Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60 34 04 10 Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Xây dựng Nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là cuộc vận động đòi hỏi
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN KHẮC ĐỊNH
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA HỘI NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đình Thao
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Khắc Định
Trang 3Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các phòng, ban, ngành của huyện Gia Lâm, đặc biệt là Hội Nông dân huyện Gia Lâm và Hội Nông dân các xã đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Nguyễn Khắc Định
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ, biểu đồ, hộp ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abtract xiii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Đóng góp mới 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận về vai trò của hội nông dân trong xây dựng nông thôn mới 5
2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về Hội Nông dân 5
2.1.2 Xây dựng Nông thôn mới 11
2.1.3 Nội dung nghiên cứu về vai trò của Hội nông dân trong xây dựng NTM 16
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới 21
2.2 Cơ sở thực tiễn về vai trò của hội nông dân trong xây dựng nông thôn mới 23
2.2.1 Vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương trong nước 23
2.2.2 Bài học kinh nghiệm về tăng cường vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới cho huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 29
Trang 52.2.3 Một số chủ trương, chính sách về vai trò của Hội Nông dân trong xây
dựng nông thôn mới 30
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 32
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 33
3.1.3 Kinh tế - xã hội 35
3.2 Phương pháp nghiên cứu 40
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 40
3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu 40
3.2.3 Thu thập số liệu 40
3.2.4 Xử lý số liệu 43
3.2.5 Phương pháp phân tích 43
3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 45
4.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 45
4.2 Vai trò của hội nông dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 49
4.2.1 Tổ chức bộ máy và phát triển hội viên Hội Nông dân các cấp 49
4.2.2 Vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới 54
4.2.3 Một số thuận lợi và khó khăn trong việc nâng cao vai trò xây dựng nông thôn mới của Hội Nông dân huyện Gia Lâm 76
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của hội nông dân trong xây dựng nông thôn mới 78
4.3.1 Tổ chức bộ máy và năng lực của đội ngũ cán bộ Hội Nông dân các cấp 78
4.3.2 Sự phối hợp giữa Hội Nông dân với các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng nông thôn mới 81
4.3.3 Nhận thức của Hội viên Nông dân về xây dựng nông thôn mới 81
4.4 Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò của hội nông dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong những năm tới 82
4.4.1 Định hướng 82
Trang 64.4.2 Các giải pháp tăng cường vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông
thôn mới tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong những năm tới 84
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 97
5.1 Kết luận 97
5.2 Kiến nghị 99
5.2.1 Đối với nhà nước 99
5.2.2 Đối với các cấp chính quyền 99
Tài liệu tham khảo 100
Phụ lục 102
Trang 7HTXDVNN Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Gia Lâm giai đoạn 2014- 2016 34
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Gia Lâm 36
Bảng 3.3 Kết quả phát triển kinh tế của huyện Gia Lâm (theo giá so sánh 2010) 38
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế do huyện Gia Lâm quản lý (theo giá hiện hành) 39
Bảng 3.5 Thông tin thứ cấp 40
Bảng 3.6 Thống kê số mẫu điều tra 42
Bảng 3.7 Thông tin sơ cấp 42
Bảng 4.1 Khái quát về hoạt động của Hội Nông dân các cấp huyện Gia Lâm từ năm 2012- 2016 51
Bảng 4.2 Số liệu thống kê tình hình đội ngũ cán bộ HND cấp huyện và cơ sở của huyện Gia Lâm năm 2016 52
Bảng 4.3 Tổng hợp văn bản chính sách về xây dựng nông thôn mới 54
Bảng 4.4 Kết quả công tác truyền thông xây dựng nông thôn mới của Hội Nông dân huyện Gia Lâm 56
Bảng 4.5 Đánh giá về vai trò của Hội Nông dân trong công tác tuyên truyền xây dựng nông thôn mới 57
Bảng 4.6 Đóng góp của hội viên Hội Nông dân cho xây dựng NTM 61
Bảng 4.7 Đánh giá của cán bộ HND các cấp, hội viên Nông dân, người dân các thôn tham gia đóng góp nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới 62
Bảng 4.8 Kết quả Hội Nông dân hỗ trợ hội viên tham gia phát triển kinh tế 63
Bảng 4.9 Kết quả phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi năm 2012 – 2016 65
Bảng 4.10 Kinh tế của hộ nông dân trước và sau khi được vay vốn của Hội để phát triển sản xuất 65
Bảng 4.11 Đánh giá của hội viên nông dân về sự thay đổi trước và sau khi được tham dự lớp dạy nghề, tư vấn, chuyển giao KHKT để phát triển sản xuất 67
Bảng 4.12 Đánh giá của người dân về sự thay đổi trước và sau khi được tham dự lớp dạy nghề, tư vấn, chuyển giao KHKT để PTSX 69
Trang 9Bảng 4.13 Đánh giá vai trò của hội HND huyện Gia Lâm trong công tác vệ sinh
môi trường, giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn 73 Bảng 4.14 Kết quả thực hiện phong trào xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư
Huyện Gia Lâm giai đoạn 2014-2016 76 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của trình độ của cán bộ Hội cơ sở đến kết quả xây dựng
NTM 79
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HỘP
Sơ đồ 4.1 Cơ cấu tổ chức Hội Nông dân huyện Gia Lâm 49
Biểu đồ 4.1 Tham gia của HND trong quy hoạch và giám sát quy hoạch NTM 59
Hộp 4.1 Tâm sự của cán bộ Hội Nông dân xã trong việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia xây dựng nông thôn mới 56
Hộp 4.2 Tâm sự của cán bộ Hội Nông dân trong việc giúp đỡ hội viên làm kinh tế 66
Hộp 4.3 Tâm sự của cán bộ hội viên và người dân khi tham gia tập huấn chuyển giao khoa học - kỹ thuật 68
Hộp 4.4 Vấn đề thực hiện quy chế dân chủ trong xây dựng NTM 72
Hộp 4.5 Tác động của hội nông dân đến tình hình an ninh trật tự 75
Hộp 4.6 Tác động của xây dựng nông thôn mới đến môi trường 75
Hộp 4.7 Vấn đề về trình độ đội ngũ cán bộ 80
Hộp 4.8 Một số tồn tại, hạn chế công tác phối hợp trong xây dựng nông thôn mới của HND với các tổ chức chính trị- xã hội 81
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Khắc Định
Tên luận văn: “Giải pháp tăng cường vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60 34 04 10
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Xây dựng Nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là cuộc vận động đòi hỏi phải có sự nỗ lực, tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc cải tạo, xây dựng nông thôn theo các tiêu chí mới hướng đến hiện đại, văn minh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững Để đánh giá những thành tựu và khắc phục những hạn chế trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội đề xuất một
số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới, tôi đã chọn nghiên cứu “Giải pháp tăng cường vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” Mục đích nghiên cứu: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng Nông thôn mới; Đánh giá thực trạng vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2014-2016; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở địa bàn nghiên cứu; đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Gia Lâm trong những năm tới
Đề tài đã làm rõ một số vấn đề cơ bản về Hội Nông dân; làm rõ vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và đặc điểm về xây dựng Nông thôn mới Nghiên cứu các nội dung về vai trò của Hội nông dân trong xây dựng NTM và các yếu tố ảnh hưởng tới vai trò của Hội nông dân trong xây dựng nông thôn mới Đồng thời, đề tài cũng đã tìm hiểu công tác xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác xây dựng nông thôn mới ở huyện Gia Lâm Nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới hiện nay
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận các chính sách chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới và các nội dung xây dựng nông thôn mới Để thực hiện đề tài, nghiên cứu đã thu thập số liệu tại các thôn thuộc 19 xã
