1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu

136 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối, kinh doanh xăng dầu trong thời gian tới.. Phương

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN CÔNG HIẾU

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH, KIỂM TRA CỦA THANH TRA BỘ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP ĐẦU MỐI NHẬP KHẨU, KINH DOANH

Trang 2

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Công Hiếu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của mình, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo khoa Quản trị kinh doanh; Ban quản lý Đào tạo - Học viện Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Trần Hữu Cường đã trực tiếp hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới tập thể lãnh đạo, các phòng, ban thuộc Thanh tra Bộ Tài chính đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Công Hiếu

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Dạnh mục sơ đồ, biểu đồ, hộp viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 4

2.1 Cơ sở lý luận về công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 4

2.1.1 Khái niệm, vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra 4

2.1.2 Mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp 8

2.1.3 Quy trình thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp 11

2.1.4 Một số vấn đề chung về kinh doanh xăng dầu 18

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu 23

2.2 Cơ sở thực tiễn về công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại Việt Nam và các nước trong thời gian qua 26

2.2.1 Kinh nghiệm về công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp các nước trên thế giới 26

2.2.2 Kinh nghiệm về công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại Việt Nam 31

Trang 6

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động sản

xuất kinh doanh của các doanh nghiệp các nước trên thế giới và Việt Nam 34

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 37

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37

3.1.1 Khái quát chung về cơ quan Thanh tra Bộ Tài chính 37

3.1.2 Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra 49

3.2 Phương pháp nghiên cứu 52

3.2.1 Khung phân tích đề tài 52

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 53

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 55

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 55

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 56

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 57

4.1 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu trong thời gian vừa qua 57 4.1.1 Công tác chuẩn bị và ra Quyết định thanh tra, kiểm tra 57

4.1.2 Tiến hành thanh tra, kiểm tra 67

4.1.3 Kết thúc thanh tra, kiểm tra 83

4.1.4 Đánh giá chung về công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu trong thời gian vừa qua 84

4.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu 95

4.2.1 Yếu tố khách quan 95

4.2.2 Yếu tố chủ quan 97

4.3 Giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu trong thời gian tới 101

4.3.1 Định hướng về công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu 101

4.3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu 102

Trang 7

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 111

5.1 Kết luận 111

5.2 Kiến nghị 113

Tài liệu tham khảo 115

Phụ lục 117

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình cán bộ của Thanh tra Bộ Tài chính qua 03 năm 2015 - 2017 48

Bảng 3.2 Số lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính 49

Bảng 3.3 Kết quả thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính 50

Bảng 3.4 Nội dung thông tin và nơi thu thập số liệu sơ cấp 52

Bảng 3.5 Ý nghĩa giá trị trung bình thang đo khoảng 54

Bảng 4.1 Số lượng DN đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu thanh tra, kiểm tra qua 03 năm 2015 - 2017 57

Bảng 4.2 Tình hình kết quả SXKD của các DN đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu thanh tra, kiểm tra qua 03 năm 2015 - 2017 58

Bảng 4.3 Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra các DN đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu của Thanh tra Bộ Tài chính qua 03 năm 2015 - 2017 61

Bảng 4.4 Quy mô nguồn nhân lực phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu qua 03 năm 2015 - 2017 63

Bảng 4.5 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ thanh tra, kiểm tra các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu qua 03 năm 2015 - 2017 64

Bảng 4.6 Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thanh tra, kiểm tra 65

Bảng 4.7 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra và đối tượng thanh tra, kiểm tra về công tác chuẩn bị triển khai thanh tra, kiểm tra qua 03 năm 2015 - 2017 66

Bảng 4.8 Tổng hợp hồ sơ pháp lý qua thanh tra, kiểm tra tại DN của Thanh tra Bộ Tài chính qua 03 năm 2015 - 2017 69

Bảng 4.9 Tổng hợp kết quả thanh tra, kiểm tra về chấp hành pháp luật về giá của các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu qua 03 năm 2015 - 2017 72

Bảng 4.10 Tổng hợp hồ sơ khai thuế qua thanh tra, kiểm tra các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu qua 03 năm 2015 - 2017 75

Bảng 4.11 Tổng hợp kết quả thanh tra, kiểm tra về thuế tại các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu qua 03 năm 2015 - 2017 76

Bảng 4.12 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra và đối tượng thanh tra, kiểm tra về công tác tiến hành thanh tra, kiểm tra qua 03 năm 2015 - 2017 81

Bảng 4.13 Kết quả theo dõi xử lý sau thanh tra qua 03 năm 2015 - 2017 83

Bảng 4.14 Tỷ lệ số thuế thu sau thanh tra, kiểm tra so với số thuế truy thu 85

Trang 9

Bảng 4.15 Tình hình giảm lỗ của các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu sau

thanh tra, kiểm tra qua 03 năm 2015 - 2017 86 Bảng 4.16 Số cán bộ thanh tra, kiểm tra các DN đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu

trên tổng số các DN đầu mối được thanh tra, kiểm tra qua 03 năm 2015 - 201787 Bảng 4.17 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra và đối tượng thanh tra, kiểm tra về công

tác thanh tra, kiểm tra qua 03 năm 2015 - 2017 88 Bảng 4.18 Kết quả đánh giá của cán bộ thanh tra và các DN đầu mối nhập khẩu và kinh

doanh xăng dầu qua thanh tra, kiểm tra về việc chấp hành pháp luật về giá, thuế của các DN này qua 03 năm 2015 - 2017 89

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH, HỘP

Sơ đồ:

Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ Tài chính 44

Sơ đồ 3.2 Khung phân tích đề tài 52

Biểu đồ:

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ số cuộc thanh tra, kiểm tra DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu trên tổng số các doanh nghiệp đầu mối qua 03 năm 2015 - 2017 85

Hình:

Hình 4.1 Mẫu kế hoạch thanh tra, kiểm tra các DN đầu mối nhập khẩu, kinh doanh

xăng dầu của Thanh tra Bộ Tài chính 61 Hình 4.2 Quyết định thanh tra DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu 68

Hộp:

Hộp 4.1 Đối tượng thanh tra được Thanh tra Bộ Tài chính thanh tratrong năm 2016 57 Hộp 4.2 Một số nội dung chính của kế hoạch thanh tra của Thanh tra Bộ Tài chính

năm 2016 62

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Công Hiếu

Tên luận văn: Hoàn thiện công tác thanh, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với

các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu

Ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 8340102

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh

tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu trong thời gian vừa qua Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối, kinh doanh xăng dầu trong thời gian tới

Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp để thu thập thông tin về thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu; kết hợp phương pháp thu thập số liệu sơ cấp thông qua điều tra trực tiếp 10 DN đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu và 77 lãnh đạo, thanh tra viên làm công tác thanh tra của Thanh tra Bộ Tài chính nhằm thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu; đánh giá, nhận định về hoạt động thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu và hiệu lực hoạt động thanh tra, kiểm tra trong thời gian vừa qua Nghiên cứu sử dụng một số phương pháp phân tích số liệu truyền thống như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia và hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ nội dung nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu chính và kết luận:

Công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Thanh tra Bộ Tài chính Nội dung cơ bản của công tác thanh tra, kiểm tra đối với các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu là: Công tác chuẩn bị và ra Quyết định thanh tra, kiểm tra; tiến hành thanh tra, kiểm tra; và kết thúc thanh tra, kiểm tra Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu đã đạt được những kết quả nhất định, bao gồm: (1) Số DN đầu mối được thanh tra, kiểm tra tuy không lớn (34,5%) nhưng xét về tỷ lệ phần trăm các cuộc thanh tra, kiểm tra trong các DN trong lĩnh vực đầu mối xăng dầu do Thanh tra Bộ thực hiện là một số hoàn toàn không nhỏ (2)

Số thuế truy thu lớn cho NSNN, cụ thể đạt 1.410,8 tỷ đồng qua 3 năm 2015 - 2017, với tốc

độ tăng bình quân là 24,3% (3) Tỷ lệ số thuế thu được từ các DN đầu mối sau thanh tra, kiểm tra trong tổng số thuế truy thu sau trong những năm qua đạt trung bình khoảng 65%

Trang 12

và tỷ lệ thu hồi tăng trung bình 16,7% qua các năm (4) Thanh tra Bộ đã thanh tra, kiểm tra

03 DN có kết quả kinh doanh lỗ; qua thanh tra, kiểm tra đã cắt giảm lỗ 384,7 tỷ đồng lỗ sai quy định, giảm trung bình 128,2 tỷ đồng/DN (5) Thời gian bình quân tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra cũng đã được rút ngắn do nỗ lực của cán bộ công chức Thanh tra Bộ (6) Thanh tra Bộ đã tăng cường năng lực, đổi mới phương pháp thanh tra, kiểm tra và cố gắng tăng được số cuộc thanh tra, kiểm tra hàng năm

Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra các DN đầu mối vẫn tồn tại một số hạn chế như: (1) Việc lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu tại Thanh tra Bộ Tài chính chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, hoặc theo yêu cầu của Lãnh đạo Bộ Tài chính và trên cơ sở kế hoạch thanh tra, kiểm toán của Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước (2) Không phải đoàn thanh tra nào cũng có số thu bình quân một cuộc thanh tra cao (3) Thanh tra chống chuyển giá chưa hiệu quả (4) Việc phân công công việc giữa các thành viên trong đoàn thanh tra, kiểm tra chưa rõ ràng cụ thể; việc thực hiện các chế độ báo cáo tiến độ cuộc thanh tra, kiểm tra, xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình thanh tra, kiểm tra chưa kịp thời, chủ yếu mang tính hình thức đã làm giảm hiệu quả thanh tra, kiểm tra các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu (5) Các đoàn thanh tra chưa quyết liệt và chưa tìm ra giải pháp hữu hiệu trong việc đôn đốc thu hồi nợ tiền thuế sau thanh tra, kiểm tra; chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng như Bộ Tài chính, Bộ Công thương, UBND,

