thường xuyên cho khối đào tạo chính quy từ các khoản thu như đào tạo liên kết trong và ngoài nước, đào tạo bằng đại học thứ 2, đào tạo thường xuyên và các khoản thu tự quy định khác như phí thi lại, phí bảo vệ luận văn và kiểm tra ngoại ngữ.
Trường Đại học Hùng Vương đang được UBND tỉnh Phú Thọ xác định là đơn vị đủ điều kiện giao vốn và thực hiện tự chủ tài chính, yêu cầu thay đổi cơ chế quản lý tài chính Hiện tại, nguồn thu của Trường đang thu hẹp, phân bổ kinh phí chưa khuyến khích nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học Cơ cấu chi chưa hợp lý và nhận thức về tài chính của một số đơn vị còn hạn chế Ngoài ra, các hoạt động liên doanh, liên kết và mở rộng dịch vụ công chưa được điều chỉnh hợp pháp, dẫn đến nguồn thu chỉ đáp ứng gần 50% tổng chi thường xuyên Những khó khăn này, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đào tạo, nghiên cứu và chiến lược phát triển của Trường trong thời gian tới.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
Nâng cao năng lực tự chủ của Trường Đại học Hùng Vương là vấn đề cấp thiết, vừa mang tính lý luận vừa thực tiễn, nhằm phát triển và cải thiện chất lượng đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học tại trường.
Câu hỏi nghiên cứu
1.Tự chủ là gì? Nội dung nâng cao năng lực tự chủ của trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ gồm những nội dung nào?
2.Có những tiêu chí nào đểđánh giá nâng cao năng lực tự chủ của trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ?
Trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ đang nỗ lực nâng cao năng lực tự chủ, tuy nhiên vẫn gặp phải nhiều thách thức Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này bao gồm cơ sở hạ tầng, chất lượng giảng viên, và sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương Để cải thiện năng lực tự chủ, trường cần tập trung vào việc phát triển chương trình đào tạo, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp và nâng cao khả năng quản lý tài chính.
Để nâng cao năng lực tự chủ của Trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ, cần xem xét và áp dụng những giải pháp hiệu quả Các giải pháp này sẽ được phân tích chi tiết trong luận văn, nhằm tìm ra cách thức cải thiện và phát triển bền vững cho nhà trường.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng năng lực tự chủ của trường Đại học Hùng Vương nhằm đề xuất các giải pháp cải thiện khả năng tự chủ của trường trong những năm tới Các giải pháp này sẽ giúp nâng cao chất lượng đào tạo và quản lý, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội và phát triển bền vững cho trường.
Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn vềnâng cao năng lực tự chủ của trường Đại học;
- Đánh giá thực trạng năng lực tự chủ của trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực tự chủ của trường đại học Hùng vương tỉnh Phú thọ;
- Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tự chủ của trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ trong những năm tới.
Cơ s ở lý lu ậ n
Các khái ni ệ m
Quyền tự chủ của trường đại học, đặc biệt là quyền tự do học thuật, phản ánh bản chất xã hội của các cơ sở giáo dục, nơi tạo ra tri thức và bảo tồn văn hóa dân tộc cũng như nhân loại Để tri thức phát triển một cách khách quan và không bị ảnh hưởng bởi thần quyền hay các thể chế chính trị tạm thời, xã hội và giới cầm quyền cần công nhận quyền tự chủ này trong khuôn viên trường đại học (Lâm Quang Thiệp, 2004).
2.1.1.2 Khái ni ệm về năng lực và nâng cao năng lực
Theo từ điển tiếng việt ‘Năng lực là khả năng điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một số hoạt động nào đó’’
Năng lực của trường đại học được định nghĩa là khả năng và các điều kiện nguồn lực mà trường có để thực hiện các mục tiêu và chương trình nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.