Trang 12của huyện, mỗi xã chọn 3 thôn, mỗi thôn điều tra 3 hội viên của Hội nông dân và 3 người dân để thu thập thông tin Nghiên cứu dùng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh và phương pháp tiếp cận cộng đồng nông thôn có sự tham gia để làm rõ về công tác xây dựng NTM Nghiên cứu dùng chương trình Excel để xử lý số liệu
Kết quả nghiên cứu chính đã tập trung làm rõ: Tình hình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Gia Lâm như sau: Bộ mặt nông thôn đã có nhiều đổi thay, cơ sở hạ tầng ngày càng được nâng cấp, đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân từng bước được cải thiện Nhiều nhóm tiêu chí đạt kết quả cao như: Trường chuẩn có 50/71 trường đạt chuẩn, bằng 70,4%; có 150/171 thôn, làng có nhà văn hóa đạt chuẩn theo quy định của bộ văn hóa, đạt tỷ lệ 87,7%; 100% Trạm y tế các xã đã đạt chuẩn theo quy định của Bộ Y tế; thu nhập bình quân đầu người (năm 2016) là: 35,7 triệu đồng/người/năm Đến nay có 20/20 xã đạt và cơ bản đạt từ 15 tiêu chí trở lên, trong đó
có 17 xã được Thành phố công nhận đạt chuẩn NTM, còn 03/20 xã đạt và cơ bản từ 15 tiêu chí trở lên và không còn xã dưới 10 tiêu chí Tiếp đó, vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới đã được phân tích sâu trên các khía cạnh: (1) Vai trò của Hội Nông dân trong công tác tuyên truyền xây dựng NTM: ở đâu làm tốt công tác tuyên truyền thì ở đó đều là những xã đã được công nhận là xã đạt NTM, một số xã thực hiện không tốt công tác này do hạn chế về mặt nhận thức, kiến thức và bận công việc chăm
lo cho kinh tế gia đình của HND thì tại những xã đó đều chưa được công nhận đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; (2) Vai trò của Hội Nông dân trong quy hoạch và giám sát quy hoạch NTM: Quy hoạch và giám sát quy hoạch nông thôn mới là một vấn đề khó cần chuyên môn kỹ thuật, sự hiểu biết về điều kiện tự nhiên, KT-XH của địa phương, phong tục tập quán của người dân Bởi vậy, cần sự tham gia đồng bộ từ các chuyên gia, người dân và cả cộng đồng, trong đó HND có vai trò đắc lực hỗ trợ tuyên truyền, vận động, đồng thời cũng cần xác định là đối tượng quan trọng cho vấn đề quy hoạch xây dựng NTM; (3) Vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới: thường xuyên được HND huyện đưa vào nhiệm vụ hàng tháng để chỉ đạo HND cơ sở triển khai thực hiện Thông qua các buổi tuyên truyền, các cấp Hội và hội viên trong huyện đã thấy rõ hơn vai trò và trách nhiệm, đồng thời lôi cuốn được đông đảo các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia với tinh thần Nhà nước và nhân dân cùng làm; (4) Vai trò của Hội Nông dân tham gia phát triển kinh tế nông thôn: các cấp Hội trong huyện xác định đây là phong trào nòng cốt trong các phong trào thi đua của Hội, cán bộ, hội viên nông dân Gia Lâm tiếp tục phát huy tính chủ động, cần cù, năng động, sáng tạo, thi đua trong lao động sản xuất để phát triển kinh tế, giúp đỡ hội viên xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng; (5) Vai trò của Hội Nông dân trong việc thực hiện QCDC cơ sở ở nông thôn: qua công xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, quy hoạch xây dựng nông thôn mới, các phương án
Trang 13chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công khai các nguồn vốn vay phát triển sản xuất, công tác giảm nghèo, các chế độ an sinh xã hội, các chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng, luôn coi trọng phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, coi trọng tính công khai, dân chủ nên QCDC ở cơ sở đã thực sự đi vào đời sống nhân dân góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương; (6) Vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng đời sống văn hóa và bảo vệ môi trường nông thôn: nâng cao nhận thức, kiến thức cho nông dân về bảo vệ môi trường nông thôn; tham gia xây dựng công trình hợp vệ sinh, tổ tự quản thu gom xử lý chất thải, nước thải nông thôn và mô hình về sản xuất nông nghiệp sạch để tuyên truyền học tập nhân rộng Nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của HND trong xây dựng NTM bao gồm các yếu tố: Tổ chức bộ máy và năng lực của đội ngũ cán bộ Hội Nông dân các cấp; sự phối hợp giữa Hội Nông dân với các tổ chức chính trị - xã hội; nhận thức của Hội viên Nông dân
Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp tăng cường vai trò của HND trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội như sau: (1) Tăng cường công tác tuyên truyền vận động cán bộ, hội viên và nhân dân; (2) Tăng cường tham gia trong các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nông thôn; (3) Nâng cao năng lực, trình
độ cho cán bộ Hội các cấp; (4) Tham gia phản biện xã hội và tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền các cấp để góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; (5) xây dựng tổ chức Hội vững mạnh
Trang 14THESIS ABTRACT
Author: Nguyen Khac Dinh
Thesis title: Solutions to strengthen the role of Farmers Association in the new rural program in Gia Lam district, Hanoi
Education organization: Vietnam National University of Agriculture
New rural program is a great policy of the Party and the State This campaign requires the active efforts of both the political system and the whole society for renovating rural areas according to new criteria aimed at modernization and civilization, meeting the requirements of industrialization, modernization and sustainable development To evaluate the achievements and overcome the constraints of new rural program in Gia Lam district, for proposing some major measures to strengthen the role of the Farmers Association in new rural program, I chose the study " Solutions to strengthen the role of Farmers Association in the new rural program in Gia Lam district, Hanoi "
Study Objective: To contribute the theoretical and practical about the role of Farmers Association in new rural program; Assess the current status of Farmers' Association in new rural program in Gia Lam district period 2014-2016; Analyzing the factors influencing the role of Farmers' Association in new rural program in the study area; Proposing some solutions to strengthen the role of the Farmers Association in new rural program in Gia Lam district in the coming years
Research Methodology: The study used the policy approach To conduct the study, data were collected in villages in 19 communes of the Gia Lam district, 3 villages were selected in each commune, 3 members of the Farmers Association and 3 villagers sellected in each village for survey Descriptive statistical methods, comparative methods and participatory rural appraisal are the main analytical methods used in this study
At present, the rural face of Gia Lam district has changed, infrastructure has been upgraded, material life and spirit of farmers have been improved Many criteria achieved high results such as 50/71 schools got national school standard, 70.4%; 150/171 villages and villages have cultural houses meeting the standards set by the Ministry of Culture, reaching 87.7%; 100% of the commune health stations have met the standards set by the Ministry of Health; Average income per capita (2016) is 35.7 million VND / person / year Up to now, there are 20/20 communes reaching the standard of 15 or more, of which 17 communes have been recognized by the City as reaching the NRP standard, and 03/20 communes have met and basically 15 or more
Trang 15criteria and no The commune has less than 10 criteria Then, the role of the Farmers Association in new rural construction was analyzed in depth as follows: (1) The role of the Farmers' Association in the NRP propaganda: The commune has been recognized as
