1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng WEB 2 0 vào chính phủ điện tử ở việt nam

25 855 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ứng dụng Web 2.0 vào chính phủ điện tử ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thu Hằng
Người hướng dẫn TS. Trịnh Anh Tuấn
Trường học Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Chuyên ngành Truyền dữ liệu và mạng máy tính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 333,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệu quả xã hội trái chiều giữa một bên là dịch vụ công trực tuyến được đầu tư tốn kém và một bên là các ứng dụng chi phí thấp – định hướng người dùng đã đặt ra một câu hỏi: Liệu các ứng

Trang 1

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

Trang 2

Luận văn được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Anh Tuấn

Phản biện 1: ………

Phản biện 2: ………

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

Vào lúc: giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

Trang 3

Tuy nhiên, các kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với sự đầu tư rất lớn cũng như mong muốn của Chính phủ Trong khi, cốt lõi của việc xây dựng CPĐT là việc thi hành cải cách hành chính lại không phải là đơn giản Cùng với đó là việc người dân chưa sẵn sang trong việc sử dụng các dịch vụ hành chính công trên mạng cũng dẫn đến việc hiệu quả thấp trong việc sử dụng các hệ thống CPĐT vốn được đầu tư rất tốn kém

Trái ngược với sự phát triển chậm chạp của CPĐT, Web 2.0 đã phát triển với chi phí thấp nhưng có được sự thành công rực rỡ Dựa trên tư tưởng căn bản: mỗi một người dùng

là một nhà sản xuất về nội dung (nhật ký trên mạng – Blog, từ điển mở - Wiki, Flickr, …),

về cảm xúc cá nhân (Last.fm, de.li.cious), chia sẻ thông tin

Hiệu quả xã hội trái chiều giữa một bên là dịch vụ công trực tuyến được đầu tư tốn kém và một bên là các ứng dụng chi phí thấp – định hướng người dùng đã đặt ra một câu hỏi:

Liệu các ứng dụng Web 2.0 có thể được triển khai trên CPĐT để nâng cao hiệu quả, phục vụ tốt hơn

nhu cầu của người dân hay không?

Xuất phát từ quan điểm trên, trong giới hạn của luận văn này, em xin trình bày về các ứng dụng Web 2.0 có liên quan và tác động như thế nào đến việc xây dựng CPĐT của các nước trên thế giới cũng như CPĐT tại Việt Nam và đề xuất các chính sách thúc đẩy ứng dụng Web 2.0 vào xây dựng CPĐT tại Việt Nam

Cách tiếp cận của luận văn

Trang 4

Dưới góc độ ứng dụng nghiệp vụ, triển khai công nghệ thông tin (CNTT) trong các

cơ quan công quyền được thể hiện qua 2 khía cạnh: Ứng dụng CNTT trong các nghiệp vụ quản lý bên trong bộ máy và ứng dụng CNTT trong cung cấp các dịch vụ công tới người dân và doanh nghiệp Web 2.0 và các thế hệ tiếp theo như điện toán đám mây, Web ngữ nghĩa (Semantec Web) với phương pháp dữ liệu tập trung nhưng triển khai phân tán không chỉ có những tác động hết sức tích cực tới các quy trình nghiệp vụ nêu trên mà còn làm cho các dự án CNTT có chi phí thấp hơn, khả thi hơn có ý nghĩa rất lớn trong việc triển khai CPĐT, nhất là trong thời điểm hậu khủng hoảng kinh tế hiện nay

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ WEB 2.0 1.1 Khái niệm về Web 2.0

Thuật ngữ Web 2.0 lần đầu xuất hiện vào tháng 10/2004 khi Tim OReily – Chủ tịch

và Dale Dougherty – Phó Chủ tịch của OReily Media đưa ra tại một cuộc hội thảo về sự phát triển tiếp theo của Web

