Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Ninh Bình .... Ảnh hưởng của số con sinh ra/ổ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐINH VĂN LIÊU
MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI TỈNH NINH BÌNH VÀ THỬ NGHIỆM BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp đỡ của tập thể trong và ngoài cơ quan
Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về những
số liệu trong bản luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đinh Văn Liêu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Có được công trình nghiên cứu này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới các thầy cô giáo trong bộ môn Ngoại sản, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Văn Thanh đã đầu tư nhiều công sức
và thời gian chỉ bảo tận tình giúp tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám Đốc, cán bộ kỹ thuật cùng toàn thể công nhân các trại lợn: ông Chính, ông Quân, ông Tân, ông Ước, ông Miễn
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nâng cao kiến thức, hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đinh Văn Liêu
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Một số đặc điểm về sinh lý của lợn nái 3
2.1.1 Sự thành thục về tính 3
2.1.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp 5
2.1.3 Sinh lý quá trình sinh đẻ 8
2.2 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái (mestritis) 12
2.2.1 Nguyên nhân gây viêm tử cung 12
2.2.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung 13
2.2.3 Triệu chứng của bệnh viêm tử cung 15
2.2.4 Chẩn đoán viêm tử cung ở lợn nái 17
2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ 18
2.2.6 Biện pháp phòng bệnh viêm tử cung ở lợn nái 19
2.3 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung ở trên thế giới và ở Việt Nam 20
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 20
2.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 21
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 23
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
Trang 53.1.2 Địa điểm nghiên cứu 23
3.1.4 Thời gian nghiên cứu 23
3.2 Nội dung nghiên cứu 23
3.2.1 Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên lợn nái sinh sản tại tỉnh Ninh Bình 23
3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Ninh Bình 23
3.2.3 Nghiên cứu mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung lợn mẹ đến bệnh tiêu chảy ở lợn con 23
3.2.5 Thử nghiệm biện pháp điều trị 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1 Xác định tỷ lệ lợn nái bị viêm tử cung bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi kết hợp với việc theo dõi, thăm khám trực tiếp 24
3.3.2 Xác định mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung lợn mẹ đến bệnh tiêu chảy của lợn con 24
3.3.3 Xác định sự biến đổi vi khuẩn 24
3.3.4 Thử kháng sinh đồ 24
3.3.5 Xác định phác đồ điều trị hữu hiệu 24
3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 24
Phần 4 Kết quả và thảo luận 25
4.1 Kết quả khảo sát tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại tỉnh Ninh Bình 26
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại 28
4.2.1 Ảnh hưởng của lứa đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại 28
4.2.2 Ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại 30
4.2.3 Ảnh hưởng của hiện tượng thai chết lưu đến tỷ lệ mắc viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại 32
4.2.4 Ảnh hưởng của việc can thiệp bằng tay đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại 33
4.2.5 Ảnh hưởng của số con sinh ra/ổ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại 34
Trang 64.2.6 Ảnh hưởng của thời gian đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn
lợn nái ngoại 35
4.2.7 Ảnh hưởng của thời gian thích nghi đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại 37
4.3 Mối liên hệ giữa bệnh viêm tử cung và hội chứng tiêu chảy ở lợn con 40
4.3.1 Ảnh hưởng của lợn mẹ bị bệnh viêm tử cung đến tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con 40
4.4 Kết quả phân lập và giám định thành phần, tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được từ dịch đường sinh dục lợn nái bình thường và bệnh lý 41
4.4.1 Kết quả phân lập và giám định thành phần vi khuẩn trong dịch đường sinh dục lợn nái bình thường và bệnh lý 41
4.4.2 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm đường sinh dục lợn nái với một số thuốc kháng sinh thông dụng 43
4.4.3 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong dịch viêm đường sinh dục lợn nái với một số thuốc kháng sinh thông dụng 46
4.5 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung 47
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Kiến nghị 51
Tài liệu tham khảo 52
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
AFTA ASEAN Free Trade Area
BT Bình thường
Cs Cộng sự
E coli Escherichia coli
FSH Follicule Stimulating Hormone
GSH Gonado Stimulin Hormone
LH Luteinizing Stimulating Hormone
PGF2α Prostaglandin F2-alpha
TPP Trans-Pacific Strategic Economic
Partnership Agreement VTC Viêm tử cung
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại tại một số trang trại
thuộc tỉnh Ninh Bình (n= 504) 26 Bảng 4.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các lứa đẻ (n= 504) 28 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên
đàn lợn nái ngoại (n = 504) 30 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của hiện tượng thai chết lưu đến tỷ lệ mắc viêm tử cung
trên đàn lợn nái ngoại (n = 504) 32 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của việc can thiệp bằng tay đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử
cung trên đàn lợn nái ngoại (n = 504) 33 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của số con sinh ra/ổ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên
đàn lợn nái ngoại (n = 504) 34 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của thời gian đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn
lợn nái ngoại (n = 504) 36 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của thời gian thích nghi đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung
trên đàn lợn nái ngoại 37 Bảng 4.9 Mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung và hội chứng tiêu chảy của lợn
con 40 Bảng 4.10 Thành phần vi khuẩn có trong dịch âm đạo, tử cung lợn nái bình