2.1.1.3 Khái ni ệm về năng lực tự chủ
Năng lực tự chủ là khảnăng áp dụng kiến thức, kỹnăng trong việc tổ chức, thực hiện một công việc của cá nhân với nhóm và cộng đồng
Năng lực tự chủ trong việc phát hiện và giải quyết vấn đề là rất quan trọng, bao gồm khả năng rút ra nguyên tắc và quy luật từ quá trình làm việc Ngoài ra, việc đưa ra những sáng kiến giá trị và đánh giá chúng cũng là một yếu tố cần thiết Các cá nhân cần có khả năng thích nghi với môi trường làm việc quốc tế, đồng thời phát triển năng lực lãnh đạo để ảnh hưởng đến định hướng chiến lược của tập thể Họ cũng cần có khả năng đưa ra những đề xuất chuyên môn dựa trên luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc, cùng với khả năng quyết định kế hoạch làm việc và quản lý các hoạt động nghiên cứu, phát triển tri thức và quy trình mới.
2.1.1.4 Khái ni ệm đơn vị sự nghiệp công lập
Theo Khoản 1 Điều 9 Luật viên chức được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm
Theo quy định tại Nghị định 43/2010, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012, đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức được thành lập bởi cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị hoặc tổ chức chính trị - xã hội, có tư cách pháp nhân và nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công nhằm phục vụ quản lý nhà nước Để được công nhận là đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức cần đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể theo quy định của pháp luật.
- Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương.
Nhà nước cung cấp kinh phí và tài sản để thực hiện nhiệm vụ chính trị và chuyên môn, cho phép thu phí và lệ phí theo quy định Tổ chức có bộ máy biên chế và kế toán theo chế độ nhà nước, đồng thời có tài khoản tại kho bạc nhà nước để kiểm soát các khoản thu chi tài chính.
Vai trò và ý nghĩa của cơ chế t ự ch ủ t ại trường đạ i h ọ c
2.1.2.1 Vai trò của cơ chế tự chủ
- Sự cần thiết và mục tiêu của cơ chế tự chủđối với đơn vị sự nghiệpcông lập thuộc lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo
Việt Nam đã trải qua một thời kỳ dài với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong đó các đơn vị sự nghiệp không có quyền tự chủ và phải hoạt động theo cơ chế xin cho Điều này dẫn đến nghịch lý khi các Sở Giáo dục - Đào tạo chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác giáo dục nhưng không nắm giữ tài chính và nhân sự, hai yếu tố quan trọng cho sự phát triển Sự bao cấp từ Nhà nước đã khiến các đơn vị hoạt động kém hiệu quả, do đó cần thiết phải thay đổi cơ chế quản lý từ tập trung sang tự chủ và tự chịu trách nhiệm Sự thay đổi này được đánh dấu bằng Nghị định 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 và Nghị định 16/2015/NĐ-CP, cho phép các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập mở rộng quyền tự chủ trong thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, tuy nhiên, quyền tự chủ này luôn gắn liền với trách nhiệm.
Trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo công lập là quá trình chuyển giao quyền hạn từ các cơ quan quản lý Nhà nước sang các đơn vị này, cho phép họ tự quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động của mình trong khuôn khổ pháp luật Điều này bao gồm việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế, cũng như quản lý tài chính, đồng thời các đơn vị phải chịu trách nhiệm về các quyết định tự chủ đó.
Tự chủ trong giáo dục bao gồm nhiều khía cạnh quan trọng như tự chủ tài chính, tự chủ chương trình đào tạo, tự chủ trong tuyển sinh, và tự chủ trong kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục Điều này cũng đồng nghĩa với việc các cơ sở giáo dục có quyền quyết định phương thức đào tạo, đồng thời tạo điều kiện cho giáo viên có quyền tự chủ trong giảng dạy Bên cạnh đó, học sinh và sinh viên cũng được khuyến khích tự chủ trong việc lựa chọn ngành học, môn học và giáo viên, từ đó nâng cao tính chủ động và sáng tạo trong quá trình học tập.
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm áp dụng đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo công lập nhằm hướng mục tiêu:
Chức năng quản lý Nhà nước và chức năng điều hành hoạt động của các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo công lập có sự khác biệt rõ rệt Các đơn vị này hoạt động theo cơ chế riêng, phù hợp với đặc thù của lĩnh vực giáo dục - đào tạo Việc thực hiện cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục - đào tạo công lập sẽ phát huy hiệu quả khi vẫn đảm bảo quyền lực thực thụ của Nhà nước trong công tác quản lý giáo dục và đào tạo.
