Những hạn chế trong việc quản lý ngân sách xã đó là vệc lập dự toán, chấp hành dự toán còn chưa được chú trọng còn mang tính hình thức, không tuân thủ theo định mức quy định của Nhà nướ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hải Yến
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Trần Văn Đức đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn kinh tế, Khoa Kinh tế &Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, nhân viên phòng Tài chính- Kế hoạch, Thanh tra huyện, UBND các xã, thị trấn, Kho bạc Nhà nướchuyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hải Yến
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn viii
Thesic abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 2
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Những vấn đề lý luận về quản lý ngân sách xã 4
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan 4
2.1.2 Đặc điểm của ngân sách xã 8
2.1.3 Vai trò của quản lý ngân sách xã 9
2.1.4 Nội dung quản lý ngân sách xã 9
2.1.5 Kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đối với công tác quản lý ngân sách xã 22
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách xã 23
2.2 Cơ sở thực tiễn 26
2.2.1 Bài học kinh nghiệm quản lý ngân sách xã trong tỉnh và trong nước 26
2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã công bố 29
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 31
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
3.1.1 Đặc điểm về tự nhiên 31
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế- xã hội 32
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin 36
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 37
Trang 53.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38
Phần 4 Kết quả và thảo luận 39
4.1 Thực trạng quản lý ngân sách xã ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2013-2015 39
4.1.1 Lập dự toán thu, chi ngân sách xã 39
4.1.2 Chấp hành dự toán ngân sách xã 44
4.1.3 Cân đối thu - chi ngân sách xã 72
4.1.4 Công tác kế toán, quyết toán ngân sách xã 73
4.1.5 Công tác thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn ngân sách xã 75
4.2 Đánh giá công tác quản lý nsx trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 76
4.2.1 Những kết quả đạt được và hạn chế 76
4.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 80
4.3 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 81
4.3.1 Trình độ chủ tịch UBND xã, cán bộ tài chính xã 81
4.3.2 Cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý NSX 83
4.3.3 Chế độ chính sách quy định về quản lý ngân sách xã 84
4.3.4 Ý thức chấp hành pháp luật của các xã 85
4.4 Định hướng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới 86
4.5 Các giải pháp tăng cường quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 88
4.5.1 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý ngân sách xã 88
4.5.2 Nhóm giải pháp trong khâu lập, quyết định phân bổ, giao dự toán ngân sách xã 92
4.5.3 Nâng cao công tác chấp hành ngân sách 93
4.5.4 Công tác quyết toán ngân sách 98
4.5.5 Về công tác đào tạo bồi dưỡng 100
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 102
5.1 Kết luận 102
5.2 Kiến nghị 103
Tài liệu tham khảo 104
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Số liệu phiếu khảo sát 37 Bảng 4.1 Tổng hợp dự toán thu NSX trên địa bàn huyện Tân Yên giai đoạn
2013 - 2015 40 Bảng 4.2 Đánh giá về công tác lập dự toán ngân sách xã 41 Bảng 4.3 Tổng hợp dự toán chi NSX trên địa bàn huyện Tân Yên giai đoạn
2013 - 2015 42 Bảng 4.4 Tình hình thu NSX trên địa bàn huyện Tân Yên giai đoạn 2013-2015 44 Biểu 4.5 Các khoản thu NSX được hưởng 100% giai đoạn 2013-2015 47 Biêu 4.6 Chi tiết khoản mục thu từ quỹ đất công ích, đất công trên địa bàn
huyện Tân Yên giai đoạn 2013-2015 49 Biểu 4.7 Các khoản thu NSX được hưởng theo tỷ lệ % giai đoạn 2013-2015 55 Bảng 4.8 Số lượng và ý kiến trả lời về nguyên nhân của việc chấp hành thu
NS chưa đúng qui định 58 Biểu 4.9 Chi NSX trên địa bàn huyện Tân Yên giai đoạn 2013-2015 60 Biểu 4.10 Phân tích tình hình chi sự nghiệp kinh tế giai đoạn 2013-2015 65 Bảng 4.11 Tình hình chi quản lý hành chính cấp xã trên địa bàn huyện Tân
Yên giai đoạn 2013-2015 67 Bảng 4.12 Số lượng và ý kiến trả lời về nguyên nhân của việc chấp hành chi
NSX chưa đúng qui định 71 Bảng 4.13 Tình hình cân đối thu - chi ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân
Yên giai đoạn 2013-2015 72 Bảng 4.14 Số lượng và ý kiến trả lời về công tác kế toán, quyết toán ngân sách
xã chưa đúng qui định 74 Bảng 4.15 Kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán giai đoạn 2013-2015 75 Bảng 4.16 Đánh giá về công tác quản lý ngân sách xã 77 Bảng 4.17 Đánh giá năng lực của Chủ tịch UBND xã, cán bộ tài chính kế toán
tham gia công tác quản lý NSX 82
Trang 8DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hệ thống ngân sách Nhà nước 5 Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Yên 31 Hình 3.2 Cơ cấu GTSX theo ngành kinh tế ( theo giá hiện hành) năm 2015 33
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Đỗ Thị Hải Yến
Tên luận văn: “Giải pháp tăng cường quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Mục đích nghiên cứu của luận văn: Nhằm đánh giá thực trạng công tác
quản lý ngân sách xã, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách xã giai đoạn 2013 – 2015, đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý ngân sách xã của huyện Tân Yên, tnhr Bắc Giang trong thời gian tới, góp phần phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn huyện Tân Yên
- Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng:
+ Phương pháp chọn mẫu khảo sát: Chọn xã đại diện, chọn hộ đại diện, chọn
cán bộ quản lý cấp trên trực tiếp quản lý ngân sách xã
+ Phương pháp thu thập dữ liệu:
Dữ liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu này bao gồm: Thu thập báo cáo xây dựng dự toán; Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, giao chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước và báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm, quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước của UBND huyện cho xã, quyết định công khai quyết toán của các xã, TT
Dữ liệu sơ cấp phục vụ cho quá trình nghên cứu gồm: Các dữ liệu có liên quan đến công tác quản lý NSX tại huyện Tân Yên được thu thập tại các điểm khảo sát điển hình thông qua việc tham khảo ý kiến của cán bộ phòng Tài chính- kế hoạch huyện, Kho bạc Nhà nước huyện, Chi cục thuế huyện, Chủ tịch, kế toán các xã, TT, người dân, các ban ngành thuộc UBND các xã, TT liên quan đến quản lý NSX tại huyện Tân Yên
+ Phương pháp phân tích thông tin: Phương pháp thống kê mô tả, phương
pháp so sánh, phương pháp cân đối, phương pháp tổng hợp ý kiến
- Các kết quả nghiên cứu đã đạt được:
+ Cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng cường quản lý ngân sách xã thông qua các khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung quản lý ngân sách xã, công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đối với công tác quản lý ngân sách xã và các yếu ảnh hưởng đến đến
Trang 10+ Thực trạng tổ chức, triển khai thực hiện quản lý ngân sách xã; kết quả thực hiện các nội dung quản lý ngân sách xã; đánh giá công tác lập dự toán, chấp hành dự toán, công tác hạch toán, kế toán, thanh tra, kiểm tra ngân sách xã và những kết quả đạt được và hạn chế trong công tác quản lý ngân sách, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp giải quyết
Những hạn chế trong việc quản lý ngân sách xã đó là vệc lập dự toán, chấp hành
dự toán còn chưa được chú trọng còn mang tính hình thức, không tuân thủ theo định mức quy định của Nhà nước ban hành, nhiều đơn vị khi lập dự toán nguồn thu, chi cao hơn rất nhiều so với kinh phí huyện giao, việc chấp hành dự toán chi chưa bám sát vào
dự toán thu, dẫn đến chưa cân đối đảm bảo nhiệm vụ chi còn phải bổ sung, điều chỉnh nhiều lần trong năm, xác định nhiệm vụ chi đầu tư XDCB còn chưa đồng bộ trong cân đối thu-chi ngân sách; công tác, thanh tra kiểm tra về ngân sách vẫn có nhiều đơn vị sai phạm về quản lý ngân sách xã
+ Để thực hiện tốt công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong các năm tiếp theo cần áp dụng đồng bộ các giải pháp sau: Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý ngân sách xã; nhóm giải pháp trong khâu lập dự toán ngân sách xã; nâng cao công tác chấp hành dự toán ngân sách trong đó cần thực hiện nâng cao đề án tăng thu ngân sách; công tác quyết toán ngân sách xã; ngân cao công tác đào tạo, bồi dưỡng
