1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ

129 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Khi tiến hành nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng phương pháp chọn điểm nghiên cứu, chọn mẫu điều tra, thu thập các thông tin thứ cấp, thông tin sơ cấp sau đó tổn

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

Người hướng dẫn khoa học: TS Quyền Đình Hà

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới TS Quyền Đình Hà đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và PTTN - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ Huyện ủy, UBND huyện, Phòng Lao động Thương binh và xã hội, Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp, phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Đoan Hùng đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hộp viii

Danh mục chữ viết tắt ix

Trích yếu luận văn x

Thesis abtract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng nghiên cứu 3

1.5 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5.1 Phạm vi về nội dung 3

1.5.2 Phạm vi không gian 3

1.5.3 Phạm vi về thời gian 3

1.6 Những đóng góp mới của luận văn 4

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về nghèo, giảm nghèo 5

2.1.2 Nội dung của giảm nghèo bền vững 10

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững 13

2.2 Cơ sở thực tiễn 16

2.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững của một số nước trên thế giới 16

2.2.2 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững của các tỉnh, thành trong nước 19

2.2.3 Bài học cho kinh nghiệm cho huyện Đoan Hùng 22

2.2.4 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 24

Trang 5

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 25

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 25

3.1.2 Tình hình dân số và lao động của huyện 28

3.1.3 Văn hóa xã hội 30

3.1.4 Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của huyện 31

3.1.5 Đánh giá những thuận lợi khó khăn 34

3.2 Phương pháp nghiên cứu 35

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 35

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 36

3.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý, phân tích thông tin 38

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 39

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 41

4.1 Thực trạng giảm nghèo trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ 41

4.1.1 Thực trạng kết quả thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2014-2016 41

4.1.3 Tài sản sinh kế của người dân trong giảm nghèo bền vững 52

4.1.4 Năng lực của chính quyền và cộng đồng 59

4.1.5 Tính an toàn và phòng ngừa rủi ro 68

4.1.6 Mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản 69

4.1.7 Khả năng tiếp cận thị trường của người nghèo 70

4.2 CÁc yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững của huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ 74

4.2.1 Yếu tố về chính sách giảm nghèo bền vững 74

4.2.2 Yếu tố về ý chí thoát nghèo 76

4.2.3 Yếu tố về quy mô, đặc điểm của hộ 77

4.2.4 Yếu tố về môi trường tự nhiên 79

4.2.5 Phân tích ma trận SWOT 80

4.3 Một số giải pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ 85

4.3.1 Định hướng công tác giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 của huyện Đoan Hùng 85

Trang 6

4.3.2 Mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn huyện Đoan Hùng 86

4.3.3 Các nhóm giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ 87

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 99

5.1 Kết luận 99

5.2 Kiến nghị 100

5.2.1 Đối với Bộ Lao động Thương binh và xã hội 100

5.2.2 Đối với tỉnh, huyện 100

5.2.3 Đối với hộ nghèo 101

Tài liệu tham khảo 102

Phụ lục 105

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đoan Hùng giai đoạn 2014 - 2016 27

Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Đoan Hùng giai đoạn 2014 - 2016 29

Bảng 3.3 Tổng giá trị tăng thêm và cơ cấu các ngành kinh tế huyện Đoan Hùng giai đoạn 2014 - 2016 32

Bảng 3.4 Thông tin thứ cấp đã thu thập 36

Bảng 3.5 Số lượng và cỡ mẫu nhóm hộ điều tra 37

Bảng 4.1 Thực trạng hộ nghèo huyện Đoan Hùng giai đoạn 2014 - 2016 42

Bảng 4.2 Thực trạng hộ cận nghèo huyện Đoan Hùng giai đoạn 2014 - 2016 44

Bảng 4.3 Tình hình diễn biến hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2014 - 2016 45

Bảng 4.4 Thực trạng hộ nghèo giảm theo kết quả rà soát năm 2016 46

Bảng 4.5 Thực trạng hộ cận nghèo giảm theo kết quả rà soát năm 2016 47

Bảng 4.6 Tổng hợp nguyên nhân nghèo của hộ dân trên địa bàn huyện Đoan Hùng 48

Bảng 4.7 Đánh giá của người nghèo về mức độ tiếp cận một số chính sách và dịch vụ giảm nghèo 52

Bảng 4.8 Lao động của hộ gia đình 52

Bảng 4.9 Trình độ học vấn của chủ hộ 53

Bảng 4.10 Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình 54

Bảng 4.11 Tình hình sử dụng và nhu cầu vay vốn 55

Bảng 4.12 Tình hình nhà ở và phương tiện sinh hoạt 56

Bảng 4.13 Diện tích đất bình quân của nhóm hộ điều tra 57

Bảng 4.14 Sự tham gia của hộ vào các tổ chức xã hội 58

Bảng 4.15 Nhận thức về nhiệm vụ giảm nghèo 59

Bảng 4.16 Những rủi ro biến cố người nghèo gặp phải 68

Bảng 4.17 Tỷ lệ độ bao phủ của các hình thức bảo hiểm 69

Bảng 4.18 Mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản năm 2016 70

Bảng 4.19 Tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập từ lao động làm thuê 71

Bảng 4.20 Sự tham gia của người nghèo vào thị trường đất đai và nhu cầu mở rộng diện tích đất nông nghiệp 2016 72

Bảng 4.21 Tỷ lệ hộ có bán sản phẩm và mua vật tư nông nghiệp 73

Trang 8

Bảng 4.22 Thái độ vươn lên thoát nghèo 76

Bảng 4.23 Tỷ lệ người phụ thuộc 77

Bảng 4.24 Giới tính của chủ hộ 78

Bảng 4.25 Tổng hợp hộ nghèo, cận nghèo phân loại theo hộ năm 2016 79

Bảng 4.26 Phân tích SWOT 83

Trang 9

DANH MỤC CÁC HỘP

Hộp 4.1 Công tác tập huấn và tài liệu truyền thông về giảm nghèo 60

Hộp 4.2 Phát huy tính chủ động của người dân và cộng đồng 67

Hộp 4.3 Người nghèo ngại vay vốn ưu đãi 81

Hộp 4.4 Sản phẩm phụ thuộc vào giá cả thị trường 74

Hộp 4.5 Thiết kế hệ thống chính sách 75

Hộp 4.6 Người nghèo là chủ thể trong giảm nghèo 76

Hộp 4.7 Đất đai ảnh hưởng đến sản xuất 80

Hộp 4.8 Thời tiết, giá cả ảnh hưởng đến thu nhập 80

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương

Tên luận văn: Giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

Đề xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới

Phương pháp nghiên cứu

Khi tiến hành nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng phương pháp chọn điểm nghiên cứu, chọn mẫu điều tra, thu thập các thông tin thứ cấp, thông tin sơ cấp sau đó tổng hợp, xử lý thông tin và phân tích thông tin để thấy được toàn cảnh thực trạng về giảm nghèo, tình hình thực hiện một số chính sách giảm nghèo bền vững và một số nội dung cơ bản của giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng

ro, mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản Thực tiễn giảm nghèo, giảm nghèo ở nước Hàn Quốc, Brazil, tỉnh Bình Định, Hải Dương cho thấy những bài học kinh nghiệm để huyện Đoan Hùng thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững

Thực trạng giảm nghèo trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ cho thấy:

Trang 12

Số lượng và tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng chưa ổn định, tỷ lệ hộ cận nghèo vẫn còn cao trong khi số hộ cận nghèo thoát ra khỏi ngưỡng nghèo thấp hơn số hộ cận nghèo mới Nhóm hộ cận nghèo này rất dễ tái nghèo khi gặp các biến cố rủi ro; vẫn còn tình trạng tái nghèo, tái cận nghèo, nghèo cận nghèo phát sinh Tỷ lệ hộ nghèo mới phát sinh/hộ nghèo vẫn còn trên 10%; tỷ lệ hộ cận nghèo mới phát sinh/hộ cận nghèo trên 29% Tỷ lệ

hộ nghèo mới phát sinh/hộ nghèo thoát lên trên chuẩn cận nghèo >1 Điều này chứng tỏ kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững Tài sản sinh kế của người nghèo chưa đảm bảo để có thể vươn lên thoát nghèo bền vững: thu nhập, trình độ dân trí thấp, khả năng

đa dạng hóa nghề nghiệp thấp, khó khăn về vốn, không biết cách sử dụng có hiệu quả đồng vốn vay, tài sản và phương tiện sinh hoạt, phương tiện sản xuất còn thiếu thốn, đất đai manh mún, nhỏ hẹp, hơn nữa người nghèo là nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, họ ít tham gia vào các tổ chức đoàn thể ở địa phương để thể hiện tiếng nói của mình Năng lực của chính quyền và cộng đồng trong giảm nghèo vẫn còn nhiều hạn chế Người nghèo thường không có khả năng phòng ngừa rủi ro, chống chọi với những biến

cố xảy ra trong cuộc sống, mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản còn thấp đặc biệt

là chỉ số hố xí và nhà tiêu hợp vệ sinh, người nghèo vẫn còn nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các thị trường

Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo trên địa bàn Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ bao gồm: (i) yếu tố về chính sách giảm nghèo bền vững, (ii) yếu tố về ý chí thoát nghèo, (iii) yếu tố về quy mô, đặc điểm của hộ, (iv) yếu tố về môi trường tự nhiên

Nhóm giải pháp góp phần giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ gồm có: (i) nâng cao nhận thức, thái độ và năng lực của người nghèo; (ii) thúc đẩy việc thực thi cơ chế, chính sách phù hợp; (iii) tăng cường sự tham gia của cộng đồng; (iv) thu hút nguồn lực cho giảm nghèo

Trang 13

THESIS ABTRACT

Author's name: Nguyen Thi Thu Huong

Name of Thesis: Solutions for Sustainable Poverty Reduction in Doan Hung district, Phu Tho province

Training Major: Economic Management Code: 60.34.04.10

Name of training institution: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research purposes

The purpose of the research is to:

 Contribute to the systematization of some theoretical issues on sustainable poverty reduction and practical theories of poverty reduction in some countries and provinces in the country

 Assess the situation of poverty reduction, the implementation of some sustainable poverty reduction policies and some key contents of sustainable poverty reduction in Doan Hung district, Phu Tho province