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về Web 2.0, tuy nhiên đa số vẫn mô tả Web 2.0 ở một số tính năng như khả năng giao tiếp, tính tương tác giữa các người dùng với nhau hay là những yếu tố cho phép người dùng có thể tạo ra thông tin Các loại dịch vụ Web 2.0 như mạng xã hội, blog, các từ điển mở wiki, … đang có một sự phát triển như vũ bão và thực sự đang làm biến đổi thế giới Internet từng ngày, từng giờ

Nhìn vào các con số thể hiện sự gia tăng chóng mặt của mạng xã hội – đại diện tiêu biểu nhất của Web 2.0, người ta có thể cảm nhận được mức độ ảnh hưởng của thế hệ web này

1.1.1 Quan điểm của Tim OReily

Theo Tim OReily, chưa có một định nghĩa nào mô tả Web 2.0 một cách chính xác, tuy nhiên có thể hiển Web 2.0 thông qua các đặc tính sau đây:

- Web là nền tảng

- Tập hợp trí tuệ cộng đồng

- Dữ liệu có vai trò then chốt (Data is next Intel inside)

- Phần mềm được cung cấp ở dạng dịch vụ web và được cập nhật không ngừng

- Phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng

- Phần mềm có thể chạy trên nhiều thiết bị

- Giao diện ứng dụng phong phú

Web là nền tảng

Trang 5

Các hệ thống Web 2.0 sử dụng Web như một nền tảng đã đem lại cho người sử dụng các ứng dụng phong phú, có khả năng chạy trên nhiều thiết bị, đem lại cho các nhà phát triển phần mềm mô hình lập trình dễ dàng và nhanh chóng đồng thời tạo cơ hội cho các nhà cung cấp có thể triển khai giải pháp nhanh chóng và linh hoạt Với Web 2.0, người dùng Internet, các nhà phát triển ứng dụng, các nhà cung cấp sẽ có những cái nhìn mới về việc sử dụng và khai thác Internet theo từng khuôn nhìn của họ

Phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng

Các mô hình, tư duy và kỹ thuật lập trình trong Web 2.0 có sự khác biệt rất lớn so với lập trình thế hệ trước Lập trình trong Web 2.0 dựa trên nền tảng dịch vụ, sử dụng giao thức REST Representational State Transfer (là Web API sử dụng HTTP để tương tác với XLM

và JSON) để truyền tải thông tin, đồng thời đặt sự tiện dụng và dễ dùng làm trọng tâm

Phần mềm có thể chạy trên nhiều thiết bị

Thông thường, chúng ta vẫn quen với những phần mềm khách chủ (client-server) với các hoạt động trao đổi dữ liệu từ máy tính khách với tư cách là đối tượng “tiêu dùng” dữ liệu đến máy tính chủ là đối tượng “phục vụ” Tuy nhiên, khái niệm này không còn phù hợp với những hệ thống điện toán ngang hàng P2P hay phía khách là những thiết bị đầu cuối không phải là máy tính như máy nghe nhạc, điện thoại, thiết bị định vị, …

1.1.2 Quan điểm của cộng đồng Wikipedia

Web 2.0 được hiểu là thế hệ thứ 2 của việc thiết kế và phát triển ứng dụng Web, nó

sẽ làm cho truyền thông được dễ dàng hơn, chia sẻ thông tin, tham gia và thao tác Web an toàn hơn Khái niệm Web 2.0 đã dẫn tới sự phát triển của các cộng đồng, dịch vụ lưu trữ và ứng dụng trên nền Web, như các mạng xã hội, chia sẻ video, từ điển mở wiki, blog, …

Đặc trưng của Web 2.0

Web 2.0 không chỉ thuần túy cung cấp thông tin như Web 1.0, mà người dùng còn có thể chạy các phần mềm thông qua trình duyệt (thậm chí cả hệ điều hành – WebOS…) Các trang Web 2.0 với “kiến trúc của sự tham gia – Architecture of participation” khuyến khích người dùng có thể đưa ra các phần mềm mà họ sử dụng (qua Web), các dữ liệu giá trị gia tăng (người dùng có thể thêm dữ liệu đánh dấu về vị trí trên Google map), …