a commune with NRP, some communes do not perform well because of limited knowledge, knowledge and busy work to care for the family of FA in those communes are not recognized as new rural standards; (2) Role of the Farmers' Association in the planning and supervision of NRP planning: FA plays an active role in advocating for propaganda and advocacy, and is also an important target for the planning of NRP development (3) The role of the Farmers' Association in the construction of new rural infrastructure: Through the propaganda sessions, the associations and members in the district have clearly seen their roles and responsibilities, and attracted them A large number of people from all walks of life participate actively in the spirit of the State and the people; (4) Role of Farmers' Union in rural economic development: At all levels, the association in the district determined that this is the core movement in the emulation movement of the Association, farmers and members of Gia Lam Promoting initiative, hard-working, dynamic, creative, emulation in production for economic development, helping members to reduce hunger and reduce poverty; (5) The role of the Farmer's Association in the implementation of grassroots democracy in grassroots democracy through the formulation and implementation of democratic regulations in the local socio-economic development planning new rural development plans, economic restructuring plans, open source loans for production development, poverty reduction, social security, compensation policies Equally important is the motto of the people, the people discuss, the people do, the people check, attach importance to the openness and democracy, so the grassroots democracy has really come into the life of the people to contribute to maintain security political order, social order and safety in the locality; (6) Role of Farmers' Association in building cultural life and environmental protection in rural areas: raising awareness and knowledge for farmers on rural environmental protection; To participate in the construction of hygienic works, self-managed groups for waste treatment and rural wastewater and the model of clean agricultural production for propagation and education The research has identified the factors influencing the role of FA in NRP development including the following factors: Organizational structure and capacity of the staff of the Farmers' Association at all levels; the coordination between the Farmers' Association and socio-political organizations; Perception of Farmer Membership
The main solutions to strengthen the role of FA in NRP in Gia Lam district, Hanoi are as follows: (1) Strengthening advocacy for staff, members and people; (2) Enhancing participation in rural socio-economic development activities; (3) Capacity
Trang 16building for cadres of associations at all levels; (4) Participate in social issues and advise the party committees and administrations at all levels to contribute to the improvement of the mechanism and policies for agricultural development and the building of new rural areas Continue to promote the implementation of democracy at grassroots level; (5) building a strong association
Trang 17PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xây dựng Nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là cuộc vận động đòi hỏi phải có sự nỗ lực, tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc cải tạo, xây dựng nông thôn theo các tiêu chí mới hướng đến hiện đại, văn minh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững
Nghị quyết Đại hội VI, nhiệm kỳ 2008 - 2013 và Nghị quyết Đại hội VII, nhiệm kỳ 2013-2018 của Hội Nông dân Việt Nam đã xác định “Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới” là một trong ba phong trào thi đua lớn, trọng tâm của Hội Hưởng ứng phong trào này, trong những năm qua các cấp Hội
đã vận động cán bộ, hội viên, nông dân hăng hái lao động sản xuất, tham gia phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Nông dân cả nước đã đóng góp hàng ngàn tỷ đồng, hàng chục triệu ngày công làm mới, sửa chữa hàng trăm ngàn km đường giao thông nông thôn, kênh mương; hàng chục ngàn cầu cống, phòng học, trạm
xá, nhà văn hóa thôn, ấp, bản góp phần không nhỏ vào những thành tựu của đất nước trong thời kỳ đổi mới
Tham gia xây dựng và phát triển đời sống văn hóa nông thôn, các cấp Hội
đã chủ động phối hợp với các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội vận động hội viên, nông dân tích cực hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, xây dựng gia đình văn hóa, thôn, làng, văn hoá, xoá bỏ tập quán, hủ tục lạc hậu; tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, thực hiện nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang và lễ hội Hàng năm có trên 8 triệu hộ nông dân đăng kí phấn đấu, trong đó có trên 4 triệu hộ đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” Hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nông dân về bảo vệ môi trường nông thôn; tham gia xây dựng mô hình điểm về cấp nước sạch, công trình vệ sinh, tổ tự quản thu gom xử lý rác thải nông thôn và
mô hình về sản xuất nông nghiệp sạch ngày càng được các cấp Hội quan tâm triển khai thực hiện Công tác phổ biến, giáo dục, tư vấn pháp luật, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với thực hiện hòa giải mâu thuẫn trong nội bộ nông dân
đã góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của nông dân, hạn chế khiếu kiện sai, khiếu kiện vượt cấp
Trang 18Hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân về vốn, vật tư nông nghiệp và kiến thức khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất đã thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, phát triển kinh tế hộ gia đình, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo trên địa bàn nông thôn Hoạt động dạy nghề và hỗ trợ việc làm đã được các cấp Hội triển khai ngày càng mạnh
mẽ, góp phần giải quyết việc làm cho nông dân và chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn Việc hướng dẫn, tổ chức các mô hình kinh tế tập thể theo nguyên tắc
tự nguyện ngày càng được các cấp Hội quan tâm
Công tác xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, nhất là tổ chức Hội ở cơ sở ngày càng được đẩy mạnh Công tác tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng được phát huy hiệu quả Công tác tham gia đảm bảo quốc phòng, an ninh ngày càng được tăng cường
Tuy nhiên, phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới chưa phát triển đồng đều giữa các địa phương, cơ sở; công tác tuyên truyền vận động nhìn chung chưa phát huy được đầy đủ vai trò chủ thể, sức mạnh, tiềm năng và tính chủ động, sáng tạo của hội viên, nông dân trong tham gia, đóng góp xây dựng nông thôn mới Hoạt động dịch vụ, hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hội viên, nông dân Công tác dạy nghề và hỗ trợ việc làm mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu của nông dân; hoạt động hướng dẫn và xây dựng mô hình kinh tế tập thể còn hết sức hạn chế
Gia Lâm là huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của thành phố
Hà Nội có 02 thị trấn và 20 xã (UBND huyện Gia Lâm, 2016) Toàn huyện có 31.217 hộ nông nghiệp; số lao động nông thôn là 64.267 lao động Hội Nông dân huyện Gia Lâm đang quản lý và chỉ đạo hoạt động 20 Hội Nông dân cơ sở xã, thị trấn, 100% số thôn có Chi hội Nông dân cơ sở, với 32.669 hội viên chiếm tỷ lệ 104,65% số hộ nông dân làm nông nghiệp Toàn huyện có 140 Chi Hội Nông dân
cơ sở Hội Nông dân huyện Gia Lâm là thành viên trong Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới của huyện, các cấp Hội Nông dân thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao vai trò trách nhiệm của hội trong các phong trào nông dân và xây dựng nông thôn mới (Hội Nông dân huyện Gia Lâm, 2014-2016)
Để có thể tiếp tục nâng cao vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông
Trang 19thôn mới ở huyện Gia Lâm hiện nay, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Giải pháp tăng cường vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Gia Lâm thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội trong thời gian tới
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải pháp tăng cường vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới
Đối tượng khảo sát: Hội Nông dân, hội viên nông dân và Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của huyện Gia Lâm và các xã trên địa bàn huyện Gia Lâm 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới
1.3.2.2 Phạm vi về không gian
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Trang 201.3.2.3 Phạm vi về thời gian
Thời gian thực hiện đề tài: Số liệu thứ cấp: 2014-2016
- Số liệu sơ cấp năm 2016
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Hội Nông dân có vai trò như thế nào trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội thời gian qua ?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến vai trò và hoạt động của các cấp Hội Nông dân ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ?
Giải pháp nào giúp tăng cường vai trò các cấp Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ?