 Analyze the factors affecting sustainable poverty reduction in Doan Hung district, Phu Tho province

 Propose solutions contribute to sustainable poverty reduction in Doan Hung district, Phu Tho province in the coming time

Research Methods

When researching the topic, we were used to methods include selecting the sample and the study site, sampling procedure, methods for synthesizing and processing data to identify the sustainable poverty reduction policies, and some key components of sustainable poverty reduction in Doan Hung district

Main results and conclusions

Sustainable poverty reduction is the effort of the state, the community and the people to achieve a living standard that is higher than their minimum standard of living and to maintain that standard of living even in the face of shocks or risks The content of sustainable poverty reduction includes guidelines, policies for sustainable poverty reduction of the party and the state These include livelihood assets of the poor, the capacity of government and community, safety and risk prevention, the level of basic social services Poverty reduction in South Korea, Brazil, Binh Dinh and Hai Duong provinces shows lessons learned for Doan Hung district to achieve sustainable poverty reduction

Trang 14

The situation of poverty reduction in Doan Hung district, Phu Tho province shows that: The number and percentage of poor households have decreased but not stable, the percentage of near-poor households remains high while the number of near-poor households has fallen out of the poverty line less than new near-poor households This near-poor household is very vulnerable to falling back on risk events There is still a situation of falling back into poverty, getting closer to the poor and near poor The rate

of poor new households/poor households is still over 10%; The percentage of new nearly poor pro/poor households over 29% The rate of poor new households/poor households escaping above the poverty line > 1 It remains to be seen that poverty reduction results are not really sustainable The livelihoods of the poor are not sufficient

to sustainably eradicate poverty: income, low educational level, low proficiency of the profession, capital constraints, unknown effective use, the lack of funds, assets and means of living, means of production are scarce, the land is fragmented and narrow, and the poor are vulnerable and vulnerable, local organizations to express their voice Government and community capacity to reduce poverty is still limited Poor people are often incapable of hedging against the events of their lives, with low levels of access to basic social services, especially latrines and sanitary latrines, the poor still have limited access to markets

Factors affecting poverty reduction in Doan Hung, Phu Tho province include (i) sustainable poverty reduction policy, (ii) deceleration of poverty, (iii) The size and characteristics of the household, (iv) the natural environment

The solutions contribute to sustainable poverty reduction in Doan Hung district, Phu Tho province consists of (i) improving awareness, attitudes and capacity of the poor; (ii) promoting the implementation of appropriate mechanisms and policies; (iii) increase community participation; (iv) Collecting resources for poverty reduction

activities

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU

Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính chất toàn cầu Nó vẫn đang tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng thế giới, trong năm 2015 có khoảng 702 triệu người, tương đương 9,6% dân số trên thế giới sống dưới chuẩn nghèo, chủ yếu là khu vực Châu Á và khu vực Nam Sahara của Châu Phi Số liệu này giảm mạnh so với 902 triệu người nghèo, chiếm 13% dân số toàn cầu trong năm 2012; năm 1999, số người nghèo cùng cực trên thế giới chiếm tới 29% (Trâm Anh, 2015)

Đói nghèo có thể gây ra những tác động tiêu cực cả về kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa: suy thoái kinh tế, bất ổn chính trị, tội phạm xã hội gia tăng, dịch bệnh, phân biệt đối xử, bất bình đẳng xã hội, giảm tuổi thọ…

Do vậy giảm nghèo là mục tiêu quan trọng của bất kỳ quốc gia nào nhằm hướng tới sự phát triển bền vững; hướng tới một xã hội công bằng, văn minh

Giảm nghèo ở Việt Nam không chỉ là vấn đề chính sách mà còn là một vấn đề xã hội Giảm nghèo đã được đưa vào thành chương trình mục tiêu quốc gia Mục tiêu đó thể hiện rất rõ trong Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011-2020:

“Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết”

Nhờ làm tốt công tác giảm nghèo mà nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

đã có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống của nhân dân được cải thiện, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng được thu hẹp Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2015) thì tỷ lệ số hộ nghèo trong cả nước đã giảm từ 12,6% năm 2011 xuống còn 8,4 năm 2014 Hộ nghèo tập trung chủ yếu ở nông thôn và vùng trung du miền núi phía Bắc

Đoan Hùng là một huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Phú Thọ, tổng diện tích tự nhiên khoảng 302 km2, huyện có 27 xã, 01 thị trấn Trong đó có 5 xã đặc biệt khó khăn và 34 thôn đặc biệt khó khăn, dân số toàn huyện khoảng 109

Trang 16

nghìn người với 14 dân tộc anh em sinh sống (UBND huyện Đoan Hùng, 2015) Các chính sách giảm nghèo bền vững thực sự đã đi vào cuộc sống, đồng thời phát huy được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp, sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân và của chính những người dân thuộc hộ nghèo; do đó Chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đã đạt được những kết quả tích cực Tỷ lệ hộ nghèo giảm qua các năm: tổng số hộ nghèo theo chuẩn đa chiều trên toàn huyện là 2.799 hộ chiếm tỷ lệ 9% giảm 0,69% so với năm 2014 (UBND huyện Đoan Hùng, 2015); năm 2016 tỷ hộ nghèo giảm xuống còn 7,61%, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và an sinh xã hội

Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không ít người dân còn tư tưởng ỷ nại không muốn thoát nghèo, trông chờ vào các chế độ hỗ trợ, thiếu ý thức vươn lên thoát nghèo Nhiều cán bộ cơ sở còn tư tưởng vẫn muốn người dân của địa phương mình được hưởng lợi từ các chính sách của Nhà nước nên kết quả bình xét hộ nghèo không chính xác

Theo Báo cáo Tổng kết thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững của UBND huyện Đoan Hùng (2015): trong giai đoạn 2011-

2015 tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện giảm 13,04% nhưng hộ cận nghèo lại tăng Năm 2011 hộ cận nghèo là 2.265 hộ, tỷ lệ 8,14%; năm 2015 còn 3.312 hộ,

tỷ lệ 9,55% (tăng 1,41%), nguy cơ tái nghèo là rất cao

Xuất phát từ những vẫn đề lý luận và thực tiễn như trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ” nhằm góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong thời gian tới

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng; từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ 1.2.2 Mục tiêu cụ thể

(1) Góp phần hệ thống hóa cơ cở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững;

Trang 17

(2) Đánh giá thực trạng giảm nghèo trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;

(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo trên địa bàn Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;

(4) Đề xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

(1) Giảm nghèo là gì? Giảm nghèo bền vững là gì? Nội dung giảm nghèo bền vững gồm có những nội dung nào? Kinh nghiệm giảm nghèo nào giúp cho hoạt động giảm nghèo bền vững cho địa bàn nghiên cứu?

(2) Thực trạng giảm nghèo trên địa bàn huyện Đoan Hùng hiện nay như thế nào? Tình hình thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo bền vững trên địa huyện Đoan Hùng diễn ra như thế nào? Những chính sách nào đang được thực hiện? Người nghèo tiếp cận với các chính sách đó ra sao?

(3) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc triển khai, thực thi các chương trình, chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Đoan Hùng là gì?

(4) Những giải pháp nào cần có để đảm bảo giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ?

1.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về giải pháp giảm nghèo bền vững

Đối tượng khảo sát: nhà lãnh đạo, quản lý, hoạch định, thực hiện chính sách ở địa phương, các hộ nghèo và các hộ thoát nghèo

1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.5.1 Phạm vi về nội dung

Đề tài tập trung phân tích thực trạng giảm nghèo, tình hình thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững, các nội dung giảm nghèo bền vững, đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện các chính sách đồng thời giảm nghèo bền vững 1.5.2 Phạm vi không gian

Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ 1.5.3 Phạm vi về thời gian

- Thời gian nghiên cứu đề tài:

Trang 18

+ Số liệu thông tin thứ cấp được thu thập qua 3 năm 2014 – 2016

+ Thông tin sơ cấp được điều tra từ tháng 6/2016 đến tháng 4 năm 2017

- Thời gian thực hiện đề tài: Tháng 5/2016 đến tháng 5/2017

1.6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

(1) Đề tài góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về nghèo, giảm nghèo, giảm nghèo bền vững và lý luận thực tiễn về giảm nghèo ở một số nước và tỉnh thành trong nước

(2) Đánh giá thực trạng giảm nghèo, tình hình thực hiện một số chính sách giảm nghèo bền vững và một số nội dung cơ bản của giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

(3) Luận văn đã phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

(4) Đề xuất một số giải pháp cần có để góp phần giảm nghèo theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới

Trang 19

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về nghèo, giảm nghèo

2.1.1.1 Khái niệm nghèo

Sự nghèo đói có thể được hiểu là sự thiếu thốn các nguồn lực vật chất như thức ăn, nước uống, quần áo, nhà ở, và các điều kiện sống nói chung, nhưng đồng thời cũng là sự thiếu thốn các nguồn lực hữu hình như việc tiếp cận giáo dục, việc làm có giá trị, sự tôn trọng của người khác Vấn đề nghèo đói nói chung được xem là rất đa dạng, tuy nhiên, thường được xem xét ở phương diện nghèo đói về tiền

Báo cáo “Phát triển con người” năm 1997, UNDP đã đề cập đến khái niệm nghèo đói về năng lực khi đề cập đến các yếu tố nguồn lực của cá nhân hoặc của

hộ gia đình (bao gồm cả nguồn lực vật chất: tài chính, các công cụ phục vụ sản xuất và phi vật chất: các quan hệ xã hội/vốn xã hội, vốn con người,…) Theo quan niệm này, một cá nhân hay một hộ gia đình được xác định là nghèo khi họ thiếu các cơ hội tiếp cận các nguồn lực đảm bảo cho cá nhân hoặc hộ gia đình có được một cuộc sống cơ bản nhất “có thể chấp nhận được”

Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian Tổ chức

Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của quốc gia

Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu

Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: “Nghèo khổ là tình trạng một

bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” (Dẫn theo Hồ Xuân Khanh, 2014)

Theo Tổ chức Liên hợp quốc (LHQ) “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn,

Trang 20

đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”

Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (Dẫn theo Đặng Nguyên Anh, 2015)