+ Từ những nội dung trên về công tác quản lý ngân sách xã để quản lý ngân sách
xã một cách đồng bộ, có hiệu quả tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý ngân sách trên địa bàn huyện thì đề nghị Nhà nước ban hành chế tài cụ thể và xử lý nghiêm những trường hợp không thực hiện đúng các quy định về quản lý thu
Trang 11THESIC ABSTRACT
Name of candidate: Đỗ Thị Hải Yến
Topic of the dissertation: “Solutions to enhance budget management of commune on Tan Yen district, Bac Giang province”
Institution: Vietnam national university of agriculture
Research purpose of dissertation:
- In order to assess the status of the communal budget management, the factors affect the communal budget management budget period 2013 - 2015, proposing solutions enhance the communal budge management Tan Yen district, Bac Giang province in the future, contributing to economic development and social Tan Yen district
The research methods were used:
+ Survey Sampling method: Selected representative communal, representative of households, selected upper management personnel directly manage the communal budget + Data collection methods: Secondary data for research include: Collecting construction report estimates; Report economic - social, delivery targets of the State budget and report annual budget settlement, allocation decisions of the State plan targets of People's Committees for communes, public decision of the communal settlement, town Primary data service for research process including: data related to budget management in Tan Yen communes is collected in a typical survey point through the consultation of staff rooms Finance plan of District State Treasury district, District Tax Departments, the Chairman, the communes accounting, town, local people, departments
of the People's Committee ,town concerning budget management in Tan Yen commune + Information analysis method: The statistic described methods, comparative medthods, balancing methods, synthetic methods
The main research results:
+ Theoretical basis and practices enhance budget management through social concepts, characteristics, roles, contenting of communal budget management , the monitoring, inspection, audit of the state budget management, and the main factor influence the communal budget management
+ Status of organization,implementation of communal budget management; results of the content implementation for communal management budget; evaluation of
Trang 12communal budget, and the achievements and constraints of management budget, causing and proposing solutions to resolve
The limitations in the management are the communal budget estimate, Executive estimates are still not focused on form, not obey regulation norms are issued by the State, many departments when they estimate revenue, and expends are much higher than budgets allocated by districts The compliance cost estimates have not close to the revenue, leading to unbalanced ensure spending task must be added, adjusted several times a year, determining expenditure on construction tasks remains incomplete and in balance revenues and expenditures budget; inspection work on the budget still has many mistakes from department of communal budget management
+ To implement the communal budget management of Tan Yen district, Bac Giang province in the next year should apply synchronization solutions: Continuing to improve the communal decentralization mechanism budget; solutions in the communal estimation budget; improving the executive work for budget estimates which should perform to enhance revenue enhancement projects; the settlement of the communal budget; improving the training and retraining
+ From the content on the communal budgets management manage the budget
in a coordinated social, implementing good management in the district budget effectively and suggest the state issued specific sanctions and strict handling the cases
of failure to comply with regulations on revenue management
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển của đất nước, ngân sách Nhà nước ngày càng lớn mạnh và phát huy vai trò quan trọng trong việc tập trung nguồn tài lực đảm bảo duy trì sự tồn tại, cũng như mọi hoạt động của bộ máy Nhà nước, đồng thời là công cụ thiết yếu giúp Nhà nước quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Với chủ trương phát triển toàn diện của Đảng, ngân sách xã ngày càng thể hiện rõ chức năng, vai trò, nhiệm vụ của mình cung cấp phương tiện vật chất cho
sự tồn tại và hoạt động chính quyền cấp xã trên tất cả các lĩnh vực Đề cao trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc tham gia quản lý tài chính Nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho huyện chủ động trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch thu chi ngân sách xã nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá và cải
thiện đời sống của nhân dân trên địa bàn Tuy nhiên trong điều kiện NSNN có
hạn, thì việc chi ngân sách thế nào cho hiệu quả và tiết kiệm, tránh được tình trạng thất thoát, thâm hụt luôn là vấn đề được đặt ra
Tân Yên là huyện miền núi, nằm ở phía tây của tỉnh Bắc Giang, là huyện nông nghiệp thuần túy, theo ranh giới hành chính, huyện bao gồm 24 xã, thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 206,7 km2 Trong những năm qua cùng với sự phát
triển chung của tỉnh, huyện Tân Yên luôn nhận được sự quan tâm tạo điều kiện của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân, ủy ban nhân dân và các Sở, Ban, Ngành của tỉnh trên tất cả các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực thu, chi NSNN Công tác quản lý ngân sách xã tại huyện Tân Yên đã có nhiều đổi mới, đạt được tiến bộ đáng kể, kinh tế ngày càng phát triển, văn hoá xã hội khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, an ninh quốc phòng được giữ vững và ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới hiện nay Tuy nhiên, công tác quản lý ngân sách xã vẫn còn những bất cập nhất định cả về cơ chế quản lý và
tổ chức thực hiện Giao thu ngân sách và các nội dung chi ngân sách lại phải chấp hành những quy định mang nặng tính thủ tục hành chính, gò bó bởi chính sách chế
độ, tiêu chuẩn, định mức phân bổ nhưng lại không bị ràng buộc về hiệu quả sử dụng ngân sách được giao Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn
Trang 14chấp hành quy định về lập dự toán, điều hành dự toán và quyết toán ngân sách chưa nghiêm
Với sự nhận thức về tầm quan trọng cũng như những tồn tại trong công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên; Qua nghiên cứu và thực tế
công tác tại địa phương tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường quản lý ngân
sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách xã mà đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong những năm tới
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách xã;
- Đánh giá thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang những năm qua;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm tăng cường quản lý ngân sách
xã có hiệu quả trên địa bàn huyện Tân Yên cho các năm tới
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1 Thực trạng quản lý ngân sách xã như thế nào?
2 Quản lý NSX trên địa bàn huyện Tân Yên bao gồm những nội dung gì?
3 Để quản lý ngân sách xã cần quan tâm đặc điểm, nguyên tắc quản lý NSX như thế nào?
4 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên?
5 Quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên có những thuận lợi và khó khăn gì?
6 Những giải pháp cần đề xuất để tăng cường quản lý ngân sách xã có hiệu quả trên địa bàn huyện Tân Yên?
Trang 151.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
-Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách xã
- Công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên
- Các nguồn thu, chi NSX
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Tân Yên, yếu tố ảnh hưởng và các giải pháp nhằm tăng cường quản lý ngân sách xã có hiệu quả
- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
- Phạm vi thời gian: Đề tài sử dụng các số liệu liên quan đến thực trạng công tác quản lý thu, chi ngân sách xã ở huyện Tân Yên trong năm trở lại đây (từ năm 2013-2015), các giải pháp đến 2020
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Ngân sách Nhà nước và nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước
* Khái niệm: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà
nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
(Quốc hội, 2002)
* Nguyên tắc quản lý Ngân sách Nhà nước:
NSNN được quản lý thống nhất, tập trung, dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng, bình đẳng; có phân cấp quản lý; gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp (Quốc hội, 2002)
Trong hoạt động NS điều này có tầm quan trọng đặc biệt Một mặt đảm bảo sự thống nhất ý trí và lợi ích qua phân bổ NS để có hàng hóa dịch vụ công cộng có tính chất quốc gia Mặt khác nó phát huy tính chủ động, sáng tạo của các địa phương, các tổ chức, cá nhân trong giải quyết từng vấn đề cụ thể Tập trung không phải độc đoán chuyên quyền mà trên cơ sở phát huy dân chủ cơ sở
Các khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao và phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân scsh hoặc người được ủy quyền quyết định chi Người ra quyết định chi phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình, nếu chi sai phải bồi hoàn cho công quỹ và tùy theo tính chất, mức độ vị phạm còn bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy
cứu trách nhiệm hình sự (Bộ Tài chính, 2003)
Chi đầu tư chương trình, dự án phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội; chiến lược nợ quốc gia, cụ thể: Việc bố trí chi đầu tư XDCB phải phù hợp với khả năng cân đối bố trí nguồn vốn theo cam kết bố trí dự toán chi ngân sách cho từng chương trình, dự án; tuân thủ các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư cho từng chương trình, dự án trong từng giai đoạn được cấp
có thẩm quyền; tập trung ưu tiêu bố trí vốn cho các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh
Trang 17thể theo mục tiêu và định hướng phát triển của từng thời kỳ, đảm bảo tập trung
Tổ chức hệ thống ngân sách Nhà nước luôn gắn liền với tổ chức bộ máy
NN và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trên cơ sở hiến pháp, pháp luật Phù hợp với mô hình chính quyền nhà nước ta hiện nay, hệ thống NSNN theo luật định bao gồm ngân sách trung ương
và ngân sách địa phương, được thể hiện cụ thể qua sơ đồ 1.1 (Chính phủ, 2003)
Sơ đồ 1.1 Hệ thống ngân sách Nhà nước
NSNN VIỆT NAM
Ngân sách quận, huyện
Ngân sách cấp tỉnh
Trang 18Trong hệ thống ngân sách Nhà nước ta hiện nay thì ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chi của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được ngân sách Ngân sách trung ương đảm bảo 100% cho nhiệm vụ quốc phòng- an ninh, đối ngoại, chi đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng giao thông đường bộ, thủy lợi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội mang tính liên kết vùng, khu vực, chi hoàn thuế Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ chi được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn
(Chính phủ, 2003)
2.1.1.3 Khái niệm, quá trình hình thành ngân sách xã
Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử, bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước (Quốc hội, 2002)
Ngân sách nhà nước được phân định thành ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách Trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân (Tỉnh, huyện, xã) ( Quốc hội, 2002)
Ngân sách xã là cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, là quỹ tiền tệ tập trung phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là chính quyền xã với một bên là các chủ thể khác thông qua sự vận động của các nguồn tài chính nhằm đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền xã trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh trật tự và văn hoá, xã hội trên địa bàn theo phân cấp
Nói một cách cụ thể: Ngân sách xã là toàn bộ các khoản thu, chi được quy định trong dự toán trong một năm do hội đồng nhân cấp xã quyết định và giao cho uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của chính quyền cấp xã
Song song với sự ra đời, tồn tại và phát triển của chính quyền cấp xã thì
“quỹ” xã (mà bây giờ gọi là NSX) cũng được hình thành và phát triển như một
Trang 19tất yếu khách quan để đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước ở cơ
sở Qua mỗi giai đoạn phát triển, NSX đã có những thay đổi về chức năng, nhiệm
vụ, về kỷ luật tài chính, chế độ thu chi ngân sách xã cho phù hợp Chẳng hạn: Về chức năng, nhiệm vụ: ở thời Khúc Hạo có tư giáp trông coi nhân lực và sánh thuế; ở thời Lê có xã trưởng trông coi việc khoán thu và nộp thuế; ở thời Nguyễn
có chức sắc ở 3 miền khác nhau phụ trách công tác tài chính
Về chế độ thu, chi ngân sách xã trong mỗi thời kỳ cũng có sự khác nhau
do sự áp đặt các luật lệ khác nhau của các triều đại Trong thời Lê, chế độ quản lý NSX được quy định rất chặt chẽ: đối với xã lớn chỉ được phép chi trong phạm vi
50 quan, xã nhỏ 20 quan (đơn vị tiền tệ lúc đó), quỹ xã chỉ giữ lại 30 quan để chi tiêu, số còn lại phải gửi vào nhà giàu trong xã cất giữ Dưới chế độ XHCN, trong thời kỳ bao cấp NSX chưa được quan tâm, coi trọng do ảnh hưởng của cơ chế tập trung, bao cấp (Từ năm 1996 ngân sách xã được quản lý theo Luật ngân sách
Vị trí, vai trò của ngân sách xã được khẳng định lại trong thời kỳ khôi phục cơ sở vật chất, xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng nông thôn mới với sự
ra đời của Nghị quyết 138/HĐBT ngày 19/11/1983 Ngân sách xã lúc này đã là một cấp trong hệ thống ngân sách Nhà nước gồm: NSTW, NS Tỉnh (Thành phố trực thuộc TW), NS Huyện (Quận, Thị xã), Ngân sách xã (Phường, thị trấn) Tuy nhiên ở thời kỳ này, ngân sách xã chưa thực sự phát huy được vai trò của mình
Để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế trong thời kỳ đổi mới đất nước, chuyển từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, trong những năm vừa qua Nhà nước
đã ban hành nhiều văn bản Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn liên quan đến quản lý NSNN nói chung và ngân sách xã nói riêng như: Luật NSNN số 47/1996/QH10 ban hành ngày 20/03/1996; Luật NSNN số 06/1998/QH10 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật NSNN năm 1998; Luật NSNN số 01/2002/QH11; Thông tư số 60/2003/TT- BTC ngày 23/06/2003 và mới đây
Trang 20nhất là Quyết định số 94/2005/QĐ - BTC ngày 12/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã, điều này một lần nữa khẳng định ngân sách xã là một cấp ngân sách nằm trong hệ thống NSNN thống nhất, là một phần của NSNN, là phương tiện vật chất để chính quyền cấp xã thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Đây thực sự là một bước phát triển mới trong Ngân sách xã, khẳng định rõ ngân sách xã ngày càng được quan tâm, củng cố và hoàn thiện hơn
* Khái niệm quản lý
- Quản lý là sự tác động có tổ chức, định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm hướng hành vi của của đối tượng đạt mục tiêu đã định
- Quản lý ngân sách sách Nhà nước là bộ phận cơ bản quan trọng nhất hợp thành tài chính Nhà nước do vậy nó cũng chịu sự tác động và điều chỉnh của hệ thống các cơ quan Nhà nước (Chính phủ, 2003)
* Khái niệm quản lý Ngân sách xã
Quản lý ngân sách xã là công cụ tài chính giúp chính quyền Nhà nước cấp trên giám sát hoạt động của chính quyền cấp xã với một hệ thống tổ chức Nhà nước thống nhất, đồng thời lại có sự phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn quản lý kinh tế, xã hội cho chính quyền cấp dưới ( Chính phủ, 2003)
2.1.2 Đặc điểm của ngân sách xã
Ngân sách xã là một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách Nhà nước, vì vậy nó có đầy đủ những đặc điểm chung của ngân sách các cấp chính quyền địa phương, cụ thể:
+ Được phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy định của pháp luật;
+ Ngân sách xã được quản lý và điều hành theo dự toán và theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định;
+ Hoạt động thu chi của ngân sách xã luôn gắn liền với chức năng, nhiệm
vụ của chính quyền xã đã được phân cấp, đồng thời luôn chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước cấp xã - đó là HĐND cấp xã;
+ Ngân sách xã là cấp ngân sách cuối cùng gắn chặt với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, là nơi trực tiếp giải quyết mối quan
hệ lợi ích giữa Nhà nước và nhân dân, đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm
Trang 21minh Mối quan hệ về lợi ích đó được thực hiện thông qua hoạt động thu chi ngân sách xã Thông qua hoạt động thu chi đó, chính quyền cấp xã cũng đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Bên cạnh những đặc điểm chung của cấp ngân sách, ngân sách xã cũng có những đặc điểm riêng, đó là ngân sách xã vừa là cấp ngân sách vừa là đơn vị sử dụng ngân sách, chính đặc điểm riêng này đã làm cho ngân sách xã trở thành một đơn vị dự toán đặc biệt, vì nó không có đơn vị dự toán trực thuộc nào và nó vừa phải duyệt cấp, chi trực tiếp và tổng hợp các khoản chi trực tiếp vào chi ngân sách xã
2.1.3 Vai trò của quản lý ngân sách xã
Có thể nói ngân sách xã có vai trò đặc biệt quan trong trong hệ thống NSNN, vai trò của NSX được thể hiện ở các điểm như sau:
- Thứ nhất: Ngân sách xã là công cụ tài chính quan trọng đảm bảo cung cấp
nguồn kinh phí để duy trì sự hoạt động của bộ máy Nhà nước ở cơ sở
Ngân sách xã là một cấp ngân sách trong hệ thống NSNN thì đương nhiên chi phí của bộ máy Nhà nước ở cấp xã phải do NSX đảm nhận Nhờ NSX đó mà các khoản lương cán bộ xã; các khoản chi tiêu cho quản lý hành chính hay mua sắm các tài sản phục vụ hoạt động của chính quyền xã mới được đảm bảo
- Thứ hai: Ngân sách xã chính là một công cụ đặc biệt quan trọng để
chính quyền xã thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế xã hội tại địa phương
Điều này thể hiện xã là một cấp chính quyền cơ sở của bộ máy quản lý Nhà nước, trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với dân, đồng thời đảm bảo nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội và thực thi mọi chính sách, chế độ của Nhà nước trên địa bàn NSX chính
là công cụ, phương tiện vật chất hữu hiệu nhất giúp chính quyền xã giải quyết tốt các quan hệ trên Vai trò đó được thể hiện trên cả hai mặt là hoạt động thu và chi ngân sách xã
2.1.4 Nội dung quản lý ngân sách xã
Nội dung quản lý ngân sách xã được quy định cụ thể tại Luật NSNN năm 2002; Nghị định số 60/2003/NĐ - CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN; Thông tư số 59/2003/TT - BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ - CP
Trang 22ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN; Thông tư số 60/2003/TT - BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính quy định về quản
lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn và các văn bản hướng dẫn hiện hành của Chính phủ, của Bộ Tài chính cũng như các quy định
về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của HĐND
cấp tỉnh Nội dung cơ bản về quản lý ngân sách xã như sau:
2.1.4.1 Lập dự toán ngân sách xã
Đây là khâu đâu tiên trong quy trình quản lý ngân sách xã, nó đặt cơ sở nền tảng cho những khâu tiềp theo Nếu khâu lập dự toán được thực hiện chính xác, có cơ sở khoa học, hợp thời gian…sẽ tạo điều kiện rất lớn cho các khâu tiếp theo, giúp cho quá trình điều hành ngân sách được tốt hơn Hàng năm, trên cơ sở hướng dẫn của ủy ban nhân dân cấp trên, ủy ban nhân dân xã lập dự toán ngân sách năm sau trình Hội đồng nhân dân xã quyết định (Bộ Tài chính, 2003)
* Yều cầu của lập dự toán ngân sách xã:
- Dự toán NSX phải phản ánh một cách đầy đủ, chính xác các khoản thu, chi dự kiến có thể phát sinh năm kế hoạch theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức của nhà nước Điều này có nghĩa khi lập dự toán NSX đòi hỏi người lập phải tính toán đầy đủ các khả năng thu NSX, có tính đến khả năng khai thác nguồn thu tiềm năng của xã, đồng thời tính toán phân bổ chi tiêu ngân sách xã đảm bảo tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả
- Dự toán chi đầu tư phát triển phải căn cứ vào các dự án đầu tư có đủ điều kiện và nguồn vốn được đảm bảo, ưu tiên bố trí cho các công trình đang thực hiện dở dang
- Dự toán chi thường xuyên phải được tuân theo các chính sách chế độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành
- Lập dự toán NSX phải đảm bảo nguyên tắc cân đối, chi không được vượt quá nguồn thu quy định có thể thực hiện trong năm kế hoạch Nghiêm cấm vay, chiếm dụng vốn hoặc cho vay dưới mọi hình thức để cân đối NSX
- Dự toán phải được lập theo đúng biểu mẫu quy định, đúng thời gian, đúng mục lục NSNN, gửi kịp thời cho các cơ quan chức năng của Nhà nước xét duyệt, tổng hợp, đồng thời phải kèm theo các báo cáo thuyết minh rõ cơ sở, rõ căn cứ tính toán
Trang 23Công chức tài chính-kế toán xã lập dự toán thu, chi và cân đối ngân sách
xã trình UBND xã báo cáo thường trực HĐND xã để xem xét gửi UBND huyện
và phòng Tài chính - KH cấp huyện Thời gian báo cáo dự toán NSX do UBND cấp tỉnh quy định Trên cơ sở đó UBND huyện kiểm tra, tổng hợp và ra quyết định giao nhiệm vụ thu, chi chính thức cho NS cấp xã Đối với năm đầu thời kỳ
ổn định ngân sách, phòng tài chính - KH huyện làm việc với UBND xã về cân đối thu, chi NSX thời kỳ ổ định mới theo khả năng bố trí cân đối chung của ngân sách địa phương Đối với các năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, phòng tài chính huyện chỉ tổ chức làm việc với UBND xã về dự toán ngân sách khi UBND xã có yêu cầu
Căn cứ Quyết định giao nhiệm vụ thu, chi NSX do UBND cấp huyện giao, UBND xã hoàn chỉnh dự toán thu, chi ngân sách xã và phương án phân bổ ngân sách xã trình HĐND xã quyết định trước ngày 31/12 năm trước
Dự toán NSX sau khi được HĐND xã quyết định, UBND xã báo cáo UBND cấp huyện và phòng Tài chính cấp huyện; đồng thời thông báo công khai
dự toán NSX theo chế độ công khai tài chính, ngân sách theo quy định hiện hành
* Căn cứ lập dự toán Ngân sách xã
Dự toán ngân sách xã được lập dựa trên những căn cứ cụ thể để có thể xác lập các chỉ tiêu thu, chi NSX một cách tương đối chính xác, khoa học, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hoạt động quản lý và điều hành NSX cũng như đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã Các căn cứ lập dự toán ngân sách xã bao gồm:
- Các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn của xã;
- Chính sách, chế độ thu, chi NSNN, cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSX và tỷ lệ phân chia nguồn thu do HĐND cấp tỉnh quy định;
Chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu, chi Ngân sách do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và HĐND cấp tỉnh quy định;
- Số kiểm tra về dự toán NSX do UBND huyện thông báo;
- Tình hình thực hiện dự toán NSX các năm trước, ước thực hiện Ngân sách năm hiện hành;
Trang 24* Trình tự lập dự toán ngân sách xã
- Ban tài chính xã phối hợp với cơ quan thuế, tổ đội thuế xã (nếu có), tổ uỷ nhiệm thu, các thôn, đội để tính toán các khoản thu ngân sách trên địa bàn (trong phạm
vi phân cấp cho xã quản lý)
- Các ban ngành, tổ chức của xã (Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh ) căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao và chế độ định mức, tiêu chuẩn chi, tiến hành lập dự trù kinh phí hoạt động cho các công việc dự kiến năm kế hoạch, dự tính các khoản thu có thể phát sinh theo điều lệ hoạt động của tổ chức mình để cung cấp tư liệu cho Ban Tài chính xã lập dự toán NSX Trường hợp các tổ chức, đoàn thể lập dự trù kinh phí vượt quá định mức, tiêu chuẩn theo số kiểm tra đã thông báo thì Ban Tài chính xã có quyền yêu cầu sửa lại cho phù hợp
- Ban Tài chính xã lập dự toán thu, chi và cân đối ngân sách xã trình UBND xã báo cáo thường trực HĐND xã để xem xét gửi UBND huyện và phòng Tài chính - KH cấp huyện Thời gian báo cáo dự toán NSX do UBND cấp tỉnh quy định Trên cơ sở đó UBND huyện kiểm tra, tổng hợp và ra quyết định giao nhiệm vụ thu, chi chính thức cho NS cấp xã Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, phòng tài chính - KH huyện làm việc với UBND xã về cân đối thu, chi NSX thời kỳ ổ định mới theo khả năng bố trí cân đối chung của ngân sách địa phương Đối với các năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, phòng tài chính huyện chỉ tổ chức làm việc với UBND xã về dự toán ngân sách khi UBND xã có yêu cầu
- Căn cứ Quyết định giao nhiệm vụ thu, chi NSX do UBND cấp huyện giao, UBND xã hoàn chỉnh dự toán thu, chi ngân sách xã và phương án phân bổ ngân sách xã trình HĐND xã quyết định trước ngày 31/12 năm trước
- Dự toán NSX sau khi được HĐND xã quyết định, UBND xã báo cáo UBND cấp huyện và phòng Tài chính cấp huyện; đồng thời thông báo công khai
dự toán NSX theo chế độ công khai tài chính, ngân sách theo quy định hiện hành
2.1.4.2 Chấp hành ngân sách xã
Chấp hành NSX là khâu quan trọng trong quá trình quản lý NSX Việc chấp hành ngân sách đúng đắn và có điều chỉnh kịp thời dự toán là tiền đề quan trọng bảo đảm điều kiện để thực hiện các khoản thu, chi đã ghi trong kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của xã, tránh mất cân đối ngân sách (Bộ Tài chính, 2003)