thường và bệnh lý 42 Bảng 4.11 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch
viêm tử cung, âm đạo lợn nái với một số thuốc kháng sinh 45 Bảng 4.12 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong dịch
viêm đường sinh dục của lợn nái với một số thuốc kháng sinh thông dụng 46 Bảng 4.13 Kết quả điều trị viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi
khỏi bệnh 48
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại tại một số trang trại
thuộc tỉnh Ninh Bình 27
Hình 4.2 Ảnh hưởng của lứa đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại 29
Hình 4.3 Ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại 31
Hình 4.4 Ảnh hưởng của hiện tượng thai chết lưu đến tỷ lệ mắc viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại 32
Hình 4.5 Ảnh hưởng của việc can thiệp bằng tay đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại 34
Hình 4.6 Ảnh hưởng của số con sinh ra/ổ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại 35
Hình 4.7 Ảnh hưởng của thời gian đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại 36
Hình 4.8 Ảnh hưởng của thời gian thích nghi đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại 38
Hình 4.9 Lợn nái bị viêm tử cung có dịch rỉ viêm màu hồng nhạt 39
Hình 4.10 Lợn nái bị viêm tử cung có dịch rỉ viêm màu trắng lẫn hồng 39
Hình 4.11 Mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung và hội chứng tiêu chảy của lợn con 41
Hình 4.12 Tỷ lệ thành phần vi khuẩn có trong dịch âm đạo, tử cung lợn nái bình thường và bệnh lý 42
Hình 4.13 Thuốc Lutalyse dùng trong điều trị bệnh viêm tử cung ở gia súc 47
Hình 4.14 Hiệu quả các phác đồ điều trị 49
Hình 4.15 Hiệu quả về thời gian của các phác đồ điều trị 49
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Đinh Văn Liêu
Tên luận văn: “Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Ninh Bình và thử nghiệm biện pháp điều trị”
Ngành: Thú y Mã số: 60.64.01.01 Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
- Đưa ra được phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản
Phương pháp nghiên cứu
- Xác định tỷ lệ lợn nái bị viêm tử cung bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi kết hợp với việc theo dõi, thăm khám trực tiếp
- Xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái mắc bệnh viêm tử cung bằng phương pháp thường quy đếm nhiều lần hoặc quan sát vào một thời điểm quy định và lấy số bình quân
- Xác định mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung lợn mẹ đến bệnh tiêu chảy của lợn con bằng phương pháp theo dõi các đàn lợn con sinh ra từ lợn mẹ bình thường và lợn mẹ mắc bệnh viêm tử cung Ghi chép và tổng hợp về số con bị tiêu chảy ở từng ổ
- Xác định sự biến đổi của một số vi khuẩn hiếu khí thường gặp trong dịch viêm
Trang 112 Các yếu tố làm tăng tỷ lệ viêm tử cung ở lợn nái đó là: Lứa đẻ 1 và >5, can thiệp bằng thiệp tay, con chết lưu, đẻ ≥ 12 con, thời gian đẻ lâu hơn 4h, thời gian thích nghi tại chuồng đẻ < 10 ngày
3 Yếu tố mùa vụ không liên quan tới tỷ lệ viêm tử cung
4 Bệnh viêm tử cung ở lợn mẹ làm tăng tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở đàn lợn con
5 Các vi khuẩn thường xuyên có mặt trong dịch viêm tử cung được tìm thấy là: E.coli Spp, Salmonella Spp, Staphylococcus Spp và Streptococcus.Spp Đặc biệt trong dịch viêm xuất hiện thêm loại vi khuẩn Pseudomonas Spp với tỷ lệ 20,00%
6 Các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm của tử cung lợn nái mẫn cảm cao với Cephachlor, Norfloxacin, Amoxycillin, Neomycin Chúng hầu như không mẫn cảm với Streptomycin và Penicillin
7 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái có kết quả điều trị cao
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Dinh Van Lieu
Thesis title: “Some factors affect the Mestritis on imported sows in Ninh Binh province and experimental treatments”
Major: Veterinary Medicine Code: 60.64.01.01 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
To determine the real situation imported sows get Mestritis in Ninh Binh province
To determine influence of several factors to the rate imported sows get Mestritis
in Ninh Binh province
To determine the relation of mother sows get Mestritis with diarrhea on their piggies
Introduce effective treatment regimen Mestritis on sows
Materials and Methods
Determine the rate of sows get Mestritis by investigating and interviewing farmers directly in combination with direct monitoring
Determine the transformation of some clinical indicators and bacteriology when sows get Mestritis by counting, multiple many times at a certain time then take the average with direct observation method
Determine the relationship between mother sows get Mestritis with diarrhea on their piggies by method of tracking the piggies which were borned by normal mother sows and mother sows get Mestritis, recording and synthesis about the numbers of piggies get diarrhea
Method of determine the variability of some common aerobic bacteria in inflammation liquid
Method of antibiotic test
Method of experiment treatment regimen
Method of processing data
Main findings and conclusions
1 The rate of imported sows get Mestritis in Ninh Binh province is quite high, average 26.27%
Trang 132 Factors that increase the rate of Mestritis in sows are: Litter 1 and> 5; Interfering by hand; Birth time longer than 4 hours; Adaptation time at farrowing cradle
<10 days
3 Seasonal factors are not related to the rate of Mestritis
4 Mestritis in mother sow increases the rate of diarrhea in pigs
5 Bacteria frequently present in Mestritis inflammation which found are: E.coli Spp, Salmonella Spp, Staphylococcus Spp and Streptococcus.Spp Specially, in Mestritis inflammation Pseudomonas Spp bacteria appear more with a rate of 20.00%
6 The bacterias which are isolated from the inflammation uterus fluids of the sow get Mestritis are sensitivity high with Cephachlor, Norfloxacin, Amoxycillin, Neomycin They are almost insensitive to Streptomycin and Penicillin
7 Mestritis in sows have high treatment results
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi lợn đóng vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng và xuất khẩu ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 10/2016, tổng đàn lợn của cả nước là 29,1 triệu con tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2015 Sản lượng thịt lợn ở mức 4,5 triệu tấn Thịt lợn chiếm trên 70% sản lượng các loại thịt tiêu thụ hàng ngày trên thị trường