Theo Ngân hàng thế giới, vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản Chỉ số nghèo đa chiều của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y-tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập

Như vậy từ các khái niệm trên có thể hiểu nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống

Quan niệm về ngưỡng nghèo (chuẩn nghèo): Ngưỡng nghèo là ranh giới

để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo Đây là cách chính phủ các nước xác định đối tượng cho các chính sách hỗ trợ giảm nghèo Ngưỡng nghèo có thể là một ngưỡng tính bằng tiền, hay phi tiền tệ Ngưỡng nghèo phản ánh mức sống được coi là tối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh Phương pháp chung để xác định ngưỡng nghèo này là sử dụng một rổ các loại lương thực được coi là cần thiết để đảm bảo mức độ dinh dưỡng tốt cho con người Rổ lương thực đó sẽ tính đến cơ cấu tiêu dùng lương thực của các hộ gia đình đặc thù trong một nước (Thanh HVBC, 2016)

Trang 21

Chuẩn nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2000-2015 là chuẩn nghèo tuyệt đối Giai đoạn 2001-2005 (theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH): Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng; vùng nông thôn đồng bằng: 100.000đồng/người/tháng; vùng thành thị: 150.000đồng/người/tháng

Giai đoạn 2006-2010 (Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005) quy định những người có mức thu nhập sau được xếp vào nhóm hộ nghèo: Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực nông thôn là dưới 200.000 đồng/người/tháng; thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực thành thị là dưới 260.000đồng/người/tháng

Giai đoạn 2011-2015: (Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011)

có quy định như sau :

Vùng nông thôn: có mức thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống Vùng thành thị: có mức thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống Tuy nhiên để xác định và đo lường người nghèo phải đo lường được tất cả các khía cạnh thiếu hụt hay sự không thỏa mãn tất cả các nhu cầu cơ bản: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, tiếp cận thông tin…Ngưỡng thiếu hụt đa chiều là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Giai đoạn 2016-2020: (Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015)

có quy định như sau :

Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch

và vệ sinh; thông tin;

Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

Trang 22

Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình:

Hộ nghèo:

Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số

đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số

đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ cận nghèo:

Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

2.1.1.2 Khái niệm giảm nghèo

Không có một khái niệm chính xác nào về giảm nghèo vì có thể nói mục tiêu của giảm nghèo là rõ ràng Giảm nghèo có thể hiểu là giảm tỷ lệ hộ nghèo, giảm số hộ nghèo, làm tăng thu nhập, giảm khoảng cách nghèo Trên cơ sở khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo là giảm tình trạng dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống (Thái Phúc Thành, 2014)

Giảm nghèo là một trong những vấn đề xã hội được các quốc gia ưu tiên giải quyết hàng đầu trong phát triển xã hội và là một trong những chính sách an sinh xã hội ở các quốc gia trên thế giới Giảm nghèo theo bản chất đa chiều đó là tổng thể các biện pháp của Nhà nước và xã hội, của chính những đối tượng thuộc diện nghèo nhằm tạo ra các điều kiện làm tăng thu nhập cho người nghèo, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, giảm thiểu rủi ro và nguy cơ dễ bị tổn

Trang 23

thương, tăng cường tiếng nói cho người nghèo Hay nói cách khác giảm nghèo chính là sự nỗ lực của Nhà nước, cộng đồng và người dân làm cho người dân đạt được mức sống vượt trên mức sống tối thiểu

Mục tiêu của giảm nghèo là phải thoát nghèo ở các góc độ vật chất, con người và xã hội Giảm nghèo, một mặt là sự can thiệp của Nhà nước và xã hôi, mặt khác là sự tự vận động của chính các đối tượng thuộc diện nghèo Trong đó

sự can thiệp của Nhà nước và xã hội là sự quan trọng nhưng chỉ mang tính tạo lập môi trường và hỗ trợ, sự tự vươn lên của các đối tượng thuộc diện nghèo mới mang tính quyết định Giảm nghèo cần được xem xét trong biến động của hộ nghèo như: thoát nghèo, tái nghèo, nghèo mới, nghèo kinh niên Theo Thông tư

số 24/2014/TT-BLĐTBXH ngày 06 tháng 9 năm 2014 của Bộ Lao động Thương binh xã hội có nêu rõ:

Hộ mới thoát nghèo là hộ nghèo, qua điều tra, rà soát hàng năm có thu nhập cao hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật, bao gồm: Hộ mới thoát nghèo nhưng có mức thu nhập thuộc đối tượng hộ cận nghèo; hộ mới thoát nghèo

có thu nhập cao hơn chuẩn hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật

Hộ tái nghèo là những hộ trước đây thuộc hộ nghèo, đã thoát nghèo, nhưng do những yếu tố rủi ro dẫn đến mức thu nhập bình quân đầu người/tháng tại thời điểm điều tra, rà soát bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật

Hộ nghèo mới phát sinh là những hộ trước đây không thuộc hộ nghèo, nhưng do những yếu tố rủi ro dẫn đến mức thu nhập bình quân đầu người/tháng tại thời điểm điều tra, rà soát bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật

Hộ nghèo kinh niên là tình trạng hộ nghèo liên tục trong nhiều năm 2.1.1.3 Khái niệm giảm nghèo bền vững

Mở đầu cho các ý tưởng giảm nghèo bền vững, PGS-TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, để giảm nghèo trước hết cần nhận diện chính xác đối tượng nghèo Đó là nghèo tĩnh hay nghèo động? Nghèo so với Việt Nam hay so với thế giới? Những người được đánh giá là nghèo hiện nay họ thiếu năng lực, thiếu điều kiện để thoát nghèo hay không muốn thoát nghèo do quan niệm sống, do mục tiêu giàu nghèo khác nhau Đề xuất ý tưởng giảm nghèo

ở cách tiếp cận chung nhất, PGS-TS Trần Đình Thiên cho rằng, không thể giúp

Trang 24

người nghèo thoát nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống Đây là cách xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững Muốn xóa nghèo bền vững, Nhà nước, cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh

và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận

Giảm nghèo bền vững được hiểu là tình trạng dân cư đạt được các mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên mức chuẩn đó ngay cả khi gặp phải các cú sốc hay rủi ro; giảm nghèo bền vững có thể được hiểu với nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo Các yếu tố phản ánh giảm nghèo bền vững là: thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, thu nhập tăng và duy trì ở mức cao, thoát nghèo và không tái nghèo (Thái Phúc Thành, 2014) Như vậy, giảm nghèo bền vững là là sự nỗ lực của Nhà nước, cộng đồng

và người dân làm cho người dân đạt được mức sống cao hơn mức sống tối thiểu

và duy trì được mức sống đó ngay cả khi gặp những cú sốc hay rủi ro

Giảm nghèo bền vững là mục tiêu cần hướng tới của các quốc gia trên thế giới nhằm chống lại tái nghèo hoặc giảm nghèo không ổn định Ở Việt Nam, giảm nghèo bền vững là hướng tới việc cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về công tác giảm nghèo ở các vùng nghèo; góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc

và các nhóm dân cư Giảm nghèo bền vững chính là hoạt động làm cho người nghèo thoát khỏi nghèo khổ cả về vật chất, về văn hóa, tinh thần; bảo đảm không

bị tái nghèo và vươn lên mức sống trung bình, khá giả

2.1.2 Nội dung của giảm nghèo bền vững

Giảm nghèo bền vững là kết quả từ những nỗ lực của nhà nước, cộng đồng và người dân về giảm nghèo có khả năng chịu được những cú sốc hay rủi

ro thông thường

Trang 25

Hình 2.1 Bốn trụ cột đảm bảo giảm nghèo bền vững

2.1.2.1 Năng lực của người dân (Tài sản sinh kế)

Tài sản sinh kế hay vốn sinh kế bao gồm những thứ thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của con người, có thể sử dụng, khai thác trong quá trình sinh sống

và sản xuất (Thái Phúc Thành, 2014) và được biểu hiện qua các nguồn vốn sau:

Vốn nhân lực (vốn con người): bao gồm các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân của con người với tư cách là nguồn lao động xã hội như trình độ giáo dục, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng, tình trạng sức khỏe và khả năng tham gia lao động để nâng cao mức sống

Vốn tài chính: là nguồn lực tài chính mà hộ gia đình hoặc cá nhân con người có được liên quan đến các dạng thu nhập, phương thức tiết kiệm, phương tiện và dịch vụ tài chính hiện có và khả năng tiếp cận, vốn vay (nợ).Vốn tự nhiên:

là toàn bộ những yếu tố liên quan hay thuộc về tự nhiên mà cá nhân được hưởng

và phải chịu trách nhiệm như khí hậu, đất đai, sông ngòi, rừng, biển, mùa màng…

Vốn vật chất là những yếu tố có tính hiện vật mà cá nhân được sử dụng,

sở hữu như cơ sở hạ tầng giao thông, nhà ở, phương tiện, công trình thủy lợi, nước sạch… và các tài sản trong gia đình trang thiết bị máy móc, dụng cụ sinh hoạt, đồ dùng nội thất…

Vốn xã hội là toàn bộ các quan hệ, mạng lưới xã hội mà các cá nhân tham gia từ đó có được những cơ hội và lợi ích

Giảm nghèo bền vững

Năng lực Khả năng

Dịch vụ công cộng

Cơ hội phát triển

An toàn

Trang 26

Đây là những yếu tố được xem là nội lực của người nghèo, hộ nghèo, một mặt nó phản ánh tình trạng hay mức độ nghèo của các hộ thông qua các chỉ số về đất đai, thu nhập, vốn tín dụng, tiết kiệm, nhà ở trình độ giáo dục Một mặt phản ánh khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, khả năng sản xuất và tạo thu nhập

Hộ có tài sản sinh kế càng tốt thì càng có khả năng giảm nghèo nhanh và bền vững Trong các nguồn vốn trên thì nguồn lực con người giữ vai trò quyết định tồn tại dưới dạng tiềm năng