Sở Tài chính tỉnh, Kho Bạc Nhà nước… Do vậy, số thuế thực nộp vào NSNN sau thanh tra, kiểm tra chiếm khoảng 70% tổng số truy thu

Nghiên cứu cũng đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu, gồm có: (1) Yếu tố khách quan (Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

về giá, thuế; Chức năng cho ngành thanh tra; Môi trường kinh tế - xã hội); và (2) Yếu tố chủ quan (Tổ chức bộ máy thanh tra, lực lượng cán bộ thanh tra của Thanh tra Bộ Tài chính; Hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ pháp luật về giá, thuế cho các DN đầu mối từ các

cơ quan, ban ngành có liên quan; Ý thức tuân thủ pháp luật về giá, thuế của các DN đầu mối; Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng)

Từ đó, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu trong thời gian tới như: (1) Giải pháp về cơ chế, chính sách của Nhà nước; (2) Giải pháp đối với Thanh tra Bộ Tài chính và (3) Giải pháp đối với cơ quan quản lý thuế

Trang 13

THESIS ABSTRACT

Master Candidate: Nguyen Cong Hieu

Thesis Title: Improving the inspection and examination of the Ministry of Finance's

inspectors for key enterprises importing and trading petrol and oil

Major: Business management Code: 8340102

Educational Organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Objectives of the study: Analyzing the inspection and examination situation of

the Ministry of Finance's inspectors for key enterprises importing and trading petrol and oil in the past From that, some solutions are proposed to improve the inspection and examination of the Ministry of Finance's inspectors for key enterprises importing and trading petrol and oil in the future.

Research Methodology: The study used secondary data collection method to gather information on the status of the inspection and examination situation of the Ministry of Finance's inspectors for key enterprises importing and trading petrol and oil; Combining the primary data collection method through a direct field survey of 10 key enterprises importing and trading petrol and oil and 77 leaders, inspectors of the Ministry of Finance to collect data for research; to evaluate and assessment on the inspection and examination activities of the Finance Ministry's inspectors for key enterprises importing and trading petrol and oil and the effectiveness of inspection and examination these activities in the past The study used a number of traditional data analysis methods such as descriptive statistical, comparative method, expert methodology and research indicators system to clarify the study contents

Main results and Conclusion:

The inspection and examination situation of the Ministry of Finance's inspectors for key enterprises importing and trading petrol and oil is one of the important tasks of the Ministry of Finance's inspectors The basic contents of the inspection and examination situation of the Ministry of Finance's inspectors for key enterprises importing and trading petrol and oil are: Preparation and issuance of inspection decisions; conducting inspection and examination; and finish the inspection The situation of the inspection and examination situation of the Ministry of Finance's inspectors for key enterprises importing and trading petrol and oil has achieved certain results, including: (1) The number of key enterprises inspected and examined was not large (34.5%), but in terms of percentage of inspections and examinations in enterprises in the petroleum sector are surveyed by the Ministry Inspectorate is not small (2) The large tax are recollected for the state budget, specifically

Trang 14

VND1,410.8 billion through 3 years 2015 - 2017, with an average growth rate of 24.3% (3) The rate of tax collected from key enterprises after the inspection and examination of the total retrospective tax amount in the past years has averaged about 65% and the recovery rate increased with average 16.7% over the years (4) The Ministry Inspectorate has inspected and examined 03 enterprises with business losses; through inspections and examinations have cut losses 384.7 billion VND loss in accordance with regulations, reducing the average 128.2 billion VND/Enterprise (5) The average time taken to conduct

an inspection has also been shortened due to the efforts of the staff of the Ministry Inspectorate (6) The MARD Inspectorate has strengthened its capacity, renewed the method of inspection and examination, and tried to increase the number of annual inspections, examinations

Besides, the inspection and examination of key enterprises importing and trading petrol and oil still exist some limitations such as: (1) The planning of inspections, examinations of key enterprises importing and trading petrol and oil at the MOF Inspectorate relies on experience, or at the request of the leaders of the Ministry of Finance and based on the inspection and audit plans of the Government Inspectorate and the State Audit (2) Not all inspection teams have an average of a high inspection (3) Inspectorate against price transfer is not effective (4) The assignment of work among the members of the inspection or examination delegation is unclear; the implementation of the regime of reporting the progress of the inspection, examination and handling of problems arising in the course of inspection and examination is not timely, mostly formal, have reduced the effectiveness of inspections and examinations of key enterprises importing and trading petrol and oil (5) Inspection teams have not been decisive and have not found an effective solution to urge the recovery of tax debts after inspection and examination; there is no close coordination between functional agencies such as Ministry of Finance, Ministry of Industry and Trade, People's Committee, Provincial Finance Department, State Treasury As a result, the amount of tax actually paid into the state budget after inspection and examination accounts for 70% of the total collection

The thesis also focused on the factors affecting the inspection and inspection of the Ministry of Finance’s inspectors for key enterprises importing and trading petrol and oil including: (1) Objective factor (system of legal documents on price, tax, function of the inspection sector, socio-economic environment); (2) Subjective factor (organization of inspection apparatus, inspection staff of the Ministry of Finance; propaganda and supporting for law on price and Tax for key enterprises from relevant agencies; the sense of compliance with the law on prices and taxes of key enterprises; coordination between functional agencies)

Trang 15

Since then, the thesis has proposed some solutions to improve the inspection and inspection of the Ministry of Finance’s inspectors for key enterprises importing and trading petrol and oil in the future such as: (1) Solutions on mechanisms and policies of the State; (2) Solution for the Finance Ministry's Inspectors and (3) Solutions to Tax administration.

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Sự phát triển nền kinh tế thị trường một cách nhanh chóng đã góp phần thay đổi đáng kể diện mạo của đất nước Đời sống của người dân ngày càng được nâng lên, kinh tế giữ vững ổn định và tăng trưởng với nhiều bước đột phá Việt Nam không chỉ tham gia, mà còn là thành viên của nhiều diễn đàn quan trọng trong khu vực và trên thế giới Đạt được những kết quả to lớn như vậy là nhờ sự quản lý, điều hành một cách quyết liệt và sát sao của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương, theo từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể Việc quản lý, điều hành được thực hiện một cách minh bạch, dân chủ và hiệu quả thông qua các chính sách, công cụ quản lý về kinh tế xã hội góp phần thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước cùng tham gia.Các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội được thực hiện một cách xuyên suốt, đã gắn công tác chỉ đạo điều hành với công tác thanh tra, kiểm tra; góp phần nâng cao hiệu quả trong việc thực thi các chính sách pháp luật của Nhà nước

Những năm qua, Thanh tra Bộ Tài chính đã đóng vai trò quan trọng trong công tác thanh tra, kiểm tra giúp Bộ trong chỉ đạo, điều hành về các lĩnh vực tài chính, thuế, hải quan, chứng khoán,… một cách hữu hiệu Trong đó, công tác thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu đóng vai trò hết sức quan trọng Qua công tác thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và kiến nghị với các đơn vị thực hiện đúng các quy định của pháp luật về giá, tài chính,… đồng thời kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoàn thiện về cơ chế, chính sách và có các biện pháp ổn định kinh tế

vĩ mô, bình ổn giá thị trường, góp phần nâng cao đời sống xã hội

Một trong số các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu giữ vai trò quan trọng, có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội đó là mặt hàng xăng dầu Hàng năm, Thanh tra Bộ cũng như các đơn vị thanh tra, kiểm toán cũng tiến hành nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, sản xuất kinh doanh xăng dầu Qua thanh tra, kiểm tra, Bộ Tài chính đã kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các sai phạm trong việc tuân thủ chấp hành pháp luật về thuế, hải quan trong việc kê khai, nộp thuế và hoàn thuế khâu nhập khẩu khi áp dụng thuế xuất nhập khẩu ưu đãi đãi đặc biệt của mặt hàng xăng dầu khi Hiệp định Thương mại

Trang 17

hàng hóa ASEAN và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc có hiệu lực Đồng thời, phát hiện các sai phạm trong việc chấp hành pháp luật về thuế, phí, lệ phí và pháp luật về giá đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu kinh doanh xăng dầu, cũng như xác định ảnh hưởng đối với số tiền chênh lệch thuế khâu nhập khẩu xăng dầu đến kết quả hoạt động kinh doanh, thu nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu (Thúy Hạnh, 2016) Từ đó, nhiều kiến nghị xử lý về tài chính và kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện

cơ chế chính sách được đề xuất cho phù hợp với đặc thù của mặt hàng xăng dầu Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển như hiện nay diễn biến phức tạp và luôn tiềm ẩn các nguy cơ, đòi hỏi công tác thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, sản xuất kinh doanh xăng dầu ngày càng phải được nâng cao hơn nữa để đáp ứng với những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội, bắt kịp xu thế của thời đại Vì vậy, cần phải nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận, pháp lý của công tác thanh tra, kiểm tra; về cơ chế, chính sách điều hành của Nhà nước; đánh giá thực tiễn nhằm đề xuất các giải pháp có hiệu quả trong công tác thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu

Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hoàn

thiện công tác thanh, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu” làm luận văn tốt nghiệp

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Tìm hiểu thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu trong thời gian vừa qua Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối, kinh doanh xăng dầu trong thời gian tới

Trang 18

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối, kinh doanh xăng dầu trong thời gian tới

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu nằm trong phạm vi thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra

Bộ Tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu

- Phạm vi không gian:

+ Chủ thể đối tượng thanh tra là cơ quan Thanh tra Bộ Tài chính, địa chỉ số

28 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội;

+ Đối tượng thanh tra là 10 doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu được Thanh tra Bộ Tài chính thanh tra, kiểm tra

- Phạm vi thời gian:

+ Số liệu được thu thập qua 03 năm 2015 - 2017

+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 09/2017 đến tháng 09/2018

Trang 19

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1.1 Khái niệm, vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra

Trong hoạt động quản lý nói chung, quá trình quản lý diễn ra theo một chu trình với 04 chức năng cơ bản, đó là: Kế hoạch hoá; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra, thanh tra Trong đó, chức năng kiểm tra, thanh tra là chức năng giúp cho nhà quản lý xác định hệ quản lý đang ở tình trạng nào để có giải pháp điều chỉnh cho phù hợp; kiểm tra, thanh tra còn là cầu nối giữa nhà quản lý và đối tượng bị quản lý, là nơi diễn ra quá trình thu nhận thông tin để hệ vận động và phát triển Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra là yêu cầu có tính cấp thiết và liên tục

2.1.1.1 Khái niệm, vai trò của công tác thanh tra

Thanh tra là một khâu công tác quan trọng trong toàn bộ công tác quản lý của bộ máy Nhà nước Nó có mục đích giúp đỡ cơ quan lãnh đạo vừa kiểm tra sự đúng đắn của bản thân sự lãnh đạo của mình, vừa kiểm tra việc chấp hành của các cơ quan thuộc thẩm quyền quản lý, nhằm tìm ra những biện pháp chỉ đạo và quản lý tốt nhất, bảo đảm cho những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về quản lý kinh tế, được chấp hành một cách đầy đủ và có hiệu lực

Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La-tinh (in-spectare) có nghĩa là “nhìn

vào bên trong” chỉ một sự xem xét từ bên ngoài vào hoạt động của một đối tượng

nhất định: “là sự kiểm soát đối với đối tượng bị thanh tra” trên cơ sở thẩm quyền

(quyền hạn và nghĩa vụ) được giao, nhằm đạt được mục đích nhất định Tính chất của thanh tra mang tính thường xuyên, tính quyền lực, do đó hệ quả của thanh tra

thường là “phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định” [16]

Thanh tra là hoạt động xem xét, kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc theo sự uỷ quyền của cơ quan nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới (mang tính trực thuộc) và là một bộ phận của hoạt động hành pháp

2.1.1.2 Khái niệm, vai trò của công tác kiểm tra

Kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”, để chỉ hoạt

động của chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không

Trang 20

trực thuộc chủ thể kiểm tra) Tuy nhiên, khái niệm kiểm tra (control) có thể được hiểu theo 2 nghĩa: Theo nghĩa rộng, để chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và của công dân kiểm tra hoạt động bộ máy của nhà nước Theo nghĩa này, tính quyền lực nhà nước trong kiểm tra bị hạn chế vì các chủ thể thực hiện kiểm tra không có quyền áp dụng trực tiếp những biện pháp cưỡng chế nhà nước Theo nghĩa hẹp hơn, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác định một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp hay không phù hợp với trạng thái định trước Theo nghĩa này, chủ thể kiểm tra có thể áp dụng một chế tài pháp lý nhất định như áp dụng các hình thức kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc buộc phải thực hiện một số biện pháp ngăn chặn hành chính Ở

nghĩa này, khái niệm kiểm tra nằm trong khái niệm thanh tra “tổ chức Thanh tra

là công cụ đắc lực của Đảng, của chính quyền trong việc kiểm tra sự chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật, kế hoạch của Nhà nước” [1]

Xét về chủ thể thì phạm vi chủ thể tiến hành hoạt động kiểm tra đa dạng hơn thanh tra rất nhiều Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc cũng

có thể là một chủ thể phi Nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm tra của một tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (Đảng, Công đoàn, Mặt trận, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…), hoạt động kiểm tra trong nội bộ một doanh nghiệp (kiểm tra của Giám đốc đối với các phòng, ban, kiểm tra của Quản đốc đối với người lao động) Trên một bình diện rộng hơn nữa, kiểm tra có thể là sự xem xét thực tế để đánh giá, nhận xét của bất kỳ một cá nhân nào trong xã hội trong bất cứ một hoạt động nào Khi con người biết lao động một cách có ý thức thì đã xuất hiện yêu

cầu tất yếu là phải kiểm tra Ăng ghen đã nói “mỗi hoạt động có ý thức, có tổ

chức của con người đều chứa đựng trong đó những yếu tố của kiểm tra” và “đối với mỗi con người tự nhiên, mỗi cộng đồng nguyên thuỷ, kiểm tra được xem như

là phương thức hành động để thực hiện mục đích” Như vậy, kiểm tra cũng xuất

hiện trước thanh tra và xuất hiện trước khi có sự ra đời của Nhà nước đầu tiên trong lịch sử Có thể nói, kiểm tra sẽ tồn tại cùng với loài người Khi Nhà nước

tự tiêu vong, thanh tra sẽ mất đi như đã nói ở trên, nhưng kiểm tra thì vẫn còn tồn

tại cùng với “chức năng quản lý đơn thuần là chăm lo đến lợi ích của xã hội”

như Ăng ghen đã chỉ ra

Kiểm tra gắn liền với công việc của một tổ chức, một cán bộ, công chức nhất định và thường theo một số hướng sau: Theo dõi để cho hoạt động của tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và sự phân công giữa các đơn vị; Quan

Trang 21

sát để đảm bảo rằng nhiệm vụ được giao có đủ điều kiện thực hiện, phù hợp với thực tế Hướng dẫn và điều chỉnh kịp thời để đảm bảo hiệu suất công việc của từng đơn vị; Kiểm tra kết quả cuối cùng, đánh giá hiệu quả thực tế của các hoạt động theo kế hoạch đặt ra

Trong quản lý hành chính nhà nước, kiểm tra có mục tiêu là tìm kiếm động

cơ, nguyên nhân cán bộ làm tốt (hay không làm tốt) nhiệm vụ được giao Một sự kiểm tra như vậy có thể được thực hiện trong nội bộ của bộ máy quản lý, nhưng cũng có thể ở ngoài hệ thống đó mà người ta có thể gọi là kiểm soát ngoại lai

Ở nước ta, trong các Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 cũng xem thanh tra và kiểm tra như là những mặt, phương diện của quản lý nhà nước, có chung mục đích đều là những chức năng thiết yếu của

cơ quan quản lý nhà nước Hiến pháp năm 1980, khi đề cập đến nhiệm vụ và

quyền hạn của Chính phủ, quy định: “Chính phủ tổ chức và lãnh đạo công tác

kiểm kê…; công tác thanh tra và kiểm tra nhà nước; chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân” (khoản 15 Điều 107) Thông báo Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung

ương Đảng (khoá VIII) chỉ rõ: “tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để mọi

thành phần kinh tế kinh doanh đúng pháp luật”

Tóm lại, kiểm tra là một hoạt động thường xuyên, do tính chất này mà chúng ta không thể nói là đã có một hệ thống hay cơ chế kiểm tra hữu hiệu nếu chỉ có những người lãnh đạo tổ chức và những cán bộ, tổ chức chuyên trách tham gia vào hoạt động kiểm tra Điều quan trọng là phải thiết lập được hệ thống tự kiểm tra và một nề nếp kiểm tra lẫn nhau trong nội bộ tổ chức, giữa hai nhân tố chủ quan và khách quan trong tổ chức hoặc hai nhân tố khác nhau trong cùng một công việc

2.1.1.3 Phân biệt giữa thanh tra và kiểm tra

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh

giá, nhận xét” Có thể nói giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra có mối quan hệ

chặt chẽ, gần gũi và có nhiều điểm giao thoa nhau Bởi vì kiểm tra và thanh tra đều là những công cụ quan trọng, một chức năng chung của quản lý nhà nước, là

hoạt động mang tính chất phản hồi của “chu trình quản lý” Qua kiểm tra, thanh

tra, các cơ quan quản lý nhà nước có thể phân tích đánh theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đề ra Đây là mối quan hệ đan chéo nhau Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra,

Trang 22

ngược lại nếu hiểu theo nghĩa hẹp, thanh tra lại bao hàm cả kiểm tra Chính vì vậy trong thực tiễn, nhiều người trong đó có cả một số doanh nghiệp thường hay nhầm lẫn, đồng nhất kiểm tra với thanh tra Tuy nhiên với tư cách là một hoạt động độc lập, kiểm tra có nhiều điểm khác biệt với thanh tra:

Một là về chủ thể tiến hành: Giữa kiểm tra và thanh tra có một mảng giao

thoa về chủ thể, đó là Nhà nước Nhà nước tiến hành cả hoạt động thanh tra và kiểm tra Tuy nhiên, chủ thể của kiểm tra rộng hơn của thanh tra rất nhiều Trong khi chủ thể tiến hành thanh tra phải là Nhà nước, thì chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc có thể là chủ thể phi nhà nước

Hai là về mục đích thực hiện: Mục đích của thanh tra bao giờ cũng rộng

hơn, sâu hơn đối với các hoạt động kiểm tra Đặc biệt, đối với các cuộc thanh tra

để giải quyết khiếu nại, tố cáo thì sự khác biệt về mục đích, ý nghĩa giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra càng rõ hơn nhiều, bởi: thông thường khiếu nại, tố cáo phản ánh sự bức xúc, bất bình của nhân dân trước những việc mà nhân dân cho là quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm cho nên mục đích của hoạt động thanh tra không còn chỉ là xem xét, đánh giá một cách bình thường nữa

Ba là về phương pháp tiến hành: Với mục đích rõ ràng hơn, rộng hơn, khi

tiến hành thanh tra, Đoàn thanh tra cũng áp dụng những biện pháp nghiệp vụ sâu hơn, đi vào thực chất đến tận cùng của vấn đề như: xác minh, thu thập chứng cứ, đối thoại, chất vấn, giám định

Đặc biệt, quá trình thanh tra các Đoàn thanh tra còn có thể áp dụng những biện pháp cần thiết để phục vụ thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra

để tác động lên đối tượng bị quản lý

Bốn là về trình độ nghiệp vụ: Hoạt động thanh tra đòi hỏi thanh tra viên

phải có nghiệp vụ giỏi, am hiểu về kinh tế - xã hội, có khả năng chuyên sâu vào lĩnh vực thanh tra hướng đến Do nội dung hoạt động kiểm tra ít phức tạp hơn thanh tra và chủ thể của kiểm tra bao gồm lực lượng rộng lớn có tính quần chúng phổ biến nên nói chung, trình độ nghiệp vụ kiểm tra không nhất thiết đòi hỏi như nghiệp vụ thanh tra