Công nghệ

Sự phát triển không ngừng của công nghệ hạ tầng Web 2.0 bao gồm các phần mềm phía máy chủ, dịch vụ cung cấp tin tự động (conten-syndication qua RS), giao thức nhắn tin

Trang 6

(messaging-protocols), trình duyệt hướng tiêu chuẩn với công cụ mở rộng (plugins và extensions) và rất nhiều các ứng dụng phía máy khách khác

Thông thường, Web 2.0 bao gồm một số đặc tính công nghệ mà Andrew McAfee tóm tắt bằng các chữ cái đầu như sau: SLATES

- Search (tìm kiếm): sự dễ dàng tìm kiếm thông tin dựa trên các từ khóa

- Link (liên kết): sự liên kết ngang hàng với các nội dung liên quan

- Authoring (cập nhật): Khả năng cập nhật liên tục nội dung, không chỉ với số ít người có quyền cập nhật mà còn qua môi trường làm việc liên cộng tác (interlinked work)

- Tags (gắn thẻ): nội dung được phân lớp bằng việc gắn thẻ - một động tác rất đơn giản, chỉ với một từ khóa người dùng tự định nghĩa có thể làm cho việc tìm kiếm đơn giản hơn

- Extensions (sự mở rộng): Các thuật toán mạnh sẽ thúc đẩy việc sử dụng Web như một nền tảng ứng dụng

- Signals (phát tín hiệu): Sử dụng công nghệ RSS có thể thông báo cho người dùng những thay đổi về nội dung một cách nhanh chóng

Phần mềm nền Web – xu thế và các công nghệ nền tảng

AJAX đã thúc đẩy sự phát triển ngày càng lớn mạnh, thậm chí còn lấn sang thị trường phần mềm desktop của các ứng dụng nền Web như các ứng dụng xử lý văn bản, bảng tính và trình diễn Rất nhiều Website cung cấp ứng dụng WYSIWYG (What you see is what you get) có đầy đủ tính năng của phần mềm desktop

Các ứng dụng RIA (Rich Internet Application)

Các ứng dụng RIA là các ứng dụng Web có sự khác biệt cơ bản so với phần mềm desktop là được thi hành qua trình duyệt Web bằng các trình cài thêm (plug-in hay add-on) hay qua các máy ảo (virtual machines)

1.1.3 Quan điểm của tác giả

Tác động lớn nhất của Web 2.0 chính là xu thế nội dung được tạo bởi cộng đồng người dùng (user-generated content), sự đóng góp trí tuệ của tập thể, đồng thời, Web 2.0 còn có những tác động đến sự thay đổi về thể chế, về cấu trúc các tổ chức xã hội từ mô hình tập trung sang phi tập trung hóa một cách sâu rộng

Sự phát triển của kinh tế, xã hội làm cho người dân có điều kiện về kinh tế để có thể tiếp cận với máy tính, Internet và các công nghệ cao khác một cách dễ dàng và phổ biến hơn Cùng với các yếu tố trên, là sự mở rộng về chính trị, xây dựng một xã hội dân chủ cho

Trang 7

phép người dân có thể đóng góp tiếng nói, quan điểm của mình về các vấn đề xã hội cũng như chính trị Tính “mở”, tính minh bạch của chính phủ chính là một điều kiện quan trọng

để xây dựng Government 2.0, mà ở đó việc áp dụng các công nghệ tiên tiến của Web 2.0 vào CPĐT chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ

1.1.4 Web 1.0 và sự khác biệt với Web 2.0

1.1.4.1 Khái niệm Web 1.0

Web 1.0 là những trang web gần như chỉ cho phép bạn đọc và đọc (read-only web) Tất nhiên nó có thể cho phép “viết” vào số thẻ tín dụng hay hồ sơ xin việc của bạn nhưng nó

sẽ quyết định sử dụng những thông tin này như thế nào chứ không phải bạn Rất ít trang web cho phép bạn đưa các ý kiến của mình lên một cách tự do và nếu có nó lại chịu sự phân loại của chủ trang web theo những cách khá thô sơ và cứng nhắc (ví dụ, các chủ đề trong forum, bạn làm thế nào để tự tạo ra một chủ đề mới cho riêng mình?)