2.1.2.2 Năng lực của chính quyền và cộng đồng

Những yếu tố về năng lực chính quyền địa phương được nhìn nhận ở các khía cạnh biểu hiện của năng lực quản lý, điều hành và tính trách nhiệm (Bùi Xuân Dự, 2010) Cụ thể: xây dựng kế hoạch, thực hiện các chính sách về giảm nghèo; tư vấn, tham mưu, hỗ trợ người dân, đối thoại, giải đáp các thắc mắc…Một cộng đồng mạnh, có sự liên kết chặt chẽ, đoàn kết, tương trợ sẽ thúc đẩy địa phương phát triển nhanh và bền vững, tạo tính liên kết giữa các hộ, nhóm hộ trong cộng đồng, huy động mọi nguồn lực và chia sẻ rủi ro, đồng thời tạo các điều kiện cần thiết để người nghèo có thể vươn lên thoát nghèo một cách bền vững.Nếu chỉ dựa vào các nguồn trợ giúp trực tiếp để giảm nghèo thì khi nguồn trợ giúp không còn thì người dân sẽ trở lại với nghèo đói Khi năng lực của người dân, chính quyền và cộng đồng tốt thì người dân sẽ chủ động vươn lên thoát nghèo bằng nỗ lực của chính họ cùng với năng lực hỗ trợ của chính quyền, đồng thời hiệu quả đối phó với những rủi rõ sẽ cao hơn

2.1.2.3 Tính an toàn, phòng ngừa rủi ro

Giảm nghèo bền vững gắn với khả năng chống, chịu rủi ro Chủ động phòng, ngừa giảm thiểu rủi ro chính là nền tảng của giảm nghèo bền vững Thước đo đánh giá giảm nghèo bền vững về góc độ tính an toàn là xem xét mức

độ và cách thức người dân, cộng đồng và chính quyền địa phương dự phòng, giải quyết vấn đề rủi ro (Bùi Xuân Dự, 2010)

Người nghèo được cần được trang bị một số điều kiện tối thiểu có khả năng tránh được tình trạng tái nghèo Phòng ngừa rủi ro bằng cách san sẻ rủi ro thông qua đa dạng hóa nguồn thu nhập, giảm thiểu rủi ro bằng cách có kỹ năng

xử lý rủi ro, mua bảo hiểm đặc biệt là bảo hiểm nông nghiệp, đồng thời mở rộng

độ bao phủ của các hình thức phòng ngừa rủi ro đặc biệt là rủi ro thu nhập, điều

đó được thể hiện qua nhu cầu và khả năng tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và bảo hiểm y tế (BHYT)

Trang 27

2.1.2.4 Mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản

Dịch vụ công tốt là điều kiện quan trọng bảo đảm cho giảm nghèo nhanh

và bền vững Giảm nghèo là nỗ lực của cả nhà nước, cộng đồng và người dân trong đó nhà nước (chính quyền) và các đối tác xã hội cung cấp những dịch vụ cần thiết để người dân thực hiện các giải pháp giảm nghèo (Bùi Xuân Dự, 2010)

Dịch vụ xã hội tốt là điều kiện quan trọng đảm bảo cho giảm nghèo nhanh

và bền vững, được xét trên cơ sở khó khăn, rào cản của người nghèo khi tiếp cận các dịch vụ công, đánh giá chất lượng dịch vụ; bao gồm 10 chỉ số: Tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

2.1.2.5 Khả năng tiếp cận thị trường của người nghèo

Cơ hội phát triển luôn là vô tận và ngày càng phong phú, tuy nhiên người nghèo không dễ để có thể tiếp cận và khai thác được các cơ hội bởi những bất lợi (thế) so với những nhóm giàu hay khả giả hơn Với cơ hội đồng đều hơn cho mọi người trên thế giới nhờ “dân chủ hoá công nghệ“ đặc biệt là công nghệ thông tin Tuy nhiên, nhiều vùng “lõm“ (nơi nhiều người nghèo) vẫn chưa được tiếp cận và hưởng lợi

Trên thực tế, nhiều cơ hội còn xa với người nghèo do thiếu các kênh để người nghèo tiếp cận Vậy nếu đánh giá về khía cạnh cơ hội phát triển để bảo đảm giảm nghèo bền vững thì tiêu thức nào cần phải quan tâm Như chúng ta đều biết cơ hội phát triển gắn với việc tiếp cận với các thị trường (thị trường lao động, đất đai, công nghệ, thông tin, tài chính, hàng hoá, tín dụng, ) tuy nhiên việc tiếp cận với các thị trường này thông qua các yếu tố về kênh (tiếp cận bằng cách nào?) Do đó, cần xem xét độ mở của các cơ hội cho người nghèo tiếp cận (theo kênh có thể tiếp cận) hay khả năng tiếp cận được (Bùi Xuân Dự, 2010)

Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng tiếp cận các thị trường: thị trường lao động, thị trường đất đai, thị trường công nghệ thông tin, thị trường tín dụng

và thị trường hàng hóa

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững

2.1.3.1 Chủ trương chính sách giảm nghèo bền vững

Để giảm nghèo bền vững thì chủ trương, chính sách của các cơ quan quản

lý nhà nước cũng là một trong những yếu tố quan trọng Chính sách được ban

Trang 28

hành từ các Bộ, ngành Trung ương đến địa phương nhằm định hướng, hỗ trợ cho các hộ nghèo, vùng nghèo Do đó, việc ban hành chính sách giảm nghèo đặc biệt chính sách hỗ trợ giảm nghèo phải gắn với chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế, phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, phân định rõ vai trò của nhà nước, của các tổ chức trong xã hội trong việc phối hợp để nâng cao mức sống cho người nghèo, tạo cho họ những cơ hội phát triển trong đời sống cộng đồng bằng chính lao động của bản thân

Tình trạng chính sách chồng chéo, khó thực hiện, hoặc có chính sách mà không cân đối được nguồn lực để thực hiện; tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo, tình trạng huy động nguồn lực chưa đáp ứng được nhu cầu, sử dụng nguồn lực hiệu quả chưa cao, có nơi chưa dành ưu tiên cho công tác giảm nghèo hoặc trông chờ, ỷ lại và ngân sách Trung ương (Ngô Thị Quang, 2016)

Các chính sách của nhà nước liên quan đến giảm nghèo bền vững chủ yếu

là các chính sách như: chính sách ưu đãi tín dụng cho người nghèo, chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế, chính sách hỗ trợ người nghèo về giáo dục, chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo, chính sách hỗ trợ tiền điện, nhà ở, chính sách hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề, đầu tư cơ sở hạ tầng Các chính sách này ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu chương trình quốc gia về giảm nghèo bền vững và là điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập, làm cho họ tiếp cận các dịch vụ xã hội, nâng cao năng lực và nhận thức để có thể thoát nghèo bền vững; đồng thời thu hẹp dần khoảng cách

về mức sống giữa các vùng miền

2.1.3.2 Ý chí quyết tâm thoát nghèo của người nghèo

Để người nghèo thực hiện được mục tiêu giảm nghèo thì bản thân họ phải

có quyết tâm, ý chí Thực tế, còn không không ít tình trạng người nghèo vẫn còn

tư tưởng cam phận, không cố gắng vươn lên thậm chí là ỷ nại, trông chờ vào sự

hỗ trợ của Nhà nước (Hà Ngọc Tùng, 2014), của các nhà hảo tâm, thiếu ý chí, quyết tâm vươn lên thoát nghèo Chính điều này là rào cản trong công tác giảm nghèo, thậm chí là yếu tố quyết định đến số lượng hộ nghèo hàng năm Muốn công tác giảm nghèo đạt hiệu quả thì chính quyền, các đoàn thể và cộng đồng phải làm sao để chính hộ nghèo thật sự có ý chí tự lực, tự cường khi đó mọi chính sách khác sẽ trở thành đòn bẩy, là “cần câu” giúp hộ nghèo vươn lên thoát bền vững Thực tế, còn không không ít tình trạng người nghèo có tư tưởng cam phận, không cố gắng vươn lên thậm chí là ỷ nại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà

Trang 29

nước Đây là vấn đề quan trọng trong giảm nghèo bền vững Để giảm nghèo bền vững thì người dân phải ý thức được giá trị của việc nỗ lực vươn lên, mong muốn

có được cuộc sống tốt hơn, tin tưởng có thể vượt lên và thoát khỏi đói nghèo 2.1.3.3 Yếu tố liên quan đến quy mô, đặc điểm của hộ

Quy mô hộ gia đình ở nông thôn, đây là “mẫu số” quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ nghèo (Đặng Thị Hoài, 2011) Quy mô, đặc điểm của hộ ảnh hưởng trực tiếp đến giảm nghèo bền vững Khi nói đến qui mô của hộ gia đình người ta thường đề cập cụ thể đến số lượng thành viên của gia đình Hộ nghèo thường thuộc hộ gia đình có quy mô gia đình lớn, có đông con và tuổi con còn nhỏ Tỷ lệ sinh con trong các hộ gia đình nghèo thường rất cao Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về sức khỏe sinh sản cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế Vì đông con nên chi phí sinh hoạt cho từng thành viên cũng hạn chế Tỷ

lệ người sống phụ thuộc cao cũng là nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện giảm nghèo Số người trong gia đình thì đông, số lao động chính ít, thu nhập gánh cả cho những người phụ thuộc, người không thể tự nuôi sống bản thân Do vậy đời sống của họ đã khó khăn lại chồng chất khó khăn, không thể vươn lên thoát nghèo bền vững

2.1.3.4 Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên là các yếu tố tự nhiên có thể ảnh hưởng theo chiều hướng có lợi hay bất lợi đến chiến lược sinh kế và hoạt động sinh kế của hộ gia đình Người nghèo dễ bị tổn thương khi phải chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài, những khó khăn hàng ngày, những biến động bất thường xảy ra hay những rủi ro tự nhiên như thiên tai, bão lũ, mất việc làm, ốm đau, rủi ro môi trường sản xuất, rủi ro kinh tế, rủi ro xã hội…Các yếu tố này tác động tiêu cực đến các tài sản sinh kế và là một nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo và tái nghèo

- Vị trí địa lý: Đây là nhân tố tác động đến kết quả giảm nghèo bền vững

Vị trí địa lý không thuận lợi ở những nơi xa xôi hẻo lánh, địa hình phức tạp, không có đường giao thông, điều kiện để xây dựng kết cấu hạ tầng bị hạn chế Người dân sẽ khó tiếp cận được các nguồn lực để vươn lên thoát nghèo như y tế, giáo dục, tín dụng, khoa học kỹ thuật và công nghệ, thị trường

