Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện tại cánh đồng Cầu Rặng, thôn Bạch Nao, xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội, nơi có ruộng vàn cao với diện tích đáng kể.
Diện tích 720 m² được sử dụng để cấy lúa hàng năm theo chương trình sản xuất lúa hàng hóa của Trung tâm giống cây trồng Hà Nội, với 2 vụ/năm, sử dụng giống lúa Bắc Thơm số 7.
Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm thực hiện vụ xuân từ tháng 1/2015 – 6/2015, ngày cấy là 13/02/2015
Mô hình trình diễn thực hiện vụ mùa từ tháng 7/2015 – 10/2015.
Đối tượng và vật liệu thí nghiệm
Giống lúa Bắc Thơm số 7 là giống lúa cảm ôn, có thể gieo cấy cả hai vụ Xuân và Mùa Thời gian sinh trưởng kéo dài từ 130-135 ngày cho vụ Xuân và 105-110 ngày cho vụ Mùa Cây có chiều cao từ 90-95 cm, khả năng đẻ nhánh tốt, hạt lúa nhỏ, màu vàng sẫm Khối lượng 1000 hạt dao động từ 19-20 gram, với phẩm chất gạo ngon, cơm thơm và mềm, mang lại năng suất trung bình khoảng 45 tạ/ha.
50 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 55-60 tạ/ha Chống đổ trung bình, chịu rét khá
- Phân bón Lục Thần Nông chứa 5% N, 5% P2O5, 5% K2O, hàm lượng hữu cơ (OC) 42%, chứa các nguyên tố trung lượng Ca, Mg, S và TE
- Chế phẩm D409: 1% N; 2% P 2 O 5 ; 2% K 2 O, hữu cơ hòa tan (DOC) 18%; các loại vi sinh vật Bacillus Sp., Trichoderma, Rhizobacteria v.v nồng độ 10 8 /ml chế phẩm
Chế phẩm D409 được áp dụng theo yêu cầu thí nghiệm với lượng nước phun là 18L/sào Bắc Bộ (tương đương 500 lít/ha) và nồng độ pha 3 phần nghìn Trong quá trình phun, 80% lượng nước được phun xuống gốc cây, trong khi 20% còn lại được phun lên lá.
Phân bón hữu cơ Lục Thần Nông và chế phẩm D409 là sản phẩm được nghiên cứu và phát triển bởi PGS TS Nguyễn Tất Cảnh cùng các cộng sự tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
1/ Nghiên cứu ảnh hưởng của mức phân bón hữu cơ lục thần nông và thời gian phun chế phẩm d409 đến các chỉ tiêu sinh trưởng của giống lúa Bắc Thơm số 7 tại Thanh Oai – Hà Nội
2/ Nghiên cứu ảnh hưởng của mức phân bón hữu cơ lục thần nông và thời gian phun chế phẩm d409 đến các chỉ tiêu sinh lý của giống lúa Bắc Thơm số 7 tại Thanh Oai – Hà Nội
3/ Nghiên cứu ảnh hưởng của mức phân bón hữu cơ lục thần nông và thời gian phun chế phẩm d409 đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa Bắc Thơm số 7 tại Thanh Oai – Hà Nội
4/ Đánh giá hiệu quả kinh tế giữa các mức phân bón hữu cơ lục thần nông kết hợp chế phẩm d409 trên giống lúa bắc thơm số 7 vụ xuân 2015 tại Thanh Oai
Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm gồm 2 nhân tố
+ Nhân tố 1: phân Lục Thần Nông (L) gồm 2 mức: 1200kg/ha (L1) và 1800kg/ha (L2)
+ Nhân tố 2: chế phẩm D409 (D) gồm 4 thời điểm: giai đoạn mạ (D1), khi lúa bắt đầu đẻ nhánh (D2), khi lúa bắt đầu làm đòng (D3) và phun cả 3 thời điểm (D4)
Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3 lần nhắc lại, bao gồm 8 công thức cho mỗi lần nhắc lại Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 25 m², tổng diện tích nghiên cứu lên tới 600 m².