Tăng cường tính chủ động và năng động trong việc quản lý các hoạt động của các đơn vị, bao gồm cả hoạt động tài chính, nhằm mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng dịch vụ.
Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, góp phần phát triển các hoạt động sự nghiệp giáo dục và từng bước giảm dần sự bao cấp của Nhà nước.
- Tăng sự chủ động, linh hoạt cho các đơn vị sự nghiệp có thu.
- Nâng cao uy tín, thương hiệu trên cơ sở nâng cao chất lượng sản phẩm giáo dục, đào tạo.
-Nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống và làm việc của Cán bộ, giáo viên
Các đơn vị sự nghiệp công lập đóng vai trò thiết yếu trong việc điều tiết các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội của nhà nước, nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối và hiệu quả của nền kinh tế.
Cung cấp dịch vụ công chất lượng cao trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng.
Vào thứ hai, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ chính trị quan trọng như đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, khám chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học công nghệ, cũng như cung cấp các sản phẩm văn hóa và nghệ thuật phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Các đơn vị sự nghiệp công lập đóng vai trò chủ đạo trong từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chương trình lớn nhằm phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thông qua hoạt động thu phí và lệ phí theo quy định của Nhà nước, nguồn lực xã hội đã được tăng cường, thúc đẩy sự đa dạng hoá và xã hội hoá nguồn lực cho sự phát triển Các đơn vị sự nghiệp công lập đã tích cực mở rộng loại hình và phương thức hoạt động để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, đồng thời thu hút sự đóng góp của cộng đồng cho sự phát triển của các hoạt động sự nghiệp.
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã nâng cao tính chủ động và linh hoạt cho các đơn vị sự nghiệp có thu, cho phép họ sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính, lao động và cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ Điều này không chỉ giúp các đơn vị phân bổ nguồn tài chính phù hợp với yêu cầu công việc mà còn tạo điều kiện tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.
- Nâng cao uy tín, thương hiệu trên cơ sở nâng cao chất lượng sản phẩm giáo dục, đào tạo.
Nâng cao thu nhập và cải thiện điều kiện sống của cán bộ giáo viên (CBGV) là mục tiêu chính đáng của người lao động Cơ chế tự chủ tài chính tạo cơ hội cho họ tăng thu nhập thông qua việc tăng nguồn thu và sử dụng hiệu quả tài nguyên Sau khi hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, trường học có thể trích lập quỹ ổn định thu nhập, khen thưởng và phúc lợi, từ đó nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho CBGV Nhờ đó, người lao động sẽ nhận thức rõ hơn về mối liên hệ giữa hiệu quả lao động và thu nhập cá nhân, khuyến khích họ nâng cao hiệu quả công việc của mình.
Nghị định 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sự nghiệp công lập, nâng cao tính tự chủ và kiểm soát chi tiêu nội bộ Điều này không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, nghị định khuyến khích sự chủ động và sáng tạo của người lao động, đồng thời giảm dần sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nước vào hoạt động của các đơn vị.
2.1.2.2 Ý nghĩa của việc thực hiện tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh rằng giáo dục là quốc sách hàng đầu, được khẳng định bởi Đảng và Nhà nước Tại Đại hội XI, ba khâu đột phá chiến lược đã được xác định, trong đó việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao gắn liền với phát triển khoa học công nghệ là ưu tiên hàng đầu Chính phủ đã triển khai chương trình hành động để thực hiện chủ trương và nghị quyết của Đảng.