- Đất đai: Đất đai không thuận lợi cho sản xuất, đất đai canh tác ít, đất khó canh tác, cằn cỗi, năng suất cây trồng vật nuôi thấp Đây là nguyên nhân dẫn đến sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với những vùng thuần

Trang 30

nông Thiếu đất sản xuất ảnh hưởng đến khả năng lương thực của người nghèo và khả năng đa dạng hóa sản xuất hướng tới những loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, dẫn đến thu nhập của người nông dân thấp, tích lũy hoặc tái sản xuất mở rộng bị hạn chế hoặc không có nên người nghèo lại tiếp tục nghèo

- Khí hậu thời tiết: Thiên nhiên khắc nhiệt, thiên tai thường xảy ra như hạn hán, lũ lụt, cháy rừng ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất cũng như đời sống của người dân, làm cho công tác giảm nghèo cũng khó bền vững

lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra, lương thực dự trữ không có, nạn đói triền miên Phong trào Saemaul Undong- phong trào xây dựng và phát triển Làng mới (PTLM) (1970) là một bước đột phá giúp Hàn Quốc từ một quốc gia lạc hậu, nghèo đói trở thành một trong những nước phát triển hàng đầu Bằng cách thành lập các ban phát triển tự quản ở cấp thôn do nông dân tự nguyện tổ chức Cộng đồng làng là cấp xây dựng, lập kế hoạch, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện các mục tiêu (dự án phát triển nông thôn) của mình, Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần và bằng hiện vật (xi măng, sắt thép), đào tạo kỹ thuật…không hỗ trợ cho không bằng tiền, nếu hỗ trợ thì cho vay có điều kiện

Mục tiêu của PTLM là cuộc sống đầy đủ về kinh tế nhưng không quên hướng tới một cuộc sống có ý nghĩa, hạnh phúc và trong sạch về lối sống, văn hóa PTLM bao gồm các nội dung: xóa đói nghèo, tăng thu nhập, làng xóm quan tâm giúp đỡ nhau, tiết kiệm và có cảnh quan đẹp

Trong thời gian thử nghiệm từ tháng 10/1970-02/1971, chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ 335 bao xi măng (40kg/bao) cho 33.267 thôn để người dân tự thực hiện các dự án Kết quả sau hơn 1 năm thử nghiệm có 16.600/33.267 thôn thực hiện dự án có kết quả vượt mong đợi, nhà ở được cải tạo mái, đường giao thông được bê tông hóa, trạm bơm nước sạch được xây dựng, nhiều hợp tác xã chăn nuôi gia cẩm, ngân hàng gia súc, các nông trường được thành lập (Đỗ Thị Phượng, 2015)

Trang 31

Sau năm 1971, chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra nguyên tắc hỗ trợ ưu tiên cho làng ưu tú Những cộng đồng không có tinh thần chăm chỉ, tự lực, chính phủ

sẽ giảm hoặc cắt khoản hỗ trợ

Từ năm 1972-1981, Hàn Quốc đã xây dựng kế hoạch phát triển lâu dài PTLM dưới dạng phong trào hiện đại hóa nông thôn Cụ thể xây dựng các dự án chuẩn về cơ sở sản xuất, nâng cao thu nhập, phủ xanh đồi trọc, môi trường phúc lợi, giáo dục sinh hoạt tiết kiệm, xóa bỏ tệ nạn, tổ chức hợp tác nhân dân, đơn giản hóa các tập tục hủ tục, giảm tăng dân số, mỗi hộ tiết kiệm 20.000 won trở lên, lập quỹ xã 1 triệu won trở lên PTLM mới được mở rộng theo mức độ tăng dần (Đỗ Thị Phượng, 2015)

Sau 30 năm thực hiện, phong trào Saemaul Undong đã “mang cả nước đến với nông dân”, hỗ trợ để nông dân tự quyết định và tổ chức cuộc sống của mình Kết quả lớn nhất là những người nông dân đói nghèo trở nên tự tin, nông thôn trở thành xã hội năng động, có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư, và nhờ đó mà có khả năng tự phát triển Về bản chất thì phong trào Làng mới chính là việc phát huy vai trò tự quản của địa phương Trong số rất nhiều giải pháp làm nên thành công

ấy, bài học kinh nghiệm được rút ra là để người dân làm chủ quá trình phát triển nông thôn, cuộc sống của mình

Nếu xét từ góc độ giảm nghèo thì phong trào này có rất nhiều điểm tương đồng với công cuộc xây dựng nông thôn mới và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay Với phương châm “huy động nội lực của nông dân, phát triển các cộng đồng nông dân tại mọi làng xã, phát huy tinh thần làm chủ, ý chí sáng tạo, tự tin của người dân”, cùng nguồn hỗ trợ vật chất (xi măng, sắt thép), phong trào Saemaul Undong được triển khai thành công, đóng góp tích cực vào công tác hiện đại hóa nông thôn (Minh Quang, 2015)

2.2.1.2 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Brazil

Nếu như trước kia, Brazil được coi là một trong những quốc gia có sự chênh lệch giàu nghèo lớn nhất thế giới, thì ngày nay, đất nước của những vũ điệu Sam-ba được coi là một trong những quốc gia đang phát triển đi đầu trong cuộc chiến chống đói nghèo trên thế giới

Kinh nghiệm từ mô hình xóa đói nghèo Fome Zero của Brazil mang đến nhiều bài học quí giá cho các nước đang phát triển Chương trình phúc lợi xã hội lớn nhất tại Brazil này đã góp phần giúp xứ sở vũ điệu samba vừa đạt được

Trang 32

Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của mình: giảm tỷ lệ hộ nghèo đến 50% chỉ trong 5 năm (2003-2008), trong đó diện đặc biệt nghèo giảm đến 48% (Thuận Hải, 2011)

Fome Zero kêu gọi tất cả người dân Brazil chung tay xóa đói, giảm nghèo Mọi cá nhân được khuyến khích đóng góp thức ăn và tiền bạc cho các hội từ thiện địa phương hoặc trực tiếp cho chương trình

Ông Ananias cùng các cộng sự của mình đã chỉ đạo nhân rộng Fome Zero trên toàn đất nước với những chương trình ngắn hạn và dài hạn Trong đó, Bolsa Familia (chương trình trợ cấp tiền cho các hộ nghèo) là chương trình mục tiêu ngắn hạn chính, giúp Brazil gia tăng đáng kể nguồn quỹ, từ 649 triệu USD năm

2001 lên 4,95 tỉ USD năm 2009 (Thuận Hải, 2011) "Bolsa Familia" là chương trình chống đói nghèo được đánh giá có quy mô lớn nhất thế giới và được nhiều nước quan tâm nghiên cứu áp dụng Bolsa Familia cho phép các hộ nghèo nhất đất nước nhận hỗ trợ tài chính trực tiếp từ chính phủ "Bolsa Familia" hiện là chương trình chuyển giao tiền mặt lớn nhất thế giới, giúp cắt giảm nạn suy dinh dưỡng của trẻ em Brazil tới 45%

Theo báo cáo của ActionAid và LHQ, chương trình chiếm 2% tổng nguồn ngân sách liên bang Brazil đến được với khoảng 13 triệu hộ gia đình (số người được hưởng chiếm khoảng 25% dân số đất nước) Nhờ các chính sách đúng đắn của chương trình, tỷ lệ trẻ em tới trường tăng cao, trong khi tỷ lệ tử vong ở trẻ giảm mạnh trong thập kỷ qua Quốc gia Nam Mỹ này đã tiến xa trong nỗ lực diệt trừ tận gốc tình trạng nghèo khổ khi làm được một điều gần như là phép màu Dưới thời cựu Tổng thống Lula da Silva (2003-2010), với dân số hơn 190 triệu người, Brazil đã đưa 36 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo đói, tạo thêm 15,4 triệu việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống mức thấp nhất là 6,5% (Kim Phượng, 2013)

Theo Giáo sư Andre Portela Souza thuộc Quỹ Getulio Vargas và là nhà nghiên cứu về kinh tế học gia đình, Brazil đã đạt được những mục tiêu thiên niên

kỷ về chống đói nghèo mà LHQ đặt ra cho 25 năm chỉ trong vòng có 5 năm Hàng chục triệu người nghèo nay đã trở thành những người tiêu dùng nhờ những khoản trợ cấp của chính phủ Với "Bolsa Familia", tỷ lệ nghèo đói đã giảm mạnh nhờ sự tập trung vào hai trụ cột chính là giáo dục và y tế Trước đó, chương trình

xã hội lớn duy nhất của Brazil là chế độ hưu trí cho người già Quỹ trợ cấp này

Trang 33

chỉ đến với những người lao động trong lĩnh vực công, nhưng những người thực

sự nghèo ở Brazil lại không kiếm được việc làm trong các cơ quan nhà nước Theo đó chương trình "Brazil không còn cực khổ" là dự án xã hội quan trọng nhất trong nhiệm kỳ của nữ Tổng thống D.Rousseff nhằm nâng cao mức sống của những hộ gia đình đang có thu nhập bình quân đầu người dưới 42 USD/tháng và mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ điện, nước sạch, y tế và giáo dục cho tầng lớp xã hội chịu nhiều thiệt thòi này Mục tiêu trong năm 2014 của quốc gia lớn nhất Mỹ La tinh này là sẽ không còn gia đình có thu nhập bình quân đầu người hàng tháng dưới 70 real (tương đương 30 USD) (Kim Phượng, 2013) Chương trình Fome Zero nhắm đến các hộ nông dân nhỏ, cung cấp vốn và

kỹ thuật giúp họ có thể nuôi trồng và cung ứng thức ăn cho chương trình quốc gia về bữa ăn cho học sinh trong nhà trường Điều này vừa đảm bảo phát triển nông nghiệp, vừa giúp cải thiện chất lượng bữa ăn trong các trường học (Thuận Hải, 2011)