Trang 25Sau khi dự toán NSX được phê duyệt và năm ngân sách bắt đầu (tính theo năm dương lịch) thì việc thực hiện dự toán NSX được tiến hành
Theo Luật NSNN, mọi khoản thu, chi của ngân sách xã đều phải thực hiện thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) Vì vậy, các xã đều phải tiến hành
mở tài khoản Ngân sách để giao dịch tại KBNN huyện Chủ tài khoản là chủ tịch UBND xã (hoặc người được uỷ quyền), kế toán là kế toán ngân sách xã, các chức danh Chủ tài khoản và Kế toán phải đăng ký chữ ký và mẫu dấu tại KBNN
Căn cứ vào dự toán NSX và phương án phân bổ NSX cả năm đã được HĐND xã quyết định, UBND xã phân bổ chi tiết dự toán chi NSX theo mục lục NSNN gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để làm căn cứ thanh toán và kiểm soát chi
* Điều chỉnh dự toán ngân sách xã trong quá trình chấp hành ngân sách
Khi tổ chức chấp hành ngân sách xã, trong một số trường hợp kế hoạch
NS đã được duyệt phải điều chỉnh một phần hoặc điều chỉnh toàn bộ Điều chỉnh
kế hoạch NS từng phần là tiến hành điều chỉnh các chỉ tiêu thu, chi trong kế hoạch NS đã được duyệt nhưng mang tính chất cục bộ, bộ phận, về căn bản không làm ảnh hưởng đến kế hoạch NS năm
Dự toán NSX có thể được điều chỉnh từng phần trong các trường hợp: Tình hình kinh tế - xã hội có những biến động (thiên tai, hạn hán .) nhưng không lớn chỉ ảnh hưởng cục bộ đến từng bộ phận hoạt động thu, chi NSX; do Nhà nước thay đổi về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý điều hành NSNN làm ảnh hưởng đến từng phần hoạt động thu, chi NS xã
Thẩm quyền điều chỉnh dự toán thu, chi NSX do UBND xã lập phương án điều chỉnh trình HĐND xã xem xét, quyết định theo Luật NSNN
Khi thực hiện điều chỉnh dự toán NSX phải theo hướng cụ thể sau:
- Nếu thu không đạt dự toán thì được phép giảm chi một số khoản tương ứng
- Trường hợp chi đột xuất ngoài dự toán nhưng không thể trì hoãn được
mà dự phòng NS không đủ để đáp ứng thì được phép sắp xếp lại các khoản chi trong dự toán được giao để có nguồn đáp ứng nhu cầu chi đột xuất đó
Điều chỉnh toàn bộ dự toán NSX chỉ sảy ra khi có những biến động lớn làm đảo lộn toàn bộ dự toán NS xã đã được phê duyệt như chiến tranh, các thiên tai nghiêm trọng sảy ra Việc điều chỉnh toàn bộ dự toán NSX do UBND xã
Trang 26thực hiện xây dựng phương án điều chỉnh dự toán NS mới trình HĐND xã xem xét, phê duyệt theo thẩm quyền
• Quản lý thu của ngân sách xã
Thu ngân sách xã được hình thành từ 3 nguồn lớn đó là: Các khoản thu phát sinh trên địa bàn, ngân sách xã hưởng 100% số thu; Các khoản thu phát sinh trên địa bàn, ngân sách xã hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) và thu bổ sung từ ngân sách cấp trên
Trong điều kiện triển khai thực thi Luật NSNN đã được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ hai ngày 16/12/2002 thì cơ cấu nguồn thu cho các xã ở các địa phương khác nhau sẽ do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, nên cơ cấu nguồn thu NSX ở các địa phương khác nhau sẽ có sự khác nhau Việc phân cấp nguồn thu cho ngân sách xã phải đảm bảo nguyên tắc:
- Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của Nhà nước và chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước của cấp xã;
- Phù hợp với việc phân định nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương;
- Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia một số khoản thu giao cho ngân sách xã không vượt tỷ lệ phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương do
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định giao cho từng tỉnh đối với các khoản thu đó; riêng đối với 5 loại thuế, lệ phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 34 Luật ngân sách nhà nước, tỷ lệ phân chia cho ngân sách xã, thị trấn tối thiểu là 70%; Kết thúc mỗi kỳ ổn định, căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp ở địa phương
- Khi phân cấp nguồn thu cho xã phải căn cứ vào nhiệm vụ chi, khả năng thu từ các nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn; phân cấp tối đa nguồn thu tại chỗ, đảm bảo các xã có nguồn thu cân đối được nhiệm vụ chi thường xuyên, các
xã có nguồn thu khá có phần dành để đầu tư phát triển, hạn chế việc bổ sung từ ngân sách cấp trên, tăng số xã tự cân đối được ngân sách, giảm dần số xã phải nhận bổ sung cân đối ngân sách từ cấp trên
Các địa phương cũng có thể tham khảo những chỉ dẫn mà Bộ Tài chính
đã đưa ra trong Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 về phân định
nguồn thu cho NSX như sau:
Trang 27*Các khoản thu ngân sách xã hưởng 100%:
Là các khoản thu dành cho xã sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn tài chính bảo đảm các nhiệm vụ chi thường xuyên, đầu tư Căn cứ quy mô nguồn thu, chế độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và nguyên tắc đảm bảo tối đa nguồn tại chỗ cân đối cho các nhiệm vụ chi thường xuyên, khi phân cấp nguồn thu, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét dành cho ngân sách xã hưởng 100% các khoản thu dưới đây:
a) Các khoản phí, lệ phí thu vào ngân sách xã theo quy định
b) Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào ngân sách nhà nước theo chế độ quy định;
c) Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản khác theo quy định của pháp luật do xã quản lý Đây là nguồn thu thường xuyên của ngân sách xã, xã không được đấu thầu thu khoán một lần cho nhiều năm làm ảnh hưởng đến việc cân đối ngân sách xã các năm sau; trường hợp thật cần thiết phải thu một lần cho một số năm, thì chỉ được thu trong nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, không được thu trước thời gian của nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân khoá sau, trừ trường hợp thu đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
d) Các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: các khoản huy động đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý và các khoản đóng góp tự nguyện khác;
đ) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở ngoài nước trực tiếp cho ngân sách xã theo chế độ quy định;
e) Thu kết dư ngân sách xã năm trước;
g) Các khoản thu khác của ngân sách xã theo quy định của pháp luật
* Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa ngân sách xã với ngân sách cấp trên
a) Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước gồm:
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
Trang 28- Thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh;
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình;
- Lệ phí trước bạ nhà, đất
Các khoản thu trên, tỷ lệ ngân sách xã, thị trấn được hưởng tối thiểu 70% Căn cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của xã, thị trấn, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định tỷ lệ ngân sách xã, thị trấn được hưởng cao hơn, đến tối đa
là 100%
b) Ngoài các khoản thu phân chia theo quy định tại điểm a khoản 1.2 nêu trên, ngân sách xã còn được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bổ sung thêm các nguồn thu phân chia sau khi các khoản thuế, lệ phí phân chia theo Luật ngân sách nhà nước đã dành 100% cho xã, thị trấn và các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100% nhưng vẫn chưa cân đối được nhiệm vụ chi
*Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã
Trong tổ chức hệ thống NSNN, các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau và mỗi cấp phải tự cân đối thu - chi ngân sách Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể nếu cấp ngân sách (hay một bộ phận của cấp ngân sách) nào không tự cân đối được thì ngân sách cấp trên có trách nhiệm cấp bổ sung nguồn vốn cho cấp ngân sách (hay bộ phận cấp ngân sách) đó để đảm bảo cân đối thu - chi ngay từ khâu xây dựng dự toán từ đó hình thành khoản thu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta phần lớn ngân sách cấp xã chưa tự cân đối được thu - chi ngân sách nên ngân sách cấp trên phải cấp bổ sung và hình thành nên nguồn thu thứ 3 cho NSX Cơ chế xác lập số thu bổ sung từ ngân sách
cấp trên được quy định như sau:
- Thu bổ sung để cân đối ngân sách được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa dự toán ngân sách chi theo các nhiệm vụ được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp (các khoản thu 100% và các khoản thu phân chia theo
tỷ lệ %) Số bổ sung cân đối này được xác định từ năm đầu của thời kỳ ổn định
ngân sách và được giao ổn định từ 3 đến 5 năm
- Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản bổ sung theo từng năm để hỗ trợ
xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể
Trang 29Quản lý chi của ngân sách xã:
Ngân sách xã thực hiện các mục tiêu chiến lược và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của xã, giải quyết các quan hệ cân đối trong nền kinh tế trên địa bàn xã Chính quyền nhà nước cấp xã sử dụng ngân sách xã để đảm bảo kinh phí cho chi đầu tư phát triển, cho hoạt động của bộ máy chính quyền ở xã, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội trên địa bàn xã và cung cấp kinh phí cho các hoạt động khác của xã
Chi ngân sách xã gồm: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách xã, cụ thể các nhiệm vụ chi như sau:
* Chi đầu tư phát triển: Nhóm chi đầu tư phát triển là tập hợp các nội
dung chi có liên quan đến việc cải tạo, nâng cấp hoặc làm mới các công trình thuộc hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã như: đường giao thông, kênh mương tưới tiêu nước, trường học, trạm y tế, hệ thống truyền thanh, nhà văn hoá
xã Do vậy, các khoản chi đầu tư phát triển thể hiện rõ mục đích tích luỹ nên cần phải ưu tiên vốn nhiều hơn Chi đầu tư phát triển của NSX hiện nay bao
gồm: Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội không có khả năng thu hồi vốn theo sự phân cấp của cấp tỉnh; Chi đầu tư xây dựng các
công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của xã từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân theo từng dự án nhất định, do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân sách xã để quản lý; các khoản chi đầu tư phát triển khác
theo quy định
* Chi thường xuyên: Bao gồm các khoản chi chủ yếu sau:
a) Chi cho hoạt động của các cơ quan nhà nước ở xã:
+ Tiền lương, tiền công cho cán bộ, công chức cấp xã
+ Sinh hoạt phí đại biểu Hội đồng nhân dân, phụ cấp cấp uỷ
+ Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước
Trang 30b) Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở xã
c) Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở xã (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam) sau khi trừ các khoản thu theo điều lệ và các khoản thu khác (nếu có)
d) Đóng BHXH, BHYT cho cán bộ xã và các đối tượng khác theo chế độ quy định
e) Chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội:
+ Chi huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự
vệ và các khoản cho khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã + Chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy định của pháp luật
+ Chi tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự
an toàn xã hội trên địa bàn xã
+ Các khoản chi khác theo chế độ quy định
g) Chi cho công tác xã hội và hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao do xã quản lý
+ Trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc theo chế độ quy định (không
kể trợ cấp hàng tháng cho cán bộ xã nghỉ việc và trợ cấp thôi việc một lần cho cán
bộ xã nghỉ việc từ ngày 01/01/1998 trở về sau do tổ chức bảo hiểm xã hội chi; chi thăm hỏi các gia đình chính sách; cứu tế xã hội và công tác xã hội khác
+ Chi hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao do xã quản lý
h) Chi sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ các lớp bổ túc văn hóa, trợ cấp nhà trẻ, lớp mẫu giáo, kể cả trợ cấp cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã, thị trấn quản lý (đối với phường do ngân sách cấp trên chi)
i) Chi sự nghiệp y tế: Hỗ trợ chi thường xuyên và mua sắm các khoản trang thiết bị phục vụ cho khám chữa bệnh của trạm y tế xã
k) Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà văn hóa, thư viện, đài tưởng niệm, cơ sở thể dục thể thao, cầu, đường giao thông, công trình cấp và thoát nước công cộng…riêng đối với thị trấn còn có nhiệm vụ chi sửa chữa cải tạo vỉa hè, đường phố nội thị, đèn chiếu sáng, công viên, cây xanh…(đối với phường do ngân sách cấp trên chi)
Trang 31l) Hỗ trợ khuyến khích phát triển các sự nghiệp kinh tế như: khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm theo chế độ quy định
m) Các khoản chi thường xuyên khác ở xã theo quy định của pháp luật
2.1.4.3 Quyết toán Ngân sách xã
* Tổ chức hạch toán, kế toán ngân sách xã
UBND cấp xã phải thực hiện tổ chức công tác hạch toán kế toán ngân sách
xã theo đúng chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã ban hành tại Quyết định số 94/2005/QĐ - BTC ngày 12/12/2005 của Bộ Tài chính; Tổ chức bộ máy kế toán
để thực hiện công tác hạch toán kế toán đầy đủ các nghiệp vụ thu, chi ngân sách
xã phát sinh trong niên độ ngân sách
Kế toán - tài chính xã có nhiệm vụ:
- Thu thập, xử lý, kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi ngân sách, các quỹ công chuyên dùng, các khoản thu đóng góp của dân, các hoạt động sự nghiệp, tình hình quản lý và sử dụng tài sản do xã quản lý và các hoạt động tài chính khác của xã;
- Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành dự toán thu, chi ngân sách xã, các qui định về tiêu chuẩn, định mức; tình hình quản lý, sử dụng các quỹ công chuyên dùng, các khoản thu đóng góp của dân; tình hình sử dụng kinh phí của các bộ phận trực thuộc và các hoạt động tài chính khác của xã;
- Phân tích tình hình thực hiện dự toán thu, chi ngân sách, tình hình quản lý
và sử dụng tài sản của xã, tình hình sử dụng các quỹ công chuyên dùng; cung cấp thông tin số liệu, tài liệu kế toán tham mưu, đề xuất với UBND, HĐND xã các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội trên địa bàn xã
- Thực hiện việc ghi chép các nghiệp vụ phát sinh: mọi khoản thu, chi NSX phát sinh phải được ghi chép, phản ánh đầy đủ vào hệ thống chứng từ, sổ sách, báo cáo kế toán theo quy định Việc hạch toán kế toán và quyết toán ngân sách phải thực hiện theo đúng mục lục NSNN và chế độ kế toán NSX hiện hành
- Giúp Chủ tịch UBND xã trong việc lập báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách để trình ra HĐND xã phê duyệt, phục vụ công khai tài chính trước nhân dân theo qui định của pháp luật và gửi Phòng Tài chính Quận, Huyện, Thị xã (gọi chung là Huyện) để tổng hợp vào ngân sách nhà nước
Trang 32- Lập báo cáo kế toán, quyết toán theo đúng các biểu mẫu và thực hiện báo cáo định kỳ hàng tháng, quý theo quy định
Kho bạc Nhà nước huyện nơi giao dịch thực hiện công tác kế toán thu chi quỹ NSX theo quy định Định kỳ hàng tháng, quý báo cáo tình hình thực hiện thu, chi NSX, tồn quỹ NSX gửi UBND xã, và có thể báo cáo đột xuất khi có yêu cầu
* Công tác khoá sổ và quyết toán ngân sách xã
Để thực hiện việc khoá sổ kế toán và quyết toán ngân sách hàng năm, kế toán-tài chính xã cần thực hiện một số việc sau:
- Tháng 12 phải rà soát tất cả các khoản thu, chi theo dự toán, có biện pháp thu đầy đủ các khoản phải thu vào ngân sách và giải quyết kịp thời các nhu cầu chi theo dự toán Trường hợp có khả năng hụt ngân sách phải có phương án chủ động sắp xếp lại các khoản chi để đảm bảo cân đối NSX
- Phối hợp với KBNN huyện nơi giao dịch để đối chiếu tất cả các khoản thu, chi NSX trong năm, bảo đảm hạch toán đấy đủ chính xác các khoản thu, chi theo mục lục NSNN, kiểm tra lại số thu được phân chia giữa các cấp ngân sách theo tỷ lệ quy định Đối với những khoản tạm thu, tạm giữ, tạm vay (nếu có) phải xem xét xử lý hoặc hoàn trả, trường hợp chưa xử lý được thì phải làm thủ tục chuyển năm sau
- Các khoản thu, chi phát sinh vào thời điểm cuối năm được thực hiện theo nguyên tắc: Đối với thu NSX: Các khoản thu nộp chậm nhất trước cuối giờ làm việc ngày 31/12, nếu nộp sau thời hạn trên sẽ chuyển vào thu năm sau Đối với chi NSX: Nhiệm vụ chi được bố trí trong dự toán ngân sách năm, chỉ được chi trong niên độ ngân sách năm đó, các khoản chi có trong dự toán đến hết 31/12 chưa thực hiện được không được chuyển sang năm sau chi tiếp Trường hợp cần thiết phải chi nhưng chưa chi được, phải được UBND xã quyết định cho chi tiếp, và được quyết toán theo quy định
* Lập báo cáo quyết toán ngân sách xã hàng năm
- Ban Tài chính xã có trách nhiệm giúp UBND xã lập báo cáo quyết toán thu, chi NSX hàng năm theo đúng biểu mẫu, đúng mục lục NSNN áp dụng đối với cấp xã và chế độ kế toán ngân sách xã trình UBND xã xem xét
- UBND xã là cơ quan chấp hành của HĐND xã có trách nhiệm ra các quyết định, chỉ thị cho Ban Tài chính xã lập báo cáo quyết toán; kiểm tra tình hình
Trang 33quyết toán các khoản thu, chi NSX; ký và đóng dấu vào các báo cáo quyết toán với trách nhiệm là chủ tài khoản ngân sách xã; chịu trách nhiệm báo cáo và giải trình quyết toán trước HĐND xã và UBND cấp trên; chịu trách nhiệm giải quyết các khiếu nại và kiến nghị của nhân dân, thực hiện quy chế công khai dân chủ về quyết toán NSX