Đặc điể m và phân lo ại đơn vị s ự nghi ệ p công l ậ p
2.1.3.1 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập
Theo Nghị quyết 77/NQ- CP quy định ngày 24/10/2014 và nghị định 16/2015/NĐ – CP đơn vị sự nghiệp công lập có các đặc điểm sau:
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức phục vụ xã hội không vì lợi nhuận, khác biệt với hoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nước tổ chức và tài trợ cho các hoạt động này nhằm phân phối lại thu nhập và thực hiện chính sách phúc lợi công cộng Qua đó, Nhà nước hỗ trợ các ngành kinh tế, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, và phát triển nguồn nhân lực, góp phần thúc đẩy kinh tế và cải thiện đời sống, sức khoẻ, văn hoá của người dân Các hoạt động giáo dục, y tế, thể dục thể thao cung cấp tri thức và sức khoẻ cho lực lượng lao động, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng Hoạt động khoa học và văn hoá cung cấp hiểu biết về tự nhiên và xã hội, đồng thời phát triển công nghệ mới cho sản xuất và đời sống Vì vậy, hoạt động sự nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội.
Hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập luôn liên quan chặt chẽ và chịu ảnh hưởng từ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức và duy trì các hoạt động sự nghiệp nhằm phát triển kinh tế - xã hội Mỗi giai đoạn, Nhà nước triển khai các chính sách và chương trình mục tiêu như xoá mù chữ, xoá đói giảm nghèo, và kế hoạch hoá gia đình Những chương trình này chỉ có Nhà nước mới thực hiện hiệu quả, góp phần mang lại lợi ích thiết thực cho người dân Nhà nước cam kết duy trì và phát triển các hoạt động gắn liền với các chương trình mục tiêu quốc gia để nâng cao đời sống xã hội.
2.1.3.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập
- Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo nguồn thu
Theo quy định tại Nghị quyết số 77/NQ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ-
Vào ngày 24/10/2015, Chính phủ ban hành CP quy định về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ được phân loại theo những tiêu chí cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động.
Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động là những tổ chức có khả năng tự tạo ra nguồn thu để chi trả toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên của mình.
Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động là tổ chức có khả năng tự tạo nguồn thu để chi trả một phần cho các hoạt động thường xuyên của mình, trong khi phần còn lại sẽ được ngân sách nhà nước hỗ trợ.
Đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có nguồn thu, hoạt động của đơn vị hoàn toàn được đảm bảo bởi kinh phí từ Ngân sách Nhà nước, được gọi là đơn vị sự nghiệp do ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động.
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập sẽ được duy trì trong vòng 3 năm, sau thời gian này sẽ tiến hành xem xét và phân loại lại để đảm bảo tính phù hợp.
Trong quá trình ổn định phân loại, nếu đơn vị sự nghiệp công lập có sự thay đổi về chức năng, nhiệm vụ hoặc tổ chức, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành xem xét và điều chỉnh phân loại để đảm bảo tính phù hợp.
Cách xác định để phân loại đơn vị sự nghiệp công lập:
Mức tự đảm bảo chi Tổng số nguồn thu sự nghiệp phí hoạt động thường = - -x100% xuyên của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên
- Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi phí hoạt động gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức trên, bằng hoặc lớn hơn 100%.
Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động thông qua nguồn thu từ sự nghiệp và ngân sách nhà nước được phân bổ theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động là những đơn vị có khả năng tự chủ tài chính, với tỷ lệ tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ trên 10% đến dưới 100%.
- Đơn vị sự nghiệp do Ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp có mứctự bảođảmchi phí hoạtđộng thường xuyên xác định theo công thức trên, từ 10% trở xuống.
+ Đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu.
- Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo nội dung hoạt động
Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 24/10/2015 của Chính phủ đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại theo nội dung hoạt động bao gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo.
+ Đơn vị sự nghiệp y tế.
+ Đơn vị sự nghiệp văn hoá thông tin.
+ Đơn vị sự nghiệp thể dục, thể thao.
+ Đơn vị sự nghiệp phát thanh, truyền hình.
+ Đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ, môi trường.
+ Đơn vị sự nghiệp kinh tế (duy tu, sửa chữa đê điều).
+ Đơn vị sự nghiệp khác.