Sự chuyển đổi từ Web 1.0 sang Web 2.0 được xem như là một kết quả của các tiến

bộ về công nghệ như băng rộng, sự nâng cấp của trình duyệt và Ajax, sự phát triển của nền tảng ứng dụng RIA (như Flash/Flex) và các công cụ mang tính đại chúng như Flickr hay YouTube Đặc trưng của Web 1.0 là sự không phổ biến PC, đường truyền hẹp và lối tư duy phân phát thông tin “top-down”, tập trung, người dùng hưởng thụ thông tin một cách thụ động Web 2.0 đặc trưng cho việc tư duy “bottom-up”, phân quyền, phân cấp cho người dùng có thể đóng góp thông tin một cách tích cực

1.1.4.2 Phân biệt Web 1.0 và Web 2.0

Web 2.0 cho phép mọi người có thể đưa lên mạng bất kỳ thông tin gì, cho phép họ xác lập nhanh các mối quan hệ, chính vì thế Web 2.0 tạo được nguồn cảm hứng mới cho người dùng – điều mà Web 1.0 không thể làm được…

Trong dòng chảy của Web 2.0, thuật ngữ “User Generated Content” – nghĩa là người dùng tạo ra nội dung, ngày càng xuất hiện nhiều hơn “Người dùng tạo ra nội dung” có thể hiểu là: Đơn vị sở hữu Website chỉ đóng vai trò cung cấp kho lưu trữ, tính năng và giao diện, còn phần nội dung sẽ được người sử dụng tạo nên Như vậy, khả năng tương tác 2 chiều giữa người dùng và các Website được đẩy mạnh đến mức tối đa – điểm khác biệt lớn nhất để tạo nên làn sóng Web 2.0

Có thể nói, công nghệ đang cho phép cộng đồng sáng tạo nội dung nhưng ở khía cạnh khác cần phải thấy được rằng, chính đòi hỏi và suy nghĩ của cộng đồng đã khiến các nhà phát triển công nghệ phải chạy theo để mang đến những cộng cụ Web tối ưu hơn

Trang 8

Nhiều người cho rằng không có yếu tố công nghệ, Web 2.0 không thể tồn tại Điều này đúng nhưng chưa đủ Thực tế đã chỉ ra rằng, Web 2.0 sẽ không thể phát triển và tạo ra làn sóng mạnh mẽ như hiện tại nếu không có sự đóng góp của cộng đồng Với tầm quan trọng của trí tuệ tập thể, tinh thần cộng đồng, khả năng chia sẻ và tương tác cao, Web 2.0 đang khiến quan điểm về truyền thông cũng dần thay đổi

Cùng với đó, quan hệ khách – chủ trong Web 1.0 giữa người dùng và tổ chức sở hữu Web đã bị phá vỡ một cách tương đối trong Web 2.0 Với Web 1.0, mối tương quan qua lại giữa “khách” và “chủ” trên 1 mặt phẳng 1 chiều (chỉ giữa khách và chủ) và bó hẹp trong không gian Website đó Trong khi Web 2.0 nâng sự tương tác này lên không gian đa chiều, không chỉ đơn thuần giữa khách và chủ, mà còn giữa khách với khách và chủ với chủ

Theo nguyên cứu của Graham Cormode và Balachander Krishnamurthy (AT&T), các Website 2.0 có những đặc tính như:

- Người dùng là thực thể ưu tiên số một trong hệ thống

- Người dùng trong hệ thống có thể kết nối với nhau một cách dễ dàng

- Người dùng có thể cung cấp thông tin dưới nhiều định dạng khác nhau: ảnh, video, text …, có thể đánh thẻ (tagging), góp ý, đánh giá nội dung của người khác Đồng thời đảm bảo được quyền riêng tư và quyền chia sẻ thông tin