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI
Nghiên cứu đã làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Hội Nông dân trong các cấp trong xây dựng nông thôn mới như: Tuyên truyền về nông thôn mới trong tổ chức hội; tham gia quy hoạch và giám sát thực hiện quy hoạch trong nông thôn mới; tham gia các chương trình phát triển kinh tế nông thôn; tổ chức các hoạt động dạy nghề cho nông dân; xây dựng đời sống văn hóa
và tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường; tham gia xây dựng hệ thống tổ chức chính trị - xã hội các cấp; đẩy mạnh phong trào “Nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới”
Trang 21PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về Hội Nông dân
2.1.1.1 Vài nét về Hội Nông dân Việt Nam
Hội Nông dân Việt Nam mà tiền thân là Nông hội đỏ, được thành lập ngày
14 tháng 10 năm 1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung thành với Đảng
và dân tộc Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đạng Cộng sản Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam luôn là tổ chức trung tâm, nòng cốt trong các phong trào nông dân và xây dựng nông thôn mới
Mục đích của hội là tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng đồng minh tin cậy trong khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng Hội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động; nâng cao vai trò đại diện, phát huy quyền làm chủ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân
Phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần cách mạng, lao động sáng tạo, cần kiệm, tự lực, tự cường, đoàn kết của nông dân; tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng văn hoá, giữ vững quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị- xã hội của giai cấp nông dân
do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, 2013)
2.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Hội Nông dân Việt Nam
Theo Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam (Trung ương HND Việt Nam,
Trang 222013) cho thấy:
a Chức năng của Hội Nông dân Việt Nam
- Tập hợp, vận động, giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt
- Đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân; tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất và đời sống
b Nhiệm vụ của Hội Nông dân Việt Nam
- Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, hội viên, nông dân hiểu biết đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị của Hội, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo của nông dân
- Vận động, tập hợp và làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh Chăm lo đời sống và tinh thần của hội viên, nông dân
- Các cấp Hội là thành viên tích cực trong hệ thống chính trị thực hiện các chính sách, pháp luật, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước ở nông thôn Hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp
Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường
- Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển và nâng cao chất lương hội viên Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh Tham gia giám sát và phản biện xã hội theo quy chế Kịp thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của nông dân với Đảng và Nhà nước; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân Thực hiện Pháp lệnh Dân chủ cơ sở, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân; góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội
Trang 23- Mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng, tăng cường hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, tiến bộ kho học, kỹ thuật, quảng bá hàng hoá nông sản, văn hoá Việt Nam với tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, các
tổ chức chính phủ, các tổ chức phi chính phủ trong khu vực và trên thế giới c) Hệ thống tổ chức, bộ máy của Hội Nông dân Việt Nam
Cơ cấu tổ chức của Hội Nông dân Việt Nam tổ chức theo đơn vị hành chính nhà nước với bốn cấp từ trung ương đến cơ sở: Trung ương, tỉnh, huyện, xã và các đơn vị tương đương cùng cấp
Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội Nông dân Việt Nam là Đại hội đại biểu toàn quốc Cơ quan lãnh đạo cao nhất của mỗi cấp là đại hội cấp đó
Nhiệm kỳ đại hội cấp cơ sở, huyện, tỉnh và Trung ương là năm năm Trường hợp đặc biệt đại hội nhiệm kỳ có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn thời gian quy định nhưng không quá một năm và phải được hội cấp trên trực tiếp đồng ý, thông báo cho hội cấp dưới biết
Cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội của mỗi cấp hội là Ban Chấp hành do đại hội nhiệm kỳ cùng cấp bầu ra theo quy định của Điều lệ
Ban Chấp hành là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội, Ban Chấp hành cấp dưới phải được Ban Chấp hành cấp trên trực tiếp công nhận Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ, bầu chủ tịch, các phó chủ tịch trong số ủy viên Ban Thường vụ Ban Thường vụ Trung ương hội thay mặt Ban Chấp hành Trung ương hội chỉ đạo các cấp hội tổ chức thực hiện nghị quyết đại hội và các nghị quyết của Ban Chấp hành Ban Thường vụ Trung ương hội: Ban Thường vụ Trung ương hội thành lập văn phòng, các ban chuyên môn, đơn vị sự nghiệp làm tham mưu, giúp việc
Ban Thường vụ tỉnh, thành hội thành lập văn phòng và các ban chuyên môn, đơn vị sự nghiệp theo hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương hội Cấp huyện và cơ sở phân công cán bộ phụ trách các mặt công tác của hội Nhiệm vụ của Ban Chấp hành từ cấp huyện trở lên:
- Tổ chức thực hiện và hướng dẫn hội cấp dưới thực hiện Điều lệ và nghị quyết của hội; nghiên cứu thi hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Xây dựng tổ chức hội vững mạnh về mọi mặt
- Phối hợp với chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể tổ chức hướng dẫn hội
Trang 24viên nông dân thi đua thực hiện các phong trào phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội - quốc phòng, an ninh, xây dựng nông thôn mới
- Chuẩn bị nội dung và tổ chức đại hội cấp mình khi hết nhiệm kỳ
Ban Chấp hành từ cấp huyện trở lên họp thường kỳ một năm hai lần; Ban Thường vụ Trung ương hội họp thường kỳ ba tháng một lần; Ban Thường vụ tỉnh, thành hội; huyện, thị hội mỗi tháng họp một lần Khi cần thiết Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp họp bất thường
Tổ chức cơ sở Hội Nông dân là nền tảng của hội, là nơi trực tiếp với hội viên, nông dân Tổ chức cơ sở Hội Nông dân theo đơn vị xã, phường, thị trấn Những đơn vị kinh tế nông, lâm trường, hợp tác xã nếu có nhu cầu thành lập tổ chức Hội Nông dân và được hội cấp trên thực tiếp xem xét quyết định thì thành lập tổ chức Hội Nông dân phù hợp
Những cơ sở hội khi có nhu cầu sáp nhập, chia tách, giải thể thì Ban Chấp hành cơ sở đề nghị Ban Chấp hành cấp trên trực tiếp xem xét quyết định Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cơ sở hội sinh hoạt mỗi tháng một kỳ, khi cần thiết thì họp bất thường Chi hội tổ chức theo thôn, ấp, bản, làng, khu phố, hợp tác xã
