HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGÔ THỊ THANH THỦY NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA BC15 VỤ MÙA TẠI VĨNH BẢO, HẢI PHÒNG... Ảnh hưởng
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGÔ THỊ THANH THỦY
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA BC15 VỤ MÙA TẠI VĨNH BẢO, HẢI PHÒNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày …tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Ngô Thị Thanh Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Ích Tân cùng TS Nguyễn Thu Hà đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Bộ môn Canh tác học, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công nhân viên chức trường Cao Đẳng Cộng Đồng Hải Phòng, Viện sinh nông – Trường Đại học Hải Phòng, Phòng Nông Nghiệp huyện Vĩnh Bảo, Trung tâm Khuyến Nông huyện Vĩnh Bảo đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn
Luận văn này khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, đồng nghiệp và bạn đọc./
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày …tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Ngô Thị Thanh Thủy
Trang 41.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam 42.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 42.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo tại Việt Nam 72.1.3 Định hướng phát triển sản xuất lúa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 92.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng 102.1.5 Tình hình sử dụng phân bón cho giống BC15 vụ mùa 2016 tại Vĩnh Bảo 152.2 Vai trò của phân đạm và những kết quả nghiên cứu về lượng đạm bón
2.2.1 Vai trò của phân đạm đối với cây lúa 152.2.2 Những kết quả nghiên cứu về lượng đạm bón cho lúa 172.2.3 Lượng phân bón cho cây lúa 212.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy lúa 232.3.1 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy 242.3.2 Những kết quả nghiên cứu về số dảnh cấy 27
Trang 52.4 Những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 31
3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 32
4.1 Ảnh hưởng của mật độ và các mức phân bón đến chỉ tiêu sinh trưởng của
giống lúa BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 384.1.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến thời gian sinh trưởng của
4.1.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây của giống lúa BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 414.1.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh
của giống lúa BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 454.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các chỉ tiêu sinh lý của
giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 514.2.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá (LAI)
của giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 514.2.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khối lượng chất khô và tốc
độ tích lũy chất khô của giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 544.3 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khả năng chống chịu sâu
bệnh của giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 594.4 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của giống BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 614.4.1 Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất 62
Trang 64.4.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất 624.4.3 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của giống BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 634.4.4 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến năng suất của giống BC15
4.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu quả kinh tế của giống
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
ANLT An ninh lương thực
ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
CCCC Chiều cao cây cuối cùng
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu long
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sản xuất lúa gạo của thế giới từ năm 2008 – 2014 6
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của các nước sản xuất chính trên thế giới năm 2014 7
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam từ năm 2010 – 2015 8
Bảng 2.4 Cơ cấu các giống lúa vụ mùa năm 2016 của huyện Vĩnh Bảo 14
Bảng 2.5 Lượng phân bón sử dụng cho lúa vụ mùa 2016 tại huyện Vĩnh Bảo 15
Bảng 2.6 Lượng dinh dưỡng cây hút để tạo ra 1 tấn thóc 21
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến thời gian sinh trưởng của giống lúa BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 39
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao cây của giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 42
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chiều cao cây của giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 43
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến chiều cao cây của giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 44
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mật độ đến động thái đẻ nhánh của giống lúa BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 46
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh của giống lúa BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 47
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh của giống lúa BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 48
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến HSĐN và HSĐNHH của giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 50
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của mật độ đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 52
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 52
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 53
Trang 9Bảng 4.12 Ảnh hưởng của mật độ đến khối lượng chất khô và tốc độ tích lũy chất
khô của giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 55 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khối lượng chất khô và tốc độ tích
lũy chất khô của giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 56 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khối lượng chất khô tích lũy của
giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 57 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khả năng chống chịu
sâu bệnh của giống BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 59 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất của giống BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 62 Bảng 4.17 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của giống BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 63 Bảng 4.18 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất của giống BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 64 Bảng 4.19 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến năng suất của giống
BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 67 Bảng 4.20 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu quả kinh tế của
giống BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 69
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến thời gian sinh
trưởng của giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 39 Hình 4.2 Gieo mạ thí nghiệm 40 Hình 4.3 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón chiều cao cây cuối
cùng của giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 45 Hình 4.4 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến số nhánh hữu
hiệu của giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 49 Hình 4.5 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hệ số nhánh hữu
hiệu của giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 50 Hình 4.6 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến chỉ số diện tích
lá (LAI) của giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 54 Hình 4.7 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khối lượng tích
lũy chất khô của giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 58 Hình 4.8 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến tốc độ tích lũy
chất khô của giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 58 Hình 4.9 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến số bông/m2 của
giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 64 Hình 4.10 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến số hạt/ bông của
giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 65 Hình 4.11 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khối lượng 1000
hạt của giống lúa BC15 trong vụ mùa tại Vĩnh Bảo 66 Hình 4.12 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của giống BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo 68
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Ngô Thị Thanh Thủy
Tên luận văn: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến sinh trưởng, năng suất giống lúa BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng”
Ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 60 62 01 10
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón thích hợp đến sinh trưởng
và năng suất của giống lúa thuần BC15 tại huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật phổ biến trong sản xuất
Nội dung nghiên cứu
Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng, s*inh lý, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất, hiệu quả kinh tế, mức độ nhiễm sâu bệnh hại
Vật liệu: Giống lúa BC15
Phương pháp nghiên cứu
Bố trí ngoài đồng ruộng theo kiểu splip – plot gồm 2 nhân tố: nhân tố chính mật độ cấy (M) với 3 công thức (M1:30 khóm/m2, M2:35 khóm/m2, M3: 40 khóm/ m2), nhân tố phụ là lượng đạm (N) với 4 công thức (N1: 60kg N/ha, N2: 90kg N/ha, N3: 120kg N/ha, N4: 150kgN/ha) Thí nghiệm được bố trí ở vụ Mùa 2016 tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng Kết luận
Kết quả theo dõi thí nghiệm cho thấy, trong các công thức thí nghiệm ở mật độ cấy 40 khóm/m2, lượng đạm 120 kgN/ha cho số bông/m2, số hạt/bông, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu cao nhất (tương ứng 253,3 bông/m2, 174,3 hạt/bông, 96,9 tạ/ha, 82,4 tạ/ha) Công thức bón cấy với mật độ 40 khóm/m2 và bón phân với lượng
120 kg N + 90 kg P205 + 90 kg K20/ha cho năng suất thực thu và thu nhật thuần đạt cao nhất đạt 44.504.000 đồng Vì vậy, để giống BC15 đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao, trong vụ mùa nên cấy với mật độ 40 khóm/m2 và bón phân với lượng 120 kg N + 90 kg
P205 + 90 kg K20/ha
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Ngo Thi Thanh Thuy
Thesis title: “Study on the effect of density anh nitrogen fertilization on growth and yield of rice variety BC15 in Vinh Bao, Hai Phong”
Major: Crop science Code: 60 62 01 10
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
Evaluation of the effect of density and nitrogen fertilizer application on growth and yield of pure BC15 rice variety in Vinh Bao district, Hai Phong city contributed to the development of common technical process in production
Materials and Methods
Field layout in splip-plot style consists of two factors: main factor density (M) with 3 formulas (M1: 30 clumps/m2, M2: 35 clumps/m2, M3: 40 clumps/m2), the secondary factor is nitrogen (N) with 4 formulas (N1: 60kg N / ha, N2: 90kg N / ha, N3: 120kg N / ha, N4: 150kgN / ha) The experiment is scheduled in the 2016 season in Vinh Bao, Hai Phong
Main findings and conclusions
Experimental results showed that in the experimental formulas at transplant density
of 40 clumps/m2, protein content was 120 kgN/ha for cotton/m2, seed/cotton yield, theoretical yield and highest net yield (253,3cotton/m2, 174.3 seeds/cotton, 96.9 quintals/ha, 82.4 quintals/ hectare) The fertilizer application with 40 clumps/m2 and fertilizer application with 120kgN + 90kgP2O5 + 90 kgK2O/ha gave the highest net yield and net income reached 44,504,000 VND
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây lúa (Oryza Sativa L.) là một trong những cây trồng cung cấp nguồn lương thực quan trọng nhất cho sự sống của con người Cùng với các cây lương thực khác, cây lúa được thực tế sản xuất hết sức quan tâm Cây lúa gieo trồng phổ biến trên thế giới với 40% dân số sử dụng lúa gạo làm lương thực chính và ảnh hưởng đến đời sống của ít nhất 65% dân số thế giới
Để đảm bảo cho cuộc sống con người trước tiên là đủ lương thực rồi đến xoá đói giảm nghèo thì việc tăng lượng lương thực nói chung và lúa gạo nói riêng là nhiệm vụ sống còn của mỗi quốc gia Song, vấn đề đặt ra hiện nay là trong khi dân số thế giới tiếp tục gia tăng thì diện tích đất dành cho việc trồng lúa lại không tăng, nếu không muốn nói là giảm theo thời gian Trong bối cảnh đó, vấn đề lương thực được đặt ra như một mối đe dọa đến an ninh và ổn định của thế giới trong tương lai Theo dự đoán của các chuyên gia về dân số học, nếu dân
số thế giới tiếp tục gia tăng với tốc độ như hiện nay trong vòng 20 năm tới thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới đáp ứng đủ cho nhu cầu lương thực cho người dân Trong điều kiện khó khăn đó người ta phải suy nghĩ đến một chiến lược để tăng sản lượng lúa gạo
Trong kỹ thuật thâm canh tăng năng suất cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng, việc không ngừng đầu tư cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật như giống, phân bón, hay các kỹ thuật canh tác như mật độ cấy, làm đất, thuốc bảo vệ thực vật, thủy lợi đã làm tăng năng suất đáng kể
Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thiêm và Yamauchi Akira (2017), trong điều kiện nhà mái che cho thấy khi tăng lượng bón từ 30 lên 60 mg N đã làm tăng các chỉ tiêu về rễ, lượng nước cây sử dụng và khối lượng chất khô của cây, nhưng không có sự khác nhau về các chỉ tiêu trên khi tăng lượng đạm bón từ 60 lên 120 mg N Tuy nhiên trong điều kiện tưới ngập, các chỉ tiêu về rễ tăng dẫn đến cây hút được nhiều nước hơn, kết quả cây tích lũy chất khô cao hơn khi tăng lượng đạm bón từ 30 lên 120 mg N Hơn nữa trong cả điều kiện tưới ngập và thiếu nước, tổng số chiều dài rễ có mối quan hệ thuận và chặt ở mức ý nghĩa với lượng nước cây sử dụng
Hải Phòng là thành phố có nền kinh tế phát triển mạnh cả về công
Trang 14nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Nền nông nghiệp có tưới được chú trọng đầu
tư, nâng cao cơ sở hạ tầng giúp tăng năng suất và hiệu quả kinh tế các giống cây trồng chủ lực
Giống BC15 là giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt và đang được đưa vào gieo trồng tại Hải Phòng trong những năm gần đây Để có được năng suất tối ưu, hạn chế sâu bệnh và mang lại hiệu quả kinh tế thì rất cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp để giống phát huy hết tiềm năng về năng suất Trong các biện pháp kỹ thuật như bố trí thời vụ, tuổi mạ, kỹ thuật làm đất, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh thì xác định mật độ cấy và phương pháp bón phân đạm là một biện pháp kỹ thuật quan trọng
Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến sinh trưởng, năng suất giống lúa BC15 vụ mùa tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng’’
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa thuần BC15 trong vụ mùa tại huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
- Xác định mật độ và lượng đạm bón thích hợp nhất giúp giống lúa thuần BC15 sinh trưởng tốt, năng suất cao
- Góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống lúa BC15 trên đất Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng: Giống lúa BC15
- Địa điểm nghiên cứu: Khu đồng Cửa Hàng, thôn Điềm Niêm, thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 1 năm 2017 1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
- Xác định cơ sở khoa học về mật độ cấy và lượng đạm bón cho giống lúa thuần BC15 góp phần xây dựng quy trình gieo trồng
Trang 15- Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp và bổ sung vào tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Theo thống kê của Viện nghiên cứu lúa quốc tế thì cho đến nay lúa vẫn là cây lương thực được con người sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất Năm 2010, tổng diện tích lúa toàn cầu là 153,65 triệu ha, trong đó 136,55 triệu ha tại châu Á với tổng sản lượng thóc 672,0 triệu tấn Theo FAO, năm 2012 sản lượng lúa đạt 724,5 triệu tấn (tương đương 483,1 triệu tấn gạo) Cùng với lúa mỳ, ngô, một phần cao lương, cây có củ, lúa gạo giữ vai trò rất lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực (ANLT) Song, sản xuất lúa gạo không chỉ có vai trò đảm bảo vấn đề ANLT mà còn giúp ổn định xã hội (Nguyễn Văn Bộ, 2012)
Theo báo cáo của Ủy ban nông nghiệp bền vững công bố 3/2012, hiện nay thế giới có khoảng 900 triệu người (chiếm 1/7 dân số thế giới) đang sống trong tình trạng thiếu đói Báo cáo về tình nông nghiệp và ANLT ở Châu Á - Thái Bình Dương do liên hợp quốc công bố ngày 24/4/2009 cho biết, tám nước Đông Nam
Á, trong đó có Việt Nam, nằm trong danh sách 26 nước là những điểm nóng về ANLT của khu vực Vì vậy, nghiên cứu và phát triển lúa lai được các nhà khoa học trên Thế giới rất quan tâm
Lúa là loại ngũ cốc làm lương thực quan trọng cho khoảng ½ dân số của thế giới, đặc biệt là ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ Lúa có sản lượng đứng hàng thứ ba trên thế giới sau ngô và lúa mì Cây ngô tuy đứng đầu về sản lượng nhưng nó được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, trước hết làm thức ăn cho gia súc, sau đó là dùng trong công nghiệp và một phần nhỏ làm thức ăn cho con người Còn với gạo gần như toàn bộ được dùng để làm lương thực, cung cấp hơn 1/5 tổng lượng calori cần thiết trong dinh dưỡng của con người trên toàn thế giới
Lúa là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và có khả năng thích nghi rộng với các vùng khí hậu Theo thống kê của FAO, hiện nay trên thế giới có 115 nước trồng lúa ở các châu lục, với tổng diện tích trồng lúa năm 2010 là 153,65 triệu ha, năng suất bình quân toàn thế giới là 4,37 tấn/ha và tổng sản lượng lúa