Trong những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt lợn ở trong nước và xuất khẩu, xu thế chăn nuôi lợn quy mô công nghiệp ở nước ta ngày càng gia tăng và mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới khi các hiệp định TPP, AFTA…có hiệu lực
Cùng với việc phát triển chăn nuôi lợn thịt, chăn nuôi lợn nái sinh sản cũng không ngừng tăng trưởng, đặc biệt nhiều trang trại đã nuôi hàng trăm lợn nái ngoại để sản xuất con giống, đây thực sự là một cuộc cách mạng về giống lợn
ở nước ta, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của chăn nuôi lợn trong những năm vừa qua
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ và sự chuyển đổi phương thức chăn nuôi, tình hình dịch bệnh trên đàn lợn cũng diễn biến hết sức phức tạp và không ngừng gia tăng, một số bệnh truyền nhiễm, tiêu hóa, sản khoa, trong đó tỷ
lệ mắc bệnh viêm tử cung vẫn ở mức cao, gây thiệt hại đến hiệu quả chăn nuôi
Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, viêm tử cung có thể dẫn đến các bệnh kế phát như: viêm vú, rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh Những vấn đề nêu trên chỉ ra rằng, việc nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại để từ đó đề ra các biện pháp phòng trị bệnh một cách hiệu quả là việc làm cần thiết
Với mục đích góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại đồng thời bổ sung vào các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản của giống lợn ngoại hướng nạc chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Ninh Bình và thử nghiệm biện pháp điều trị”
Trang 151.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định được thực trạng mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Ninh Bình
- Xác định được một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Ninh Bình
- Xác định được mối liên hệ giữa lợn nái mẹ bị viêm tử cung với bệnh tiêu chảy trên đàn lợn con
- Đưa ra được phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản 1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Bổ sung thêm những thông tin và bằng chứng xác thực về một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại một số địa phương thuộc tỉnh Ninh Bình
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho việc đề ra biện pháp
kỹ thuật phòng và trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại, giảm thiểu tác hại
do bệnh gây ra, góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại từ đó tăng hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
Trang 16
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ SINH LÝ CỦA LỢN NÁI
Sinh sản là một đặc trưng quan trọng vào loại bậc nhất của sinh vật nhằm duy trì nòi giống, đảm bảo sự tiến hóa của loài gia súc nói chung và lợn nói riêng, sinh sản mang một chức năng quan trọng có ý nghĩa tái sản xuất ra sản phẩm phục vụ lợi ích của con người Chính vì vậy sinh sản được con người hết sức quan tâm nhằm mục đích là làm sao trong một thời gian ngắn nhất gia súc đẻ được nhiều nhất, thế hệ sau có nhiều đặc tính tốt hơn thế hệ trước Trong đó năng suất sinh sản được nâng cao thì sẽ mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi
2.1.1 Sự thành thục về tính
Ở gia súc khi có sự kết hợp giữa giao tử đực và giao tử cái để tạo thành hợp tử, cũng có nghĩa là tạo thành một cá thể mới Hoạt tính sinh dục của gia súc chưa được biểu hiện khi còn là bào thai và cả ngay khi mới sinh ra Sự biểu hiện
về giới tính chỉ được thể hiện rõ ràng khi gia súc thành thục về tính, cơ thể có những biến đổi sinh lý
Theo Cù Xuân Dần và cs (1996) một cá thể được coi là thành thục về tính nếu như bộ máy sinh dục đã căn bản hoàn thiện dưới tác dụng của thần kinh thể dịch con vật đã có phản xạ sinh dục Đối với con cái thì buồng trứng đã có noãn bào chín, có trứng rụng và có khả năng thụ tinh, tử cung con cái cũng có biến đổi phù hợp cho việc mang thai và sinh đẻ Những dấu hiệu ấy đầu tiên xuất hiện ở tuổi như vậy gọi là tuổi thành thục tính Sự thành thục về tính của gia súc được đặc trưng bởi hàng loạt những thay đổi bên trong lẫn bên ngoài cơ thể, đặc biệt là
sự thay đổi bên trong cơ quan sinh dục Cùng với sự biến đổi bên trong cơ quan sinh dục là sự biến đổi bên ngoài mang tính chất quy luật, nó đặc trưng cho từng loài gia súc Sự thành thục về tính có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình sinh sản, gia súc chỉ có thể bước vào giai đoạn sinh sản khi đã có sự thành thục về tính, tùy theo gia súc khác nhau mà có dự thành thục về tính khác nhau
Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và điều kiện ngoại cảnh cũng như chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
Giống:
Tuổi thành thục về tính phụ thuộc vào từng giống khác nhau Theo Phạm Hữu Doanh (1995), tuổi thành thục về tính của lợn ngoại và lợn lai muộn hơn lợn nội thuần chủng (Ỉ, Móng cái, Mường Khương…) Các giống lợn nội này thường
Trang 17có tuổi thành thục vào lúc 4 – 5 tháng tuổi (121 – 158 ngày), còn các giống lợn ngoại là 6 – 8 tháng tuổi, lợn lai F1 (ngoại x nội) thường động dục lần đầu lúc 6 tháng tuổi
Điều kiện nuôi dưỡng:
Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Dinh dưỡng thiếu làm tác động lên tuyến yên, tác động đến sự tiết kích dục tố sinh dục, từ đó làm chậm quá trình phát triển về tính của gia súc Ngược lại dinh dưỡng quá thừa cũng làm chậm lại sự thành thục về tính đó là do sự tích lũy về mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục, làm giảm các chức năng bình thường của chúng
Cho nên, một chế độ nuôi dưỡng với khẩu phần ăn hợp lý có một ý nghĩa lớn đối với sự thành thục về tính của gia súc và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Điều kiện nuôi nhốt và ngoại cảnh:
Mật độ nuôi nhốt đông, trên một diện tích nhỏ trong một thời gian kéo dài
sẽ làm kéo dài tuổi động dục Mật độ nuôi nhốt thích hợp đối với lợn nái hậu bị
là 2m2/nái, không nuôi nhốt quá 10 nái/ô chuồng vì ảnh hưởng đến quá trình theo dõi, phát hiện động dục, mặt khác mật độ nuôi nhốt quá dày làm ảnh hưởng đến tiểu khí hậu chuồng nuôi, hàm lượng khí NH3, H2S cao, ảnh hưởng đến sức khỏe lợn Lợn không có thời gian nghỉ ngơi vì sự đụng chạm do mật độ nuôi nhốt quá dày Tất cả những yếu tố trên làm lợn bị stress, căng thẳng dẫn đến làm chậm thời gian thành thục về tính