và theo nghề nghiệp Chi hội có thể chia thành nhiều tổ hội Đại hội toàn thể hội viên hoặc đại biểu hội viên (nơi có đông hội viên) bầu ra Ban Chấp hành chi hội Ban Chấp hành chi hội bầu ra chi hội trưởng, chi hội phó Bầu cử Ban Chấp hành chi hội, chi hội trưởng, chi hội phó bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc biểu quyết Chi hội là đơn vị hành động, cầu nối của Ban Chấp hành cơ sở với hội viên, nông dân Nhiệm kỳ Ban Chấp hành chi hội là hai năm rưỡi Chi hội mỗi tháng họp một kỳ
2.1.1.3 Vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, nông thôn
Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân
do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ sở của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Được Đảng, Bác Hồ sáng lập và lãnh đạo, trong suốt 8 thập niên qua, Hội đã vượt qua nhiều khó khăn, không ngừng củng cố và lớn mạnh, tích cực tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, vận động giai cấp nông dân liên minh với giai cấp công nhân, tổ chức nhiều phong trào thi đua yêu nước gắn liền với từng thời
kỳ cách mạng, luôn xứng đáng với lòng tin của Đảng và Bác Hồ
Trang 25Về tổ chức, Hội có hệ thống bốn cấp từ Trung ương đến cơ sở với 63 Ban Chấp hành hội nông dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 652 ban chấp hành hội nông dân huyện, quận, thị, thành phố thuộc tỉnh, 10.451 ban chấp hành hội nông dân cơ sở (xã, phường, thị trấn ) Để tham gia phát triển nông nghiệp, nông thôn, ngay từ những năm đầu thời kỳ đổi mới, Hội Nông dân Việt Nam đã phát động và tổ chức thực hiện phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng Thông qua phong trào Hội đã vận động nông dân đổi mới nếp nghĩ, cách làm, khai thác tiềm năng, thế mạnh về tiền vốn, lao động, đất đai đầu tư cho sản xuất.(Trung ương HND Việt Nam, 2013)
Trong quá trình đổi mới phương thức hoạt động, Hội đã kịp thời nắm bắt những nhu cầu chính đáng của nông dân và xu hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn, để từ đó chủ động tham mưu cho Đảng đề ra các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn hợp lý, bảo đảm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân Đại hội lần thứ V Hội Nông dân Việt Nam đã xác định một trong bốn nhiệm vụ cơ bản của Hội là “mở rộng các hoạt động dịch vụ, dạy nghề, tư vấn, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp” (Trung ương HND, 2013)
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, được sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Hội đã xây dựng Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam” Đề án đã được Ban Bí thư thông qua và ban hành Kết luận số 61-KL/TW, ngày 03-12-2009, để chỉ đạo thực hiện Đến nay, Hội đã và đang dự thảo các văn kiện để trực tiếp thực hiện một số chương trình, dự án phục vụ phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của nông dân Bước đầu, Hội đã tổ chức một số hoạt động có hiệu quả thiết thực, giúp nông dân nghèo tháo gỡ khó khăn, nhất là khâu đầu vào của sản xuất như: vốn, vật tư nông nghiệp, đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật
và công nghệ mới vào sản xuất, làm tăng năng suất, sản lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh hàng hoá nông sản(Trung ương HND, 2013)
Theo báo cáo của BCH Trung ương (2013), từ năm 1996, Hội Nông dân Việt Nam đã thành lập Quỹ hỗ trợ nông dân Đến nay, Quỹ hỗ trợ nông dân cả
Trang 26nước đạt 509,78 tỉ đồng, giúp cho hàng chục vạn lượt hộ nông dân vay vốn phát triển sản xuất và xây dựng các mô hình kinh tế Ngoài ra, Hội đang phối hợp triển khai dự án xây dựng hệ thống “sàn kết nối cung cầu nông nghiệp thực phẩm” nhằm tạo điều kiện cho nông dân nắm bắt thông tin về tiêu thụ sản phẩm; phối hợp với Hiệp hội Lương thực Việt Nam triển khai chương trình tăng cườngthông tin cho nông dân trồng lúa 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Đến nay, Hội Nông dân Việt Nam cũng đã mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với 40 tổ chức nông dân, tổ chức phi chính phủ của các nước trong khu vực và trên thế giới, trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Liên đoàn quốc tế những nhà sản xuất nông nghiệp (IFAP) Công tác đối ngoại của Hội đã thu hút đầu tư của các tổ chức phi chính phủ 35 dự án và số vốn đầu tư khoảng 12 triệu USD
Hoạt động của Hội Nông dân luôn gắn liền với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, chương trình của Nhà nước về phát triển nông thôn Hội đã phát động tổ chức thực hiện phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới, vận động nông dân thực hiện cuộc vận động đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng gia đình văn hoá, làng, xã văn hoá, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển nhà ở, hệ thống dịch vụ hỗ trợ sản xuất, giáo dục, y tế cộng đồng Hội cũng vận động nông dân tham gia xây dựng các chương trình, dự án của địa phương với sự hỗ trợ của Nhà nước theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.
Tiềm năng, thế mạnh về nông nghiệp, nông thôn của nước ta còn rất lớn
và có nguồn lao động dồi dào Làm thế nào để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của người nông dân là vấn đề quan trọng không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp, mà còn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm
an ninh lương thực và an ninh quốc phòng Quán triệt và thực hiện nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Hội đã xây dựng
Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam” với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, góp phần nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn gấp 2,5 lần so với năm 2008, phấn đấu có 40% số hộ nông dân đạt danh hiệu sản xuất kinh doanh giỏi các cấp, Hội đáp ứng một phần các dịch vụ chủ yếu hỗ trợ về vốn, vật tư sản xuất và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm hàng hoá cho nông dân Phấn đấu 50% số hộ nông dân tham gia các hình thức kinh tế hợp tác,
Trang 27liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hoá(Trung ương HND, 2013).
Phát triển hệ thống Trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân của tổ chức Hội, góp phần nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50% Bảo đảm hằng năm có 2/3 số hộ sống trên địa bàn nông thôn đăng ký, trong đó có 1/2 số hộ đạt danh hiệu “Gia đình văn hoá”; góp phần thực hiện mục tiêu 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới mà Nghị quyết Trung ương 7, khoá X đã xác định Phấn đấu 100% số cán bộ chủ chốt ở cơ sở Hội có trình độ chuyên môn đạt chuẩn quy định Tuyên truyền, vận động để 75% số chủ hộ sản xuất nông nghiệp tham gia Hội Nông dân Việt Nam (Trung ương HND, 2013)
2.1.2 Xây dựng Nông thôn mới
2.1.2.1 Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa X (2008) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã khẳng định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng
để phát triển kinh tế- xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước
- Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng
bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vu quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong mối quan
hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học,
Trang 28công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân
- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân
Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp
và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân.”