- HĐND xã là cơ quan quyền lực Nhà nước ở xã có trách nhiệm chỉ đạo giám sát hoạt động của UBND xã, thẩm tra báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách
xã do UBND xã lập và ra Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách xã
- Quyết toán chi NSX không được lớn hơn quyết toán thu NSX Số chênh lệch lớn hơn giữa số thu và chi NSX là Kết dư NSX Toàn bộ kết dư năm trước (nếu có) sẽ được chuyển vào thu ngân sách năm sau
- Sau khi HĐND xã phê chuẩn, báo cáo quyết toán quyết toán được lập thành
05 bản để gửi cho HĐND xã, UBND xã, phòng Tài chính huyện, Kho bạc Nhà nước huyện nơi giao dịch (để làm thủ tục ghi kết dư ngân sách), lưu Ban tài chính xã và thông báo công khai nơi công cộng cho nhân dân trong xã biết Thời gian gửi báo cáo quyết toán năm cho phòng Tài chính huyện do UBND tỉnh quy định
- Phòng Tài chính huyện là đơn vị được giao trách nhiệm thẩm định báo cáo quyết toán thu, chi NSX, trường hợp thẩm tra có sai sót phải báo cáo UBND huyện yêu cầu HĐND xã thực hiện điều chỉnh
* Thời hạn chỉnh lý quyết toán ngân sách xã
Theo quy định của Luật NSNN năm 2002, thời gian chỉnh lý quyết toán NSX được thực hiện đến hết ngày 31/01 năm sau
* Công khai tài chính
- Mục đích công khai tài chính: Công khai tài chính là biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức Nhà nước, tập thể người lao động
và nhân dân trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng vốn, tài sản Nhà nước; huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm chế độ quản lý tài chính; bảo đảm sử dụng có hiệu quả ngân
sách nhà nước, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Nguyên tắc công khai tài chính: Cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin tài chính phải công khai, phù hợp với từng đối tượng cung cấp và tiếp
Trang 34nhận thông tin thông qua những hình thức quy định trong Quy chế này; Việc gửi các báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước các cấp, báo cáo quyết toán tài chính của các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ, các doanh nghiệp nhà nước và các quỹ có nguồn thu từ các khoản đóng góp của nhân dân được các cấp có thẩm quyền cho phép thành lập thực hiện theo chế độ báo cáo tài chính và kế toán hiện hành
Công khai tài chính đối với các cấp ngân sách: chậm nhất là 60 ngày kể từ khi khi dự toán, quyết toán ngân sách hàng năm đã được Quốc hội, HĐND các cấp quyết định, phê chuẩn các cấp ngân sách phải tiến hành công khai chi tiết số liệu
dự toán (quyết toán) theo từng lĩnh vực thu và tỷ lệ phân chia nguồn thu được phân cấp, từng lĩnh vực chi, đồng thời phải công khai chi tiết một số hoạt động tài chính khác của xã như: các quỹ công chuyên dùng, các hoạt động sự nghiệp
Công khai tài chính đối với NSX: chậm nhất 30 ngày kể từ khi nhận được
dự toán (phê duyệt quyết toán) của phòng TC-KH; UBND xã công bố công khai trong nội bộ đơn vị và phải được niêm yết tại trụ sở UBND xã
2.1.5 Kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đối với công tác quản lý ngân sách xã
2.1.5.1 Công tác tự kiểm tra tài chính, kế toán tại đơn vị có sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước
“Công tác tự kiểm tra tài chính, kế toán tại đơn vị có sử dụng kinh phí NSNN cấp nhằm mục đích đánh giá tình hình triển khai chấp hành dự toán NSNN hàng năm tại đơn vị theo quy định của pháp luật về NSNN, tình hình chấp hành công tác thực hành tiết kiệm chống lãng phí của đơn vị (Bộ Tài chính, 2004) Đánh giá chất lượng hoạt động, tình hình chấp hành cơ chế, chính sách và quản lý các khoản thu, chi tài chính, quản lý và sử dụng tài sản, tiền vốn, sử dụng quỹ lương, quỹ thưởng, các quỹ của cơ quan và công tác đầu tư XDCB trong đơn vị Phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm, áp dụng các biện pháp xử lý các sai phạm theo đúng thẩm quyền đã được phân cấp Đồng thời tổ chức rút kinh nghiệm, đánh giá những tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đưa ra phương hướng, biện pháp khắc phục nhằm tăng cường công tác quản lý tài chính kế toán tại đơn vị”
2.1.5.2 Thanh tra trong công tác quản lý ngân sách xã
Thanh tra là hoạt động nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc
Trang 35phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Thanh tra là việc xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Quốc hội, 2010)
2.1.5.3 Kiểm toán về công tác quản lý ngân sách xã
Kiểm toán là hoạt động giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước
Kiểm toán là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước (Quốc hội, 2005) Như vậy có thể nói công tác thanh tra, kiểm toán công tác quản lý thu, chi ngâ sách xã đều hướng đến việc tuân thủ chính sách, pháp luật, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí NSNN, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật tránh tình trạng lãng phí tham ô, lãng phí nguồn NSNN
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách xã
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quản lý NSX, các nhân tố này có thể là khách quan, chủ quan Đó là các yếu tố do tự nhiên đem lại, các loại rủi ro có thể lường trước hoặc không lường trước được, các yếu tố do con người mang lại như: trình độ chuyên môn của các nhà quản lý NSX, các văn bản hướng dẫn liên quan đến chế độ, định mức chi và văn bản hướng dẫn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền…
2.1.6.1 Các yếu tố khách quan
- Điều kiện tự nhiên: Ở mỗi vùng, mỗi xã đều có vị trí địa lý, điều kiện địa
hình, thời tiết khí hậu khác nhau gây ảnh hưởng đến nguồn thu, nhiệm vụ chi tại địa phương Địa phương nào có nguồn thu thuận lợi thì việc quản lý thu, chi NSX cũng được chủ động và thuận lợi trong khâu điều hành NSX và ngược lại đối với địa phương có nguồn thu trên địa bàn không đáp ứng được nhiệm
Trang 36vụ chi thường xuyên, đầu tư phát triển của xã thì việc quản lý và điều hành ngân sách cũng sẽ bị bị động và hạn chế hơn
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi vùng, miền có ảnh hưởng rất lớn đối với quản lý NSX tại mỗi quốc gia, mỗi vùng miền, địa phương đó Bởi vì kinh tế quyết định các nguồn lực tài chính và ngược lại nguồn lực tài chính cũng tác động mạnh mẽ đến quản lý chi NSX Kinh tế càng phát triển nền tài chính cũng
sẽ được củng cố ổn định và phát triển khi đó Nhà nước điều hành nền kinh tế vĩ
mô thông qua chính sách tài khóa để phân bổ các nguồn lực cho xã hội sẽ được thuận lợi hơn
Xã hội ổn định bởi chế độ chính trị ổn định, chế độ chính trị ổn định sẽ có một nền kinh tế ổn định và phát triển, môi trường kinh doanh lành mạnh thu hút được nguồn vốn đầu tư từ trong và ngoài nước sẽ ảnh hưởng tích cực đến nguồn thu ngân sách và nhiệm vụ chi của NSX
- Quy định của nhà nước về quản lý ngân sách xã
Trong nền kinh tế hội nhập và mở cửa hiện nay việc xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật là việc làm không thể thiếu của mỗi quốc gia Văn bản quy phạm pháp luật với vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong xã hội hoạt động theo trật tự, trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo sự công bằng, an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải rất đầy đủ, chuẩn tắc và đồng bộ Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Việc ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nói chung và các văn bản quy định về quản lý NSX nói riêng càng cụ thể và rõ ràng thì việc thực hiện hệ thống các văn bản ấy càng dễ vận dụng và thuận lợi
- Khả năng về nguồn lực tài chính công
Dự toán thu NSX là việc tính toán dự trù các khoản thu có khả năng huy động và thực hiện được trong 1 năm Dự toán thu được lập dựa vào kết quả thực hiện của nhiệm vụ thu năm trước, ước thực hiện thu năm hiện hành
và tính toán nội lực của nguồn lực tài chính công huy động được của năm tiếp theo, căn cứ vào dự toán thu và các quy đinh định mức chi xây dựng dự toán chi cho phù hợp
Trang 372.1.6.2 Các yếu tố chủ quan
- Năng lực và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ trong bộ máy quản
lý ngân sách xã
Năng lực chuyên môn của các cơ quan quản lý NSX ở địa phương là yếu
tố quyết định hiệu quả quản lý NSX Nếu cán bộ quản lý có năng lực chuyên môn cao sẽ giảm thiểu được sai lệch trong cung cấp thông tin của đối tượng sử dụng nguồn lực tài chính công, kiểm soát được toàn bộ nội dung chi, nguyên tắc chi và tuân thủ theo các quy định về quản lý nguồn tài chính công đảm bảo theo
dự toán đã đề ra
- Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách xã