Sự kích thích của con đực có ảnh hưởng tới sự thành thục của con cái Lợn cái hậu bị được nuôi nhốt hoặc thả nếu được tiếp xúc với lợn đực thường xuyên thì chúng sẽ thành thục ở tuổi sớm hơn so với những lợn cái hậu bị không được tiếp xúc với lợn đực Theo Paul Hughes and Jame Tilton (1996), nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ngày với thời gian 15 – 20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90 Kg) động dục lúc 165 ngày tuổi
Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới
Một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau, nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tùy theo giống
Trang 182.1.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
Chu kỳ tính:
Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinh dục có biến đổi kèm theo sự rụng trứng Sự phát triển của trứng dưới sự điều tiết của hormone thùy trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng một cách có chu
kỳ được biểu hiện bằng những triệu chứng động dục theo chu kỳ được gọi là chu
kỳ tính Thời gian một chu kỳ tính được tính từ lần rụng trứng trước đến lần rụng trứng tiếp theo Các loại gia súc khác nhau thì chu kỳ tính khác nhau, ở lợn chu
kỳ tính giao động từ 17 - 24 ngày, trung bình là 21 ngày
Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf Khi nang Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005)
Các giai đoạn của chu kỳ tính:
+ Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, kéo dài 1 – 2 ngày Trong giai đoạn này cơ quan sinh dục hoạt động ở mức độ cao, bộ phận sinh dục ngoài có những thay đổi Âm hộ mọng dần lên và sưng to, màu đỏ tươi do các vi ti huyết quản ở đây giãn rộng và cường độ trao đổi chất trong máu mạnh hơn gây hiện tượng xung huyết, thành âm đạo xung huyết có dịch nhầy Những thay đổi của cơ quan sinh dục ngoài là do những thay đổi xảy ra bên trong Buồng trứng có một
số noãn bao phát triển từ đường kính 4 mm lên đến 8 - 12 mm và một số thoái hóa đi Các tế bào vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng, đường sinh dục bắt đầu xung huyết nhanh, hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm cổ tử cung hé mở Các noãn bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung
mở ra, niêm dịch chảy nhiều Con vật bắt đầu xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở và có màu hồng tươi, cuối giai đoạn có dịch nhờn chảy ra Do hàm lượng Progesteron giảm xuống đột ngột nên con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình
Trang 19+ Giai đoạn động dục
Theo Phùng Thị Vân và cs (2000) giai đoạn động dục là giai đoạn tiếp theo
và thường kéo dài 2 – 3 ngày, tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao Giai đoạn này các biến đổi của cơ quan sinh dục rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ sung huyết, phù thũng và chuyển sang màu mận chín Niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều và keo đặc hơn, nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 oC – 0,7 oC, pH hạ hơn trước Con vật biểu hiện hưng phấn cao độ, đứng ngồi không yên, kêu rống trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình Ở giai đoạn này lợn thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên
và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và hơi khuỵu xuống sẵn sàng chịu đực Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và sảy ra quá trình thụ tinh tạo hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tùy loài gia súc thì chu kỳ sinh dục mới lại bắt đầu Nếu không xảy ra quá trình trên thì con cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính
+ Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng của gia súc dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng đã có thể vàng, thể vàng dần dần phát triển đường kính lên tới 7 – 8
mm và bắt đầu tiết Progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo
cơ chế điều hòa ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu khó ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục ngừng tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại
+ Giai đoạn nghỉ ngơi
Giai đoạn này kéo dài 10 – 12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu hủy Đây là giai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục trở lại trạng thái sinh lý bình thường, trên buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục, lớn dần lên nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ sinh dục tiếp theo
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm
Trang 20sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái
Cơ chế động dục:
Chu kỳ động dục của lợn cái được điều khiển bởi hai yếu tố thần kinh và thể dịch Khi các nhân tố ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực tác động kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến yên, kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH (Follicule Stimulating Hormone) và LH (Luteinizing Stimulating Hormone) FSH khích thích noãn bao phát triển, đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín Khi hàm lượng hormone này trong máu đạt 64 – 112mg sẽ kích thích con vật có những biểu hiện động dục Đồng thời dưới tác động của Oestrogen làm cơ quan sinh dục biến đổi: cổ tử cung hé mở, âm hộ, âm đạo sung huyết, tiết niêm dịch, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này Cuối chu kỳ động dục thì Oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra LH và giảm tiết FSH, khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng chín và rụng Sau khi trứng rụng thể vàng được hình thành ở nơi noãn bao vỡ ra, thể vàng tiết Progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung, đồng thời ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên làm cho bao noãn trong buồng trứng không phát triển được và kết thúc một chu kỳ động dục
Thời điểm phối giống thích hợp:
Thời gian tinh trùng lợn đực sống trong tử cung lợn cái khoảng 45 – 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn cái tồn tại và thụ tinh có hiệu quả là rất ngắn cho nên phải phối giống đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực
Đối với lợn nái ngoại, lợn lai thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 – 8 giờ, hoặc cho phối giống vào cuối ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 kể từ lúc bắt đầu động dục
Đối với lợn nái nội thời điểm phối giống sớm hơn lợn nái ngoại và lợn lai
1 ngày, tức là vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3
Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, nếu thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì phối vào buổi chiều, nếu có biểu hiện chịu đực vào buổi chiều thì sáng sớm hôm sau phối Thường phối hai lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực “chặn đầu khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng
Trang 212.1.3 Sinh lý quá trình sinh đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002), gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống thần kinh – thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ
Thời gian đẻ của lợn nái:
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) thời gian đẻ của gia súc được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn cho đến khi số lượng bào thai ra hết khỏi cơ thể mẹ Thời gian đẻ bình thường của lợn là 2 – 6 giờ
Những biểu hiện của cơ thể mẹ trong thời gian gần sinh đẻ
Khi gần đẻ con cái có các biểu hiện: trước đẻ 1 – 2 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, dịch đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 – 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão
ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, tĩnh mạch vú nổi rõ ràng và bắt đầu tiết ra sữa
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:
+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong
+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu
+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu
+ Trước khi đẻ 2 – 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu
Lợn trước khi đẻ thì nhiệt độ tăng lên cao hơn bình thường và có hiện tượng cắn ổ trước đẻ 6-12 giờ
Quá trình sinh đẻ
Động tác đẻ có thể chia làm ba giai đoạn:
+ Giai đoạn chuẩn bị:
Thời kỳ này bắt đầu từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử cung mở ra hoàn toàn Cũng tùy từng giống khác nhau hoặc từng cá thể mà biểu hiện bên ngoài không hoàn toàn giống nhau Những con vật đẻ nhiều lần thì thường bình tĩnh Lợn cái thường đứng nằm không yên, đi đi lại lại trong chuồng
và có triệu chứng cắn ổ
Trang 22Động lực thúc đẩy cho quá trình sinh đẻ là sự co bóp của cơ quan sinh dục được tiến hành từ mút sừng tử cung đến thân tử cung, đến cổ tử cung và đến âm đạo, thời gian co bóp có những khoảng cách nên gọi là những cơn rặn
Con vật xuất hiện cơn rặn đầu tiên trong thời kỳ 1 nhưng nói chung cơn rặn này yếu về cường độ, thời gian cơn rặn ngắn, thời gian nghỉ giữa hai cơn rặn lại dài từ 20-30 phút, mỗi cơn rặn từ 2-3 giây Nếu con mẹ rặn liên tục thì mạch máu của bào thai bị chèn ép, tuần hoàn đình trệ, dưỡng khí cung cấp cho thai thiếu, thai ra chậm có thể bị ngạt Càng về sau thì thời gian co bóp càng dài hơn, khoảng cách giữa hai lần co bóp được rút ngắn lại
Cường độ co bóp chuyển từ sừng tử cung xuống thân tử cung, đến cổ tử cung ra ngoài âm đạo Nước ở trong tử cung và màng thai dồn ép ra ngoài, cổ tử cung lúc này đã mở, màng thai đã một phần lọt ra ngoài Cùng với sức co bóp của tử cung tăng lên, màng thai tiếp tục chui ra, ép vào cổ tử cung làm cho cổ tử cung càng mở rộng Khi cổ tử cung đã mở rộng thì một phần của thai chui ra, lúc này giữa cổ tử cung và âm đạo không còn ranh giới nữa Cùng lúc thai ra ngoài
có hiện tượng vỡ ối, màng ối và màng niệu vỡ ra Thứ tự màng niệu vỡ trước, màng ối vỡ sau, nước ối và nước niệu đều ra cùng với màng ối, màng niệu cũng góp phần cho cổ tử cung mở rộng hoàn toàn đồng thời làm trơn đường sinh dục, cho thai đi ra ngoài dễ dàng
+ Giai đoạn đưa thai ra bên ngoài:
Thời kỳ này bắt đầu từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn và kết thúc khi thai lọt ra ngoài Ở thời kỳ này thai qua cổ tử cung và đi vào âm đạo Nếu đẻ bình thường, bộ phận đi trước nhất là đầu và chân Lúc này lợn nái bồn chồn, không yên, cong lưng cong mông lên mà rặn
Bào thai đã đi ra đường sinh dục thì tăng kích thích cho cơ co bóp, lực co bóp lúc này là tổng hợp giữa co bóp của đường sinh dục, sự co bóp của cơ thành bụng, cơ hoành thành một lực mạnh và được kéo dài
Đến thời kỳ này thai bắt đầu chuyển hướng để ra ngoài Trong thời gian chửa, thai lợn xếp lung tung nên có con xuôi, con ngược
Tử cung co bóp mạnh, cùng với sự co bóp của thành bụng, nước thai trong bọc thai bị ép, bọc thai lọt qua cổ tử cung ra ngoài âm đạo, bọc đó gọi là bọc ối, trông giống như quả bóng
Trang 23Tử cung co bóp liên tục dồn nước ối ra nhiều, thai cũng được đưa ra nên
áp lực trong bọc thai tăng lên làm vỡ bọc, nước chảy ra ngoài gọi là nước ối
Sau khi vỡ ối sức rặn của gia súc càng mạnh, đẩy thai và màng thai qua đường sinh dục
Khi bắt đầu rặn đẻ, con vật lúc nằm xuống, lúc lại đứng dậy, cũng có con chỉ nằm khi đầu thai đã lọt ra ngoài âm hộ, một số con chỉ đứng
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002), lợn rặn đẻ thường khác với các loài gia súc khác, tử cung co bóp đẩy thai theo chiều dọc và co bóp theo từng đoạn
Sự co bóp bắt đầu từ gốc sừng tử cung, lan dần đến đầu nhọn của sừng tử cung Hai sừng tử cung thay nhau co bóp
Trong cơn rặn đẻ lợn thường nằm nghiêng, màng thai của lợn không lòi ra ngoài âm hộ, nước ối ít, thai lợn ra từng con một, sau mỗi lần rặn thường thai lợn
ra dễ dàng
Trong giai đoạn sổ thai, đầu thai qua đường sinh dục khó khăn Sau mỗi lần rặn đẻ thai được đưa ra ngoài một khoảng nhất định, khi ngừng con rặn thai lại thụt vào trong một ít
Phần đầu của thai ra trước, tiếp đến là phần ngực ra sau Lúc này sức rặn của con mẹ giảm xuống, phần còn lại của thai nhờ sức đạp của hai chân sau để ra ngoài hoàn toàn
Sau khi ra ngoài lợn sơ sinh thường tự đứt rốn, mạch máu rốn thường đứt
ở ngoài lỗ rốn
Lợn nái, thời kỳ mở cổ tử cung từ 3-4 giờ, lợn nái đẻ lứa đầu thì thời kỳ
mở cổ tử cung ngắn hơn Thời gian đẻ của lợn phụ thuộc vào khoảng cách các thai ra và số lượng thai trong tử cung lợn mẹ Trong thời gian đẻ, thai đầu bao giờ cũng ra chậm, các thai về sau khoảng cách từ 5-10 phút, thai ra cuối cùng thường chậm nhất so với các thai, kể cả thai ban đầu Nếu lợn đẻ thai to thì khoảng cách các thai ra còn kéo dài hơn
+ Giai đoạn đưa nhau thai ra ngoài:
Sau khi thai lọt ra khỏi đường sinh dục của gia súc mẹ một thời gian, con
mẹ trở nên yên tĩnh, nhưng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn, mỗi lần
co bóp từ 1,5-2 phút, thời gian giữa hai lần co bóp là 2 phút, nhưng cường độ lúc này yếu hơn
Trang 24Sau khi sổ thai khoảng 2-3 giờ tử cung co nhỏ lại, thành tử cung dày, trên
bề mặt có nhiều nếp nhăn, bên trong tử cung có nhiều núm nhau Cơn rặn lúc này của gia súc cái chủ yếu là đưa nhau thai ra ngoài
Trong thời gian này tuần hoàn của núm nhau mẹ và núm nhau con đã giảm nên nhau thai có thể tách ra được Các nhung mao teo lại, tách núm nhau
mẹ ra khỏi nhau thai Trong thời gian này tử cung tiếp tục co bóp và thu nhỏ lại dần về thể tích, nhưng màng niệu và màng nhung mao thì không co lại được nên
tử cung đẩy ra ngoài
Trong quá trình đẩy nhau thai ra, do đặc tính của tử cung co bóp từ mút sừng tử cung cho xuống thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ được lộn trái, phần ở mút sừng tử cung ra trước, sau đó bong dần xuống sừng tử cung, thân
tử cung và ra ngoài
Có trường hợp màng nhau thai không bị lộn trái do màng niệu, màng nhung mao đã tách hoàn toàn niêm mạc tử cung thì nhau thai mới bị tống ra ngoài Do mạch máu của núm nhau mẹ không bị tổn thương cho nên khi nhau thai bong ra, con vật không bị xuất huyết
Thời gian bong nhau thai của từng gia súc có khác nhau do đặc điểm cấu tạo của núm nhau con và núm nhau mẹ trên niêm mạc tử cung Lợn sau khi thai
ra hết toàn bộ, khoảng 10-50 phút nhau thai mới ra Nhau thai của lợn ra chia thành hai đống, mỗi đống gồm nhau thai của tất cả các thai chứa trong một sừng
tử cung Đầu của nhau dính với nhau, có trường hợp nhau thai đứt ra thành nhiều đống Trong sừng tử cung của lợn có ít thai thì nhau thai không dính lại như vậy,
mà ra từng cái một, thai sau có thể đẩy nhau thai của thai trước ra Nếu trong sừng tử cung lợn có xen kẽ nhiều thai bình thường và thai bị chết khô thì nhau thai cũng ra thành nhiều đống Thường những thai chết khô trong sừng tử cung sẽ
ra cùng với nhau thai
ở tủy sống và vùng chậu gây phản xạ đẻ
+ Nội tiết: đến kỳ chửa cuối, dưới ảnh hưởng của hormone Cocticosteroit
Trang 25của vỏ tuyến trên thận, nhau thai sản sinh Prostaglandin PgF2α làm thoái hóa thể vàng nên hàm lượng Progesterone trong máu giảm xuống rất thấp (chỉ còn 0,22 µg%) Đồng thời nhau thai tăng tiết relaxin làm giãn dây chằng xương chậu, mở
cổ tử cung và tăng tiết Oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của tử cung với Oxytoxin trước khi đẻ
+ Biến đổi quan hệ giữa cơ thể mẹ (nhau thai) và thai: khi thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và thai không còn cần thiết nữa, mối quan hệ giữa mẹ và thai qua nhau thai cần chấm dứt, lúc này thai như một ngoại vật trong
tử cung và được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ
2.2 BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI (MESTRITIS)
2.2.1 Nguyên nhân gây viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002), Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2016) viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Tác giả Đào Trọng Đạt và cs (2000), bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường
do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật, hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác bị mắc bệnh viêm tử cung, viêm
âm đạo truyền sang cho lợn khỏe
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao…
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm”
Trang 26Theo Lê Văn Năm (1997), ngoài các nguyên nhân trên, viêm tử cung còn
có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây nên trong thời gian động dục (do lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung
Có rất nhiều vi sinh vật được cho là nguyên nhân gây ra viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ bao gồm E.coli, Brucella spp, Leptospira spp, vi khuẩn đóng dấu lợn, Streptococcus spp, Mycoplasma, Pravo virus, virus dịch tả lợn, virus giả dại, Clamydia
Theo F.Madec and C.Neva (1995) bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung
2.2.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Trong cơ quan sinh dục của lợn nái tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
Theo F.Madec and C.Neva (1995), hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài
từ lứa đẻ trước đến lần động dục tiếp theo có thể giải thích nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ, từ đó làm giảm năng xuất sinh sản
Theo Waller C M et al (2002), bệnh đường sinh dục của lợn sau đẻ ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai của lứa sau, số con lứa sau sẽ ít hơn lứa trước, dẫn đến thu nhập kinh tế bị thiệt hại Waller C M et al (2002) đã cụ thể hóa kết quả nghiên cứu, cho thấy lợn nái sau đẻ chảy dịch lợn nái nào lứa 1 bị chảy dịch nhiều hơn 6 ngày thì số lượng lợn con sinh ra ở lứa sau sẽ ít hơn những con bị chảy dịch dưới 6 ngày
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002); Trần Thị Dân (2004), khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai: lớp cơ trơn ở thành tử cung
có đặc tính co thắt Khi gia súc cái mang thai, dưới tác dụng của Progesterone sự
Trang 27co thắt của cơ tử cung giảm đi, do đó phôi thai có thể bám chặt vào tử cung Khi
tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân hủy thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hóa các mao quản ở thể vàng nên gảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng
bị phá hủy không tiết Progesterone nữa, hàm lượng Progesterone trong máu giảm làm cho tính trương lực cơ của cơ tử cung tăng lên, do đó gia súc cái có chửa dễ
bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu: lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để nuôi dưỡng phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesteron giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít, thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
- Sau khi sinh lợn con giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ: khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái bị giảm hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con của những lợn
mẹ bị viêm tử cung thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại: nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thùy trước tuyến yên tiết LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