CT1: L1D1; CT2: L1D2; CT3: L1D3; CT4: L1D4; CT5: L2D1; CT6: L2D2; CT7: L2D3; CT8: L2D4
NLI CT7 CT1 CT2 CT5 CT8 CT6 CT3 CT4
NLII CT3 CT2 CT6 CT1 CT5 CT8 CT7 CT4
NLIII CT5 CT3 CT8 CT1 CT2 CT6 CT4 CT7
3.5.2 Phương pháp theo dõi số liệu
3.5.2.1 Các ch ỉ tiêu v ề sinh tr ưở ng
Theo dõi 12 khóm/ô tại 4 vị trí, mỗi vị trí lấy 3 cây theo đường chéo để đo các chỉ tiêu sau:
Chiều cao cây được đo 14 ngày một lần, bắt đầu từ 15 ngày sau khi cấy Việc đo được thực hiện từ mặt đất đến đỉnh lá cao nhất hoặc bông, với lá lúa được vuốt dài theo trục thân để đảm bảo độ chính xác trong việc đo chiều cao cây.
Đếm số lá trên thân chính của cây sẽ được thực hiện mỗi 14 ngày, bắt đầu sau 15 ngày từ khi cấy Trong quá trình theo dõi, cần ghi lại số lá sinh ra trên thân chính, đánh dấu lá cuối cùng của lần theo dõi trước bằng sơn Ở lần theo dõi tiếp theo, cộng thêm số lá mới từ giai đoạn mạ đến giai đoạn lá đòng.
- Số nhánh đẻ: Đếm số nhánh đẻ của từng cây
3.5.2.2 Các ch ỉ tiêu sinh lý:
Mỗi ô thí nghiệm sẽ chọn ngẫu nhiên 5 cây từ 5 điểm theo đường chéo ở 3 thời kỳ: Đẻ nhánh rộ, trỗ và thời kỳ chín sáp, nhằm đo đếm các chỉ tiêu cần thiết.
+ Chỉ số diện tích lá (LAI) (m2 lá/m2 đất): Đo bằng phương pháp cân nhanh
P1: Trọng lượng toàn bộ lá tươi (g)
+ Tích luỹ chất khô (g/khóm): Mẫu cây được sấy ở 105 0 C trong 48h rồi đem cân
+ Chỉ số SPAD: Chỉ tiêu đánh giá hàm lượng diệp lục, đo bằng máy SPAD – 502, mỗi lá đo 3 lần
+ Hiệu suất quang hợp thuần (NAR) (g/m 2 lá/ngày)
Trong đó: P1, P2 là trọng lượng chất khô của khóm tại thời điểm lấy mẫu L1, L2 là diện tích lá ở hai thời điểm t là thời gian giữa hai lần lấy mẫu
Theo dõi và đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh trên lúa là rất quan trọng, nhằm đảm bảo chất lượng và năng suất cây trồng Việc đánh giá này cần tuân thủ Tiêu chuẩn ngành quy phạm khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống lúa 10 TCN 558-2002 để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp.
Bệnh đạo ôn cổ bông do Maganaporthe grisea (Pyricularia oryza) gây ra, thường được quan sát trong giai đoạn hạt vào chắc Đánh giá mức độ bệnh dựa trên các tiêu chí cụ thể: Điểm 0 cho thấy không có vết bệnh, Điểm 1 khi có vết bệnh trên vài cuống bông hoặc gié cấp 2; Điểm 3 khi vết bệnh xuất hiện trên vài gié cấp 1 hoặc phần giữa trục bông; Điểm 5 cho thấy vết bệnh bao quanh một phần gốc bông hoặc thân rạ phía dưới trục bông; Điểm 7 khi vết bệnh bao quanh toàn bộ cổ bông hoặc phần trục gần cổ bông, với hơn 30% hạt chắc; và Điểm 9 khi vết bệnh bao quanh hoàn toàn cổ bông hoặc phần thân rạ cao nhất, với số hạt chắc ít hơn 30%.
Bệnh khô vằn ở giai đoạn chín sữa và vào chắc được đánh giá dựa trên độ cao tương đối của vết bệnh trên lá hoặc bẹ lá so với chiều cao cây Cụ thể, điểm số được phân loại như sau: Điểm 0 là không có triệu chứng; Điểm 1 khi vết bệnh thấp hơn 20% chiều cao cây; Điểm 3 tương ứng với vết bệnh từ 20-30% chiều cao cây; Điểm 5 khi vết bệnh chiếm 31-45% chiều cao cây; Điểm 7 cho vết bệnh từ 46-65% chiều cao cây; và Điểm 9 khi vết bệnh lớn hơn 65% chiều cao cây.