Ông Ananias chủ trương thành lập các chợ ven đường, nơi nông dân có thể trực tiếp bày bán các sản phẩm vừa thu hoạch Với cách làm này, họ có thể cải thiện được thu nhập do không phải chịu ép giá từ thương lái, phí vận chuyển Đồng thời, người dân Brazil có điều kiện mua được thức ăn ngon với giá rẻ hơn rất nhiều vì giá thực phẩm đã qua nhiều trung gian có thể tăng 100% so với giá ban đầu Các siêu thị cũng phải đồng loạt niêm yết giá và bán với giá “mềm” hơn

để thu hút nguồn khách hàng Những nhà hàng bình dân cũng được khuyến khích phát triển Do nguồn cung cấp thực phẩm tại địa phương, các nhà hàng bình dân này cung cấp được thức ăn tươi ngon nhưng phù hợp với túi tiền của nhiều đối tượng trong xã hội hơn

Sự hỗ trợ của Fome Zero còn mang đến việc tiêm vắc-xin đều đặn cho trẻ

em và giúp ngày càng nhiều trẻ em được đi học Hoạt động trợ cấp thức ăn của chương trình này cũng góp phần cải thiện an ninh lương thực tại Brazil Sự thành công ấn tượng của các chương trình phúc lợi xã hội, mà đi đầu là công tác xóa đói giảm nghèo đã tạo niềm tin lớn lao trong dân chúng Brazil và giúp Đảng công nhân tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo (Thuận Hải, 2011)

2.2.2 Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững của các tỉnh, thành trong nước 2.2.2.1 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Bình Định

Bình Định là một tỉnh nằm trong khu vực Duyên hải Nam Trung bộ có số dân khoảng 1,7 triệu người với gần 40 ngàn đồng bào dân tộc thiểu số và 3 huyện

Trang 34

nghèo 30a Cấp ủy, chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị xã hội đã xác định giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời thu hút, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia, quyết tâm thực hiện thành công chính sách giảm nghèo góp phần hoàn thành mục tiêu giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015 Sau 5 năm thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững, tỷ lệ hộ nghèo ở Bình Định đã giảm từ 16,31% (năm 2010) xuống 8,1% (năm 2014), dự kiến còn 6,25% (cuối năm 2015), vượt chỉ tiêu đề ra là 7,97%, bình quân mỗi năm giảm khoảng 4,77% (Ngọc Nguyên, 2015)

Trong các chính sách giảm nghèo, Bình Định ưu tiên tập trung vào việc thực hiện chính sách về sinh kế cho hộ nghèo và người nghèo Trong vòng 5 năm đã có hàng ngàn hộ thoát nghèo, hơn 29 ngàn hộ đã có chuyển biến về nhận thức và biết cách làm ăn, hơn 16 ngàn lượt hộ của các vùng khó khăn được vay vốn ưu đãi đã mua sắm máy móc, công cụ phục vụ sản xuất kinh doanh, dụng cụ đánh bắt chế biến hải sản và mở rộng các cơ sở tiểu thủ công nghiệp Tính đến hết tháng 6/2015, tổng số vốn cho hộ nghèo vay sản xuất đạt hơn 764 triệu đồng Các hộ nghèo còn được hỗ trợ vốn vay xuất khẩu lao động, hơn 1,8 ngàn lao động được vay với tổng số tiền trên 40 tỷ đồng (Ngọc Nguyên, 2015)

Tỉnh Bình Định cũng thực hiện lồng ghép nguồn lực của chương trình mục tiêu Quốc gia việc làm và Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là đề án 1956) hỗ trợ cho gần 110 lao động tham gia học nghề Các chính sách hỗ trợ cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội được thực hiện có hiệu quả Chính sách hỗ trợ trong giáo dục, y tế Việc hỗ trợ gạo, chi phí học tập, vốn vay ưu đãi trong giáo dục đã mang lại ý nghĩa thiết thực, giảm bớt khó khăn cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, xa; thu hẹp

về mức thụ hưởng giữa các vùng miền trên địa bàn Chính sách hỗ trợ mức đóng thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số góp phần chăm sóc sức khỏe và nâng cao tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân

Chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo trong giai đoạn 2011 - 2015 cơ bản được đảm bảo, không còn hộ nghèo ở nhà tạm, dột nát Năm 2014 có 91,1% người dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, năm 2015 sẽ có khoảng 95% hộ được sử dụng nước sạch (Ngọc Nguyên, 2015) Chính sách trợ giúp pháp lý đã được triển khai sâu rộng tập trung ở các xã ở huyện nghèo, các xã, thôn đặc biệt khó khăn trong chương trình 135, xã bãi ngang ven biển và hải đảo góp phần nâng cao nhận thức chính sách pháp luật, nâng cao niềm tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước

Trang 35

Ngoài ra, thông qua việc thực hiện lồng ghép các chính sách, dự án giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a, các chính sách hỗ trợ đầu tư cơ

sở hạ tầng cho vùng đặc biệt khó khăn đã đem lại sự thay đổi lớn cho bộ mặt nông thôn Trong 5 năm, toàn tỉnh đã ưu tiên hỗ trợ đầu tư kinh phí trên 1.640 tỷ đồng xây dựng 226 công trình kết cấu hạ tầng điện, đường, trường, trạm, thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống của người dân 26 xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang, ven biển, hải đảo

Đối với 3 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a: huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh và An Lão, từ năm 2009 đến nay, tỉnh đã tập trung chỉ đạo giảm nghèo nhanh và bền vững Có 117 công trình được ngân sách đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng với kinh phí trên 532 tỷ đồng Ngoài ra, nguồn kinh phí sự nghiệp trên 148 tỷ đồng cũng đã hỗ trợ trực tiếp cho người dân trên địa bàn, (Ngọc Nguyên, 2015), nhất là người nghèo và dân tộc thiểu số trong các chính sách như: trồng và phát triển rừng, hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm tăng thu nhập thông qua việc hỗ trợ cây, con, giống vật nuôi có giá trị kinh tế cao, hỗ trợ gạo cho hộ nghèo… Tỉnh còn thực hiện và triển khai nhân rộng 40 mô hình giảm nghèo về khuyến nông – lâm – ngư như: nuôi heo rừng, gà an toàn sinh học, trồng mì rải

vụ thâm canh, lạc xen sắn trên đất cát bạc màu, vỗ béo bò thịt và cá rô phi đơn tính năng suất cao, nuôi Dông trên cát, thỏ cao sản, keo lai cấy mô, cá nước ngọt… vừa hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo vừa nhân rộng mô hình sản xuất có hiệu quả đến trực tiếp người dân, giúp họ vươn lên thoát nghèo bền vững

2.2.2.2 Kinh nghiệm giảm nghèo ở Hải Dương

Trong 5 năm (2007-2011) tổng giá trị thu nhập bình quân của tỉnh tăng 9,4%/năm; năm 2012 tăng 5,3% Quy mô kinh tế của tỉnh nâng lên, tổng sản phẩm năm 2011 gấp hơn 2,5 lần so với năm 2006 GDP bình quân đầu người tăng từ 9 triệu đồng/người (2006) lên 22,7 triệu đồng/người (2011) Đồng thời, với lãnh đạo phát triển kinh tế, triển khai Chương trình giảm nghèo, chống tái nghèo nhằm hỗ trợ những hộ nghèo phát triển sản xuất, giảm thiểu những bất lợi

do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại Thực hiện hỗ trợ lãi suất vay vốn phát triển sản xuất cho các hộ nghèo và hộ chính sách; cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, miễn giảm chi phí khám chữa bệnh cho bệnh nhân thuộc diện khó khăn; thực hiện các chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cho người nghèo; tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 16% (2006) xuống còn 9,49% (2011), tiếp tục được giảm xuống còn 7,74% năm 2012 (Nguyễn Văn Tuân, 2015)

Trang 36

Trong những năm qua, tỉnh Hải Dương đã thực hiện chính sách XĐGN với nhiều cách làm sáng tạo, những giải pháp cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, số hộ thoát nghèo vươn lên làm giàu chính đáng tăng nhanh, mô hình XĐGN của tỉnh là một trong những điểm sáng cần được triển khai nhân rộng nhằm góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông thôn Với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong một thời gian dài (trên 11%), hàng loạt các chính sách giảm nghèo đã được Tỉnh triển khai đồng bộ, làm cho đời sống vật chất, điều kiện nhà ở, sinh hoạt của các hộ nghèo đã được cải thiện

rõ rệt Kinh tế nông thôn tiếp tục có bước chuyển dịch tích cực: tiểu thủ công nghiệp và làng nghề được khuyến khích phát triển, số làng có nghề tăng, quy mô nhiều làng nghề được mở rộng

Công tác khuyến nông, dạy nghề, tập huấn cho nông dân được duy trì Cơ giới hoá các khâu trong sản xuất nông nghiệp có bước tiến đáng kể Toàn Tỉnh đã

có 2.523 trang trại, tăng hơn 3 lần so với năm 2005, nhiều trang trại mở rộng quy

mô và nâng cao giá trị sản xuất

Tỉnh Hải Dương đã huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tích cực tham gia thực hiện chương trình giảm nghèo, góp phần vào bảo đảm bền vững: Nhiều phong trào, cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát động, thu hút đông đảo nhân dân tham gia và đạt hiệu quả cao, sự quan tâm, giúp đỡ của cá nhân, cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, hỗ trợ hàng tỷ đồng cho chương trình giảm nghèo như: “Ngày vì người nghèo”, “Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói giảm nghèo”,… Kết quả cho thấy, năm 2013, việc hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh

tế, giảm nghèo bền vững đã có 9.138 phụ nữ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được giúp với nhiều hình thức: tiền, cây, con giống, ngày công, trị giá trên 23,2 tỷ đồng; có 1.459 hộ thoát nghèo (Nguyễn Văn Tuân, 2015)

Chương trình giảm nghèo bền vững đã được nhiều địa phương trong tỉnh gắn với chính sách an sinh xã hội, góp phần làm cho chính sách giảm nghèo thêm hiệu quả và bền vững Thông qua các chương trình giảm nghèo, tỉnh Hải Dương

đã thực hiện tốt các chính sách trợ giúp, trợ cấp xã hội; chính sách đối với người cao tuổi và người tàn tật; chính sách chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

2.2.3 Bài học cho kinh nghiệm cho huyện Đoan Hùng

Thông qua kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của một số quốc gia trên thế