- Về mục tiêu Nghị quyết cũng đã xác định :
“Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ NTM
Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường
Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân- nông dân- trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế- xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Trong mục tiêu từng giai đoạn có nội dung phấn đấu đến năm 2020 có 50% số xã trong cả nước đạt tiêu chuẩn nông thôn mới Để cụ thể hóa mục tiêu này Thủ tướng Chính phủ (2016) đã ban hành Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17-10-2016 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Đây là căn cứ để các địa phương chỉ đạo việc xây dựng, phát triển nông thôn mới; đầu tư phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội nông thôn; giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống; xây dựng nông thôn mới bền vững,
Trang 29giàu đẹp
Nội dung của Quyết định 1980 (Thủ tướng Chính phủ, 2016) quy định về
xã nông thôn mới với 19 tiêu chí trên 5 lĩnh vực (quy hoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa – xã hội- môi trường và hệ thống chính trị) của 7 vùng kinh tế khác nhau Xã đạt chuẩn nông thôn mới là xã đạt được 19 tiêu chí cụ thể đó
Theo Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ, Huyện đạt nông thôn mới có 100% số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn mới và có tất cả 9 tiêu chí: Quy hoạch; giao thông; thủy lợi; điện; y tế- văn hóa; giáo dục; sản xuất; môi trường; an ninh, trật tự xã hội; chỉ đạo xây dựng NTM 2.1.2.2 Đặc trưng của nông thôn mới
Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2010) về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -2020 đã nêu rõ đặc trưng của nông thôn mới bao gồm:
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao;
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;
- An ninh tốt, quản lý dân chủ
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao
2.1.2.3 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Thủ tướng Chính phủ (2016) đã ký Quyết định số 1980/QĐ-TTg, ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm cụ thể: Nhóm tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng kinh tế - xã hội, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về văn hóa - xã hội - môi trường và về hệ thống chính trị
Theo đó, Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung
Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng
19 tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới bao gồm: Quy hoạch, giao thông,
Trang 30thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, Thông tin và Truyền thông, nhà ở dân cư, thu nhập, hộ nghèo, lao động có việc làm, tổ chức sản xuất, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, môi trường và an toàn thực phẩm, hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật, quốc phòng an ninh
Mỗi tiêu chí đều được quy định mức chỉ tiêu cụ thể đối với từng xã để được công nhận đạt xã nông thôn mới Cụ thể, về tiêu chí giao thông, tùy thuộc vào từng vùng kinh tế mà UBND cấp tỉnh quy định cụ thể để phù hợp với quy hoạch, điều kiện thực tế nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo tính kết nối của hệ thống giao thông trên địa bàn
Về hộ nghèo, xã vùng Đông Nam Bộ phải đạt tiêu chuẩn tỷ lệ hộ nghèo đa chiều ≤ 1%, vùng Đồng bằng sông Hồng ≤ 2%, Đồng bằng sông Cửu Long ≤ 4%, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ ≤ 5%, Tây Nguyên ≤ 7% và Trung du miền núi phía Bắc ≤ 12%
2.1.2.4 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Đảng Cộng sản Việt Nam (2008) đã xác định:
- Xây dựng NTM theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động
cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình MTQG, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch
- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc
Trang 31xây dựng nông thôn mới
2.1.2.5 Vai trò của nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội
Về kinh tế: Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, cơ sở hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng sản xuất, giao lưu buôn bán, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
- Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, kích thích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị
- Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các HTX theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các HTX ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất, kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn
- Sản xuất hàng hóa với chất lượng sản phẩm mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng nhiều lao động vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu
Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần tôn trọng pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, phát huy tính tự chủ của làng xã
Phát huy tối đa Quy chế dân chủ cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới
Về văn hóa - xã hội: Tăng cường dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò tự chủ trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
Về con người: Xây dựng nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn mới,
đó là người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có; là người nông dân kết tinh các tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình
Trang 32Có kế hoạch, chương trình, lộ trình xây dựng người nông dân nông thôn thành người nông dân sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, thành nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn mới, người quyết định thành công của mọi cải cách ở nông thôn
Người nông dân và các cộng đồng nông thôn là trung tâm của mọi chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Đưa nông dân vào sản xuất hàng hóa, doanh nhân hóa nông dân, doanh nghiệp hóa các cộng đồng dân cư, thị trường hóa nông thôn
Về môi trường: Môi trường sinh thái phải được bảo tồn xây dựng, củng cố, bảo vệ Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
Các nội dung trên trong cấu trúc vai trò mô hình nông thôn mới có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, kích thích tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội ra đời tạo hiệu ứng tổng (Ban Bí thư TW Đảng, 2009) 2.1.3.Nội dung nghiên cứu về vai trò của Hội nông dân trong xây dựng NTM Trong giai đoạn cách mạng mới, Hội Nông dân Việt Nam là Trung tâm và nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới Phương hướng công tác Hội và phong trào nông dân là: Đoàn kết, năng động, sáng tạo xây dựng Hội Nông dân vững về chính trị, mạnh về tổ chức, thống nhất
về hành động, là trung tâm và nòng cốt trong phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đất nước đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc Nâng cao vai trò đại diện: chăm lo bảo vệ lợi ích hợp pháp của hội viên, nông dân, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Để làm tốt vai trò trung tâm và nòng cốt của mình, các cấp hội cần tập trung như sau:
2.1.3.1 Tổ chức tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới trong hệ thống tổ chức Hội
- Phối hợp với Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
Trang 33thôn mới của Trung ương và địa phương, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến 100% cán bộ, hội viên, nông dân về ý nghĩa, mục đích, chủ trương của Đảng, chính sách đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, của địa phương về xây dựng nông thôn mới, trên cơ sở đó tạo sự thống nhất về nhận thức
và hành động của cộng đồng nông thôn, khuyến khích, động viên nông dân tích cực tham gia, đóng góp công sức, tiền của, đất đai…xây dựng nông thôn mới với vai trò của người làm chủ (Trung ương HND, 2013)
- Tổ chức biên soạn tài liệu tập huấn, tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới và tổ chức tập huấn, tuyên truyền nâng cao nhận thức với nhiều hình thức phong phú như: Hội thảo, tọa đàm, thi tìm hiểu kiến thức, giao lưu sân khấu hóa, các sự kiện truyền thông
- Tổ chức thông tin tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng về chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các mô hình, điển hình tiên tiến về xây dựng nông thôn mới, kịp thời động viên và khuyến khích việc học tập các mô hình, điển hình tiên tiến
2.1.3.2 Trong công tác quy hoạch và giám sát thực hiện quy hoạch