Theo F.Madec and C.Neva (1995), ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn viêm tử cung lúc sinh đẻ là: chảy
mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ ảnh hưởng rất lớn tới năng xuất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Ngoài
ra, viêm tử cung là một trong những nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con cai sữa thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
Trang 28Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) giữa bệnh viêm tử cung ở lợn nái và đàn lợn con nuôi theo mô hình trang trại có mối quan hệ tác động qua lại Đàn lợn con được sinh ra từ những con mẹ mắc bệnh viêm tử cung sẽ bị mắc hội chứng tiêu chảy với tỷ lệ khá cao, trung bình 68,01%
Qua đó ta thấy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để tỷ lệ mắc bệnh giảm, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp để phòng và điều trị hiệu quả
2.2.3 Triệu chứng của bệnh viêm tử cung
Các tác giả Đặng Đình Tín (1985); Yao-Ac (1989) đều cho rằng: Các quá trình bệnh xảy ra ở cơ quan sinh dục là các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh sản và giảm năng suất của gia súc cái
Theo Đặng Đình Tín (1985), bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
* Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Theo W G Black (1983); Nguyễn Văn Thanh (1999), viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ
lệ cao trong các bệnh viêm tử cung Arthur G H (1964) đã công bố viêm nội mạc
tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử cung bị tổn thương tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn Streptococcus, E.coli, Staphylococcus, Salmonella, C.Pyogenes, Brucella, roi trùng Trichomonas Foetus xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000), bệnh viêm nội mạc
tử cung có thể chia làm hai loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, viêm nội mạc tử cung thể màng giả
- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ (Endomestritis Puerperalis): chỉ gây tổn thương ở niêm mạc tử cung Lợn bị bệnh ở thể này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm, con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ âm hộ chảy ra hỗn dịch gồm niêm dịch lẫn với dịch rỉ viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết… Khi con vật nằm xuống, dịch viêm thải ra càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi khô lại thành từng đám vảy màu trắng
Trang 29xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều, cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung ra ngoài, niêm mạc âm đạo bình thường
- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả: ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử Lợn nái mắc bệnh thể này thường xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảm Con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên
Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra hỗn dịch gồm: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…
* Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002), viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất,
vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp niêm mạc tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng mà can thiệp chậm có thể dẫn tới hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm
mủ Có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay hoại tử từng đám to
Ở thể viêm này, lợn nái bị bệnh biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hay mất hẳn Con vật
kế phát chướng bụng đầy hơi, viêm vú, có khi viêm phúc mạc Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi hôi tanh, thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì
tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng, kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong tử cung càng thải ra nhiều
* Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis Puerperali)
Theo Đặng Đình Tín (1985), viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển thành màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị
Trang 30phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu bị viêm nặng, nhất là thể viêm
có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây
ra tình trạng viêm mô tử cung (thể Parametritis), thành tử cung dày lên, có thể kế phát viêm phúc mạc
Lợn có biểu hiện triệu chứng toàn thân: thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, lượng sữa còn rất ít hay mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn
Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ Nếu điều trị kịp thời thì bệnh thường chuyển thành thể viêm mạn tính
2.2.4 Chẩn đoán viêm tử cung ở lợn nái
Theo F.Madec and C.Neva (1995), xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây
là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng dịch viêm không ổn định, có thể từ vài ml đến vài trăm ml hoặc hơn nữa Tính chất của dịch viêm cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt nên nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm là viêm tử cung
Như vậy, việc chẩn đoán viêm tử cung rất cẩn thận, phải theo dõi thường xuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi viêm tử cung nhưng không sinh mủ Để chẩn đoán, người ta dựa vào những triệu chứng
Trang 31điển hình cục bộ ở cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân như dịch viêm và thân nhiệt Dịch viêm là sản phẩm được tiết ra tại ổ viêm, bao gồm nước, thành phần hữu hình và các chất hòa tan Thân nhiệt là một trị số hằng định ở động vật bậc cao Theo Hồ Văn Nam và cs (1997), thân nhiệt bình thường của lợn là 38-38,5oC; khi viêm, thân nhiệt tăng từ 1,5 đến 2oC Mỗi thể viêm khác nhau sẽ thể hiện những triệu chứng khác nhau và ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái ở những mức độ khác nhau
Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cẩn phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm, từ đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái sau đẻ
Ngược lại, thời tiết trong giai đoạn thu - đông thì nhiệt độ mát mẻ làm sức
đề kháng của con vật được nâng cao Mặt khác có những thời điểm nhiệt độ hạ thấp xuống rất thấp gây sự bất lợi cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển Vì thế