là 696,32 triệu tấn, tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới gần 90% diện tích gieo trồng và sản lượng
Trang 17Trong vòng 25 năm này, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,36 triệu ha/năm Từ năm 1980, diện tích lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào năm
1999 (156,77 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm Từ năm
2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảm dần, đến năm 2005 còn ở mức 152,9 triệu ha Diện tích trồng lúa tập trung ở Châu Á (khoảng 90%)
Sản lượng gạo của thế giới liên tục tăng từ mức 417 triệu tấn vào năm 2005 lên 479 triệu tấn vào năm 2013 (tăng 14,8%), chủ yếu nhờ năng suất tăng Sau khủng hoảng giá lương thực năm 2008, nhiều nước tăng đầu tư cho sản xuất lúa gạo Trên thế giới hiện có trên 40.000 chủng loại lúa gạo đang được canh tác thuộc ba nhóm chính gồm Indica (trồng tại Đông Nam Á và Nam Á), Japonica (Bắc Á, Bắc Mỹ), Japonica nhiệt đới (Nam Mỹ và một số vùng châu Phi) và gạo thơm aromatic (như jasmine của Thái Lan, Việt Nam, basmati của Ấn Độ, Pakistan) Gạo Indica chiếm khoảng 75% giao dịch gạo toàn cầu, Japonica khoảng 10%, aromatic chiếm 12-13% Dự báo 10 năm tới sản lượng gạo thế giới đạt trên 530 triệu tấn, tăng trên 10% so với hiện nay Năm nước sản xuất gạo lớn nhất tập trung tại châu Á gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam chiếm 70% sản lượng toàn cầu (OECD/FAO, 2014) Trong khi các nước sẽ vẫn phải duy trì một lượng gạo chất lượng trung bình và thấp vừa đủ để đảm bảo
an ninh lương thực, do mức sống tăng lên nên gạo chất lượng cao sẽ được đầu tư sản xuất nhiều hơn
Trong 10 năm tới, thương mại gạo toàn cầu sẽ tăng 1,5% mỗi năm (từ niên
vụ 2014/15 đến niên vụ 2023/24), nhờ tốc độ tăng trưởng ổn định của nhu cầu, nhiều nước nhập khẩu không thể đẩy mạnh xuất do hạn chế về điều kiện tự nhiên, nguồn lực và dịch bệnh Lượng tiêu thụ gạo toàn cầu dự báo đạt khoảng
500 triệu tấn vào 10 năm tới (tăng 10% so với hiện nay) và khoảng 535 triệu tấn vào năm 2030 Tiêu thụ gạo của châu Á chiếm khoảng 2/3 tổng cầu về gạo của thế giới vào năm 2030
Dẫn đầu năng suất lúa là Mỹ, rồi đến Hy Lạp, El Salvador, Tây Ban Nha với trên 7 tấn/ha Mặc dù năng suất lúa các nước Châu Á còn thấp nhưng do diện tích sản xuất lớn nên Châu Á vẫn là nguồn đóng góp rất quan trọng cho sản lượng lúa trên thế giới (trên 90%) Các quốc gia dẫn đầu về sản lượng lúa theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan và
Trang 18Myanmar, tất cả đều nằm ở Châu Á Như vậy, có thể nói Châu Á là vựa lúa quan trọng nhất thế giới Trong 10 quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới, Trung Quốc, Việt Nam, Indonexia là những nước có năng suất lúa cao đạt 5,1 đến 6,7 tấn/ha
Bảng 2.1 Sản xuất lúa gạo của thế giới từ năm 2008 – 2014
Chỉ tiêu Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
162 triệu ha và sản lượng đạt hơn 741 triệu tấn Các nước sản xuất lúa gạo chính trên thế giới hiện nay phải kể đến là Ấn Độ, Trung Quốc, Inđônêxia, Thái Lan, Banglades, Myanmar, Việt Nam… Năm 2012 chỉ riêng sản lượng lúa của
Ấn Độ và Trung Quốc đã chiếm gần 50 % sản lượng lúa toàn cầu Mặc dù Ấn
Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất trên thế giới nhưng Trung Quốc lại là quốc gia có sản lượng lớn nhất và cũng là nước có năng suất trung bình lớn nhất trong 10 quốc gia sản xuất chính Bên cạnh đó Inđônêxia, Việt Nam cũng
là một trong những nước có năng suất trung bình và sản lượng lúa đạt cao trên thế giới
Hiện nay Thái Lan, Việt Nam và Ấn Độ cũng là những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Đặc biệt, năm 2012 sản lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ đạt 9,5 triệu tấn, vượt Thái Lan trở thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới
Tuy nhiên theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Thái Lan sẽ sớm giành lại và duy trì được danh hiệu nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới trong vòng ít nhất 10 năm tới
Trang 19Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của các nước sản xuất chính
trên thế giới năm 2014
Tên nước Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo tại Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới 75% dân số sản xuất nông nghiệp và từ lâu cây lúa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó có vai trò quan trọng trong đời sống con người Lúa gạo không chỉ giữ vai trò trong việc cung cấp lương thực cho người dân trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân Mặt khác, do có điều kiện tự nhiên thuận lợi phù hợp cho cây lúa phát triển nên lúa được trồng trên khắp mọi miền của đất nước Trong quá trình sản xuất đã hình thành hai vùng sản xuất lúa rộng lớn đó là đồng bằng sông Hồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trong thời gian chiến tranh, diện tích trồng lúa cả nước dao động trong khoảng 4,40 – 4,90 triệu ha, năng suất có tăng nhưng rất chậm, chỉ khoảng 700
kg thóc/ha trong vòng hơn 20 năm Sản lượng lúa tổng cộng của cả 2 miền chỉ trên dưới 10 triệu tấn
Kể từ lúc gạo Việt Nam tái nhập thị trường thế giới năm 1989 thì năm 1990
đã đứng vị trí xuất khẩu gạo thứ 4 sau Thái Lan, Pakistan và Mỹ, đến năm 1991 lên ở vị trí thứ 3 và tiếp tục lên hạng vào năm 1995 ở vị trí xuất khẩu gạo thứ hai thế giới sau Thái Lan Từ năm 1997 đến nay, hàng năm nước ta xuất khẩu trung
Trang 20bình trên dưới 4 triệu tấn, đem về một nguồn thu ngoại tệ rất đáng kể Hiện nay, Việt Nam đứng hàng thứ 7 về diện tích và đứng hàng thứ 5 về sản lượng lúa Hạt gạo Việt Nam chẳng những đủ đảm bảo yêu cầu về an ninh lương thực trong nước mà còn góp phần rất quan trọng trong thị trường lúa gạo thế giới
Riêng đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL), từ sau giải phóng đến nay, việc sản xuất lúa đã vươn lên mạnh mẽ, cùng với sự phát triển của hệ thống thủy lợi
và thủy nông nội đồng, cùng tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi trên đồng ruộng, trở thành vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo của cả nước với diện tích lúa năm 2004 là 3,79 triệu ha, sản lượng đạt 18,22 triệu tấn, chiếm hơn 50% tổng diện tích, sản lượng lúa cả nước Do điều kiện khí hậu thuận lợi để cây lúa có thể sinh trưởng quanh năm nên ĐBSCL sản xuất 2-3 vụ/năm, với việc đưa các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, trình độ thâm canh cao với việc sử dụng phân bón
và thuốc bảo vệ thực vật, cộng với hệ thống canh tác đa dạng đã góp phần đáng
kể vào sản lượng lương thực và lượng nông sản hàng hóa xuất khẩu hàng năm của cả nước, cụ thể hơn 80% sản lượng gạo xuất khẩu là vùng ĐBSCL (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Hiện nay, với những tiến bộ kỹ thuật vượt bậc trong nông nghiệp, người dân đã được tiếp cận với những phương thức sản xuất tiên tiến, biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa ưu thế lai, các giống lúa cao sản, các giống lúa thích nghi với điều kiện đặc biệt của từng vùng, các giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu… kết hợp đầu tư thâm canh cao, hợp lý Nhờ vậy, ngành trồng lúa nước ta đã có những bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam từ năm 2010 – 2015
Năm Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 21Qua bảng số liệu trên cho thấy từ năm 2010 đến năm 2015 sản lượng lúa của nước ta ở mức ổn định xấp xỉ 45 triệu tấn Đến năm 2015 diện tích sản xuất lúa của cả nước đạt khoảng 7,83 triệu ha, giảm100 nghìn ha so với năm 2013; năng suất cũng đạt trên 5,77 tấn/ha, nâng sản lượng lúa nước ta lên trên 45 triệu tấn/năm Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT: việc sản xuất lúa của các địa phương
đã tập trung và có bước đột phá mạnh mẽ trong khâu tổ chức sản xuất, nhất là chú trọng việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn
Hiện nay, diện tích canh tác lúa của nước ta đang bị giảm dần Theo báo cáo năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mỗi năm có bình quân khoảng 73.000 héc ta đất nông nghiệp bị thu hồi để làm khu công nghiệp, khu đô thị, sân golf Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, cán bộ Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội, đa số diện tích bị quy hoạch, thu hồi đều là đất tốt, thuộc đất ven lộ Hiện nay, diện tích đất trồng lúa trên phạm vi cả nước chỉ còn khoảng 4,2 triệu héc ta Những năm qua, nhờ năng suất lúa tăng chúng ta đã
bù đắp phần sản lượng lúa bị mất do giảm diện tích Tuy nhiên, theo nhiều nhà khoa học, việc tiếp tục tăng năng suất trong những năm tới là rất khó Do vậy, an ninh lương thực của chúng ta có thể bị ảnh hưởng do diện tích trồng lúa giảm 2.1.3 Định hướng phát triển sản xuất lúa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trong chiến lược chọn lọc và phát triển các giống lúa ngắn ngày có chất lượng cao, đặc tính chống chịu sâu bệnh của giống là một trong những quan tâm hàng đầu của nhà khoa học Để nâng cao năng suất, chất lượng cho gạo Việt Nam,