- Tổ chức tuyên truyền để hội viên, nông dân hiểu đúng ý nghĩa, tầm quan trọng của quy hoạch xây dựng nông thôn mới, từ đó động viên, khuyến khích họ tích cực tham gia đóng góp ý kiến và ủng hộ công tác quy hoạch, góp phần đảm bảo quy hoạch phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội theo các tiêu chí nông thôn mới
- Tích cực tham gia hoạt động giám sát quá trình tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới ở địa phương, cơ sở nhằm góp phần đảm bảo chất lượng, hiệu quả và đúng quy hoạch của các công trình xây dựng nông thôn mới (Trung ương HND, 2013)
2.1.3.3 Vai trò trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
Một địa phương xây dựng nông thôn mới là có một bộ mặt nông thôn đổi mới, trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng là yếu tố thiết yếu Cơ sở hạ tầng không những là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế mà còn nâng cao đời sống của người dân Đối với cơ sở hạ tầng, đường giao thông (liên thôn, liên xã, đường nối các cụm dân cư với hệ thống trục giao thông), hệ thống thuỷ lợi, các công trình chăm sóc y tế, trường học, công trình văn hoá được xếp thứ
tự là các hạng mục ưu tiên cần được phát triển để đáp ứng với yêu cầu thiết yếu
Trang 34của đời sống và sản xuất
Những công trình phát triển cơ sở hạ tầng trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất (hệ thống thuỷ lợi, hệ thống chuồng trại chăn nuôi tập trung để thay đổi phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư, các hộ có khả năng chăn nuôi lớn có thể
mở rộng chăn nuôi ở khu tập trung này) thường được quan tâm và đầu tư thích đáng để nhanh chóng đẩy mạnh sản xuất và tạo ra các động lực cho việc phát triển các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống Việc phát triển
cơ sở hạ tầng đẩy mạnh phát triển kinh tế còn có thể là việc đưa các ngành nghề mới vào địa phương hoặc trang bị những thiết bị mới những biện pháp sản xuất mới gắn liền với tìm kiếm và định hướng thị trường (Trung ương HND, 2013) 2.1.3.4 Trong các chương trình phát triển kinh tế nông thôn
- Phối hợp với Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đối với hội viên, nông dân thông qua các hình thức: mở các lớp tập huấn phổ biến, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, xây dựng và nhân rộng các mô hình trình diễn Hướng dẫn hội viên, nông dân chủ động cải tạo ao, vườn, chỉnh trang nhà
ở, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp (Ban Bí thư TW Đảng, 2009)
- Hướng dẫn và phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và nhân rộng mô hình kinh tế hợp tác sản xuất nông nghiệp gắn với tiêu thụ nông sản
- Đẩy mạnh phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngành Khoa học và Công nghệ, Ngành Công Thương và các doanh nghiệp mở rộng các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân, bao gồm các dịch vụ về vốn, khoa học và công nghệ, cung ứng thiết bị và vật tư nông nghiệp, xây dựng thương hiệu sản phẩm và tiêu thụ nông sản hàng hóa Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân
- Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả “Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng”
* Tổ chức dạy nghề cho nông dân
- Phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thực hiện hoạt động dạy nghề theo Quyết định số
Trang 351956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ
- Tổ chức các lớp bồi dưỡng, đào tạo nghề nông (trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản ) theo tiêu chuẩn học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp, dạy nghề dưới 3 tháng hoặc dạy nghề tại chỗ theo hình thức “cầm tay chỉ việc”) cho các đối tượng là hội viên, nông dân trực tiếp làm nông nghiệp
- Liên kết dạy nghề và phối hợp đào tạo liên thông giữa các trình độ nghề
cho lao động nông thôn, góp phần đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
* Đẩy mạnh “Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới”
- Chỉ đạo phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới với những nội dung, chỉ tiêu cụ thể theo lộ trình, kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia của từng địa phương, cơ sở và bộ Tiêu chí Nông thôn mới
- Phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới cần phát huy đầy đủ, toàn diện nội lực và tiềm năng, sáng tạo của nông dân; động viên, khuyến khích nông dân chủ động, tích cực tham gia với vai trò chủ thể, quyết định xây dựng nông thôn mới
- Xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng người nông dân mới có đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
2.1.3.5 Trong thực hiện quy chế dân chủ gắn với xây dựng NTM
Cơ chế hoạt động trong xã hội ta hiện nay là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và điều hành, nhân dân là chủ Xác định rõ vai trò, trách nhiệm, quyền lợi của người dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân, sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân” (Đảng CSVN, 2006)… Trong quá trình đổi mới đất nước Đảng và Nhà nước đã có chủ trương và tổ chức thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở
cơ sở với tinh thần: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Cũng từ đó việc huy động sức dân để xây dựng hệ thống điện, thủy lợi, giao thông, trường học, trạm y
tế, nhà văn hóa thôn … được tiến hành thường xuyên, đạt hiệu quả cao, phát huy tốt sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong xây dựng quê hương, đất nước
Trong những năm qua việc triển khai thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở được tiến hành sâu rộng, dần dần đi vào nề nếp, chất lượng Nội dung qui chế dân chủ ở cơ sở đã tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến đời sống nhân dân
Trang 36Tính công khai, dân chủ ngày càng được thể hiện rõ, từ đó huy động được sự đóng góp tích cực của nhân dân vào sự phát triển địa phương Đặc biệt là trong công tác xây dựng nông thôn mới phải gắn với thực hiện tốt quy chế dân chủ
"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" (Đảng CSVN, 2006)
Dân biết có nghĩa là dân được biết rõ về nông thôn mới là gì thông qua tuyên truyền, vận động, thông qua sinh hoạt cộng đồng? Nội dung nông thôn mới với 19 tiêu chí gì? Dân sẽ đóng vai trò thế nào để xây dựng nông thôn mới? Nhà nước sẽ hỗ trợ như thế nào? Cách làm cụ thể bắt đầu từ đâu? Ai sẽ hưởng lợi từ chương trình xây dựng nông thôn mới?
Dân bàn là dân có cơ hội được bàn bạc công việc của phát triển cộng đồng, làm những gì cho nông thôn mới? Công trình trong tiêu chí nào được thực hiện trước mà đa số dân đồng tình? Cách làm từng công trình, từng tiêu chí ra sao? Cộng đồng địa phương tự đề ra những giải pháp nào là phù hợp với trình độ, nguồn lực của dân? Mỗi người dân phải có vai trò trách nhiệm gì? Nhà nước sẽ
hỗ trợ những gì?
Dân làm có nghĩa là dân tham gia hội họp bàn về ý tưởng, giải pháp thực hiện tiêu chí? Tham gia thực hiện các công trình với tiến độ mà cộng đồng đề ra? Thực hiện công việc duy tu, sửa chữa các công trình do cộng đồng đã tham gia làm như thế nào?
Kiểm tra là ban giám sát cộng đồng gồm đại diện Hội đồng nhân dân, các
tổ chức chính trị - xã hội, người dân theo dõi tiến độ thi công, thực hiện công trình, giám sát khối lượng và chất lượng công trình, dự toán thực tế, nghiệm thu công trình … kiểm tra là bước tham gia cao nhất của người dân trong cộng đồng
Hội Nông dân đóng vai trò vừa là trung tâm đoàn kết, tập hợp đông đảo các lực lượng quần chúng nhân dân, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Hội viên vừa thực hiện vai trò nền tảng chính trị của chính quyền nhân dân, tổ chức động viên nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Vai trò trung tâm, nòng cốt trong của Hội Nông dân có tính trực tiếp trong việc phục vụ sự nghiệp cách mạng theo đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm làm thay đổi bộ mặt của nông thôn cho phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Để thực hiện thành công chủ trương
Trang 37đó thì Hội nông dân đóng vai trò rất quan trọng Chương trình xây dựng nông thôn mới với 19 tiêu chí sẽ không thực hiện được nếu không có vai trò nòng cốt của Hội Nông dân Công cuộc xây dựng nông thôn mới khó khăn, lâu dài đòi hỏi
sự đóng góp rất lớn của Hội nông dân cũng như của toàn xã hội Hội Nông dân cần nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình để phấn đấu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" (Hồ Văn Thông, 2015)
2.1.3.6 Xây dựng đời sống văn hóa, tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn
- Phối hợp với Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về văn hóa và nhiệm vụ phát triển văn hóa nông thôn, từ đó vận động họ tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa của địa phương, cơ sở (Hồ Văn Thông, 2015)
- Xây dựng và nhân rộng mô hình gia đình văn hóa; mô hình thôn, ấp, bản, làng văn hóa gắn với “Cuộc vận động toàn dân tham gia xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”
- Xây dựng và duy trì các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao quần chúng của nông dân; vận động và hướng dẫn nông dân thường xuyên tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao
- Phối hợp với Ngành Tài nguyên và Môi trường tổ chức tuyên truyền vận động Hội viên, nông dân tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn nâng cao năng lực thích ứng cho nông dân đối với biến đổi khí hậu và nước biển dâng thông qua các hình thức: tổ chức các sự kiện truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức; xây dựng mô hình thu gom và xử lý rác thải, mô hình cung cấp và
sử dụng nước sạch nông thôn…
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới
2.1.4.1 Tổ chức bộ máy và năng lực của đội ngũ cán bộ HND các cấp
Người lãnh đạo của Hội cũng có vai trò rất quan trọng đối với sự tham gia của cán bộ, hội viên trong xây dựng nông thôn mới Người lãnh đạo có năng lực trình độ, am hiểu về kinh tế nông nghiệp, về tổ chức các hoạt động tại nông thôn, có lòng nhiệt tình, trách nhiệm và tâm huyết thì việc triển khai
Trang 38các nội dung của tổ chức Hội trong xây dựng nông thôn mới, chỉ đạo cán bộ, hội viên tham gia các hoạt động trong chương trình nông thôn mới sẽ có nhiều thuận lợi
Công tác tổ chức của Hội nông dân có ảnh hưởng lớn đến vai trò của Hội viên nông dân trong xây dựng nông thôn mới Tổ chức Hội có vào cuộc, triển khai các nội dung trong xây dựng nông thôn mới thì Hội viên – với tư cách là thành viên của tổ chức mới có thực sự tham gia vào việc thực hiện chương trình
Sự chỉ đạo của Hội cấp trên có sát sao hay không, quá trình triển khai thực hiện của Hội cấp dưới đến cơ sở có sáng tạo, sát với thực tế hay không có ảnh hưởng rất lớn đến vai trò của hội viên Hội nông dân trong xây dựng nông thôn mới (Trung ương HND, 2013)
2.1.4.2 Sự phối hợp giữa Hội Nông dân với các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng nông thôn mới
Các tổ chức chính trị - xã hội thống nhất giữa hai mặt chính trị và xã hội Điều này thể hiện sự tập hợp đoàn kết các lực lượng quần chúng đông đảo để thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Phương thức tổ chức và hoạt động của các tổ chức này tuy khác với tổ chức Đảng và các cơ quan nhà nước nhưng đều gắn chặt với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao phó Các tổ chức chính trị - xã hội là hình thức tổ chức động viên, triển khai nguồn lực con người cho các mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong công cuộc do Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lí Cùng với Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hợp thành hệ thống chính trị Việt Nam, trong đó Đảng giữ vai trò và trọng trách là người lãnh đạo trực tiếp Trong hệ thống chính trị - xã hội Việt Nam, với tính chất chính trị và tính chất xã hội rộng lớn, các tổ chức chính trị - xã hội đóng vai trò là người tổ chức, vận động đông đảo quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ đặt ra đối với cách mạng Việt Nam thông qua những hình thức phù hợp (Đảng CSVN, 2008)
Xây dựng NTM cần có sự phối hợp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó, mỗi tổ chức có chức năng, nhiệm vụ của mình Với tư cách là tổ chức đại diện cho các tầng lớp nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể giữ vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng NTM
Trang 392.1.4.3 Nhận thức của Hội viên Nông dân về xây dựng Nông thôn mới
Đây là yếu tố được đánh giá là có ảnh hưởng lớn tới vai trò của Hội viên nông dân trong việc xây dựng NTM Một số ít Hội viên Hội Nông dân vẫn còn tâm lý ỷ lại, trông chờ, coi xây dựng NTM là nhiệm vụ của chính quyền địa phương Đây là tâm lý chung của người dân nông thôn, đặc biệt ở những vùng kinh tế chậm phát triển, vùng sâu, vùng xa (Trung ương HND, 2013)
Hoạt động xây dựng NTM diễn ra và thu được kết quả là các công trình xây dựng, các tổ nhóm khuyến nông…tạo lợi ích cho hội viên nông dân và người dân nhưng để thu hút toàn bộ người dân vào suốt quá trình hoạt động vẫn rất khó khăn
Tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của cán bộ, hội viên trong tổ chức Hội nông dân cũng là một yếu tố nội tại thuộc về tổ chức có ảnh hưởng đến vai trò của Hội viên trong xây dựng nông thôn mới Mỗi cá nhân người Hội viên muốn tham gia thực hiện một hoặc nhiều nội dung nào đó trong chương trình
sẽ không tránh khỏi việc gặp khó khăn Hay nói cách khác, ở đây nhấn mạnh đến tính cộng đồng trong nhóm đối tượng hội viên nông dân đối với việc xây dựng nông thôn mới
2.2.CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.2.1 Vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương trong nước
Trong triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Gia Lâm (Hà Nội), Hội Nông dân ở cơ sở có lúc, có nơi chưa phát huy hết vai trò, công tác tuyên truyền, vận động còn hình thức, chưa tập trung nên chưa vận động được đông đảo hội viên và nhân dân thực sự vào cuộc Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Gia Lâm, vai trò của Hội Nông dân là rất cần thiết, trong quá trình nghiên cứu tôi đã tìm hiểu các điển hình, cách làm hay của các địa phương như: tỉnh Hà Nam, Bắc Ninh, An Giang
từ đó học tập, rút kinh nghiệm cho huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hội Nông dân xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh
Hà Nam
Vũ Bản là một trong năm xã huyện chỉ đạo xây dựng nông thôn mới 2011
- 2015, đến tháng 12 năm 2011 xã Vũ Bản cơ bản hoàn thành xong đề án dồn
Trang 40điền đổi thửa, mỗi hộ chỉ còn 1 - 2 thửa (Nguyễn Thị Long, 2011) Đây là một nội dung quan trọng trong đề án xây dựng nông thôn mới của xã
Toàn xã Vũ Bản có 20 thôn, 9.650 nhân khẩu, 2710 hộ, trong đó 2317 hộ sản xuất nông nghiệp, 765,64ha đất nông nghiệp Sau khi có ý kiến chỉ đạo của huyện, xã đã rà soát đến năm 2010, xã đã đảm bảo 12/19 tiêu trí của nông thôn mới Bắt tay vào thực hiện xã đã thành lập ban chỉ đạo, ban điều hành và các tiểu ban Xã chính thức đi vào xây dựng đề án dồn điền đổi thửa, hiện tại mỗi hộ 5 - 7 thửa nay đồn đổi mỗi hộ còn 1 - 2 thửa, quy hoạch lại đồng ruộng, quy hoạch lại giao thông thuỷ lợi, sau khi được uỷ ban nhân dân huyện duyệt đề án, xã đã triển khai cụ thể tới toàn thể cán bộ đảng viên, hội viên các hội và toàn thể nhân dân (Nguyễn Thị Long, 2011)
Kết quả, Vũ Bản đã quy hoạch giao thông thuỷ lợi có gần 30km, khối lượng đào đắp khoảng 250.0003, kinh phí thu theo đầu sào, các thôn đã họp xong thống nhất về phương án chia lại ruộng, trên cơ sở vẫn diện tích cũ của các gia đình, trước 5 - 7 thửa, nay chỉ 1 - 2 thửa (Nguyễn Thị Long, 2011)
Được Đảng uỷ giao nhiệm vụ, đồng chí chủ tịch Hội Nông dân xã tham gia vào ban chỉ đạo của xã, 20 chi hội trưởng là phó tiểu ban của 20 thôn, cùng với đảng uỷ, uỷ ban và các ngành đoàn thể, Hội Nông dân xã đã phân công từng cán bộ trong ban chấp hành phụ trách các chi hội, ban chấp hành các chi hội nắm chắc tâm tư của từng hội viên và nhân dân trong thôn, những vấn đề nổi cộm khó khăn được tiểu ban tập trung tuyên truyền vận động, có những trường hợp tiểu ban phải báo cáo lên ban chỉ đạo để cùng tập trung tháo gỡ, bình quân mỗi thôn họp từ 12 - 15 cuộc họp (Nguyễn Thị Long, 2011)
Kết quả 100% hội viên nông dân chấp hành việc dồn điền đổi thửa, các thôn họp đều thống nhất cao về quy hoạch giao thông nông thôn, giao thông đồng ruộng, các hộ dân tự nguyện hiến diện tích đất ruộng cấy để làm đường, có thôn mỗi sào hiến tới 42m2, thôn thấp nhất 15m2 Việc đào đắp được thống nhất
xã hỗ trợ 50% kinh phí khoảng 40 ngàn đồng, dân bỏ ra 50% khoảng 40 ngàn đồng/sào, đặc biệt thôn Đông Thành có 111 hộ trong đó 100 hộ nông nghiệp, có
70 hộ 1 thửa, 30 hộ 2 thửa, mỗi sào hiến 25m2 Đối với đường thôn, xóm, toàn
xã có kế hoạch nhận 1.300 tấn xi măng để nhân dân bàn bạc đóng góp làm gần 10km đường trong các thôn, mức độ đóng góp tuỳ theo từng đoạn đường nhưng cũng có thôn mỗi hộ đóng góp tới 300 ngàn đồng Có được kết quả trên đó là Hội