Trang 37

giới cũng như mốt số tỉnh của Việt Nam trong những năm qua, có thể rút ra được bài học kinh nghiệm cho huyện Đoan Hùng như sau:

Thứ nhất, phải xác định xóa đói, giảm nghèo là một trong những chính sách

ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện, là mục tiêu hàng đầu của các mục tiêu thiên niên kỷ Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo phải hướng vào những vùng còn tỷ lệ hộ nghèo cao như, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với tinh thần: về chủ trương, phải đúng trọng tâm, đúng trọng điểm; về chỉ đạo, phải quyết liệt, biết khối lượng công việc, lực lượng thực hiện, thời hạn hoàn thành; về chủ trì, phải gương mẫu, tận tụy, sâu sát, dân chủ, sáng tạo nhưng đúng pháp luật của Nhà nước

Thứ hai, công nghiệp hóa và phát triển khu vực nông thôn, khai thác tiềm năng và sử dụng hợp lý các nguồn lực, thúc đẩy đổi mới ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Thông qua công nghiệp hóa tạo thêm nhiều ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật góp phần cải thiện và tăng thu nhập phi nông nghiệp cho các hộ gia đình nông thôn Hơn nữa, đại đa số người nghèo sống ở nông thôn do đó đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và nông thôn sẽ

có tác dụng giảm nghèo rõ rệt

Thứ ba, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa giảm nghèo với tiếp cận thị trường, chú trọng và phát huy vai trò của xóa đói giảm nghèo thông qua cơ chế khuyến khích, ưu đãi để người nghèo chủ động tham gia vào thị trường Phát triển các hình thức hợp tác, liên kết giữa các hộ nông dân và doanh nghiệp

Thứ tư, để thực hiện thành công công cuộc xóa đói giảm nghèo không những chỉ dựa vào nỗ lực từ một phía là Chính phủ mà cần phải có sự nỗ lực từ nhiều phía như cộng đồng, doanh nghiệp trên địa bàn và quan trọng hơn là chính

từ bản thân của người nghèo Việc phát huy vai trò “tự giảm nghèo bền vững”,

“tự an sinh” của những đối tượng thuộc hộ nghèo là một trong những vấn đề cốt lõi, quan trọng, đóng vai trò là chủ thể của chính sách giảm nghèo bền vững Mỗi

hộ nghèo phải thấy được trách nhiệm trong việc giảm nghèo; tránh tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước và xã hội Nâng cao ý thức tự lập vươn lên của mỗi hộ dân và cộng đồng dân cư để khẳng định mình trong xã hội, có trách nhiệm cải thiện và nâng cao đời sống của bản thân và gia đình trước sự phát triển, đi lên của xã hội

Thứ năm, thực hiện phân cấp, trao quyền cho người dân cũng như cộng

Trang 38

đồng, địa phương, gắn với đào tạo, nâng cao năng lực và tăng cường theo dõi, giám sát của Trung ương Chính phủ đóng vai trò kiến tạo, động viên và hỗ trợ mang tính dẫn dắt, địa phương chủ động thực hiện, lựa chọn, xây dựng dự án với quy mô phù hợp

2.2.4 Một số công trình nghiên cứu có liên quan

Trong quá trình thu thập tài liệu tôi được biết đã có công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết liên quan đến giảm nghèo bền vững, như bài viết của các tác giả:

Luận văn, chuyên ngành Quản lý Kinh tế "Giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” của Hà Ngọc Tùng, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên, năm 2014

Luận án “Marketing xã hội với giảm nghèo bền vững” của Bùi Xuân Dự, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, năm 2010

Luận văn, chuyên ngành Quản lý Kinh tế "Giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ” của Đinh Mạnh Hùng, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên, năm 2014

Luận án “Vai trò của vốn con người trong giảm nghèo bền vững ở Việt Nam” của Thái Phúc Thành, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, năm (2014) Mỗi đề tài luận văn đều đề cập đến một số nội dung liên quan đến giảm nghèo bền vững mà chưa có đề tài nào giải quyết toàn diện các nội dung của giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Đoan Hùng Vì vậy đề tài nghiên cứu này vừa có tính kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có vừa phát triển những vấn đề vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn về giảm nghèo bền vững tại một

số huyện nói riêng và giảm nghèo ở Việt Nam nói chung làm căn cứ khoa học cho mục tiêu giảm nghèo bền vững cũng như các chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở huyện Đoan Hùng phù hợp với thực tế của địa phương và những thay đổi trong sự phát triển chung của cả nước

Trang 39

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Đoan Hùng là huyện miền núi trung du nằm ở phía Bắc tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì 50km; cách Thủ đô Hà Nội 140km, cách cửa khẩu Thanh Thuỷ (Hà Giang) và cửa khẩu Lào Cai khoảng 200 km Phía Bắc giáp với huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái và huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp với huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp với huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp với huyện Thanh Ba và huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ Huyện Đoan Hùng có tổng diện tích tự nhiên là 30.285,22 ha, chiếm 8,58% diện tích của tỉnh Phú Thọ (UBND huyện Đoan Hùng, 2016) Có thể nói, tuy là một huyện miền núi, song Đoan Hùng có vị trí rất thuận lợi trong việc giao lưu kinh

tế giữa các tỉnh bạn và các huyện trong tỉnh Toàn huyện có 28 đơn vị hành chính, có hai tuyến đường quốc lộ: quốc lộ 2 và quốc lộ 70 đi các tỉnh phía Bắc, giao thông đi lại thuận tiện, có hai con sông lớn sông Lô và sông Chảy chảy qua 3.1.1.2 Khí hậu

Đoan Hùng là vùng Trung du Bắc bộ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,1oC, mùa nóng nhiệt độ từ 27-

28oC, mùa lạnh nhiệt độ từ 15-16oC Lượng mưa trung bình hàng năm là 178

mm, số ngày nắng trung bình/năm là 166 ngày; Độ ẩm tương đối trung bình là 84%, thấp nhất là 24%; băng giá, sương muối thỉnh thoảng cũng có xuất hiện, nhưng thường ở mức nhẹ (UBND huyện Đoan Hùng, 2016)

Trên địa bàn Đoan Hùng thường có 2 loại gió chính: Gió mùa Đông Nam

từ tháng 5 đến tháng 10 và gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau 3.1.1.3 Đặc điểm địa hình, đất đai

a Về địa hình

Địa hình của Đoan Hùng có nhiều núi cao với độ cao trung bình từ 250m với hướng dốc thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và được chia thành hai dạng chính:

100 Địa hình đồng bằng phù sa: Đây là dải đất tương đối bằng phẳng được bồi đắp bởi sông Chảy và sông Lô, tập trung ở ven sông, độ dốc thường dưới 3, còn một phần là dải đất phù sa cổ có địa hình lượn sóng độ dốc từ 3o-5o

- Địa hình đồi núi: đây là dạng địa hình đặc trưng ở hầu hết các xã trên địa

Trang 40

bàn huyện Địa hình, địa mạo ở đây chủ yếu là đồi núi, độ dốc lớn từ 15o-25o và trên 25o (UBND huyện Đoan Hùng, 2016)

Đặc điểm địa hình, đất đai đa dạng, phong phú, có các vùng địa hình khác nhau (đồng bằng, đồi núi), khí hậu đa dạng và phân hóa mạnh, nên hình thành các tiểu vùng sinh thái khác nhau Các dạng địa hình của huyện có ảnh hưởng đáng kể đến phát triển các ngành kinh tế cũng như việc xây dựng các công trình vững chắc, địa hình đồng bằng khá bằng phẳng thích hợp đối với canh tác lúa, phát triển nông nghiệp đa dạng, với địa hình đồi núi nối dài tạo thành một không gian kiến trúc, đa dạng, vững chắc và không bị ngập lụt Trong sản xuất nông nghiệp thích hợp với trồng các loại cây lâu năm, cây lâm nghiệp, phát triển mô hình vườn rừng Đây là điều kiện thuận lợi để Đoan Hùng phát triển

b Về đất đai

Đặc điểm thổ nhưỡng của huyện gồm 6 nhóm: Phù sa ven sông; Đất vùng trũng; Đất lầy tầng mỏng; Đất cát thuộc bãi bồi ven sông; Đất xám và Đất đỏ Tình hình đất đai của huyện được thể hiện qua bảng 3.1

Qua bảng 3.1 ta thấy, tình hình sử dụng đất đai của huyện biến động không nhiều, diện tích đất nông nghiệp giảm dần qua các năm chủ yếu là do giảm diện tích đất trồng lúa và cây hàng năm Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng 0,02

ha do chuyển từ đất trồng lúa kém hiệu quả, từ đất cây hàng năm, từ đất cây lâu năm, từ đất bằng chưa sử dụng

Diện tích đất lâm nghiệp của huyện chiếm tỷ lệ rất lớn trên 50% diện tích đất nông nghiệp Diện tích đất lâm nghiệp giảm nhẹ qua các năm Sở dĩ, đất lâm nghiệp giảm là do giảm diện tích đất rừng sản xuất

Diện tích đất phi nông nghiệp năm 2016 tăng 13,8ha do một số dự án công trình an ninh theo quy hoạch được đưa vào xây dựng Diện tích tăng thêm lấy vào đất lúa; đất cây hàng năm; đất cây lâu năm; đất rừng sản xuất

Diện tích đất chưa sử dụng của huyện bao gồm cả diện tích đất bằng chưa sử dụng và đồi núi chưa sử dụng Năm 2016 diện tích đất chưa sử dụng

là 95,69ha, giảm 0,05ha so với năm 2015 Diện tích chưa sử dụng giảm do chuyển sang đất trồng lúa, chuyển sang đất trồng cây hàng năm, chuyển sang đất trồng cây lâu năm, chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản

Trong giai đoạn kế hoạch tiếp theo của huyện, cần có những chính sách hợp

lý để khuyến khích nhân dân tiếp tục đưa diện tích đất bằng chưa sử dụng vào sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, đưa đất đồi núi chưa sử dụng vào trồng rừng và khai phá đất núi đá không có rừng cây để sản xuất vật liệu xây dựng