Bộ NN&PTNT đã yêu cầu các viện nghiên cứu chọn tạo các giống lúa ngắn ngày, phù hợp với thị trường trong nước và xuất khẩu Sản xuất lúa vẫn được coi là lĩnh vực quan trọng nhất trong nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam Chính
vì lúa gạo đã cung cấp 80% Carbonhydrat và nhiều chất dinh dưỡng khác như Protein, lipit, vitamin, chất khoáng… rất cần thiết cho đời sống con người
Mục tiêu của sản xuất lúa hiện nay cũng như thời gian tới là: đạt hiệu quả kinh tế cao một cách bền vững, đảm bảo chất lượng nông sản và môi trường Vì vậy, đối với vụ Xuân bố trí các giống có thời vụ né tránh thời tiết rét đậm, rét hại, rút ngắn thời gian tích lũy của dịch hại, khung thời vụ trổ an toàn, thu hoạch sớm không ảnh hưởng đến thời vụ Hè Thu, năng suất đạt cao, chất lượng tốt ; đối với sản xuất vụ Hè Thu phải thu hoạch sớm trước mùa mưa bão nhưng vẫn đảm bảo năng suất, sản lượng Như vậy, xu thế tất yếu trong cơ cấu giống phải là bộ giống lúa ngắn ngày có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao Phát triển trồng
Trang 22trọt theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung, sử dụng giống mới; nâng cao chất lượng giống cây trồng áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, đưa cơ giới vào phục
vụ sản xuất, ứng dụng rộng rãi khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, tăng sản lượng lương thực, sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, giảm giá thành để nâng cao khả năng cạnh tranh Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu cây trồng phát huy những sản phẩm nông nghiệp có lợi thế so sánh như lúa, rau an toàn; Đảm bảo qui trình sản xuất đạt tiêu chuẩn chất lượng ATVSTP và vệ sinh môi trường
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT (2015), trong 10 năm tới, ở vùng ĐBSH
và các vùng sản xuất lúa hàng hóa còn lại hướng tới thị trường trong nước là chính; chủ yếu sử dụng các giống lúa có chất lượng gạo, cơm ngon, có giá bán cao phù hợp người tiêu dùng trong nước; tỷ lệ diện tích giống chất lượng cao, bao gồm cả nếp, japonica chiếm khoảng 60%, giống năng suất cao khoảng 40% diện tích gieo trồng
2.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng
2.1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Vĩnh Bảo
* Vị trí địa lý, mối quan hệ lãnh thổ
Vĩnh Bảo nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố 40km, nằm trên vùng hạ lưu và cửa sông Thái Bình, sông Hóa đổ ra biển Đông, phía Bắc đồng bằng sông Hồng
Vĩnh Bảo nằm trên tọa độ địa lý từ 20035’49 đến 20046’06 vĩ độ Bắc và từ
106024’11 đến 106040’00 kinh độ Đông Phía Đông Bắc và Đông giáp huyện Tiên Lãng; Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dương, Phía Nam
và Tây Nam giáp huyện Thái Thụy và Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình
Huyện Vĩnh Bảo có tổng diện tích tự nhiên 18.053,65 ha, bằng 30% diện tích toàn thành phố Hải Phòng, gồm 29 xã và 1 Thị Trấn
Trên địa bàn huyện có các trục giao thông đường bộ quan trọng chạy qua như Quốc lộ 10, quốc lộ 37, tỉnh lộ 17A, 17B Quốc lộ 10 chạy qua huyện dài 15km theo hướng Đông Bắc – Tây Nam nối Vĩnh Bảo với Hải Phòng và các tỉnh Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định; Quốc lộ 37 chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam nối huyện Thái Thụy với tỉnh Thái Bình – Vĩnh Bảo với tỉnh Hải Dương, tiếp giáp với quốc lộ 5 đi Hà Nội và các tỉnh khác
Với vị trí địa lý thuận lợi và có tuyến giao thông quan trọng chạy qua, Vĩnh Bảo có thể liên kết, trao đổi, thu hút thông tin, công nghệ và vốn đầu tư vào
Trang 23phát triển kinh tế, xã hội của huyện Đồng thời đây là nguồn cung cấp lao động
và nông sản hàng hóa cho khu vực nội thành và khu công nghiệp của thành phố Hải Phòng
* Khí hậu, thủy văn
- Về khí hậu:
Huyện Vĩnh Bảo có khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, chịu ảnh hưởng của biển, hình thành hai mùa rõ rệt với các đặc trưng sau:
Mùa đông lạnh khô hanh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, cuối đông ẩm ướt, nhiệt độ thấp nhất từ 9 – 120C vào tháng 12 và tháng 1, mùa hè nóng, mưa nhiều, nhiệt độ cao nhất từ tháng 6 đến tháng 7, có thể lên tới 30 –
320C, có bão vào khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình/ năm từ 23 – 240C
Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.078mm, trong đó lượng mưa trung bình mùa mưa lên đến 1.499mm chiếm 80 – 85% lượng mưa cả năm Mưa có cường độ khá lớn, lượng mưa trung bình/ ngày đạt trên 20mm, lượng mưa/ ngày cao nhất có thể lên tới 300mm, gây ngập úng cả khu dân cư trên đồng ruộng ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân Mùa khô số ngày mưa ít, lượng mưa trung bình/ngày chỉ đạt 3-4 mm Số ngày mưa bình quân đạt 197 ngày/năm
Độ ẩm trung bình năm là 82%, trung bình tối cao là 965, trung bình tối thấp là 71,5% Độ ẩm thấp nhất vào tháng 11- 12, cao nhất vào tháng 3 -4 Lượng bốc hơi hàng năm 740mm, lượng bốc hơi các tháng mùa mưa là 423mm, bốc hơi các tháng mùa khô là 317mm
Hướng gió thịnh hành ở mùa đông là Đông Bắc, mùa hè thịnh hành gió Nam và gió Đông Nam Tốc độ gió trung bình năm từ 2,8 m/s – 7m/s
Vĩnh Bảo thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão từ biển Đông Bão và giông tập trung vào các tháng 5 – 9, đe dọa đến đời sống và ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp Hàng Năm Vĩnh Bảo phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của ít nhất 1-2 cơn bão
- Thủy văn
Vĩnh Bảo là một hợp phần của châu thổ sông Hồng, nên thủy văn của Vĩnh Bảo chịu ảnh hưởng của hệ thống sông Thái Bình, sông Luộc, sông Hóa, sông Kênh Giếc, sông Chanh Dương Cụ thể:
Trang 24Sông Hóa ở phía Tây Nam của huyện có chiều dài 35km, chiều rộng trung bình 50m, sâu trung bình 4m mùa cạn, 6m mùa lũ, tốc độ dòng chảy trung bình 0,3 – 0,5 m3/s Sông Hóa bắt nguồn từ sông Luộc (xã Thắng Thủy chạy qua xã
An Hòa, Hiệp Hòa, Hưng Nhân, Cao Minh, Tam Cường, Cổ Am và chảy vào sông Thái Bình xã Trấn Dương)
Sông Luộc nằm ở phía Tây của Huyện thuộc nhánh sông Hồng chảy qua các xã Thắng Thủy, Trung Lập, Dũng Tiến và nhập vào sông Thái Bình tại xã Giang Biên với chiều dài 21km, chiều rộng 30m, sâu trung bình 6m vào mùa cạn, 8m vào mùa lũ, tốc độ dòng chảy trung bình là 0,8 – 1,0m3/s
Sông Thái Bình ở phía Đông – Đông Bắc của Huyện, chiều dài đoạn chảy qua huyện là 24km, rộng trung bình 40m, sâu trung bình 2,6m vào mùa cạn, 4,5m vào mùa lũ, chảy qua các xã Giang Biên, Vĩnh An, Tân Liên, Tam Đa, Liên
Am, Lý Học, Tam Cường, Hòa Bình, Trấn Dương, với tốc độ dòng chảy trung bình 0,5 – 0,7m3/s
Sông Kênh GIếc chảy từ phía Tây sang phía Đông của huyện, với chiều dài 8,5km, lấy nước từ sông Hóa ( xã An Hòa) chảy ra sông Thái Bình ở xã Tân Liên, Tam Đa
Sông Chanh Dương có chiều dài 24,5 km bắt đầu từ xã Thắng Thủy, lấy nước sông Luộc chạy huyện đến cửa sông Thái Bình thuộc xã Trấn Dương
Với mạng lưới sông ngòi dày đặc ( bình quân 30km2 có một con sông), do ảnh hưởng của chế độ thủy văn sông Hồng và hàng năm các sông bồi lắng cho huyện hàng vạn tấn phù sa, cung cấp nước và tạo nên độ màu mỡ của đất đai, phục vụ tốt cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp
Đặc điểm kinh tế - xã hội
Những năm gần đây, kinh tế xã hội của huyện ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá, bình quân giai đoạn 2011 – 2015 tăng 10,58% Trong đó Nông Nghiệp – thủy sản tăng bình quân 5,91%; công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 16,81%; Thương mại dịch vụ tăng bình quân 16,92% Giá trị sản xuất nông nghiệp – thủy sản tăng bình quân 5,62%; công nghiệp – XDCB tăng bình quân 17,51%; thương mại - dịch vụ tăng bình quân 16,36% Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 31/người/năm
Thế mạnh của huyện là phát triển Nông Nghiệp, do đó Nông Nhiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế của Huyện Cơ cấu kinh tế năm 2011, nông
Trang 25nghiệp – thủy sản: 49,58%, công nghiệp – xây dựng 24,61%, thương nghiệp – dịch vụ 26,26% nhưng đến năm 2015 cơ cấu này chuyển biến tích cực theo thứ
tự trên là 45,41%, 26,44%, 28,15%
2.1.4.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Vĩnh Bảo
* Theo nguồn gốc phát sinh:
Tài nguyên đất của Huyện Vĩnh Bảo chia thành các loại chính sau: Đất phù sa ( cửa sông Thái Bình) không được bồi đắp hàng năm có tầng loang lổ Đất phù sa được bồi đắp hàng năm Đất đã bị biến đổi do bị mặn hóa, phèn hóa, thành đất chua mặn ở các mức độ khác nhau
Đất đai của huyện Vĩnh bảo được hình thành chủ yếu do việc bồi tụ phù sa của sông Thái Bình và hệ thống sông Hồng, do vậy đất của huyện mang sắc thái giao hòa giữa hai bên phù sa của hệ thống sông trên Vì vậy đất đai của huyện Vĩnh Bảo thích hợp với các loại hình sản xuất Nông Nghiệp như trồng lúa nước, trồng các loại rau màu và nuôi trồng thủy sản nước ngọt, khá thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển một tập đoàn cây trồng phong phú đa dạng như lúa, ngô, khoai, cói, đậu tương, bí đỏ, dưa hấu