Năm là về phạm vi hoạt động: Phạm vi hoạt động kiểm tra thường theo bề

rộng, diễn ra liên tục, ở khắp nơi với nhiều hình thức phong phú, mang tính quần chúng Phạm vi hoạt động thanh tra thường hẹp hơn hoạt động kiểm tra

Trang 23

Sáu là về thời gian tiến hành: Trong hoạt động thanh tra thường có nhiều

vấn đề phải xác minh, đối chiếu rất công phu, nhiều mối quan hệ cần được làm

rõ, cho nên phải sử dụng thời gian nhiều hơn so với kiểm tra

Thanh tra và kiểm tra tuy có sự phân biệt nhưng chỉ là tương đối Khi tiến hành cuộc thanh tra, thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ đó thực chất

là kiểm tra Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra để làm rõ vụ việc, lại lựa chọn được nội dung thanh tra Kiểm tra và thanh tra là hai khái niệm khác nhau nhưng

có liên hệ qua lại, gắn bó Do vậy, khi nói đến một khái niệm người ta thường

nhắc đến cả cặp với tên gọi là thanh tra, kiểm tra hay kiểm tra, thanh tra

2.1.2 Mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

2.1.2.1 Mục tiêu thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích giúp các cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động đúng pháp luật, có hiệu quả; tăng cường pháp chế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý; bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ sở sản xuất, kinh doanh

Trên tinh thần tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra tài chính trong cơ chế thị trường, mục đích của hoạt động thanh tra tài chính đã được nhìn nhận theo hướng sâu rộng hơn, thực chất hơn Nếu như trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mục đích của hoạt động thanh tra tài chính chủ yếu nhằm phát hiện, xử lý các hành vi sai phạm làm thất thoát tài sản XHCN, thì trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng quản lý của Nhà nước hiện nay, mục đích hoạt động thanh tra tài chính chủ yếu nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những sai phạm về tài chính Luật Thanh tra khẳng

định: Hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính

sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [16]

Trên cơ sở đó, mục tiêu hoạt động thanh tra tài chính doanh nghiệp tập trung vào một số mặt sau cụ thể sau đây:

Trang 24

Một là phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để

kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp khắc phục là mục tiêu chủ yếu của hoạt động thanh tra Mục tiêu này cần phải được chú trọng trong điều kiện hệ thống cơ chế, chính sách đang chuyển đổi, chưa hoàn thiện

Hai là phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật cũng là

mục tiêu quan trọng, trực tiếp của hoạt động thanh tra Một nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải tăng cường tính pháp chế, kỷ cương; mọi hành vi vi phạm pháp luật đều cần phải phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh Thực hiện mục tiêu này, hoạt động thanh tra cần phải tiến hành thường xuyên, ngăn chặn và phát hiện kịp thời những sai phạm đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm để đảm bảo tính răn đe đối với những người có ý định vi phạm hoặc tái phạm pháp luật

Ba là giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật

cũng là mục tiêu quan trọng của hoạt động thanh tra Với mục đích này, hoạt động thanh tra vừa uốn nắn, nhằm chấn chỉnh, vừa tháo gỡ những vướng mắc giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng các quy định của pháp luật

Bốn là phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả

quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Đòi hỏi hoạt động thanh tra không chỉ tìm ra tiêu cực, sai phạm mà còn chỉ ra nhưng việc làm hay, nhưng nhân tố tích cực mới để nhân rộng thêm

2.1.2.2 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

Nguyên tắc của hoạt động thanh tra, kiểm tra nói chung và thanh tra, kiểm tra tài chính nói riêng [4], [5] là:

- Phải tuân theo pháp luật Mọi chủ thể hoạt động trong một quốc gia đều phải tuân thủ pháp luật của quốc gia đó Cơ quan thanh tra vừa là một chủ thể vừa là một bộ phận trong bộ máy quản lý Nhà nước nên hoạt động thanh tra càng phải dựa trên cơ sở pháp luật, tuân thủ các quy định của pháp luật, không được phép tuỳ tiện Ở nước ta, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên hoạt động của các cơ quan Nhà nước, trong đó có hoạt động thanh tra, kiểm tra là phải phục

vụ nhân dân, giúp cho nhân dân được thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp;

- Bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời;

- Không làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, cá nhân

là đối tượng thanh tra Hoạt động thanh tra, kiểm tra phải không những không làm

Trang 25

cản trở hoạt động bình thường của các đơn vị mà còn tạo điều kiện cho các đơn vị thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, giúp cho xã hội phát triển lành mạnh

Đối với công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp phải đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc cụ thể sau:

- Các cơ quan Nhà nước khi tiến hành thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp phải theo đúng chức năng, thẩm quyền, thủ tục do pháp luật quy định và phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, công khai, dân chủ

- Việc thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp chỉ được thực hiện khi có quyết định của thủ trưởng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; không được tiến hành trùng lặp, không quá một lần về cùng một nội dung trong một năm đối với một doanh nghiệp (trừ trường hợp bất thường)

Khi kết thúc việc thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp phải có kết luận bằng văn bản về nội dung đã thanh tra, kiểm tra; người được giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận của mình

- Doanh nghiệp có trách nhiệm thường xuyên tự kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, tự giác thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và phải chấp hành nghiêm chỉnh các kết luận, quyết định phù hợp với phát luật về thanh tra, kiểm tra của các cơ quan Nhà nước

2.1.2.3 Phương pháp tiến hành cuộc thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

Thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp để thực hiện yêu cầu quản lý nhà nước vềdoanh nghiệp và xử lý các hành vi vi phạm các quy định pháp luật của doanh nghiệp

Để phát hiện hành vi phạm pháp luật của doanh nghiệp cần phải tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra Việc lựa chọn vấn đề (đề tài, nội dung) thanh tra cần phải căn cứ vào: Chỉ đạo, yêu cầu của lãnh đạo trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; thông tin về tình hình thực hiện các quy định của pháp luật của các doanh nghiệp về các lĩnh vực quản lý Nhà nước; ảnh hưởng của các hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, yêu cầu xử lý hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp; khả năng thực hiện của tổ chức thanh tra Từ

đó, lựa chọn đề tài thanh tra theo từng chuyên đề hoặc toàn diện, nhiều nội dung, hoặc chỉ để giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo Thanh tra toàn diện (đồng

Trang 26

thời thanh tra, kiểm tra nhiều nội dung với nhiều doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật), hoặc thanh tra, kiểm tra các nội dung nêu trong đơn, thư khiếu nại, tố cáo để nhằm giải quyết từng vụ, việc

Tùy theo yêu cầu của quản lý nhà nước mà có thể tiến hành thanh tra, kiểm tra theo diện hoặc theo điểm.Thanh tra, kiểm tra theo diện là tiến hành thanh tra nhiều doanh nghiệp trên cùng một địa bàn (một quận, một tỉnh) hoặc trên một khu vực (nhiều tỉnh hoặc cả nước) về cùng một nội dung nhất định, trong thời gian nhất định

để phục vụ cho những yêu cầu nhất định (thường gọi là thanh tra diện rộng)

Thanh tra, kiểm tra theo điểm là chỉ tiến hành thanh tra từng doanh nghiệp với những nội dung và những mục đích khác nhau

Thanh tra, kiểm tra có thể tiến hành định kỳ hoặc đột xuất Tùy thuộc tính chất hoạt động của doanh nghiệp, của dấu hiệu vi phạm mà thanh tra, kiểm tra định kỳ (một năm, vài ba năm một lần) Thanh tra, kiểm tra đột xuất để xác định

sự tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật của doanh nghiệp hoặc khi doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật và trong trường hợp

do yêu cầu của việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo

Cơ quan quản lý Nhà nước tiến hành thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp theo phạm vi quản lý Nhà nước của mình Bộ Tài chính thực hiện thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp về lĩnh vực tài chính, giá, thuế và các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp liên quan đến các lĩnh vực nêu trên

Thanh tra, kiểm tra tài chính doanh nghiệp chủ yếu là tiến hành thanh tra, kiểm tra định kỳ Thanh tra, kiểm tra định kỳ doanh nghiệp chỉ được tiến hành khi có kế hoạch thanh tra được phê duyệt Trong các trường hợp doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật, có đơn thư khiếu nại tố cáo hoặc theo yêu cầu của quản lý thì được tiến hành thanh tra, kiểm tra đột xuất

2.1.3 Quy trình thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

Mỗi một cơ quan quản lý Nhà nước, trong phạm vi quản lý Nhà nước của mình đều ban hành và thực hiện thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp theo một quy trình

Để thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra trong phạm vi quản lý Nhà nước được giao, Bộ Tài chính đã ban hành 02 Quy trình thanh tra đối với doanh nghiệp:

- Quy trình thanh tra tài chính doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định

số 3140 /QĐ-BTC ngày 27/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Trang 27

- Quy trình thanh tra đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký giá, kê khai giá và Nhà nước thực hiện bình ổn giá ban hành kèm theo Quyết định số 2126/QĐ-BTC ngày 01/9/2011 của

Bộ trưởng BTC

Quy trình thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp [1], [2] gồm:

2.1.3.1 Chuẩn bị và ra Quyết định thanh tra, kiểm tra

- Thu thập thông tin về doanh nghiệp thuộc đối tượng thanh tra

Thông tin từ kho dữ liệu của cơ quan (dữ liệu điện tử, tài liệu lưu trữ, theo dõi nắm tình hình); từ các báo cáo, phản ánh của các cơ quan truyền thông (báo, đài,…) và đơn thư khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, tổ chức và cá nhân

Thông tin từ các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành Tài chính, cơ quan quản lý cấp trên và các cơ quan khác có liên quan