2.1.3.3 Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo
Các trường đại học công lập được phân loại là đơn vị sự nghiệp công lập, vừa có đặc điểm của các đơn vị sự nghiệp có thu, vừa thể hiện những đặc trưng riêng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Trường đại học công lập không vì lợi nhuận mà tập trung vào việc phục vụ lợi ích cộng đồng và xã hội Những cơ sở này có trách nhiệm đào tạo và nghiên cứu khoa học, nhằm bồi dưỡng đội ngũ trí thức và cán bộ khoa học, kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế đất nước.
Trường đại học công lập được xây dựng và quản lý bởi nhà nước, với mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục và tiêu chuẩn nhà giáo được thống nhất Kinh phí hoạt động chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước, cùng với nguồn thu từ học phí và các khoản phí khác Các trường này có quyền tự chủ trong công tác đào tạo, bao gồm xây dựng đề cương, giáo trình, kế hoạch giảng dạy và tổ chức tuyển sinh Đồng thời, trường đại học công lập cũng có trách nhiệm tự quản lý tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao Việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học công lập giúp nâng cao tính chủ động và trách nhiệm trong quản lý giáo dục (Lê Tấn Lượng, 2011).
N ộ i dung nghiên c ứunâng cao năng lự c t ự ch ủ c ủa trường đạ i h ọ c
2.1.4.1 Nâng cao năng lực tự chủ tự chịu trách nhiệm trong đào tạo
Theo Thông tư 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 15/4/2009, quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt là các trường đại học, được hướng dẫn thực hiện theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP, với các nội dung cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển giáo dục.
Xác định nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện dựa trên chương trình và kế hoạch dài hạn của đơn vị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Người đứng đầu đơn vị sẽ thực hiện nhiệm vụ này một cách hiệu quả.
+ Xây dựng kế hoạch và phê duyệt kế hoạch hoạt động hàng năm của đơn vị và báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Các biện pháp cụ thể phải được quy định và thực hiện để đảm bảo chất lượng và tiến độ theo yêu cầu của cơ quan nhà nước hoặc theo hợp đồng đã ký với tổ chức và cá nhân, tuân thủ các quy định của pháp luật.
+ Tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn, năng lực của đơn vị theo quy định của pháp luật.
- Hoạt động liên doanh, liên kết:
Người đứng đầu đơn vị có trách nhiệm tổ chức các hoạt động liên doanh, liên kết và ký kết hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong nước trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ khoa học công nghệ, cũng như các hợp đồng kinh tế khác Tất cả các hoạt động này phải phù hợp với năng lực và nhiệm vụ của đơn vị, đồng thời tuân thủ các quy định của pháp luật.
Xây dựng và thực hiện kế hoạch đoàn ra, đoàn vào bằng nguồn thu sự nghiệp, viện trợ, tài trợ, quà tặng và các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật là cần thiết để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính của đơn vị.
Hợp tác với tổ chức và cá nhân quốc tế trong giáo dục, nghiên cứu khoa học, và thực hiện các dự án theo quy định pháp luật là một hoạt động quan trọng.
Chủ động hợp tác với các cơ sở giáo dục quốc tế nhằm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, giảng viên, đồng thời nâng cao chất lượng sinh viên Điều này không chỉ giúp cải thiện năng lực đội ngũ giảng viên mà còn đảm bảo chất lượng đào tạo theo quy định pháp luật.
+ Quyết định cử và tiếp nhận cán bộ, trong đơn vị đi học tập, đào tạo, thăm quan, khảo sát ở nước ngoài theo quy định
Việc mời chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học phụ thuộc vào nguồn kinh phí và năng lực tài chính của đơn vị, cũng như tuân thủ quy định của cơ quan có thẩm quyền Đồng thời, các chương trình và dự án ODA, bao gồm hỗ trợ kỹ thuật, cần được quản lý và thực hiện theo quy định của pháp luật.