Trong giai đoạn 2011 – 2015, diện tích đất Nông Nghiệp của toàn huyện
có sự biến động tăng, giảm qua các năm Cụ thể năm 2011 diện tích đất Nông Nghiệp là 12.753,96 ha, chiếm 70,64% tổng diện tích đất tự nhiên, đến năm 2014 giảm còn 12.664,7 ha, chiếm 70,15% diện tích đất tự nhiên, nhưng đến năm 2015 diện tích đạt 12.831,25ha chiếm 71,07%, tăng 77,29 ha so với năm 2011 Nguyên nhân có sự biến động tăng giảm là do có sự thay đổi diện tích đất chưa sử dụng sang diện tích đất Nông nghiệp và một phần diện tích đất Nông nghiệp chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp
* Chuyển dịch về diện tích, sản lượng cây lúa
Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của thành phố, Huyện
ủy, UBND huyện đã tập trung cao lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành Nông nghiệp nói riêng, trong đó chú trọng chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, đồng thời xác định rõ phương hướng và mục tiêu của huyện là từng bước giảm diện tích và ổn định diện tích cấy lúa sang các cây rau màu, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, cây trồng có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm Trong giai đoạn 2011 – 2015, chuyển dịch cơ cấu cây trồng của địa phương đã đạt được một số kết quả tích cực
Trang 26+ Cây lúa:
Diện tích gieo trồng cả năm 2010 toàn huyện là 19.003,4 ha; đến năm
2015 là 18.478,0ha, tốc độ giảm bình quân là 0,6%/ năm do đất trồng lúa chuyển sang mục đích khác
Năng suất lúa cả năm trung bình giai đoạn 2011 – 2015 là 0,7% trong đó
vụ xuân tăng 1,1%, vụ mùa là 0,3% Sản lượng lúa bình quân giai đoạn 2011 –
2015 là 0,1%/ năm, năm 2010 đạt 119.322,3 tấn, đến năm 2015 là 120.127 tấn
Cơ cấu trà lúa: Chuyển dịch theo hướng đối với vụ xuân tăng dần diện tích trà lúa xuân muộn, giảm trà lúa xuân sớm, bỏ hẳn trà lúa xuân chính vụ; đối với
vụ mùa diện tích trà lúa xuân sớm, đầu trung có xu hướng giảm dần
Cơ cấu giống: Chuyển dich theo hướng tăng dần diện tích các giống lúa chất lượng, giống lúa thuần, các giống lúa lai tăng nhẹ Vùng sản xuất lúa chất lượng theo hướng hàng hóa có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm
2.1.4.3 Tình hình sản xuất lúa tại huyện Vĩnh Bảo vụ mùa năm 2016
Vĩnh Bảo là huyện trọng điểm về nông nghiệp của thành phố Hải Phòng với diện tích đất nông nghiệp là 12.896 ha Trong sản xuất nông nghiệp, các loại cây trồng chính của huyện là lúa, ngô, ớt, khoai tây và các loại rau màu khác Tuy nhiên, một phần lớn diện tích ngô, ớt, khoai tây được trồng trên đất 2 lúa trong vụ đông
Về cơ cấu các giống lúa được sản xuất tại huyện Vĩnh Bảovụ mùa năm
2016, kết quả thu thập được trình bày trong bảng 2.4
Bảng 2.4 Cơ cấu các giống lúa vụ mùa năm 2016 của huyện Vĩnh Bảo
Nhóm giống Cơ cấu giống
(% diện tích)
Năng suất (tạ/ha)
Trang 27cấy chủ yếu là giống lúa BC15 (Chiếm 35,5%), Giống BC15 gieo cấy hàng vụ được người dân đăng ký mua chủ yếu tại Phòng Nông nghiệp và Trạm Khuyến nông huyện, không còn tình trạng sử dụng giống tự để Năng suất trung bình của giống BC15 vụ mùa 2016 tại địa phương tương đương với giống TBR225, TBR445 và cao nhất trong các nhóm giống (68,8 tạ/ha)
2.1.5 Tình hình sử dụng phân bón cho giống BC15 vụ mùa 2016 tại Vĩnh Bảo
Được sự giúp đỡ của chương trình khuyến nông nên người dân về cơ bản
đã chú trọng tới việc bón phân chuồng, đạm, lân, kali và phòng trừ sâu bệnh cho lúa nói chung và giống BC15 nói riêng
Bảng 2.5 Lượng phân bón sử dụng cho lúa vụ mùa 2016 tại huyện Vĩnh Bảo
Phân chuồng
(tấn/ha)
Phân đạm (kgN/ha)
Phân lân (kgP2O5/ha)
Phân kali (kgK2O/ha) Lượng
phân
Tỷ lệ %
số hộ
Lượng phân
Tỷ lệ %
số hộ
Lượng phân
Tỷ lệ %
số hộ
Lượng phân
Tỷ lệ %
số hộ
<5 86,6 <45 0 <45 0 <45 0 5-10 13,4 45-90 16,7 45-90 16,7 45-90 33,3
>10 0 90-120 66,6 90-120 66,6 90-120 66,6
>120 16,7 >120 16,7 >120 0
Qua số liệu tại bảng 2.5 cho thấy mức đầu tư thâm canh của các hộ dân cho giống lúa BC15 là khá cao Lượng đầu tư chiếm tỷ lệ lớn với đạm 90-120 kgN/ha chiếm 66,6%, với Supe lân 90 – 120 kg P2O5/ha chiếm 66,6%, Với Kali clorua 90-120 kg K2O/ha chiếm 66,6% Đây là yếu tố tiền đề tạo năng suất cao cho giống BC15 tại Vĩnh Bảo Đối với phân chuồng tỷ lệ sử dụng rất ít do chăn nuôi kém phát triển và xu hướng sử dụng bể biogas ngày càng tăng Tuy mức đầu tư phân bón có tăng lên nhưng lại tăng chủ yếu là phân đạm (110-120 kgN/ha), phân chuồng thì theo xu hướng giảm dần còn kali thì tăng không đáng
kể (95-95 kg K2O /ha)
2.2 VAI TRÒ CỦA PHÂN ĐẠM VÀ NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ LƯỢNG ĐẠM BÓN CHO LÚA
2.2.1 Vai trò của phân đạm đối với cây lúa
Đạm là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây lúa Các giống lúa khác nhau có nhu cầu sử dụng đạm khác nhau (Trần Thúc Sơn
và Đăng Văn Hiến, 1995) Việc cung cấp đạm đủ và đúng lúc sẽ giúp lúa đẻ
Trang 28nhánh khỏe, tập trung, tạo điều kiện tốt cho việc làm tăng các yếu tố cấu thành năng suất sau này: số hạt trên bông, trọng lượng 1000 hạt và tỷ lệ hạt chắc Vì vậy cung cấp đủ và kịp thời đạm cho cây lúa có vai trò quyết định cho việc đạt năng suất cao Đạm còn làm tăng hàm lượng protein trong gạo nên làm tăng chất lượng gạo cho cây lúa Đạm cũng ảnh hưởng tới đặc tính vật lý và sức đề kháng đối với sâu bệnh hại của cây lúa
Thiếu đạm làm cho cây lúa thấp, đẻ nhánh kém, đòng nhỏ, khả năng trỗ kém, số hạt trên bông ít, hạt lép nhiều, năng suất thấp Khi cây lúa thiếu đạm lá
có phiến nhỏ, hàm lượng diệp lục giảm nên lúc đầu lá có màu vàng nhạt ở đầu ngọn lá rồi dần dần cả phiến lá biến màu vàng
Thừa đạm quá nhiều làm cho lá to, dài, phiến lá mỏng, nhánh vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao vóng, bị lốp, đổ non làm ảnh hưởng rất xấu tới năng suất và phẩm chất của cây lúa Hiện tượng lúa lốp, đổ là do cây thừa đạm, làm hô hấp của cây tăng lên, lượng gluxit tiêu hao nhiều, nhưng làm giảm sự hình thành xenlulo và licnin nên làm cho màng tế bào mỏng đi, tổ chức cơ giới trong thân lá phát triển kém
Đạm là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết định sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Đạm là một trong những nguyên tố cơ bản của cây trồng, là thành phần cơ bản của axit amin, axitnucleotit và diệp lục Trong thành phần chất khô của cây có chứa từ 0,5 - 6% đạm tổng số Hàm lượng đạm trong lá liên quan chặt chẽ với cường độ quang hợp và sản sinh lượng sinh khối Đối với cây lúa thì đạm lại càng quan trọng hơn, nó có tác dụng trong việc hình thành bộ rễ; thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh và sự phát triển thân lá của lúa dẫn đến làm tăng năng suất lúa Do vậy, đạm góp phần thúc đẩy sinh trưởng nhanh (chiều cao,
số dảnh) và tăng kích thước lá, số hạt, tỷ lệ hạt chắc và tăng hàm lượng protein trong hạt Đạm ảnh hưởng đến tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa Đạm ảnh lớn đến hình thành đòng và bông lúa sau này, sự hình thành số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc, khối lượng nghìn hạt
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm Ở giai đoạn đẻ nhánh mà thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến số bông ít Khi bón không đủ đạm sẽ làm thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá có thể biến thành màu vàng, bông đòng nhỏ, từ đó làm cho năng suất lúa giảm Nhưng nếu bón thừa đạm làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh; ngoài ra
Trang 29chiều cao phát triển mạnh, dễ bị đổ, nhánh vô hiệu nhiều, trỗ muộn, năng suất giảm Khi cây lúa được bón đủ đạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng (Đỗ Văn Thọ, 2014; Lê Văn Tiềm, 1986) Theo Bùi Huy Đáp (1980), đạm là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ đạm thì các yếu tố khác mới phát huy tác dụng
2.2.2 Những kết quả nghiên cứu về lượng đạm bón cho lúa
Đạm là yếu tố quan trọng đối với cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng Nhu cầu về đạm của cây lúa đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới đi sâu nghiên cứu và có nhận xét chung là: nhu cầu đạm của cây lúa có tính chất liên tục
từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch Trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh dưỡng đạm của cây lúa cao nhất là thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm đòng Ở thời kỳ đẻ nhánh rộ cây hút nhiều đạm nhất (Phạm Văn Cường, 2005)
Ở các nước nhiệt đới, lượng các chất dinh dưỡng (N,P,K) cần để tạo ra 1 tấn thóc trung bình là: 20,5 kg N: 5,1 kg P2O5: 44 kg K2O Trên nền phối hợp 90
P2O5 - 60 K2O hiệu suất phân đạm và năng suất lúa tăng nhanh ở các mức phân bón từ 40 - 120 kg N/ha (Yoshida,1985)
Kết quả tổng kết của Mai Văn Quyền (2002) trên 60 thí nhiệm thực tiễn ở
40 nước có khí hậu khác nhau cho thấy: Nếu đạt năng suất lúa 3 tấn thóc/ha, thì cây lúa lấy đi hết 50kg đạm, 260kg lân, 80kg kali, 10kg CaO, 6kg Mg, 5kg S và nếu ruộng lúa đạt năng suất đến 6 tấn/ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa lấy đi là 100kg đạm, 50kg lân, 160kg kali, 19kg CaO, 12kg Mg, 10kg S Trung bình cứ tạo 1 tấn thóc cây lúa lấy đi hết 17kg đạm, 8kg lân, 27kg kali, 3kg CaO, 2kg Mg