Các đối tượng sâu hại theo dõi gồm:
Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) gây hại cho lúa từ giai đoạn đẻ nhánh đến khi chín, làm lá và cây héo, thậm chí chết Đánh giá mức độ hại có thể chia thành các điểm: Điểm 0 là không bị hại, Điểm 1 là hơi vàng trên một số cây, Điểm 3 là lá vàng nhưng chưa bị cháy rầy; Điểm 5 thể hiện lá vàng rõ, cây lùn và héo với ít hơn một nửa số cây bị cháy rầy; Điểm 7 cho thấy hơn một nửa số cây bị héo hoặc cháy rầy, trong khi số cây còn lại lùn nặng; và Điểm 9 là tất cả cây đều chết.
Sâu đục thân hai chấm (Scirpophaga incertulas) gây hại chủ yếu trong giai đoạn hạt chắc và chín Để đánh giá mức độ thiệt hại, có thể quan sát số dảnh chết hoặc bông bạc với các tiêu chí chấm điểm như sau: Điểm 0 biểu thị không bị hại, Điểm 1 cho 1-10% số dảnh chết hoặc bông bạc, Điểm 3 cho 11-20%, Điểm 5 cho 21-30%, Điểm 7 cho 31-50%, và Điểm 9 cho hơn 51% số dảnh chết hoặc bông bạc.
Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guene) gây hại cho cây từ giai đoạn đẻ nhánh đến khi chín Để đánh giá mức độ thiệt hại, cần quan sát tỷ lệ cây bị sâu ăn phần xanh của lá hoặc lá bị cuốn thành ống Hệ thống chấm điểm được áp dụng như sau: Điểm 0 cho cây không bị hại, Điểm 1 cho 1-10% cây bị hại, Điểm 3 cho 11-20% cây bị hại, Điểm 5 cho 21-35% cây bị hại, Điểm 7 cho 36-51% cây bị hại, và Điểm 9 cho hơn 51% cây bị hại.
3.5.2.4 Ch ỉ tiêu v ề các y ế u t ố c ấ u thành n ă ng su ấ t và n ă ng su ấ t
Theo phương pháp của IRRI cố định 5m 2 /ô (vị trí giữa ô) kể từ khi cấy để xác định năng suất
Tại thời kỳ chín lấy mẫu 10 khóm/ô để xác định các yếu tố cấu thành năng suất:
- Số bông hữu hiệu trên khóm: Bông có từ 10 hạt trở lên
- Số hạt trên bông: Đếm tổng số hạt có trên bông
- Số hạt chắc/bông: Đếm tổng số hạt chắc có trên bông
- Tỉ lệ hạt chắc/bông (%) = (số hạt chắc/tổng số hạt)*100
+ Năng suất cá thể: khối lượng trung bình của 1 khóm ở độ ẩm 13%, lấy mẫu 12 cây/ô
+ Năng suất lý thuyết = Số bông/m 2 x Số hạt/bông x Tỷ lệ hạt chắc x P 1000 hạt x 10 -4 (tạ/ha)
+ Năng suất thực thu: sau khi gặt, phơi cân để có năng suất thực thu, tính ở độ ẩm 13%
+ Năng suất sinh vật học (NSSVH): Phơi khô rơm rạ (không tính rễ) cân cùng khối lượng hạt khô của 5 khóm lấy mẫu
- Hệ số kinh tế: HSKT= Năng suất cá thể/Năng suất sinh vật học
Khối lượng 1000 hạt được xác định bằng cách sấy hạt đến độ ẩm 13%, sau đó đếm 500 hạt và thực hiện hai lần cân để thu được giá trị M1 và M2 Nếu sai số tương đối giữa các giá trị này với giá trị trung bình nhỏ hơn 5%, thì P1000 hạt sẽ được tính theo công thức quy định.
+ P1000 hạt = M1+ M2 Nếu >5% thì phải bỏ đi lấy mẫu khác
3.5.2.5 Xác đị nh ch ỉ tiêu ch ấ t l ượ ng g ạ o
Tại Bộ môn Sinh lý Sinh hóa và Chất lượng Nông sản thuộc Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, các mẫu gạo được phân tích dựa trên nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá chất lượng.