Thông tin từ quá trình khảo sát trực tiếp tại đối tượng thanh tra, kiểm tra + Lập báo cáo khảo sát:

Thông tin chung về đối tượng thanh tra, kiểm tra:

Quyết định thành lập doanh nghiệp; Trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện; Mã số thuế;

Ngành nghề kinh doanh (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; ngành, nghề kinh doanh chính và ngành nghề kinh doanh có liên quan);

Cơ cấu tổ chức (Cơ cấu tổ chức quản lý tại Trụ sở chính; đơn vị hạch toán phụ thuộc; Công ty TNHH một thành viên; Công ty con; Công ty liên doanh, liên kết ; Chính sách kế toán, tài chính (Tổ chức kế toán, lập báo cáo tài chính Chính sách kế toán, tài chính chung và đặc thù áp dụng trong kỳ kế toán)

Thông tin về tình hình tài chính, tài sản và kết quả kinh doanh

Nguồn vốn kinh doanh: Nợ phải trả (trong đó: nợ ngắn hạn, nợ dài hạn); Vốn chủ sở hữu (Trong đó: vốn đầu tư của chủ sở hữu…);

Tài sản: Tài sản ngắn hạn; Tài sản dài hạn (trong đó: tài sản cố định, đầu tư tài chính dài hạn);

Kết quả hoạt động kinh doanh: Doanh thu và thu nhập khác; Lợi nhuận kế toán trước thuế; Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp;

Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước;

Trang 28

Báo cáo tài chính của doanh nghiệp được kèm theo Báo cáo khảo sát Nhận định, xác định những nội dung trọng tâm: Nêu những nội dung có khả năng rủi ro cao trong quản lý tài chính, trong thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước cần tập trung thanh tra, kiểm tra

Những thuận lợi, khó khăn:

Tình hình điều tra, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán tài chính đối với doanh nghiệp trong thời gian 12 tháng về trước kể từ ngày lập Báo cáo khảo sát;

Dự báo những thuận lợi, khó khăn khi tiến hành thanh tra

Đề xuất thanh tra, kiểm tra:

Nội dung thanh tra, kiểm tra, trong đó nêu rõ nội dung trọng tâm, trọng điểm khi tiến hành thanh tra;

Thời hạn và thời kỳ thanh tra, kiểm tra;

Những doanh nghiệp dự kiến thanh tra, kiểm tra, xác minh (tên, địa chỉ, …); Đoàn thanh tra, kiểm tra: Số người tham gia; yêu cầu về chức vụ, trình độ nghiệp vụ của Trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra (cấp Vụ, cấp Phòng, ngạch thanh tra); phân chia tổ, nhóm

- Lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra: Kế hoạch thanh tra, kiểm tra bao gồm: + Mục đích, yêu cầu cuộc thanh tra, kiểm tra: Xác định rõ mục đích cần đạt được sau khi kết thúc thanh tra (phục vụ cho hoạt động chỉ đạo, điều hành, xây dựng chính sách về tài chính doanh nghiệp phục vụ cho quản lý, giám sát, đánh giá toàn diện về thực trạng tài chính của doanh nghiệp; phục vụ các nhiệm vụ quản lý khác)

+ Nội dung thanh tra, kiểm tra:

Xác định nội dung tiến hành thanh tra; trong đó nội dung trọng tâm, trọng điểm; Xây dựng nội dung chi tiết cho từng nội dung thanh tra; phương pháp tiến hành; những nơi đến thanh tra, kiểm tra, xác minh; thời gian thực hiện cho mỗi nội dung

+ Thời kỳ, thời hạn và đối tượng thanh tra, kiểm tra:

Thời kỳ thanh tra, kiểm tra của toàn bộ nội dung hoặc cho từng nội dung cụ thể; Thời hạn thanh tra, kiểm tra cho toàn cuộc thanh tra theo Quyết định thanh tra; Đối tượng thanh tra, kiểm tra, xác minh

Trang 29

+ Lực lượng thanh tra, kiểm tra: Số lượng người tham gia thanh tra, kiểm tra, bao gồm: trưởng đoàn, phó trưởng đoàn, tổ trưởng, thành viên đoàn thanh tra, kiểm tra và cộng tác viên (nếu có)

+ Tổ chức thực hiện

+ Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên của đoàn thanh tra, kiểm tra thực hiện từng nhiệm vụ theo đề cương, kế hoạch thanh tra, kiểm tra đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

+ Giao nhiệm vụ và trách nhiệm cho trưởng đoàn, tổ trưởng (nếu có) + Nêu nguyên tắc phối hợp và việc chấp hành các quy trình, quy chế

+ Phân công chuẩn bị triển khai thanh tra, kiểm tra

+ Người giám sát và chỉ đạo đoàn thanh tra, kiểm tra

- Ra quyết định, phê duyệt kế hoạch thanh tra, kiểm tra:

Người được giao nhiệm vụ có trách nhiệm trình Chánh thanh tra hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước dự thảo Quyết định thanh tra, kiểmtra kèm theo

kế hoạch thanh tra, kiểm tra và báo cáo khảo sát

Chánh thanh tra hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước xem xét ký ban hành Quyết định thanh tra, kiểm tra; phê duyệt kế hoạch thanh tra, kiểm tra Quyết định thanh tra, kiểm tra phải nêu rõ các căn cứ để ra quyết định thanh tra, kiểm tra; tên doanh nghiệp là đối tượng thanh tra, kiểm tra; nội dung, thời kỳ

và thời hạn thanh tra, kiểm tra; thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan công tác thanh tra, kiểm tra; gửi các cơ quan đơn vị liên quan theo quy định của pháp luật

- Chuẩn bị triển khai thanh tra, kiểm tra:

+ Thông báo cho doanh nghiệp về kế hoạch triển khai thanh tra, kiểm tra: Sau khi quyết định thanh tra, kiểm tra được lưu hành, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm thông báo cho đối tượng thanh tra về kế hoạch công bố quyết định thanh tra gồm:

Thời gian, địa điểm, thành phần tham dự công bố quyết định thanh tra; Yêu cầu đối tượng thanh tra chuẩn bị những nội dung cần thiết và báo cáo đoàn thanh tra tại buổi công bố

+ Họp đoàn, triển khai thanh tra, kiểm tra:

Trang 30

Trưởng đoàn thanh tra tổ chức họp đoàn thanh tra, kiểm tra để quán triệt kế hoạch thanh tra, kiểm tra đã được phê duyệt, kế hoạch triển khai thanh tra, kiểm tra; bàn các biện pháp cụ thể để tổ chức thực hiện kế hoạch; giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ thanh tra, từng thành viên đoàn thanh tra

Đối với cuộc thanh tra có nhiều nội dung phức tạp, cuộc thanh tra diện rộng hoặc thành phần đoàn thanh tra có các thành viên là người của nhiều cơ quan, đơn vị tham gia; Trưởng đoàn thanh tra hoặc người được người ra quyết định thanh tra giao nhiệm vụ, tiến hành quán triệt và tổ chức tập huấn những nội dung cần thiết, thống nhất phương pháp tiến hành thanh tra

Chuẩn bị đầy đủ văn bản về chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức liên quan đến nội dung thanh tra

Căn cứ nhiệm vụ được giao, từng thành viên hoàn chỉnh kế hoạch chi tiết của mình, trình trưởng đoàn phê duyệt trước khi triển khai thanh tra Kế hoạch phải nêu rõ nội dung công việc, phương pháp tiến hành, thời gian thực hiện Chuẩn bị phương tiện, thiết bị, kinh phí và những điều kiện vật chất cần thiết khác phục vụ cho hoạt động của đoàn thanh tra

2.1.3.2 Tiến hành thanh tra, kiểm tra

- Công bố quyết định thanh tra, kiểm tra:

Trong thời hạn theo quy định của pháp luật, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm công bố quyết định thanh tra với đối tượng thanh tra

Thực hiện công bố đầy đủ nội dung, quyết định thanh tra và nêu rõ mục đích, yêu cầu, cách thức làm việc, kế hoạch tiến hành thanh tra

Yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo Đoàn thanh tra những nội dung mà Trưởng đoàn đã thông báo về từng nội dung thanh tra theo Quyết định thanh tra Cuộc họp công bố quyết định thanh tra phải được lập thành biên bản và được ký giữa Trưởng đoàn thanh tra và người đại diện theo pháp luật của đối tượng thanh tra

- Thực hiện thanh tra, kiểm tra:

Sau khi công bố Quyết định thanh tra, kiểm tra Đoàn thanh tra, kiểm tra tiến hành thanh tra, kiểm tra từng nội dung được ghi trong Quyết định thanh tra, kiểm tra Căn cứ vào các quy định của pháp luật (Luật, Nghị định, Thông tư) theo phạm vi các nội dung thanh tra, kiểm tra; tiến hành kiểm tra, đối chiếu, xác minh

Trang 31

việc chấp hành của doanh nghiệp đối với các quy định của pháp luật; xác định hành vi sai phạm, mức độ sai phạm; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với từng sai phạm để kiến nghị cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý thu hồi các tổn thất về tài chính, nghĩa vụ với ngân sách nhà nước và xử lý trách nhiệm tập thể,

cá nhân đối với hành vi vi phạm

Căn cứ vào các quy định của pháp luật theo phạm vi các nội dung thanh tra, kiểm tra; tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện, chấp hành của doanh nghiệp đối với các quy định của pháp luật; xác định sự bất hợp lý của cơ chế chính sách quản lý để kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền bải bỏ, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ chế chính sách cho phù hợp với thực tiễn

- Thực hiện xử phạt vi phạm hành chính:

Trường hợp đối tượng thanh tra có hành vi vi phạm hành chính về lĩnh vực giá, hoá đơn chứng từ, thuế, kế toán, chứng khoán Đoàn thanh tra tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính, chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Thời hạn gửi biên bản vi phạm hành chính và

ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định pháp luật Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với lĩnh vực giá là 02 năm; đối với lĩnh vực thuế là 05 năm