và 1,7kg S Nguyễn Văn Bộ và cs (2003) chỉ ra rằng, trung bình 1 tấn thóc kèm
cả rơm rạ cây lấy đi lượng dinh dưỡng từ đất là: 22,2 kg N; 7,1 kg P2O5; 31,6 kg
K2O và nhiều yếu tố trung, vi lượng khác
Tuy nhiên không phải cứ bón nhiều đạm thì tỷ lệ đạm của cây lúa sử dụng nhiều Theo kết quả nghiên cứu sử dụng phân đạm trên đất phù sa sông Hồng của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm trước: Phản ứng của phân đạm đối với lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của đất, mùa vụ và liều lượng phân đạm bón đến tỷ lệ cây lúa hút của Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng chỉ ra rằng: Ở mức phân đạm 80 kg N/ha, tỷ lệ sử dụng đạm là 46,6%, so với mức đạm này có phối hợp với phân chuồng tỷ lệ hút được là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến
Trang 30160N và 240N, có bón phân chuồng thì tỷ lệ đạm mà cây lúa sử dụng cũng giảm xuống Trên đất bạc màu so với đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa thấp hơn Khi bón liều lượng đạm từ 40N - 120N thì hiệu suất sử dụng đạm giảm xuống, tuy lượng đạm tuyệt đối do lúa sử dụng có tăng lên Còn theo kết quả nghiên cứu nhiều năm của Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, trên đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60 kg P2O5và 30 kg K2O làm nền thì khi có bón đạm đã làm tăng năng suất lúa từ 15% - 48,5% trong vụ Đông xuân và vụ Hè thu tăng từ 8,5% - 35,6% Hướng chung của hai vụ đều bón đến mức 90 kg N/ha có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90 kg N/ha năng suất lúa tăng không đáng kể
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và Nguyễn Văn Duy (2009) trên giống lúa Xi23 trong vụ Xuân năm 2008 tại Thạch Hà - Hà Tĩnh cũng cho thấy lượng đạm 120 Kg N/ha phối hợp với 80-100 kg K2O /ha cho hiệu quả kinh tế của lúa đạt cao nhất
Đối với giống lúa chịu hạn CH5, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Như
Hà (2006), tại Bắc Quang - Hà Giang, lượng phân đạm thích hợp cho lúa CH5 sinh trưởng tốt và cho năng suất cao cũng từ 90- 120 kg N/ha, tùy thuộc vào mật
độ cấy
Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thiêm và Yamauchi Akira (2017), trong điều kiện nhà mái che cho thấy khi tăng lượng bón từ 30 lên 60 mg N đã làm tăng các chỉ tiêu về rễ, lượng nước cây sử dụng và khối lượng chất khô của cây, nhưng không có sự khác nhau về các chỉ tiêu trên khi tăng lượng đạm bón từ 60 lên 120 mg N Tuy nhiên trong điều kiện tưới ngập, các chỉ tiêu về rễ tăng dẫn đến cây hút được nhiều nước hơn, kết quả cây tích lũy chất khô cao hơn khi tăng lượng đạm bón từ 30 lên 120 mg N Hơn nữa trong cả điều kiện tưới ngập và thiếu nước, tổng số chiều dài rễ có mối quan hệ thuận và chặt ở mức ý nghĩa với lượng nước cây sử dụng
Đối với lúa, nhu cầu đạm có tính chất liên tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch Nhưng chủ yếu bón vào 3 thời kỳ: Bón lót trước khi cấy, bón thúc khi đẻ nhánh và bón khi lúa bước vào thời kỳ phân hóa đòng trong đó cần tập trung đạm vào thời kỳ đẻ nhánh vì đây là thời kỳ cây lúa cần nhiều đạm nhất và cũng là thời kỳ khủng hoảng đạm lớn nhất của cây lúa Khi cung cấp đủ đạm cho lúa khi cấy và làm đòng sẽ làm tăng số nhánh và số bông Khi cây lúa hút đạm ở thời kỳ hình thành bông sẽ làm tăng tỷ lệ hạt chắc trên bông
Trang 31Thông thường cây lúa hút 70% tổng lượng đạm trong giai đoạn đẻ nhánh Khi chuyển từ giai đoạn đẻ nhánh sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực nhu cầu đạm của cây ít đi Lúc này cây chỉ cần lượng đạm vừa phải chủ yếu nuôi các cơ quan sinh sản và duy trì diện tích quang hợp
Cây lúa được bón thoả đáng vào thời kỳ đẻ nhánh rộ thúc đẩy cây lúa đẻ nhánh khoẻ và hạn chế số nhánh bị lụi đi Ở thời kỳ đẻ nhánh của cây lúa, đạm
có vai trò thúc đẩy tốc độ ra lá, tăng tỷ lệ đạm trong lá, tăng hàm lượng diệp lục, tích luỹ chất khô và cuối cùng là tăng số nhánh đẻ
Nếu giai đoạn đẻ nhánh mà thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến số bông ít Nếu bón không đủ đạm cây lúa sinh trưởng chậm, thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá sớm chuyển thành màu vàng, đòng nhỏ,
từ đó làm cho năng suất giảm Nếu bón thừa đạm lại làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp đổ, đẻ nhánh vô hiệu nhiều, ngoài ra chiều cao cây phát triển mạnh, trỗ muộn, năng suất giảm
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và cs.(2009) tại Thái Bình và Hưng Yên trên giống lúa N46, với các yếu tố cấu thành năng suất, khi tăng lượng đạm bón 0-120 kg N/ha thì số bông/m2 tăng nhưng tổng số hạt trên bông lại khác nhau không có ý nghĩa ở các mức đạm, còn tỷ lệ hạt chắc trên bông có chiều hướng tăng khi tăng lượng đạm bón đến 90 kg N/ha, nhưng nếu bón 120 kg N/ha thì tỷ lệ hạt chắc bắt đầu giảm thấp hơn thậm trí còn kém cả công thức đối chứng Theo Jeon WT (2012), khi nghiên cứu ảnh hưởng của các mức đạm khác nhau (0, 50, 70, 90, 110, 130 and 150 kgN/ha) đối với sinh trưởng, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Goami2, cho thấy giá trị chỉ số SPAD và hàm lượng N trong cây đều tăng sau 29 ngày gieo nhưng lại giảm sau
93 ngày gieo Kết quả nghiên cứu xác định mức 70 kgN/ha thích hợp cho giống Goami2 đạt năng suất và tỷ lệ gạo xát cao nhất
Songyikhangsuthor K et al (2014), đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của
5 công thức phân đạm (0, 30, 60, 90 và 120 kg/ha) trên 6 giống lúa cạn là: Makhinsoung, Nok, Non, IR55423-1, B6144F-MR-6 và IR60080-46a Kết quả cho thấy mức đạm 30 kg/ha làm tăng năng suất của các giống lúa cải tiến và mức
50 kg/ha làm tăng năng suất của các giống địa phương Các công thức bón phân
có năng suất cao hơn công thức đối chứng (không bón) từ 29-36% đối với giống cải tiến và tăng 25-34% đối với giống địa phương
Trang 32Theo Kawasaki J et al (2011), kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của đạm đến năng suất của giống lúa nếp RD6 tại tỉnh Khon Kaen, Thái Lan cho thấy với lượng 75 kgN/ha cho năng suất cao nhất trong cả mùa khô và mùa mưa
Mazarire M et al (2013), nghiên cứu ảnh hưởng của đạm đến một số giống lúa cạn ((NERICA 1, NERICA 3, NERICA 7 và Mhara 1) ở Zimbabwe cho thấy lượng đạm khác nhau có ảnh hưởng đến chiều cao cây, chiều dài bông, tỷ lệ hạt chắc và năng suất Năng suất giảm ở mức 1 (0 kgN/ha) nhưng ở mức 2 (39.5 kgN/ha), mức 3 (64.5 kgN/ha) và mức 4 (89.5 kgN/ha) 39,5 kgN/ha thích hợp nhất cho 4 giống lúa cạn trên
Bên cạnh nhu cầu đạm cao ở thời kỳ đẻ nhánh, cây lúa cũng cần nhiều đạm trong thời kỳ phân hoá đòng và phát triển đòng thành bông, tạo ra các bộ phận sinh sản Thời kỳ này quyết định cơ cấu sản lượng như số hạt/bông, khối lượng nghìn hạt (P1000) Việc cung cấp đạm lúc cây trưởng thành là điều kiện cần thiết
để làm chậm quá trình già hoá của lá, duy trì cường độ quang hợp khi hình thành hạt chắc và tăng Protein tích luỹ vào hạt
Khi nghiên cứu khả năng quang hợp và tích lũy chất khô của dòng lúa cực ngắn ngày DCG72 trên các mức đạm khác nhau cho thấy cường độ quang hợp ở thời kỳ chín sáp của dòng DCG72 cao hơn so với KD18 ở mức đạm bón thấp 0,5gN/chậu nhưng thấp hơn so với giống KD ở mức đạm bón 1,5gN/chậu là do hàm lượng đạm và diệp lục trong lá thấp Năng suất cá thể của dòng DCG72 tương đương với giống KD18 ở mức không bón đạm nhưng cao hơn so với giống KD18 ở mức đạm bón thấp 0,5gN/chậu do có số hạt/bông và khối lượng 1000 hạt cao (Lê Văn Khánh và cs., 2016)
Về hiệu suất bón đạm:
Hiệu suất bón đạm được tính theo công thức sau:
Ef = Kth * Ku Trong đó: Ef: Hiệu suất bón đạm
Kth: Tỷ lệ đạm thu hồi Nó được tính bằng tỷ số giữa lượng đạm cây hút được và lượng đạm bón vào đất
Ku: Hiệu suất sử dụng đạm Được tính bằng số kg thóc được tạo ra do 1kg đạm cây hút được
Theo Nguyễn Tất Cảnh (2005), đối với đạm bón theo kiểu truyền thống
Trang 33hiệu quả rất thấp cây chỉ sử dụng được khoảng 30 – 40% lượng phân bón
Theo Trần Thúc Sơn (1996), trên đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất 1 kg N
là 10 – 15 kg thóc ở vụ Xuân và 6 – 9 kg thóc vụ Mùa Nếu bón trên 160 kg N/ha thì hiệu suất của phân đạm giảm rõ rệt
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và cs (2007), khi xác định lượng đạm bón vãi cho dòng lúa thuần N18 tại Phúc Thọ - Hà Tây vụ mùa năm
2005, nhóm tác giả nhận thấy hiệu suất bón đạm đạt cao nhất là 9,2 kg thóc/1 kg
N khi bón 100 kg N/ha trên nền 5 tấn phân chuồng + 90 kg P2O5+ 90 kg K2O trên đất 2 vụ lúa Tuy nhiên khi bón đạm viên nén cho lúa tẻ thuần chất lượng cao N46, thì hiệu suất cao đạt cao nhất ở mức đạm bón 60 kg /ha Trong đó, Vụ xuân
ở Thái Bình đạt 15,7 kg thóc/1kg N; vụ mùa ở Hưng yên đạt 15,8 kg thóc/1 kg N tại Ân Thi và 15 kg thóc/1kg N tại Tiên Lữ Như vậy hiệu suất bón đạm cũng phụ nhiều vào dạng đạm bón, tính chất đất đai và mùa vụ…