mà các bệnh xảy ra trên đàn lợn cũng ít và hiếm có ở mức độ cao Như vậy, chúng ta cũng thấy được là tỷ lệ bệnh viêm tử cung ở hai thời điểm khác nhau có
sự khác nhau rõ rệt
Vệ sinh thú y
Công tác vệ sinh thú y đối với lợn nái là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến bệnh viêm tử cung Vệ sinh thú y bao gồm vệ sinh môi trường và vệ sinh trong quá trình sinh sản Vệ sinh thú y tốt được đánh giá bởi các yếu tố:
- Vệ sinh môi trường bao gồm: rửa máng ăn hằng ngày, hót phân liên tục, rửa chuồng 2 lần/ ngày, xịt gầm sạch sẽ, phun sát trùng định kỳ 1 tuần 1 lần
Trang 32- Vệ sinh trong quá trình sinh sản bao gồm: vệ sinh con đực, con cái trong quá trình thụ tinh, vệ sinh khai thác tinh, nước pha và dụng cụ pha tinh, dụng cụ phối, vệ sinh trước và sau khi đẻ
Lứa đẻ
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau Lợn cái ở lứa đẻ đầu thường có tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung cao hơn các lứa sau do lợn chưa thuần, xương chậu chưa thích nghi, hormone sinh sản chưa hoàn thiện nên phải can thiệp nhiều gây xây xát đường sinh dục
Từ lứa thứ 2 đến lứa thứ 5 lợn nái có sức đề kháng tốt hơn, quá trình sinh
đẻ dễ dàng hơn, quá trình phối giống cũng dễ dàng hơn, lợn đã thích nghi nên tỷ
lệ viêm tử cung ít hơn Từ lứa thứ 6 trở đi, lợn nái có sức đề kháng giảm, sức rặn yếu, sự co bóp tử cung cũng giảm, thời gian đóng kín cổ tử cung cũng chậm hơn
do đó tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập qua cổ tử cung gây viêm Mặt khác
do khai thác nhiều, sức đề kháng kém, các hoạt động sinh dục giảm vì vậy việc can thiệp vào quá trình sinh sản lại cần thiết dẫn đến viêm tử cung lại tăng lên
Phương pháp phối giống
Phương pháp phối giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung Phương pháp phối giống có hai phương pháp là nhảy trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Nhảy trực tiếp là phương pháp tự nhiên tác động cơ học rất ít đến bộ phận sinh dục con cái còn thụ tinh nhân tạo dễ gây xây sát do đưa dụng cụ phối vào con cái, con cái dịch chuyển trong khi phối gây xây sát niêm mạc, dụng cụ phối không được vô trùng rất dễ gây viêm
Quá trình đẻ
Lợn đẻ bình thường sẽ làm khả năng nhiễm bệnh đường sinh dục thấp hơn khi lợn đẻ mà can thiệp Tuy nhiên thời gian đẻ kéo dài và có một số ca đẻ chưa
ra hết thai dẫn đến cần sự can thiệp của công nhân Công nhân dùng tay móc thai
ra gây sây xát niêm mạc và dễ gây nhiễm vi khuẩn vào gây viêm
2.2.6 Biện pháp phòng bệnh viêm tử cung ở lợn nái
Viêm tử cung gây ra nhiều thiệt hại, vì vậy cần có những biện pháp đề phòng bệnh xảy ra:
Chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, bổ sung đầy đủ và cân đối thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của lợn, đặc biệt trong giai đoạn lợn nái mang thai, tránh tình trạng lợn quá béo hoặc quá gầy, cung cấp đầy đủ nước sạch cho lợn
Trang 33Thường xuyên dọn vệ sinh chuồng lợn nái, không để phân lưu lại trên nền chuồng quá lâu mà phải được thu dọn hàng ngày Lợn nái trước khi đẻ phải được tắm sạch sẽ, vệ sinh bầu vú, âm hộ bằng nước sạch pha cồn sát trùng Chuồng đẻ phải được vệ sinh, sau khi lợn đẻ có máu hoặc dịch trên nền chuồng cần phải lau sạch sẽ Khi lợn đẻ xong cần phải thu gom nhau thai, vệ sinh sàn chuồng Trường hợp phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ sản khi lợn đẻ khó phải tuân thủ các bước vệ sinh, sử dụng gel bôi trơn tránh làm xây sát niêm mạc tử cung
Khi phối giống cần đảm bảo đúng kỹ thuật và vô trùng
Khi lợn đẻ khó, thai chậm ra thì tiêm một mũi Oxytocin; sau khi đẻ xong tiêm cho lợn mẹ một mũi PGF2α; tiêm thêm các loại thuốc trợ sức trợ lực, tăng cường sức đề kháng như: Vitamin C, B-complex, Canxi, B12, Tiêm phòng đầy
đủ các loại vacxin phòng bệnh cho lợn náitheoquy định
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới ngành chăn nuôi đang rất phát triển, đặc biệt là chăn nuôi lợn, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Để cải tạo chất lượng đàn giống thì vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm tử cung Do đó, đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh viêm tử cung và đã đưa ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm
tử cung trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao
Theo A.I.Sobko and N.I.GaDenko (1978), nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là do tử cung bị tổn thương, do hiện tượng sát nhau Bệnh phát triển là do nuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhày ở bộ máy sinh dục
Theo F.Madec and C.Neva (1995), hiện viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa
đẻ trước đến lần động dục tiếp theo có thể giải thích nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ, từ đó làm giảm năng suất sinh sản Ông cũng cho biết, khi tiến hành nghiên cứu trên đàn lợn nái ở xứ Brơ-ta-nhơ (Pháp) năm 1991 thì phát hiện thấy 15% số lợn nái bị viêm tử cung Viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt ở một vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vào ngày hôm sau và bệnh thường kéo dài 48 đến 72 giờ
Trang 34Theo nguồn tin từ trang web www.Sciencedirect.com, Công ty Bayer nghiên cứu 828 lợn nái đẻ được chia thành 4 nhóm gồm:
Nhóm 1: Không được điều trị
Nhóm 2: Điều trị bằng 25g hỗn hợp theo tỷ lệ 1,25g Furazolidone + 5g Sulphadimidine sodiumsulfat
2.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta phát triển mạnh mẽ,
số lượng đầu lợn tăng lên không ngừng, song song với nó tình hình dịch bệnh cũng tăng, đặc biệt là bệnh sinh sản Trong khi đó người chăn nuôi chưa được trang bị đầy đủ các kiến thức cần thiết nên năng suất chăn nuôi chưa cao Mặt khác, các công trình nghiên cứu về bệnh sinh sản, đặc biệt là bệnh viêm tử cung còn rất ít, do đó tỷ lệ lợn nái mắc bệnh đang ngày càng gia tăng
Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung là tương đối cao, bệnh thường tập trung ở đàn lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa, khi thử nghiệm điều trị tác giả nhận thấy dùng PGF2α liều 25mg tiêm dưới da kết hợp với dung dịch Lugol 0,1% thụt cho kết quả điều trị cao
Theo Lê Xuân Cương (1986), lợn nái chậm sinh sản do nhiều nguyên nhân, trong đó tổn thương bệnh lí sinh dục chiếm tỷ lệ đáng kể Đặc biệt các lợn nái đẻ khó cần áp dụng các thủ thuật ngoại khoa thì niêm mạc đường sinh dục rất
dễ bị tổn thương và dẫn tới viêm tử cung