Tổ chức bộ máy quản lý phù hợp sẽ nâng cao chất lượng quản lý, hạn chế tình trạng sai phạm trong quản lý Quy trình quản lý được bố trí càng khoa học, rõ ràng thì càng góp phần quan trọng làm nâng cao chất lượng của thông tin tới cấp ra quyết định quản lý NSX, giảm các yếu tố sai lệch thông tin Từ đó nâng cao được hiệu quả quản lý NSX trên địa bàn địa phương
- Công nghệ thông tin quản lý ngân sách xã trên địa bàn địa phương
Việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong cuộc sống ngày nay đã và đang thực sự chứng tỏ vai trò không thể thiếu được của nó Thực tế đã chứng minh với việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong công tác quản lý NSX ở địa phương sẽ giúp tiết kiệm được thời gian xử lý công việc, đảm bảo được tính chính xác, nhanh chóng và thống nhất về mặt dữ liệu, tạo tiền đề cho những quy trình cải cách về mặt nghiệp vụ một cách hiệu quả Chính vì lẽ đó mà công nghệ tin học là một trong những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý NSX hiện đại trên địa bàn địa phương
- Ý thức chấp hành pháp luật của các đơn vị sử dụng ngân sách xã
Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước có mối quan hệ mật thiết đối với ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân Ý thức pháp luật là thước
đo để đánh giá nhận thức của con người đối với các vấn đề ý thức của con người đối với các vấn đề ý thức lập pháp, là năng lực trong việc giải thích pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật
Ý thức pháp luật, đó là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật, trong đó có cả cán bộ nhân viên nhà nước, tổ chức Đảng, các đoàn thể
Trang 38nhân dân, đặc biệt là của cán bộ, công chức các cơ quan có chức năng trực tiếp thi hành, áp dụng và bảo vệ pháp luật Ý thức pháp luật còn là thái độ đối với pháp luật, ý thức tôn trọng hay coi thường pháp luật, đó là thái độ với những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm
Vì vậy ý thức chấp hành pháp luật của các đơn vị có sử dụng NSX có ảnh hưởng lớn đến việc điều hành quản lý NSX Việc chấp hành pháp luật tốt sẽ giúp cho việc điều hành, quản lý NSX sẽ mang lại hiệu quả, tránh được tình trạng lãng
phí và sai phạm trong công tác điều hành quản lý
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Bài học kinh nghiệm quản lý ngân sách xã trong tỉnh và trong nước
2.2.1.1 Bài học kinh nghiệm quản lý sử dụng ngân sách xã ở Việt Nam
Văn hoá Việt nam từ bao đời nay đó gắn liền với làng, xã Xã được coi là cấp hành chính nhỏ nhất nhưng nó có một sứ mệnh vô cùng quan trọng Bác Hồ
đã viết: "Cấp xã là cấp gần với dân nhất, là nền tảng của hành chính, cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi"
Xã, phường, thị trấn là một cấp chính quyền cơ sở trong hệ thống Nhà nước pháp quyền của nước ta Hoạt động Tài chính của xã là hoạt động Tài chính cấp cơ sở trong hệ thống ngân sách Quốc Gia Sự rõ ràng, minh bạch, công khai hoạt động tài chính của xã là minh chứng hùng hồn cho sự trong sạch của chính quyền và đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân, một yếu tố cơ bản của
sự vững mạnh của bộ máy Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Những năm trước đây, ngân sách xã còn mang nặng tính bao cấp, phần lớn ngân sách xã rơi vào tình trạng yếu kém, trông chờ ỷ nại cấp trên, ngân sách xã quá nhỏ bé, nguồn thu không ổn định, chưa có biện pháp tạo nguồn nên không đủ sức giải quyết các vấn đề dân sinh, vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội trên địa bàn Nguồn thu chủ yếu của ngân sách xã là do trợ cấp từ ngân sách cấp trên, xã không chủ động khai thác nguồn thu tại địa bàn, thu không đủ chi nên không đáp ứng được đủ nhu cầu cho hoạt động, hiện tượng sử dụng kinh phí kém hiệu quả, sai mục đích xảy ra thường xuyên Việc điều hành chi thường xuyên bị động do vậy có hiện tượng chi phải dàn mỏng hoặc cắt xén những khoản chi cho sự nghiệp
y tế, văn hoá, giáo dục Trong quá trình hoạt động, chưa có quy định cụ thể về NSX nên NS thường xuyên bị thâm hụt, tình trạng nợ lương cán bộ xã nhiều và phổ biến, các khoản công nợ phát sinh, nhất là nợ vay và nợ xây dựng cơ bản
Trang 39Năm 1972 Hội đồng chính phủ đó ban hành điều lệ ngân sách xã Từ năm
1989 công cuộc đổi mới theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ VI từng bước được thử nghiệm trong thực tiễn và trong quản lý ngân sách có những bước chuyển biến lớn Đến năm 1992, Hiến pháp nước ta ghi nhận xã là đơn vị hành chính của nước ta, nhưng thật sự đến năm 1996, Luật Ngân sách Nhà nước ban hành và có hiệu lực, ngân sách xã chính thức trở thành một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách Nhà nước, đồng thời cũng là đơn vị trực tiếp sử dụng kinh phí như một đơn vị dự toán cấp cơ sở
Trong những năm gần đây, việc chấp hành ngân sách xã theo luật ngân sách Nhà nước ở Việt nam đã dần đi vào khuôn khổ Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều bất cập, hạn chế trong quản lý mà chúng ta đang dần dần từng bước hoàn thiện
2.2.1.2 Bài học kinh nghiệm về công tác quản lý ngân sách xã tại huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Yên Thế là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm tỉnh lỵ Bắc Giang khoảng 27 km Trong quản lý NSNN huyện Yên Thế cũng như huyện Tân Yên đều thực hiện áp dụng văn bản chế độ hiện hành của Nhà nước nói chung và quy định của tỉnh Bắc Giang nói riêng Trong quá trình quản
lý NSX tại huyện Yên Thế trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu
Toàn huyện đã thực hiện khá tốt các nhiệm vụ thu, chi NSX, đã cơ bản đáp
ứng nhu cầu chi về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở cơ sở So với những năm
trước đây, việc điều hành thu chi NSX đã chủ động hơn, khắc phục được tình trạng thu chi tự do Cơ bản các xã đã thực hiện theo dự toán được HĐND xã phê duyệt từ đầu năm, nhiều xã đã lập dự toán quý, dự toán tháng để thực hiện… Qua
đó tăng cường hiệu lực quản lý của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức đoàn thể
ở cấp xã
Các ban ngành ở xã đã có những nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ thu chi NSX của ngành mình Từ đó tích cực chủ động trong việc đôn đốc tăng thu, thực hiện chi tiêu tiết kiệm theo dự toán được duyệt
Việc điều hành NSX đã được KBNN huyện kiểm soát chặt chẽ hơn, khắc
phục được tình trạng điều hành theo "cảm tính " của các xã trước đây
Việc bổ sung dự toán từ nguồn tăng thu NSX đã cơ bản được thực hiện
Trang 40đúng theo luật Mọi khoản tăng thu đều được báo cáo và trình HĐND xã phê duyệt bổ sung thực hiện
Việc điều hành chi NSX đã thực hiện tương đối tốt nguyên tắc "Tiền nào
việc ấy”, các khoản thu cân đối chi thường xuyên đã được bố trí để chi thường
xuyên, các khoản thu dân đóng góp, thu tiền sử dụng đất đã đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng
Việc bổ sung nguồn kinh phí hỗ trợ NSX theo kế hoạch đã được cấp tỉnh, huyện thực hiện kịp thời phù hợp với điều kiện thực tế ở cấp xã Nguồn bổ sung cân đối chi thường xuyên đã được cấp vào những tháng đầu năm và những tháng
xã không có số thu Khắc phục được tình trạng cấp dồn vào cuối năm
Về cơ cấu bộ máy quản lý ngân sách xã của huyện được bố trí tương đối phù hợp ở các cấp quản lý Cụ thể:
Trình độ cán bộ kế toán NSX tại các xã đã cơ bản đáp ứng đước yêu cầu quản lý, số cán bộ kế toán ngân sách xã có trình độ trung cấp trở lên đã đạt 100%, nhiều người có trình độ đại học
Nhìn chung hoạt động của bộ máy quản lý NSX ở huyện Yên Thế trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng, hiệu quả công tác cao, đáp ứng được yêu cầu về quản lý tài chính NSX trong tình hình mới, góp phần quan trọng vào việc xây dựng NSX trở thành một cấp ngân sách hoàn chỉnh trong hệ thống NSNN thống nhất
Bên cạnh kết quả đạt được công tác quản lý NSX, TT của huyện Yên Thế còn tồn tại những hạ chế:
Về thu NSX vẫn còn hiện tượng thất thu, bỏ sót nguồn thu, đặc biệt là các khoản thu sự nghiệp, thu phí lệ phí, các hộ kinh doanh nhỏ lẻ
Việc áp dụng hình thức khoán thu đối với một số khoản: Lệ phí chợ, lệ phí bến bãi tuy đã có tiến bộ và đạt được những kết quả tốt nhưng các xã chưa kiểm soát chặt chẽ các đối tượng nhận khoán, còn để xảy ra hiện tượng tự đặt ra các mức thu không theo quy định, thu không dùng biên lai, gây nhiều thắc mắc Trách nhiệm của UBND các xã đối với một số khoản thuế trên địa bàn là chưa cao (Đặc biệt là đối với một số khoản thuế không liên quan đến việc điều tiết cho xã hoặc tỷ lệ điều tiết cho xã thấp)