- Cung cấp các giao diện API mở, để “bên thứ 3” (người dùng hoặc các nhà lập trình) có thể mashup (trộn) các ứng dụng hay dữ liệu của Website với các thành phần khác (ứng dụng hay dữ liệu) làm tăng giá trị của thông tin

1.1.4.3 Cách thức Web 2.0 đưa thông tin đến người dùng

Web 2.0 mở ra nhiều cơ hội để đưa thông tin đến người dùng, từ việc xuất bản qua web đến việc xuất bản qua RSS, email hay SMS… và ngược lại có nhiều cách để đưa thông tin lên Web như rất nhiều ứng dụng sử dụng các hàm API công cộng chỉ được viết ra để đưa thông tin lên Facebook (qua email, SMS …) hay có thể mashup từ nhiều nguồn tin khác nhau … Điều này hoàn toàn không khả thi với Web 1.0

Web 2.0 có thể được phân loại theo những đặc điểm:

Trang 9

- Chia sẻ thông tin như hình ảnh, phim, tin tức và âm nhạc

XML cung cấp một phương tiện dùng văn bản (text) để mô tả thông tin và áp dụng

một cấu trúc kiểu cây cho thông tin đó Tại mức căn bản, mọi thông tin đều thể hiện dưới

dạng text, chen giữa là các thẻ đánh dấu (maskup) với nhiệm vụ ký hiệu sự phân chia thông tin thành một cấu trúc có thứ bậc của các dữ liệu ký tự, các phần tử dùng để chứa dữ liệu, và các thuộc tính của các phần tử đó

Đơn vị cơ sở của XML là các ký tự theo định nghĩa của Universal Character Set (Bộ

ký tự toàn cầu) Các ký tự được kết hợp theo tổ hợp chuỗi hợp lệ để tạo thành một tài liệu

XML Tài liệu này gồm một hoặc nhiều thực thể, mỗi thực thể thường là một phần nào đó của các ký tự thuộc tài liệu, được mã hóa dưới dạng chuỗi các bit và lưu trữ trong một tệp văn bản (text file)

Bằng cách cho phép các tên dữ liệu, cấu trúc thứ bậc được phép, ý nghĩa của các phần tử và thuộc tính có tính chất mở và có thể được định nghĩa bởi một giản đồ tùy biến được, XML cung cấp một cơ sở cú pháp cho việc tạo lập các ngôn ngữ đánh dấu dựa trên XML theo yêu cầu Cú pháp chung của các ngôn ngữ đó là cố định – các tài liệu phải tuân theo các quy tắc chung của XML, bảo đảm rằng tất cả các phần mềm hiểu XML ít ra cũng

phải có khả năng đọc (phân tích cú pháp – parse) và hiểu bố cục tương đối của thông tin

trong các tài liệu đó

1.2.2 RSS

RSS được viết tắt bởi Really Simple Syndication là một định dạng nội dung Web được tổng hợp và đọc bởi các công cụ đặc thù dựa trên chuẩn XML RSS được dùng để thông báo cho người dùng các thông tin mới trên các Website thông qua việc chia sẻ thông

Trang 10

tin Thông tin này được cung cấp dưới dạng một tập tin XML được gọi là một RSS feed, webfeed, RSS stream hay RSS channel

1.2.3 Ajax

Có thể nói, đóng vai trò then chốt trong thế hệ thứ hai của Web là tổ hợp công nghệ AJAX Các ứng dụng Ajax đang phát triển nhanh chóng và được ứng dụng rất nhiều trên các trang web nhằm tăng tính thân thiện và tiện lợi hơn cho các Website

AJAX là gì?