2.1.3.3 Kết thúc thanh tra, kiểm tra

- Báo cáo kết quả thanh tra, dự thảo Kết luận thanh tra, kiểm tra

Kết thúc thanh tra tại từng đơn vị được thanh tra theo quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra lập, thông qua và ký Biên bản thanh tra với đối tượng thanh tra trong thời hạn của cuộc thanh tra theo chỉ đạo của người được giao chỉ đạo Đoàn thanh tra Biên bản ghi rõ tình hình, những sai, đúng so với quy định của pháp luật

Trong thời hạn theo quy định, Trưởng đoàn thanh tra lập báo cáo kết quả thanh tra, ký và gửi tới người ra quyết định thanh tra kèm theo Dự thảo kết luận thanh tra

Báo cáo kết quả thanh tra nêu rõ kết quả công việc theo kế hoạch thanh tra

đã được duyệt, những ý kiến giải trình của đối tượng thanh tra; đề xuất những nội dung kiến nghị xử lý về kinh tế, hành chính, với đối tượng thanh tra; Đề xuất kiến nghị đối với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan

Trang 32

Dự thảo Kết luận thanh tra phản ánh tình hình chung, nội dung kết luận và kiến nghị xử lý Mỗi nội dung kết luận phải nêu rõ sự việc, căn cứ đúng, sai, nguyên nhân, trách nhiệm, hình thức xử lý, thời hạn chấp hành

Trưởng đoàn thanh tra tổ chức lấy ý kiến tham gia của các thành viên đoàn thanh tra vào báo cáo Kết quả thanh tra và dự thảo Kết luận thanh tra Các ý kiến tham gia phải bằng văn bản và lưu hồ sơ thanh tra Kiến nghị của Trưởng đoàn

và của các thành viên đoàn thanh tra được thực hiện theo quy định của pháp luật

- Kết luận thanh tra và lưu hành kết luận thanh tra, kiểm tra:

Trong thời hạn theo quy định của pháp luật về thanh tra, người ra quyết định thanh tra xem xét và ra Kết luận thanh tra

Trong quá trình xem xét, người ra kết luận thanh tra có thể yêu cầu Trưởng đoàn thanh tra, các đối tượng được thanh tra giải trình, bổ sung tài liệu, chứng cứ

về những vấn đề dự kiến kết luận chưa rõ

Trước khi ra Kết luận thanh tra người ra quyết định thanh tra hoặc người được giao quyền tổ chức làm việc với đối tượng được thanh tra về Dự thảo Kết luận thanh tra Cuộc họp làm việc phải được lập thành biên bản ghi ý kiến các bên tham gia

Kết luận thanh tra được gửi cho đối tượng thanh tra và thực hiện công khai theo quy định của Luật Thanh tra và quy định cụ thể của Bộ Tài chính

- Bàn giao, lưu trữ hồ sơ thanh tra, kiểm tra:

Sau khi lưu hành Kết luận thanh tra, trong thời hạn theo quy định, Trưởng Đoàn có trách nhiệm bàn giao hồ sơ cuộc thanh tra cho những bộ phận, người

được giao nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và quy chế của cơ quan

Hồ sơ, tài liệu bàn giao phải được lập thành biên bản, lưu cùng hồ sơ thanh tra

- Họp rút kinh nghiệm Đoàn thanh tra, kiểm tra:

Trong thời hạn theo quy định, Trưởng đoàn có trách nhiệm triệu tập các thành viên trong Đoàn thanh tra, họp rút kinh nghiệm, đánh giá những ưu, nhược điểm của cuộc thanh tra từ khâu chuẩn bị cho đến bàn giao hồ sơ tài liệu, rút ra những bài học kinh nghiệm; đề xuất khen thưởng người làm tốt và xử lý những cán bộ có sai phạm Cuộc họp rút kinh nghiệm được lập thành biên bản, lưu hồ

sơ thanh tra

Trang 33

2.1.4 Một số vấn đề chung về kinh doanh xăng dầu

2.1.4.1 Khái niệm về xăng dầu

Xăng dầu là tên chung để chỉ các sản phẩm của quá trình lọc dầu mỏ, dùng làm nhiên liệu gồm: xăng động cơ, dầu diezel, dầu hỏa, dầu mazút, nhiên liệu máy bay; các sản phẩm khác dùng làm nhiên liệu động cơ, không bao gồm các loại khí hóa lỏng Xăng dầu là sản phẩm từ dầu mỏ với thành phần cơ bản là các loại cacbuahydro Tùy theo công dụng, xăng dầu được chia thành: các loại xăng, dầu hỏa thông dụng, nhiên liệu phản lực, nhiên liệu diezel và dầu bôi trơn…

Đặc điểm chung của nhóm sản phẩm này là dễ cháy, đặc biệt khí nén ở áp suất cao chuyển thành thể khí Khi cháy chúng phát sáng, thể tích tăng đột ngột và sinh nhiệt Xăng dầu là một loại hàng hóa được sử dụng rất rộng rãi trong cuộc sống

và trong các ngành công nghiệp Xăng dầu được dùng để thắp sáng và tạo nhiệt (xăng, dầu hỏa, nhiên liệu diezel, nhiên liệu phản lực) Xăng dầu dùng cho các loại động cơ đốt trong, làm nhiêu liệu dùng cho động cơ nổ diezel, nhiên liệu dùng cho động cơ phản lực Nhóm dầu nhờn dùng trong các động cơ nổ với mục đích làm mát động cơ, bôi trơn làm giảm ma sát cho các bộ phận và chi tiết chuyển động làm tăng tuổi thọ thiết bị Xăng dầu dùng làm dung môi trong nhiều ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp sơn do có khả năng hòa tan nhiều chất hữu cơ

Xăng dầu là loại hàng hóa quan trọng vì (i) xăng dầu là yếu tố đầu vào quan trọng và chưa thể thay thế được của sản xuất, (ii) xăng dầu là năng lượng phục vụ dân sinh, quốc phòng và an ninh Do xăng dầu là hàng hóa quan trọng nên các quốc gia đều có chính sách, chiến lược và các biện pháp quản lý sản xuất, kinh doanh và dự trữ xăng dầu Xăng dầu là mặt hàng chiến lược, có tầm quan trọng, có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế và sự ổn định xã hội của mỗi quốc gia Xăng dầu là yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất, đồng thời

là loại năng lượng có hạn, không thể tái sinh và chưa thể thay thế được Sự biến động của xăng dầu trên thị trường thế giới ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế quốc gia nói chung

2.1.4.2 Kinh doanh xăng dầu

Kinh doanh là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống kinh tế của nước ta cũng như các nước trên thế giới, trên thực tế khái niệm kinh doanh

có nhiều cách hiểu Theo cách hiểu thông thường, kinh doanh đượch iểu là các

Trang 34

hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua, bán hàng hóa Theo cách hiểu này thì kinh doanh đồng nhất với khái niệm về thương mại được nêu trong Bộ luật Thương mại Việt Nam ban hành năm 1997

Tuy nhiên, khái niệm “kinh doanh” chính thức được Luật pháp Việt Nam

sử dụng từ năm 1990 khi Chính phủ đưa ra hai bộ luật quan trọng, đó là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân Đến năm 1999, khái niệm “kinh doanh” một lần nữa được nhắc lại trong Luật Doanh nghiệp như sau: “Kinh doanh được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư,

từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Theo đó, kinh doanh bao hàm cả các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa, các hoạt động sản xuất, gia công, đầu tư hay các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi Cách hiểu này về kinh doanh khá tương đồng với khái niệm thương mại mới được nêu ra trong Luật Thương mại sửa đổi năm 2005 Theo Bộ luật này, “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục tiêu sinh lợi khác”, đây cũng là cách hiểu phổ biến về thương mại trên thế giới Như vậy, hiện nay khái niệm kinh doanh được hiểu như

là thương mại theo nghĩa rộng

Bên cạnh hoạt động thương mại trong nước, một nội dung không thể không nhắc đến của hoạt động thương mại là thương mại quốc tế, hoạt động này được hiểu là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia, thông qua mua bán, lấy tiền làm môi giới, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa ra lợi ích cho các bên Thương mại quốc tế có mầm mống từ hàng ngàn năm nay,

nó ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn giữ vị trí trung tâm trong các hoạt động kinh

tế quốc tế Trong thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, dưới góc độ của một quốc gia có thể kể đến các hoạt động sau: xuất và nhập khẩu hàng hóa, gia công, tái xuất khẩu, chuyển khẩu và xuất khẩu tại chỗ Trong đó hoạt động xuất và nhập khẩu hàng hóa được coi là phổ biến nhất

Trước kia nói đến xuất nhập khẩu thường được hiểu là việc xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình, tuy nhiên ngày nay khi các loại hình hàng hóa ngày càng đa dạng, hoạt động xuất nhập khẩu được chia thành xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình và xuất nhập khẩu hàng hóa vô hình Có thể chia xuất nhập khẩu thành: Xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình (nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, lương thực, thực phẩm…) thông qua xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc xuất nhập

Trang 35

khẩu ủy thác Xuất nhập khẩu hàng hóa vô hình (các bí quyết công nghệ, bằng phát minh, sáng chế…) thông qua xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc ủy thác John D.Daniesl đã chia xuất nhập khẩu thành hai phần xuất nhập khẩu hàng hóa và xuất nhập khẩu dịch vụ trong đó: Xuất nhập khẩu hàng hóa là những hàng hóa hữu hình được đưa ra nước ngoài, nhập khẩu hàng hóa là những hàng hóa hữu hình được mang vào trong nước

Theo Nghị định 83/2014/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam về việc kinh doanh xăng dầu, kinh doanh xăng dầu bao gồm các hoạt động sau: Xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu, gia công xuất nhập khẩu xăng dầu nguyên liệu, sản xuất và pha chế xăng dầu; phân phối xăng dầu tại thị trường trong nước; dịch vụ cho thuê kho, cảng, bảo quản, vận chuyển xăng dầu Trong nghiên cứu này các hoạt động kinh doanh xăng dầu được tập trung nghiên cứu là hoạt động xuất nhập khẩu và phân phối xăng dầu tại thị trường trong nước