2.1.4.2 Nâng cao năng lực tự chủ tự chịu trách nhiệm về bộ máy, biên chế, quản lý sử dụng, đào tạo cán bộ, viên chức a Về bộ máy
Theo Điều 6 Nghị định 16/2015/NĐ-CP, các đơn vị sự nghiệp có quyền thành lập tổ chức sự nghiệp trực thuộc để thực hiện các dịch vụ phù hợp với chức năng và nhiệm vụ được giao Điều này phải tuân thủ theo phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tự bảo đảm kinh phí hoạt động, ngoại trừ những tổ chức mà thẩm quyền này được quy định thuộc về Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quản lý ngành, hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Các đơn vị sự nghiệp có thể được sáp nhập hoặc giải thể các tổ chức trực thuộc, ngoại trừ những tổ chức sự nghiệp mà pháp luật quy định thẩm quyền này thuộc về Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh.
Chức năng, nhiệm vụ và quy chế hoạt động của các tổ chức trực thuộc được quy định bởi Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp, ngoại trừ những tổ chức sự nghiệp mà pháp luật quy định thẩm quyền thuộc về Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ.
Bộ trưởng Bộ quản lý ngành, Chủ tịch UBND cấp tỉnh)
Người đứng đầu các tổ chức sự nghiệp được thành lập, tổ chức lại hoặc giải thể có trách nhiệm tự bảo đảm kinh phí hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng và nhiệm vụ được giao Họ cũng phải thực hiện phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ và tổ chức bộ máy biên chế, theo quy định của pháp luật và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP, đơn vị sự nghiệp có quyền tự quyết định biên chế để đảm bảo chi phí hoạt động Đối với các đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoặc do ngân sách Nhà nước hỗ trợ hoàn toàn, Thủ trưởng đơn vị cần xây dựng kế hoạch biên chế hàng năm dựa trên chức năng, nhiệm vụ, nhu cầu công việc thực tế, định mức chỉ tiêu biên chế và năng lực tài chính của đơn vị Kế hoạch này sẽ được gửi đến cơ quan chủ quản trực tiếp để tổng hợp và giải quyết theo thẩm quyền.
Thủ trưởng đơn vị có quyền ký hợp đồng thuê khoán cho những công việc không cần thiết bố trí biên chế thường xuyên Ngoài ra, họ cũng có thể ký hợp đồng và các hình thức hợp tác khác với chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước để đáp ứng các yêu cầu chuyên môn của đơn vị.
Đối với các đơn vị tự đảm bảo chi phí hoạt động, người đứng đầu có quyền quyết định biên chế và phải báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trước ngày 30 tháng 7 hàng năm để phục vụ công tác tổng hợp, theo dõi và kiểm tra.
Các y ế u t ố ảnh hưởng đến nâng cao năng lự c t ự ch ủ c ủa trường Đạ i h ọ c
2.1.5.1 Các yếu tố thuộc về quản lý Nhà nước
Hệ thống luật pháp và chính sách của Nhà nước yêu cầu mọi hoạt động tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu phải tuân thủ Luật ngân sách nhà nước, Luật kế toán và các văn bản hướng dẫn liên quan Việc tuân thủ này giúp quản lý và sử dụng nguồn thu một cách hiệu quả, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và chuyên môn, đồng thời nâng cao vai trò của các đơn vị sự nghiệp có thu trong đời sống xã hội.
Chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp bao gồm các văn bản pháp quy như luật, nghị định, và thông tư do Nhà nước ban hành, quy định quản lý nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước và các nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn do thiếu hệ thống văn bản pháp lý cụ thể hướng dẫn về tự chủ, đặc biệt là quản lý tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập Các quy định hiện tại còn lỏng lẻo, chồng chéo và không rõ ràng, dẫn đến cơ chế tự chủ của các trường này gặp nhiều bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động Bên cạnh đó, tình hình phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tự chủ của các đơn vị này.
2.1.5.2 Các yếu tố thuộc về đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ
- Trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị
Theo Điều 23 Nghị định 16/2015/NĐ-CP, Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp phải chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên và pháp luật về các quyết định liên quan đến quyền tự chủ trong nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính của đơn vị.
- Hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị
Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm các quy định và thủ tục do đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật và quy định hiện hành Hệ thống này giúp kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, từ đó bảo vệ và quản lý hiệu quả nguồn lực của đơn vị.