Ngày đăng: 05/04/2022, 20:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2017). Hệ thống thống kê, kiểm kê đất đai, truy cập ngày 11/5/2016, tại: http://tk.gdla.gov.vn/8/3/2017/Trang-chu.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thống kê, kiểm kê đất đai
Tác giả: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Năm: 2017
2. Bùi Xuân Dự (2010). Marketing xã hội với giảm nghèo bền vững, Luận án Tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing xã hội với giảm nghèo bền vững
Tác giả: Bùi Xuân Dự
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2010
3. Bùi Xuân Dự (2009). Nghiên cứu đánh giá hiệu quả mô hình giảm nghèo của Chương trình Chia sẻ trên địa bàn dự án, sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá hiệu quả mô hình giảm nghèo của Chương trình Chia sẻ trên địa bàn dự án
Tác giả: Bùi Xuân Dự
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – xã hội
Năm: 2009
4. Đặng Nguyên Anh (2016). Nghèo đa chiều ở Việt Nam: Một số vấn đề chính sách và thực tiễn, Viện Hàn lâm khoa học và xã hội Việt Năm, truy cập ngày 11/5/2016, tại: http://www.vass.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/KhoaHocCongNghe/View_Detail.aspx?ItemID=21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đa chiều ở Việt Nam: Một số vấn đề chính sách và thực tiễn
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Nhà XB: Viện Hàn lâm khoa học và xã hội Việt Năm
Năm: 2016
5. Đặng Thị Hoài (2011). Giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Thị Hoài
Nhà XB: Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
6. Đỗ Thị Phượng (2015). Tăng cường tính tự lực của người dân trong công tác giảm nghèo. Bài học từ phong trào làng mới ở Hàn Quốc, Báo Tạp chí Lao động và xã hội, số 515 từ 16-30/11/2015, trang 14-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường tính tự lực của người dân trong công tác giảm nghèo. Bài học từ phong trào làng mới ở Hàn Quốc
Tác giả: Đỗ Thị Phượng
Nhà XB: Báo Tạp chí Lao động và xã hội
Năm: 2015
7. Hà Ngọc Tùng (2014). Giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Hà Ngọc Tùng
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh
Năm: 2014
8. Hồ Xuân Khanh (2014). Nghèo đa chiều và cách tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam, Sở Lao động thương binh & xã hội tỉnh Quảng Nam, truy cập ngày 05/10/2016 tại: http://giamngheo.sldtbxh.quangnam.gov.vn/Default.aspx?tabid=153&NewsViews=587 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đa chiều và cách tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam
Tác giả: Hồ Xuân Khanh
Nhà XB: Sở Lao động thương binh & xã hội tỉnh Quảng Nam
Năm: 2014
9. Huyện ủy Đoan Hùng (2015). Văn kiện trình Đại hội Đảng bộ huyện Đoan Hùng lần thứ XXII (nhiệm kỳ 2015-2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện trình Đại hội Đảng bộ huyện Đoan Hùng lần thứ XXII (nhiệm kỳ 2015-2020)
Tác giả: Huyện ủy Đoan Hùng
Năm: 2015
10. Huyện ủy Đoan Hùng (2016). Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ chính trị năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ chính trị năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Huyện ủy Đoan Hùng
Năm: 2016
11. Kim Phượng (2013). Brazil: Phép màu trong cuộc chiến chống đói nghèo, Báo Hà Nội mới, truy cập ngày 05/10/2016 tại http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc /The- gioi/619382/brazil-phep-mau-trong- cuoc chien-chong-doi-ngheo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brazil: Phép màu trong cuộc chiến chống đói nghèo
Tác giả: Kim Phượng
Nhà XB: Báo Hà Nội mới
Năm: 2013
12. Minh Quang (2015). Giảm nghèo bền vững: Trao quyền để người dân chủ động hơn, báo Đại đoàn kết, truy cập ngày 05/10/2016 tại http://daidoanket.vn/quoc- te/giam-ngheo-ben-vung-trao-quyen-de-nguoi-dan-chu-dong-hon/78413 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảm nghèo bền vững: Trao quyền để người dân chủ động hơn
Tác giả: Minh Quang
Nhà XB: báo Đại đoàn kết
Năm: 2015
13. Ngọc Nguyên (2015). Bình Định: 5 năm nỗ lực giảm nghèo bền vững, Báo Tạp chí Lao động và xã hội, số 515 từ 16-30/11/2015. tr. 17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình Định: 5 năm nỗ lực giảm nghèo bền vững
Tác giả: Ngọc Nguyên
Nhà XB: Báo Tạp chí Lao động và xã hội
Năm: 2015
14. Ngô Thị Quang (2016). Xóa đói giảm nghèo bền vững, chống tái nghèo - thành tựu, thách thức và giải pháp, báo lý luận chính trị, truy cập ngày 11/5/2016, tại:http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/1289 -xoa-doi-giam-ngheo- ben-vung-chong-tai-ngheo-thanh-tuu-thach-thuc-va-giai-phap.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa đói giảm nghèo bền vững, chống tái nghèo - thành tựu, thách thức và giải pháp
Tác giả: Ngô Thị Quang
Nhà XB: báo lý luận chính trị
Năm: 2016
19. ThanhHVBC (2016), Đo lường Nghèo – từ đơn chiều sang đa chiều, Báo vấn đề kinh tế, truy cập ngày 05/10/2016https://vandekinhte.wordpress.com/2016/03/12/do-luong-ngheo-tu-don-chieu-sang-da-chieu/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường Nghèo – từ đơn chiều sang đa chiều
Tác giả: ThanhHVBC
Nhà XB: Báo vấn đề kinh tế
Năm: 2016
21. Trâm Anh (2015). Tỷ lệ người nghèo trên thế giới lần đầu tiên giảm xuống 10%, báo Kinh doanh và Pháp luật, truy cập ngày 11/5/2016, tại:http://kinhdoanhnet.vn/the-gioi/ty-le-nguoi-ngheo-tren-the-gioi-lan-dau-tien-giam-xuong-duoi-10_t114c7n24172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ người nghèo trên thế giới lần đầu tiên giảm xuống 10%
Tác giả: Trâm Anh
Nhà XB: báo Kinh doanh và Pháp luật
Năm: 2015
24. UBND huyện Đoan Hùng (2015). Báo cáo tổng kết thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015
Tác giả: UBND huyện Đoan Hùng
Năm: 2015
27. UBND huyện Đoan Hùng (2016). Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 14-NQ- HU về tăng cường lãnh đạo thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới đến năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 14-NQ- HU về tăng cường lãnh đạo thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới đến năm 2015
Tác giả: UBND huyện Đoan Hùng
Năm: 2016
15. Nguyễn Văn Tuân (2015). Một số kinh nghiệm từ thực hiện giảm nghèo bền vững ở tỉnh Hải Dương, báo Lý luận chính trị, truy cập ngày 05/10/2016, tại http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/1376-mot-so-kinh-nghiem-tu-thuc-hien-giam-ngheo-ben-vung-o-tinh-hai-duong.html Link
20. Thuận Hải (2011). Brazil đi đầu trong cuộc chiến chống đói nghèo, báo Cần Thơ, truy cập ngày 05/10/2016, tại http://www.baocantho.com.vn /?mod=detnews&catid=69&id=73244 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Bốn trụ cột đảm bảo giảm nghèo bền vững - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 2.1 Bốn trụ cột đảm bảo giảm nghèo bền vững (Trang 25)
Bảng 3.2. Tình hình dân số và lao động của huyện Đoan Hùng giai đoạn 2014-2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 3.2. Tình hình dân số và lao động của huyện Đoan Hùng giai đoạn 2014-2016 (Trang 43)
Bảng 3.4. Thông tin thứ cấp đã thu thập - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 3.4. Thông tin thứ cấp đã thu thập (Trang 50)
Bảng 3.5. Số lượng và cỡ mẫu nhóm hộ điều tra - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 3.5. Số lượng và cỡ mẫu nhóm hộ điều tra (Trang 51)
Bảng 4.2. Thực trạng hộ cận nghèo huyện Đoan Hùng giai đoạn 2014-2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.2. Thực trạng hộ cận nghèo huyện Đoan Hùng giai đoạn 2014-2016 (Trang 58)
Bảng 4.3. Tình hình diễn biến hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2014 - 2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.3. Tình hình diễn biến hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2014 - 2016 (Trang 59)
4.1.1.4. Tình hình hộ nghèo, hộ cận nghèo giảm theo kết quả rà soát năm 2016 a, Hộ nghèo - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
4.1.1.4. Tình hình hộ nghèo, hộ cận nghèo giảm theo kết quả rà soát năm 2016 a, Hộ nghèo (Trang 60)
Qua bảng số liệu cho thấy, năm 2016 tổng số hộ cận nghèo giảm là 1045 hộ. Trong đó, thốt ra khỏi ngưỡng nghèo là 881 hộ chiếm 84,31% - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
ua bảng số liệu cho thấy, năm 2016 tổng số hộ cận nghèo giảm là 1045 hộ. Trong đó, thốt ra khỏi ngưỡng nghèo là 881 hộ chiếm 84,31% (Trang 61)
Bảng 4.6. Tổng hợp nguyên nhân nghèo của hộ dân trên địa bàn huyện Đoan Hùng - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.6. Tổng hợp nguyên nhân nghèo của hộ dân trên địa bàn huyện Đoan Hùng (Trang 62)
Bảng 4.7. Đánh giá của người nghèo về mức độ tiếp cận một số chính sách và dịch vụ giảm nghèo - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.7. Đánh giá của người nghèo về mức độ tiếp cận một số chính sách và dịch vụ giảm nghèo (Trang 66)
Bảng 4.8. Lao động của hộ gia đình - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.8. Lao động của hộ gia đình (Trang 66)
Bảng 4.9. Trình độ học vấn của chủ hộ - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.9. Trình độ học vấn của chủ hộ (Trang 67)
Bảng 4.10. Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.10. Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình (Trang 68)
Bảng 4.11. Tình hình sử dụng và nhu cầu vay vốn - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.11. Tình hình sử dụng và nhu cầu vay vốn (Trang 69)
Bảng 4.12. Tình hình nhà ở và phương tiện sinh hoạt - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.12. Tình hình nhà ở và phương tiện sinh hoạt (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w