2.1.4.3 Xuất nhập khẩu và phân phối xăng dầu

Căn cứ vào định nghĩa kinh doanh được nêu trên ta có thể phân chia hoạt động kinh doanh thành các hoạt động như sau: hoạt động gia công, sản xuất; hoạt động thương mại quốc tế (Xuất nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu); hoạt động thương mại nội địa (Phân phối sản phẩm, cung cấp các dịch vụ liên quan); hoạt động đầu tư trong nước và quốc tế Các hoạt động trên chỉ được nhìn nhận là hoạt động kinh doanh khi được thực hiện với mục đích tìm kiếm lợi nhuận

Sản xuất và chế biến xăng dầu là quá trình lọc dầu, chuyển hóa dầu thô và các nguyên liệu khác thành các sản phẩm xăng dầu Nguyên liệu để sản xuất và chế biến xăng dầu gồm: dầu thô, condensate, xăng có chỉ số octan cao, refomate, naphta và các chế phẩm, phụ gia khác Trong nghiên cứu này, tác giả tách hai hoạt động cơ bản của kinh doanh xăng dầu để nghiên cứu đó là xuất nhập khẩu xăng dầu (xem xét với tư cách là đảm bảo nguồn cung) và kinh doanh thương mại nội địa (phân phối xăng dầu)

Hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu gồm các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất

Hoạt động phân phối hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó nhà sản xuất tự mình hoặc thông qua trung gian thương mại luân chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Đổi lại, trung gian thương mại nhận được một khoản tiền lời từ hoạt động đó Phân phối xăng dầu là hoạt động kinh doanh bao gồm hoạt động trực tiếp bán buôn, bán lẻ và qua hệ thống đại lý, tổng đại lý

Trang 36

Hệ thống phân phối hàng hóa là hệ thống được thiết lập trên cơ sở các phần tử tham gia và quá trình phân phối hàng hóa và mối quan hệ giữa các phần

tử đó Như vậy, hệ thống phân phối hàng hóa là hệ thống phân phối được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và cá thể, cá nhân cùng tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ nguồn hàng, hoặc nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng

Hệ thống phân phối hàng hóa là hệ thống được thiết lập trên cơ sở các phần tử tham gia và quá trình phân phối hàng hóa và mối quan hệ giữa các phần

tử đó Như vậy, hệ thống phân phối hàng hóa là hệ thống phân phối được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và cá thể, cá nhân cùng tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ nguồn hàng, hoặc nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng

Có nhiều hình thức thiết lập hệ thống phân phối, từ số lượng thành viên tham gia vào hệ thống có thể chia thành các loại kênh phân phối sau:

- Kênh phân phối trực tiếp: Là kênh phân phối không có hoặc chỉ có một trung gian thương mại Trong đó, nhà sản xuất hoặc nhập khẩu đưa trực tiếp hàng hóa đến tay khách hàng hoặc thông qua các nhà đại lý bán lẻ đưa đến tay khách hàng

- Kênh phân phối gián tiếp: Là kênh phân phối có ít nhất 2 trung gian thương mại Trong đó, hàng hóa từ tay nhà sản xuất hoặc nhập khẩu đi qua nhà bán buôn, nhà môi giới mới tới tay nhà bán lẻ và tới tay khách hàng

Do đặc điểm của sản phẩm xăng dầu là dễ cháy nổ, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng con người và tài sản, việc bảo quản, dự trữ, vận chuyển… phải đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật và công nghệ và những điều kiện khác về môi trường… nên các nước đều qui định xăng dầu là mặt hàng kinh doanh có điều kiện

Ở Việt Nam, Nghị định số 59/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật thương mại về các loại hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện Theo Nghị định này, hàng hóa kinh doanh có điều kiện được hiểu là loại hàng hóa chỉ được kinh doanh khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, bao gồm các điều kiện

về tiêu chuẩn cơ sở vật chất, trang thiết bị, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật… Các điều kiện cụ thể được cơ quan quản lý quy định riêng đối với từng mặt hàng

Trang 37

Cơ sở kinh doanh xăng dầu là nợi thực hiện việc sản xuất, chế biến, giao nhận, tồn trữ, bán lẻ xăng dầu, bao gồm: cảng chuyên dụng xuất nhập khẩu xăng dầu, nhà máy sản xuất, chế biến xăng dầu, kho xăng dầu, phương tiện vận tải xăng dầu và cửa hàng bán lẻ xăng dầu

Hệ thống đại lý xăng dầu là một bộ phận của hệ thống phân phối xăng dầu của doanh nghiệp xăng dầu đầu mối Hệ thống phân phối xăng dầu của doanh nghiệp xăng dầu đầu mối bao gồm: các đơn vị trực thuộc doanh nghiệp trực tiếp bán xăng dầu cho các hộ công nghiệp và cung ứng xăng dầu cho các đại lý, các cửa hàng bán lẻ xăng dầu trực thuộc doanh nghiệp hoặc trực thuộc các đơn vị trên Hệ thống đại lý xăng dầu bao gồm các tổng đại lý và đại lý bán lẻ xăng dầu cho người tiêu dùng

Công tác quản lý Nhà nước hoạt động kinh doanh xăng dầu nói chung được xác định là:

- Chính phủ các nước có các biện pháp và chính sách can thiệp, tác động vào hoạt động kinh doanh xăng dàu thông qua sử dụng các công cụ quản lý như pháp luật, chính sách, sử dụng công cụ thuế và phi thuế quan, thực hiện chính sách bảo hộ đối với ngành xăng dầu… Nhà nước còn đóng vai trò điều tiết thị trường, tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp tham gia vào thị trường, đảm bảo thực hiện các mục tiêu phúc lợi chung, an ninh, an toàn, đảm bảo an ninh năng lượng và các vấn đè quan trọng khác

- Thị trường thế giới và biến động của thị trường xăng dầu thế giới: xăng dầu là mặt hàng nhạy cảm, là đầu vào cho các ngành khác, ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia, đời sống sản xuất kinh doanh của người dân Tuy nhiên, cung cầu và giá cả thị trường xăng dầu thế giới lại chịu tác động của rất nhiều các nhân tố như chính trị, an ninh, chiến tranh, khủng hoảng tài chính… Hiện nay, Chính phủ của các quốc gia đều có xu hướng

“thả nổi” giá xăng dầu theo biến động giá của thị trường thế giới Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chế điều hành và can thiệp của các Chính phủ và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu của các doanh nghiệp Do đó, để minh bạch, đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng và đảm bảo việc chấp hành pháp luật tài chính, pháp luật về thuế thì hàng năm Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính tiến hành thanh tra, kiểm tra Đặc biệt trước việc phát hiện

“lỗ hổng” chênh lệch thuế giúp doanh nghiệp hưởng lợi thì việc thanh tra, kiểm tra lại càng cần thiết

Trang 38

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu

2.1.5.1 Các yếu tố khách quan

Các chính sách vĩ mô của Nhà nước là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Xét về công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố chủ yếu sau:

a Về chính sách, chế độ, cơ chế quản lý kinh doanh

Nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Yêu cầu của nền kinh tế thị trường là các doanh nghiệp phải được tự chủ trong việc quyết định giá bán các sản phẩm dịch

vụ, hàng hoá của mình.Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành và hoàn thiện rất nhiều các Luật về quản lý kinh tế, tài chính và các Luật chuyên ngành; tạo ra hành lang pháp lý trong hoạt động của các doanh nghiệp

Chính sách, chế độ càng rõ ràng, càng minh bạch thì các doanh nghiệp càng

có cơ sở để thực hiện; công tác thanh tra, kiểm tra cũng có cơ sở pháp lý để thực hiện, đạt được hiệu quả, hiệu lực cao hơn

Tuy nhiên, chính sách, tổ chức quản lý doanh nghiệp của Nhà nước còn bộ

lộ hạn chế dẫn đến hiệu quả, hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp còn thấp Ví dụ: Đối với ngành xăng dầu còn những bất cập như Nhà nước duy trì trong một thời gian dài việc bù lỗ cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu dẫn đến phản ánh không đúng kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu và làm giảm yếu tố tích cực trong quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp này

Việc thành lập các doanh nghiệp xuất phát từ các doanh nghiệp Nhà nước nhưng chưa được tổ chức, sắp xếp lại cũng bộc lộ nhiều hạn chế Cụ thể như: Tập đoàn Điện lực Việt Nam hiện nay có thể nói là doanh nghiệp độc quyền mua và độc quyền bán điện dẫn đến hạn chế rất nhiều trong việc cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Điện đồng thời cũng làm hạn chế đến kết quả thanh tra, kiểm tra của doanh nghiệp

Đối với ngành xăng dầu, riêng Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam hiện nay chiếm khoảng trên 55% thị phần xăng dầu trong nước, dẫn đến việc vận hành các

cơ chế quản lý theo thị trường rất khó thực hiện

Trang 39

b Về tổ chức hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về thanh tra, kiểm tra

Nếu việc tổ chức các Cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán có chức năng rõ ràng, riêng biệt và cơ chế phối hợp tốt thì hiệu qủa công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán doanh nghiệp đạt kết quả cao; hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán cũng ngày càng hoàn thiện về cơ chế, chính sách và đạt được kết quả tốt hơn