AJAX, viết tắt từ Asynchronous JavaScript and XML (JavaScript và XML không đồng bộ), là bộ công cụ cho phép tăng tốc độ ứng dụng web bằng cách cắt nhỏ dữ liệu và chỉ hiển thị những gì cần thiết, thay vì tải đi tải lại toàn bộ trang web AJAX không phải một công nghệ đơn lẻ mà là sự kết hợp một nhóm công nghệ với nhau Trong đó, HTML và CSS đóng vai hiển thị dữ liệu, mô hình DOM trình bày thông tin động, đối tượng XMLHttpRequest trao đổi dữ liệu không đồng bộ với máy chủ web, còn XML là định dạng chủ yếu cho dữ liệu truyền

AJAX hoạt động như thế nào?

Từ lâu, mọi người đã tưởng tượng ứng dụng máy tính rồi sẽ được lưu và chạy hoàn toàn trên web thay vì nằm bó buộc trong ổ cứng Dù vậy, viễn cảnh đó vẫn chưa thể xảy ra

do ứng dụng web bị hạn chế bởi nguyên lý rằng tất cả các thao tác phải được thực hiện thông qua HTTP (HyperText Transfer Protocol - Giao thức truyền tải qua siêu liên kết) Những hoạt động của người sử dụng trên trang web sẽ tạo ra một yêu cầu HTTP tới server Máy chủ thực hiện một số khâu xử lý như lấy lại dữ liệu, tính toán, kiểm tra sự hợp lệ của thông tin, sửa đổi bộ nhớ, sau đó gửi lại một trang HTML hoàn chỉnh tới máy khách Về mặt kỹ thuật, phương pháp này nghe có vẻ hợp lý nhưng cũng khá bất tiện và mất thời gian, bởi khi server đang thực hiện vai trò của nó thì người dùng sẽ làm gì? Tất nhiên là chờ đợi

Để khắc phục hạn chế trên, các chuyên gia phát triển giới thiệu hình thức trung gian -

cơ chế xử lý AJAX - giữa máy khách và máy chủ Còn khi áp dụng AJAX, DHTML chỉ thay thế đoạn tiêu đề và phần vừa chỉnh sửa, do vậy tạo nên các giao dịch trơn tru, nhanh chóng

Các ứng dụng AJAX phổ biến

Google Suggest hiển thị các thuật ngữ gợi ý gần như ngay lập tức khi người sử dụng chưa gõ xong từ khóa Còn với Google Maps, mọi người có thể theo dõi những thay đổi, xê dịch, kéo thả bản đồ như trên môi trường desktop Google Suggest và Google Maps là hai ví

Trang 11

dụ nổi bật về phương pháp ứng dụng web thế hệ mới Hãng dịch vụ tìm kiếm hàng đầu thế giới đã đầu tư rất nhiều vào việc phát triển AJAX Hầu như mọi chương trình họ giới thiệu gần đây, từ Orkut, Gmail đến phiên bản thử nghiệm Google Groups, đều là những ứng dụng AJAX

Những dự án trên cho thấy AJAX không phải là một công nghệ quá xa xôi mà đang hiện diện ngay trong thế giới thực, từ mô hình rất đơn giản như Google Suggest đến tinh vi

và phức tạp như Google Maps

Thách thức lớn nhất khi tạo ứng dụng AJAX không nằm ở khâu kỹ thuật bởi những thành phần của nó đã xuất hiện từ lâu, hoạt động ổn định và được hiểu người biết đến

1.2.4 RIA (Rich Internet Application)

RIA là ứng dụng nền Web nhưng có những đặc điểm tiêu biểu của các ứng dụng desktop RIA được thực hiện bởi các chuẩn hay các phần mềm mở rộng (plug-ins) của trình duyệt hoặc được thực hiện trên các máy ảo Các nền tảng RIA thường được nhắc đến như Curl, Adobe Flash/Adobe Flex/AIR, Java/JavaFX…

Các phần mềm RIA có thể có rất nhiều ứng dụng khác nhau như: Ứng dụng văn phòng hay bản đồ

1.2.5 Mush up

Mashup cho phép người dùng thể hiện khả năng sáng tạo bất tận bằng cách “nối” hai hay nhiều ứng dụng Web lại với nhau