Hệ thống kiểm soát nội bộ của một đơn vị bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát.
Môi trường kiểm soát bao gồm nhận thức, quan điểm và sự quan tâm của lãnh đạo đối với hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống kế toán là các quy định và thủ tục mà đơn vị sử dụng để ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính Thủ tục kiểm soát là các quy chế và quy trình do Ban lãnh đạo thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị.
Một hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ và hiệu quả trong đơn vị sự nghiệp sẽ nâng cao đáng kể công tác quản lý tài chính Hệ thống này đảm bảo tài chính được quan tâm đúng mức, kế toán hoạt động hiệu quả và tuân thủ quy định Đồng thời, các thủ tục kiểm tra và kiểm soát được thiết lập đầy đủ, giúp phát hiện kịp thời sai sót và ngăn chặn hành vi gian lận trong tài chính.
Hệ thống kiểm soát nội bộ, mặc dù có hiệu quả, vẫn không thể phát huy toàn diện tác dụng của nó do tồn tại những hạn chế tiềm tàng.
- Quy chế chi tiêu nội bộ
Theo Nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24/10/2014, tài liệu hướng dẫn xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ cho các đơn vị sự nghiệp thực hiện chế độ tự chủ quy định rõ các nguyên tắc và quy trình chi tiêu nhằm đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính.
Quy chế chi tiêu nội bộ quy định chế độ và tiêu chuẩn định mức chi tiêu đồng nhất trong đơn vị, nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị, thực hiện hoạt động thường xuyên phù hợp với đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh phí hiệu quả và nâng cao công tác quản lý.
Quy chế chi tiêu nội bộ được dân chủ, công khai trong đơn vị sự nghiệp, có ý kiến tham gia của tổ chức công đoàn đơn vị.
Quy chế chi tiêu nội bộ là yếu tố then chốt trong quản lý tài chính, giúp đảm bảo các khoản thu chi của nhà trường tuân thủ quy định Việc xây dựng quy chế này nhằm tối ưu hóa việc quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính, đồng thời thực hiện quản lý tập trung, thống nhất các nguồn thu, khuyến khích mở rộng nguồn thu và đảm bảo chi tiêu hợp lý, tiết kiệm Đối với các trường đại học công lập, quy chế chi tiêu nội bộ cũng là cơ sở để cán bộ viên chức thực hiện quyền tự chủ và để kho bạc nhà nước kiểm soát chi tiêu hiệu quả.
+ Mục đích của xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ là:
> Tạo quyền chủ động trong việc quản lý và chi tiêu tài chính cho Thủ trưởng đơn vị.
Tạo quyền chủ động cho cán bộ và viên chức trong đơn vị là cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ được giao, đồng thời là cơ sở cho việc quản lý và thanh toán các khoản chi tiêu Điều này cũng giúp thực hiện công tác kiểm soát của Kho bạc Nhà nước, các cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính, cũng như cơ quan thanh tra và kiểm toán theo quy định.
> Sử dụng tài sản đúng mục đích, có hiệu quả.
^ Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
> Công bằng trong đơn vị; khuyến khích tăng thu nhập, tiết kiệm chi, thu hút và giữ được những người có năng lực trong đơn vị.
- Trình độ cán bộ quản lý
Cán bộ là yếu tố quyết định thành công hay thất bại của các chính sách và chương trình, với trình độ và trách nhiệm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quyết định quản lý Đội ngũ cán bộ quản lý có kinh nghiệm và chuyên môn cao sẽ xây dựng chiến lược quản lý tài chính hiệu quả, xử lý thông tin kịp thời và linh hoạt Tại các đơn vị cơ sở, cán bộ làm công tác tài chính kế toán cần có năng lực và kinh nghiệm để đảm bảo quản lý tài chính tuân thủ quy định của Nhà nước, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị.
Đội ngũ cán bộ quản lý thiếu kinh nghiệm và chuyên môn sẽ gây ra tình trạng quản lý tài chính lỏng lẻo, dẫn đến thất thoát và lãng phí, từ đó cản trở các hoạt động khác của đơn vị.