Hiện nay, các doanh nghiệp đang chịu sự kiểm tra, thanh tra, kiểm toán của rất nhiều các cơ quan Nhà nước: Kiểm toán Nhà nước (Kiểm toán Nhà nước ở Trung ương, Kiểm toán Nhà nước Khu vực), Thanh tra Nhà nước (Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh), Bộ Tài chính (Thanh tra Bộ Tài chính, Thanh tra Tổng cục Thuế, Thanh tra Cục Thuế ), Thanh tra Bộ chủ quản; Thanh tra chuyên ngành Để khắc phục tình trạng trùng chéo trong thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp, Nhà nước đã ban hành nhiều quy định về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp (Luật Thanh tra năm 2010 và Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/09/2011 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra; Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 17/5/2017 về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp với nội dung chính là tránh chồng chéo, trùng lắp công tác thanh tra của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 ) Tuy nhiên việc tổ chức phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, kiểm toán chưa được tốt về phối hợp tổ chức thanh tra, kiểm toán cũng như phối hợp

về nội dung thực hiện và sử dụng kết quả thanh tra, kiểm toán Từ đó dẫn đến các doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhiều nhưng hiệu quả lại không cao Cụ thể đối với công tác thanh tra, kiểm toán được thực hiện nhiều lần, trong nhiều năm tại một số đơn vị có vốn nhà nước lớn; tuy nhiên kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chưa nêu bật các tồn tại và chỉ rõ các sai phạm; chỉ đến khi các đơn vị này bị vỡ lở, bung bét các sai phạm và bị điều tra, bị phá sản thì mới chính thức công bố Điển hình là các sai phạm về tài chính, về đầu tư ngoài ngành, về đầu tư xây dựng cơ bản, về cổ phần hóa tại các Tập đoàn kinh tế lớn như: Vinashin, Vinalines, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Mobifone, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, đã thu hút được sự quan tâm của dư luận trong những năm qua

Trang 40

2.1.5.2 Các yếu tố chủ quan

a Về quy mô, năng lực doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, có chiến lược sản xuất kinh doanh lâu dài, đầu tư các ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thì sẽ có tác động rất tích cực đến công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

Thực tế hiện nay, rất nhiều ngành nghề kinh doanh ở Việt Nam có các doanh nghiệp tham gia có quy mô nhỏ, vốn ít, được tổ chức dưới hình thức công ty gia đình (dùng nhà ở làm trụ sở kinh doanh, sử dụng con cháu không có kiến thức chuyên môn để làm việc ), không tổ chức bộ máy kế toán (thuê kế toán kiêm nhiệm làm báo cáo thuế); bản thân các doanh nghiệp này cũng không có chiến lược phát triển lâu dài dẫn đến khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

b Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp

Đây cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có những doanh nghiệp có quy

mô lớn, có địa bàn kinh doanh trên phạm vi toàn quốc nhưng vẫn được tổ chức là doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, dẫn đến không có đầy đủ tư cách pháp nhân khi thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp Việc tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, kết luận, kiến nghị thanh tra đối với các doanh nghiệp này chỉ được thực hiện thông qua Công ty Mẹ (Ví dụ như: Muốn tiến hành thanh tra đối với Tổng công ty Hạ tầng mạng hay Công ty Viễn thông Quốc tế thì phải ra quyết định thanh tra Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam do 02 đơn vị này hạch toán phụ thuộc Công ty Mẹ - Tập đoàn), dẫn đến khó khăn về việc lập kế hoạch thanh tra, thủ tục tiến hành thanh tra

c Nhận thức của doanh nghiệp về công tác thanh tra, kiểm tra

Nhận thức của doanh nghiệp về công tác thanh tra, kiểm tra là nhân tố ảnh hưởng rất lớn Nếu doanh nghiệp nhận thực đúng về mục tiêu của công tác thanh tra, kiểm tra của nhà nước ngăn chặn, phòng ngừa sai phạm đồng thời tìm ra những bất cập về cơ chế chính sách để kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoàn thiện từ đó doanh nghiệp có sự hợp tác phối hợp với các Đoàn thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp thì kết quả thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuấ kinh doanh sẽ đạt được kết quả cao

Ngược lại, doanh nghiệp nhận thức công tác thanh tra, kiểm tra chủ yếu là soi mói, bới lông tìm vết, vòi vĩnh doanh nghiệp thì sẽ tạo ra sự chống đối, không

Ngày đăng: 05/04/2022, 20:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. TS. Nguyễn Thị Thanh Hoài (2013), Tăng cường công tác thanh tra thuế ở Việt Nam, ngàytruy xuất: 27/5/2013, nguồn:http://www.tapchitaichinh.vn/Trao-doi-Binh-luan/Tang-cuong-cong-tac-thanh-tra-thue-o-Viet- Nam/25832.tctc Link
1. Bộ Tài chính (2011), Quyết định số 2126/QĐ-BTC ngày 01/9/2011Về việc ban hành Quy trình Thanh tra giá hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký giá, kê khai giá và Nhà nước thực hiện bình ổn giá Khác
2. Bộ Tài chính (2011), Quyết định số 3140/QĐ-BTC ngày 27/12/2011 Về việc ban hành Quy trình Thanh tra tài chính doanh nghiệp Khác
3. Bộ Tài chính (2017),Quyết định số 2088/QĐ-BTC ngày 16/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ Tài chính Khác
4. Chính phủ (2011), Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra Khác
5. Chính phủ (2012),Nghị định số 82/2012/NĐ-CP ngày 09/10/2012 về tổ chức và hoạt động Thanh tra ngành Tài chính Khác
6. Chính phủ (2013), Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn Khác
7. Chính phủ (2013), Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giá Khác
8. Chính phủ (2014), Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 về kinh doanh xăng dầu Khác
9. Chính phủ (2015), Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 về Đăng ký doanh nghiệp Khác
10. Chính phủ (2015), Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp Khác
11. Chính phủ (2015), Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi tiết một sộ điều của Luật Doanh nghiệp Khác
12. Chính phủ (2016), Nghị định số 149/2016/NĐ-CP ngày 11/11/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giá Khác
13. Chính phủ (2017),Nghị định số 87/2017/NĐ-CP ngày 26/7/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính Khác
14. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Thương mại ngày 14/6/2005 Khác
15. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật quản lý thuế ngày 29/11/2006 Khác
16. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15/11/năm 2010 Khác
17. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật Giá số 11/2012/QH13 ngày 20/6/2012 Khác
18. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20/6/2012 Khác
19. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế ngày 20/11/2012 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tình hình cán bộ của Thanhtra Bộ Tài chính qua 03 năm 2015-2017 - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Bảng 3.1. Tình hình cán bộ của Thanhtra Bộ Tài chính qua 03 năm 2015-2017 (Trang 63)
Bảng 3.2. Số lượng các cuộc thanh tra, kiểmtra của Thanhtra Bộ Tài chính - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Bảng 3.2. Số lượng các cuộc thanh tra, kiểmtra của Thanhtra Bộ Tài chính (Trang 64)
Qua bảng số liệu 3.2 và 3.3 trên ta thấy: - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
ua bảng số liệu 3.2 và 3.3 trên ta thấy: (Trang 65)
Bảng 3.3. Kết quả thanh tra, kiểmtra của Thanhtra Bộ Tài chính - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Bảng 3.3. Kết quả thanh tra, kiểmtra của Thanhtra Bộ Tài chính (Trang 65)
Số liệu thứ cấp và nơi thu thập thông tin được thể hiện qua bảng số liệu sau: - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
li ệu thứ cấp và nơi thu thập thông tin được thể hiện qua bảng số liệu sau: (Trang 67)
Bảng 3.5. Ý nghĩa giá trị trung bình thang đo khoảng - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Bảng 3.5. Ý nghĩa giá trị trung bình thang đo khoảng (Trang 69)
Bảng 4.1. Số lượng DNđầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu thanh tra, kiểm tra qua 03 năm 2015 - 2017 - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Bảng 4.1. Số lượng DNđầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu thanh tra, kiểm tra qua 03 năm 2015 - 2017 (Trang 72)
Bảng 4.2. Tình hình kết quả SXKD của các DNđầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu thanh tra, kiểm tra qua 03 năm 2015 - 2017 - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Bảng 4.2. Tình hình kết quả SXKD của các DNđầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu thanh tra, kiểm tra qua 03 năm 2015 - 2017 (Trang 73)
Hình 4.1. Mẫu kếhoạch thanh tra, kiểmtra các DNđầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu của Thanh tra Bộ Tài chính - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Hình 4.1. Mẫu kếhoạch thanh tra, kiểmtra các DNđầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu của Thanh tra Bộ Tài chính (Trang 76)
Bảng 4.4. Quy mô nguồn nhân lực phục vụ công tác thanh tra, kiểmtra các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu qua 03 năm 2015 - 2017 - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Bảng 4.4. Quy mô nguồn nhân lực phục vụ công tác thanh tra, kiểmtra các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu qua 03 năm 2015 - 2017 (Trang 78)
Bảng 4.5. Trình độ chun mơn, nghiệp vụ của cán bộ thanh tra, kiểmtra các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu qua 03 năm 2015 - 2017 - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Bảng 4.5. Trình độ chun mơn, nghiệp vụ của cán bộ thanh tra, kiểmtra các DN đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu qua 03 năm 2015 - 2017 (Trang 79)
Số liệu bảng 4.6 thể hiệncơ sở vật chất phục vụ hoạt động thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính năm 2018 - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
li ệu bảng 4.6 thể hiệncơ sở vật chất phục vụ hoạt động thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Tài chính năm 2018 (Trang 80)
Bảng 4.7. Kết quả đánh giá của cán bộ thanhtra và đối tượng thanh tra, kiểm tra về công tác chuẩn bị triển khai thanh tra, kiểm tra qua 03 năm - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Bảng 4.7. Kết quả đánh giá của cán bộ thanhtra và đối tượng thanh tra, kiểm tra về công tác chuẩn bị triển khai thanh tra, kiểm tra qua 03 năm (Trang 81)
Hình 4.2. Quyết định thanhtra DNđầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Hình 4.2. Quyết định thanhtra DNđầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu (Trang 82)
Bảng 4.8. Tổng hợp hồ sơ pháp lý qua thanh tra, kiểmtra tại DN của Thanh tra Bộ Tài chính qua 03 năm 2015 - 2017 - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra của thanh tra bộ tài chính đối với các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu
Bảng 4.8. Tổng hợp hồ sơ pháp lý qua thanh tra, kiểmtra tại DN của Thanh tra Bộ Tài chính qua 03 năm 2015 - 2017 (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w