Như vậy để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong trồng lúa, chúng ta cần bón đầy đủ đạm và cân đối với các chất dinh dưỡng khác, bên cạnh việc bón lót, bón đạm vào giai đoạn đẻ nhánh và phân hóa đòng sẽ nâng cao năng suất và hiệu suất sử dụng đạm
2.2.3 Lượng phân bón cho cây lúa
Liều lượng phân khoáng bón cho lúa phụ thuộc vào giống, độ phì của đất, mùa vụ Giống năng suất cao cần bón nhiều hơn so với các giống lúa thường, lúa
vụ xuân bón nhiều hơn lúa vụ mùa, trồng đất có độ phì cao cần giảm lượng phân bón Để xác định lượng phân bón thích hợp cho lúa cần căn cứ vào lượng dinh dưỡng cây hút để tạo ra 1 tấn thóc
Bảng 2.6 Lượng dinh dưỡng cây hút để tạo ra 1 tấn thóc
Trang 34thiết nhưng phải bón đủ, hợp lý, cân đối và đúng cách Nếu bón phân không cân đối và hợp lý sẽ làm giảm 20 – 50% năng suất (Nguyễn Văn Bộ, 2012) Do hệ số
sử dụng phân đạm của cây lúa không cao nên lượng đạm cần bón phải cao hơn nhiều so với nhu cầu Hiện nay, để hạn chế việc bón thừa đạm người ta sử dụng bảng so màu lá lúa Kỹ thuật này hiện đang được áp dụng phổ biến rộng rãi ở ĐBSCL góp phần làm giảm chi phí sản xuất, giảm thiệt hại của sâu bệnh, tăng năng suất và hạn chế lưu tồn nitrat trong đất và trong nước do bón thừa đạm
Theo Nguyễn Như Hà (2006), lượng đạm bón dao động từ 60 – 160kg N/ha Tuy nhiên trên đất có độ phì trung bình, để đạt năng suất 6 tấn/ha cần bón
160 kg Trên đất phù sa sông Hồng, để đạt năng suất trên 7 tấn/ha cần bón 180 – 200kg N/ha.Lượng phân lân bón cho lúa dao động từ 30 – 100kg P205, thường bón 60kg P205/ha Đối với đất xám bạc màu có thể bón 80 – 90kg P205/ha, đất phèn là 90 – 150kg P205/ha Lượng kali bón cho lúa thâm canh trung bình 30 – 90kg K20/ha và lúa thâm canh cao là 100 - 150kg K20/ha Trên đất phù sa sông Hồng khi đã bón 8 – 10 tấn phân chuồng/ha thì chỉ nên bón 30 – 90kg K20/ha, ngay cả trong điều kiện thâm canh lúa cao Tại xã Quang Minh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang với giống lúa chịu hạn CH5 trong các vụ mùa từ 2002 đến
2005 cho thấy nên bón (120N + 90 P205 + 90 K20) kg/ha trên nền 8 tấn phân chuồng ở mật độ cấy 55 khóm/m2
Một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất lúa là lượng phân bón và phương pháp bón Về lượng phân bón muốn đạt năng suất 50 tạ/ha trở lên thì cần lượng đạm nguyên chất là 110 – 120 kg/ha Về cách bón phân thì đối với lúa cấy cần bón lót đạm sâu, bón tập trung thời gian đầu có hiệu quả nhất, bón sâu đạm được giữ lại trong đất và xúc tiến quá trình hoạt động của
bộ rễ, thúc đẩy quá trình đẻ nhánh sớm, tập trung Còn đối với lúa gieo vãi để đạt được năng suất lúa cao phải đảm bảo số bông trên đơn vị diện tích Việc phân bố đều các cây trên mặt đất tăng khả năng quang hợp đồng thời trong đất với hệ thống rễ dày đặc nên đòi hỏi việc cung cấp hút dinh dưỡng liên tục qua các thời
kỳ sinh trưởng cây Với ruộng lúa gieo vãi không nên bón lót toàn bộ lượng đạm như lúa cấy Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, một phần phân kali bón trước khi bừa để vùi sâu Với phân đạm, bón lót 1/3, thúc thời kỳ 3 – 4 lá 1/3 và thúc đòng 1/3 tổng lượng phân đạm bón cho cả vụ thì đạt hiệu quả cao nhất Việc bón thúc đạm cho lúa gieo vãi lúc cây 3 – 4 lá vì lúc này là thời kỳ cây lúa chuyển từ dinh dưỡng từ hạt sang lấy dinh dưỡng từ đất Đồng thời lúa ở thời kỳ này sinh trưởng thân lá chưa nhiều, điều kiện dinh dưỡng, ánh sáng, nhiệt độ
Trang 35trong quần thể ruộng lúa còn thích hợp, cần thúc đẩy cho cây lúa phát triển mạnh, tranh thủ đẻ nhánh để chóng kín đất, lấn át cỏ dại Đến giai đoạn cây lúa phân hóa đòng lúc này mật độ cây dày, cây thiếu dinh dưỡng, cần bón đạm và kali hiệu quả khá cao Việc bón rải phân đạm nhiều đợt với lúa cấy dễ làm cho lúa bị nhiễm sâu bệnh nhất là bệnh bạc lá, nhưng với lúa gieo vãi hiện tượng lá xanh đậm thừa đạm không phổ biến và tỷ lệ bệnh giảm có thể là do số cây trên ruộng nhiều nên quá trình hút dinh dưỡng hạn chế hơn so với lúa cấy
Theo Nguyễn Văn Dung (2010), đối với lúa gieo thẳng theo hàng bón phân nén NPK với mức 70N + 60P205 + 60 K20 kg/ha năng suất đạt 6,74 – 7,33 tấn/ha, tiết kiệm được từ 20 – 30 kg N/ha so với bón phân vãi
Theo Đỗ Khắc Thịnh và cs.,(2011) công thức bón phân phù hợp cho lúa gieo sạ ở vụ hè thu: 60 – 90N + 60 P205 + 50 K2O, đông xuân: 90 – 120N + 60
P205 + 50 K20 kg/ha cho Bình Phước; 90 – 120N + 60 P205 + 50 K20 ở vụ hè thu, 120N + 60 P205 + 50 K20 kg/ha vụ đông xuân cho Đăk Nông
2.3 NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ MẬT ĐỘ CẤY LÚA
Năng suất ruộng lúa được quyết định bởi các yếu tố: Số bông/đơn vị diện tích, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc và khối lượng hạt Năng suất lý thuyết được thể hiện bởi công thức:
Năng suất (tạ/ha) = Số bông/m2 x Số hạt/bông x Tỷ lệ hạt chắc x P1000 x 104
Trong những yếu tố kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng, ngoài phân bón
và cách bón phân, thì mật độ quần thể ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cây trồng Sự cạnh tranh quần thể cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa, khi cây lúa phải sống trong điều kiện chật hẹp, thiếu ánh sáng làm cây lúa trở nên yếu
ớt sâu bệnh dễ tấn công và dịch bệnh phát triển mạnh Ngoài ra, năng suất cây trồng không chỉ dựa vào năng suất của cá thể mà dựa vào năng suất của một quần thể trên một đơn vị diện tích Mật độ gieo quyết định số bông trên đơn vị diện tích,
mà số bông lại là một yếu tố quan trọng trong việc cấu thành năng suất lúa
Theo Nguyễn Văn Dung và cs (2010), mật độ gieo 50 kg giống/ha năng suất lúa dao động từ 6,74 – 6,81 tấn/ha, khi tăng mật độ lên 80 kg/ha năng suất chỉ đạt 4,89 tấn/ha
Theo Nguyễn Như Hà (2006), tăng mật độ cấy ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát triển dảnh và số dảnh hữu hiệu của giống lúa CH5, việc tăng mật độ cấy dù làm giảm số dảnh được tạo thảnh trên khóm nhưng vẫn làm tăng số dảnh trên m2
Trang 36nên số dảnh các giai đoạn sinh trưởng và số dảnh hữu hiệu cao Đặt biệt khi tăng mật độ cấy 45 khóm đến 65 khóm/m2 đồng thời tăng lượng đạm từ 90 kg đến
120 kg N/ha có ảnh hưởng rất tốt đến sự phát triển dảnh và số dảnh thành bông của giống lúa CH5
Cũng theo tác giả này khi tăng lượng đạm bón lên 120 kg N/ha mà vẫn giữ nguyên mật độ cấy theo khuyến cáo 45 khóm/m2 tuy có tạo được yếu tố cấu thành năng suất số bông cao nhưng làm giảm rõ rệt các yếu tố cấu thành năng suất khác (số hạt/bông, tỷ lện hạt chắc và khối lượng P1000 hạt), nên không tạo được năng suất cao hơn mức bón 90 kg N/ha Nhưng cũng trên nền phân bón này tăng bón đạm kết hợp tăng mật độ cấy lên 55 khóm/m2 vừa làm tăng mạnh số bông vừa có ảnh hưởng tốt tới các yếu tố cấu thành năng suất (số hạt/bông, khối lượng P1000 hạt và tỷ lện hạt chắc) nên làm tăng năng suất rõ
2.3.1 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy
Mật độ cấy là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích Với lúa cấy mật độ được tính bằng số khóm/m2, còn với lúa gieo thẳng thì mật
độ được tính bằng số hạt mọc/m2 Về nguyên tắc thì mật độ gieo cấy càng cao,
số bông càng nhiều Nhưng trong giới hạn nhất định, khi tăng số bông không làm giảm số hạt/bông, vượt quá giới hạn đó số hạt/bông và trọng lượng hạt bắt đầu giảm đi Mật độ thích hợp tạo cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng dinh dưỡng và ánh sáng Xác định mật độ cấy phù hợp là yêu cầu cần thiết, nó phải dựa trên cơ
sở về tính di truyền của giống, điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng và các biện pháp
kỹ thuật khác
Theo Yosida (1985), khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa mật độ cấy và khả năng đẻ nhánh của lúa đã khẳng định: Với lúa cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khỏe và sớm thay đổi từ 20 x 20 cm đến 30 x 30 cm Theo ông, việc đẻ nhánh chỉ xảy ra với mật độ 300 cây/m2 Năng suất hạt tăng lên khi mật
độ cấy tăng lên từ 182 - 242 dảnh/m2 Số bông trên đơn vị diện tích cũng tăng lên theo mật độ nhưng lại giảm số hạt/bông
Đối với lúa cấy, số lượng tuyệt đối về số nhánh thay đổi nhiều qua các mật độ nhưng tỷ lệ nhánh có ích giữa các mật độ lại không thay đổi nhiều Theo ông, các nhánh đẻ của cây lúa không phải nhánh nào cũng cho năng suất mà chỉ những nhánh đạt được thời gian sinh trưởng và số lá nhất định mới thành bông Điều chỉnh mật độ có thể làm tăng năng suất do khi điều chỉnh mật độ có
Trang 37thể làm tăng khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo số lá và chỉ số diện tích lá thích hợp cho cá thể và quần thể ruộng lúa, tăng khả năng quang hợp của cá thể và quần thể ruộng lúa, cũng như tăng khả năng chống chịu sâu bệnh…Bên cạnh
đó, mật độ cấy liên quan chặt chẽ đến quá trình đẻ nhánh, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành số bông – yếu tố quan trọng cấu thành năng suất lúa (Nguyễn Ích Tân và cs., 2011)… Do vậy, mật độ ảnh hưởng mạnh đến năng suất lúa Việc bố trí mật độ hợp lý nhằm phân bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn
vị diện tích đất, tận dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh gây hại tạo ra cấu trúc quần thể với số lượng bông, số hạt hợp lý, đạt được số hạt nhiều, hạt to và chắc đồng nghĩa với năng suất đạt tối đa
Cùng một đơn vị diện tích nếu mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không làm giảm số hạt trên bông, nhưng nếu vượt quá giới hạn đó thì số hạt trên bông bắt đầu giảm đi (do dinh dưỡng và ánh sáng phải chia sẻ cho nhiều bông) Tuy nhiên, tốc độ giảm
số hạt trên bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ gieo cấy Song nếu cấy quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì khó hoặc không đạt được số bông tối ưu cần thiết theo dự định Nếu bố trí mật độ hợp lý, sẽ tiết kiệm được hạt giống, công lao động, và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa Do vậy, khi các khâu, kỹ thuật khác được duy trì thì chọn mật độ vừa phải là phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy
Kết quả nghiên cứu mới nhất của Vũ Huy Hoàng và Vũ Đức Thắng (2017) cho thấy thời gian cấy có ảnh hưởng tới thời gian sinh trưởng của lúa qua các giai đoạn theo dõi Tăng mật độ cấy làm tăng số nhánh/m2 và chất khô tích lũy nhưng không ảnh hưởng đáng kể tới chiều cao cây và chỉ số diện tích lá (LAI) Mật độ cấy trong thí nghiệm ảnh hưởng rõ rệt tới số bông/m2 nhưng ít ảnh hưởng tới các yếu tố cấu thành năng suất khác và năng suất thực thu
Một trong những yếu tố cơ bản khi xác định mật độ cấy là đặc điểm của giống, điều kiện canh tác, khí hậu đất đai của vùng Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy với mật độ thưa và ngược lại phải cấy dày Giống lúa nhiều bông cấy dày không có lợi bằng giống to bông Vùng lạnh nên cấy dày hơn
so với vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dày hơn so với lúa gieo sớm
Trang 38Bên cạnh các yếu tố trên, khi xác định mật độ cấy cần phải dựa vào điều kiện bón phân Ở điều kiện phân bón nhiều thì mật độ cấy phải dựa vào khả năng
đẻ nhánh, trái lại ở điều kiện phân bón ít phải dựa vào số thân chính
Khi nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khoẻ và sớm thay đổi từ (20 × 20) cm đến (30 × 30) cm Thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn cấy dầy thì lúa đẻ nhánh ít Nhận xét mối quan
hệ diện tích dinh dưỡng và sự đẻ nhánh, theo Phạm Văn Cường, sự đẻ nhánh của cây lúa có quan hệ chặt chẽ với diện tích dinh dưỡng Nếu diện tích dinh dưỡng càng lớn thời gian đẻ nhánh đẻ càng dài và ngược lại, diện tích dinh dưỡng càng nhỏ thì thời gian đẻ nhánh càng ngắn
Còn một số tác giả lại cho rằng cấy dày hay cấy thưa cũng ít ảnh hưởng đến năng suất, tuy mật độ có ảnh hưởng đến số bông trên đơn vị diện tích nhưng nếu
số bông nhiều thì số hạt trên bông ít và ngược lại, nên cuối cùng số hạt trên đơn
vị diện tích thay đổi ít hoặc không thay đổi Tuy nhiên đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả đều cho rằng gieo cấy với mật độ dày sẽ tạo môi trường thích hợp cho sâu bệnh phát triển vì quần thể ruộng lúa không được thông thoáng và che khuất lẫn nhau nên bị chết lụi nhiều
Về cách bố trí khóm lúa, theo Nguyễn Văn Hoan (2004), tuỳ từng giống để chọn mật độ thích hợp, tuy nhiên cách bố trí khóm lúa theo hình chữ nhật sẽ phù hợp hơn cả vì như thế mật độ trồng được đảm bảo mà vẫn tạo ra được sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năng quang hợp, chống bệnh tốt và sẽ cho năng suất cao hơn
Để xác định mật độ thích hợp có thể căn cứ số bông hữu hiệu trên khóm và
số bông cần đạt trên m2 Từ hai thông số trên có thể xác định mật độ cấy phù hợp theo công thức:
Mật độ (số khóm/m2) = số bông/m
2
số bông/khóm Bằng thực nghiệm của mình theo Nguyễn Như Hà (2006), để đạt được năng suất cao nhất tại Hà Giang, đối với CH5 nên cấy với mật độ 55 khóm/m2 Còn theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Thu (2012), đối với giống Japonica J02 mật độ cấy thích hợp tại Hưng Yên là 40-45 khóm /m2 (ở
vụ xuân) và 45 khóm /m2 (vụ mùa)
Trang 392.3.2 Những kết quả nghiên cứu về số dảnh cấy
Số dảnh còn phụ thuộc vào khả năng đẻ nhánh của giống Nghiên cứu số dảnh cấy/khóm cho vụ Xuân, Bùi Huy Đáp (1999) cho rằng “Trong điều kiện bình thường không nên cấy nhiều dảnh, nhìn chung cấy 2 - 3 dảnh có ưu thế hơn cây 5-6 dảnh, nếu mạ bị già nên tăng số dảnh cây” Cũng theo tác giả, khi cấy 2 -
3 dảnh/khóm lúa sẽ đẻ nhánh tốt hơn, có nhiều bông bằng cổ và đạt năng suất cao hơn Cấy 3 - 4 dảnh/khóm trong những điều kiện bình thường chỉ nên cấy mật độ
25 - 30 khóm/m2 ở các chân ruộng sâu trong vụ Mùa, cấy dày trên dưới 40 khóm/m2 ở ruộng tốt bón nhiều phân chỉ nên cấy 1 - 2 dảnh
Theo Trần Đức Viên (2007), lúa lai có khả năng hút đạm mạnh hơn so lúa thuần ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng, điều này góp phần làm cho lúa lai có khă năng đẻ nhánh tốt hơn Khả năng đẻ nhánh của cây lúa phụ thuộc nhiều vào mật độ cấy và số dảnh cấy ban đầu Nếu cấy quá dày đối với lúa lai gây giảm năng suất nhiều hơn so với lúa thường Nhưng nếu cấy quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì khó đạt được số bông tối ưu cần thiết để tạo năng suất cao
Việc xác định lượng giống cần gieo để giảm chi phí giống mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế là rất cần thiết Nếu gieo quá dày sẽ tăng chi phí thóc giống, đặc biệt là giống lúa lai Mặt khác gieo cấy dày kéo theo tăng công tỉa dặm, chăm sóc đặc biệt sâu bệnh hại tăng lên làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm Trên một diện tích gieo cấy, nếu mật độ càng cao thì số bông càng nhiều song số hạt/bông càng ít (bông bé) Tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ, cấy dày quá sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng
Theo Nguyễn Công Tạng và cs., (2002) khi sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa đẻ nhánh) thì sau cấy, lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh Nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu/khóm với mật độ 40 khóm/m2, chỉ cần cấy 3 - 4 dảnh, mỗi dảnh
đẻ 2 nhánh là đủ Nếu cấy nhiều hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm
Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ 2 - 5 nhánh thì số dảnh cấy phải tính
cả nhánh đẻ trên mạ Loại mạ này già hơn 10 - 15 ngày so với mạ chưa đẻ, vì vậy
số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải đạt trên 70% số bông dự định Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích lũy, ra lá, lớn lên và thành bông Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào khoảng 8 - 15 ngày sau cấy
Trang 40Vì vậy cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiều hơn cấy mạ non
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh và mật độ cấy đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Việt lai 20 của Tăng Thị Hạnh (2003) cho thấy, mật độ cấy ảnh hưởng không nhiều đến thời gian sinh trưởng, số
lá và chiều cao cây Nhưng mật độ có ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh, hệ số
đẻ nhánh (hệ số đẻ nhánh giảm khi tăng mật độ cấy) Mật độ cấy tăng thì diện tích lá và khả tích lũy chất khô tăng lên ở thời kỳ đầu, đến giai đoạn chín sữa khả năng tích lũy chất khô giảm khi tăng mật độ cấy Cũng theo tác giả, trên cả hai vùng đất đồng bằng sông Hồng và đất bạc màu Sóc Sơn, cấy với mật độ 25 khóm/m2 và 3 dảnh/khóm cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất
Như vậy, mật độ và năng suất lúa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tăng mật độ cấy trong giới hạn nhất định thì năng suất sẽ tăng Vượt quá giới hạn
đó thì năng suất sẽ không tăng mà thậm chí có thể giảm đi
2.4 NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN CHO LÚA
Một trong các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của các giống lúa là mật độ cấy và mức phân bón Không có mật độ cấy và các mức phân bón chung cho mọi giống lúa, ở mọi điều kiện Nói chung các giống lúa càng ngắn ngày càng cần cấy dày, như các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 75 – 90 ngày nên cấy mật
độ 40 – 50 khóm/m2; Những giống lúa đẻ nhánh khỏe, dài ngày, cây cao trong những điều kiện thuận lợi cho lúa phát triển thì cấy mật độ thưa hơn
Khi bón đạm cao kết hợp với cấy mật độ dày, khoảng cách giữa các cây hẹp, sẽ dẫn đến sự che cớm lẫn nhau Sự cạnh tranh ánh sáng xảy ra sớm hơn sự cạnh tranh đạm trong quá trình sinh trưởng Điều này chứng tỏ ánh sáng chứ không phải đạm là yếu tố hạn chế năng suất Ở khoảng cách hẹp kết hợp với bón nhiều đạm sự che cớm càng lớn, mức độ gây hại năng suất càng nhiều, có thể cấy thưa để cải thiện tình hình nhưng không thể khắc phục triệt để sự che cớm khi bón nhiều đạm
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa mật độ cấy và mức bón N cho các giống lúa ngắn ngày được tiến hành trên giống NN8, Bùi Huy Đáp kết luận: Ở mức bón
N dưới 100kg/ha, mật độ cấy thích hợp là 35 – 40 khóm/m2
Theo Trần Thúc Sơn (1995), trong cùng điều kiện Vụ Xuân trên đất phù sa sông Hồng giống CR203 có khả năng chịu phân đạm dao động từ 80 - 150 kg