Một số công cụ tạo mashup (mashup editor)

Microsoft Popfly dành cho người không chuyên Dựa trên nền tảng Silverlight, mọi người có thể lập các dịch vụ online tương đối phức tạp nhưng lại không cần am hiểu về HTML, XTML, CSS, AJAX Tất cả những gì họ phải làm là kéo - thả nội dung từ nguồn này sang nguồn kia Bởi thế, Steve Ballmer, Giám đốc điều hành Microsoft, mô tả Popfly là công cụ của người bình dân chứ không nhất thiết phải dành cho "những cái đầu chứa mã lập trình" Popfly miễn phí và tương thích Internet Explorer và Firefox

Bốn nội dung mashup chính

- Bản đồ: Chẳng hạn người dùng lập bản đồ về bất động sản, cửa hàng quà tặng, trường học tại một địa phương qua Google Maps

- Video - ảnh: Ví dụ như dùng giao diện lập trình ứng dụng API của Flickr để tạo mashup chia sẻ ảnh trên những site khác

Trang 12

- Tìm kiếm - mua sắm: Là việc tích hợp search engine để tra cứu thông tin về du lịch, nhà hàng

- Tin tức: Tiêu biểu nhất là Digg.com - dịch vụ hỗ trợ người sử dụng tập hợp tin tức

về công nghệ, văn hóa từ hàng loạt website khác nhau

Bốn loại mashup tiêu biểu

- Consumer mashup: Trích xuất dữ liệu khác nhau từ nhiều nguồn và được tập hợp

lại dưới một giao diện đồ họa đơn giản

- Data mashup: Trộn dữ liệu cùng loại từ nhiều nguồn, chẳng hạn gộp dữ liệu từ các

RSS feed vào một feed đơn nhất

- Business mashup: Sử dụng cả hai loại mashup trên, thường là tích hợp data ở cả trong và ngoài công ty Ví dụ, công ty bất động sản A có thể phân tích thị phần khi so sánh

số căn nhà họ bán được tuần qua với danh sách tổng các ngôi nhà được bán trên thị trường

- Telecom mashup là ứng dụng viễn thông tổng hợp, chẳng hạn kết hợp dịch vụ tin nhắn từ công ty A, nhạc chuông của công ty B, thư thoại (voicemail) của công ty C

1.3 Các ứng dụng của Web 2.0

1.3.1 Blog

1.3.2 Wiki

1.3.3 Phần mềm như là một dịch vụ (Softwware as a Service - SaS)

Thông thường, phần mềm được viết, phát triển và cung cấp như là một sản phẩm hoàn chỉnh Tuy nhiên, Internet đã tạo nên một xu hướng mới: phát triển phần mềm thành

“dịch vụ theo yêu cầu” (SaS) Quan niệm này tương đối đơn giản: “Đừng mua phần mềm, hãy thuê và sử dụng khi nào bạn cần” Điều này cũng tương tự như việc thuê nhà hay ôtô trong thời gian ngắn, phục vụ mục đích nhất thời, hơn là bỏ tiền mua cả một sản phẩm Khách hàng đăng ký thuê SaS qua Internet chỉ cần viết yêu cầu đến nhà cung cấp, trao đổi, thực hiện theo thời hạn và “hoàn trả” Hãng nghiên cứu toàn cầu IDC định nghĩa SaS là

“Phần mềm hoạt động trên web, được quản lý bởi nhà cung cấp và cho phép người sử dụng truy cập từ xa”

Điểm mạnh của các sản phẩm SaS là giảm thiểu chi phí bản quyền phần mềm, chi phí triển khai ứng dụng cũng như những rủi ro phát sinh trong quá trình duy trì hệ thống và khả năng mở rộng về lâu dài, đồng thời nó không đòi hỏi phải có quá nhiều nhân lực lành nghề để duy trì được các hệ thống công nghệ thông tin lớn

Ngày đăng: 17/02/2014, 09:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w