- Xác định chiều dài, chiều rộng hạt gạo (mm), tỷ lệ D/R, đo bằng thước Panmes
Để xác định độ bạc bụng của hạt gạo, cắt ngang 50 hạt và đánh giá theo thang điểm IRRI Hạt được xếp loại là hạt đục nếu phần bạc bụng lớn hơn ½ hạt Ngược lại, hạt không bạc bụng hoặc hạt trong sẽ không có phần bạc bụng hoặc chỉ có phần bạc bụng rất ít nằm ở giữa Hạt nửa trong sẽ có phần bạc bụng nhỏ hơn ½ hạt.
- Tỷ lệ gạo xay (%) = (Khối lượng gạo xay/Khối lượng thóc) x 100
- Tỷ lệ gạo nguyên (%) = (Khối lượng gạo nguyên/Khối lượng gạo xay xát) x 100
- Tỷ lệ gạo xát (%) = (Khối lượng gạo xát trắng/Khối lượng thóc) x 100
- Xác định hàm lượng amylose theo phương pháp Juliano
- Xác định hàm lượng protein trong hạt gạo theo phương pháp Kjeldahll
- Xác định hàm lượng tinh bột trong hạt gạo theo phương pháp Bertrand
3.5.2.6 Ch ỉ tiêu hi ệ u qu ả kinh t ế so sánh mô hình m ớ i so v ớ i mô hình hi ệ n có c ủ a nông dân
+ Tổng thu nhập (TT) = năng suất x giá bán
+ Tổng chi phí lưu động (TCP) = Chi phí vật chất + chi phí lao động
+ Chi phí vật chất (CPVC) = vật tư + giống + thuốc BVTV + nước tưới (không tính công lao động)
+ Thu nhập thuần (TNT) = Tổng thu – Chi phí vật chất
+ Hiệu quả đồng vốn = (Tổng thu/Tổng chi phí vật chất)
+ Giá trị ngày công lao động = (thu nhập thuần/tổng ngày công lao động)
Bài viết so sánh hiệu quả giữa hai hệ thống cũ và mới bằng cách áp dụng công thức tính tỷ trọng chênh lệch thu nhập trên chênh lệch chi phí (MBCR) Hệ thống mới được áp dụng khi MBCR đạt giá trị lớn hơn hoặc bằng 2.
3.5.3 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được thu thập, tính toán và phân tích phương sai ANOVA bằng phần mềm IRRISTAT 5.0 và Excel 2010.
Kỹ thuật áp dụng
+ Thí nghiệm được tiến hành trên nền đất phù sa sông Đáy không được bồi tụ hàng năm, đất gieo cấy 2 vụ lúa và không trồng cây vụ đông
+ Đất thí nghiệm được phân tích đặc điểm nông hóa tại khoa Môi trường – Học viện Nông nghiệp Việt Nam trước khi triển khai thí nghiệm
Kết quả phân tích đất thí nghiệm
N%: Kjeldhal, phá mẫu bằng H 2 SO 4 và xúc tác
P 2 O 5 %: phương pháp so màu, công phá bằng H 2 SO 4 +HClO 4
K%: đo bằng quang kế ngọn lửa, phá mẫu bằng HF+HCl+HClO4
K2O dễ tiêu: Matslova đo bằng quang kế ngọn lửa
N thủy phân: Tiurin và Kônônôva
3.6.2 Làm đất, làm mạ cấy
Gieo mạ Bắc Thơm số 7 theo phương pháp mạ dược Khi mạ được 3- 4 lá, nhổ mạ đem ra ruộng cấy Cấy 1 dảnh
3.6.3 Phân bón và cách bón phân
- Phân hữu cơ công nghiệp Lục Thần Nông được dùng để bón lót trước khi bừa cấy
Chế phẩm D409 được phun theo yêu cầu thí nghiệm với lượng nước 18L/sào Bắc Bộ (tương đương 500 lít/ha) và nồng độ pha 3 phần nghìn Trong quá trình phun, 80% lượng nước được phun xuống gốc cây, trong khi 20% còn lại được phun lên lá.